|
BỘ TƯ PHÁP
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 410/VBHN-BTP
|
Hà Nội, ngày 22
tháng 01 năm 2026
|
NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NUÔI CON
NUÔI
Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 5 năm 2011, được sửa đổi, bổ
sung bởi:
1. Nghị định số 114/2016/NĐ-CP
ngày 08 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ
phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2017;
2. Nghị định số 24/2019/NĐ-CP
ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm
2019;
3. Nghị định số 06/2025/NĐ-CP
ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các
Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025;
4. Nghị định số 18/2026/NĐ-CP
ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt
giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản
lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Nuôi con nuôi
ngày 17 tháng 6 năm 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp[1],
NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định chi tiết
việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo Điều 7; thẩm quyền thu, mức thu, việc miễn,
giảm, chế độ quản lý, sử dụng[2]
chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài theo Điều 12; thủ tục giải quyết việc
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với công dân của nước láng giềng thường
trú ở khu vực biên giới theo Điều 42; [3]và
thủ tục cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước
ngoài tại Việt Nam theo Điều 43; thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi giữa công
dân Việt Nam với nhau trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 mà chưa đăng ký theo quy
định tại Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi.
2. Nghị định này hướng dẫn thi
hành một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con
nuôi trong nước, nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (sau
đây gọi là Cơ quan đại diện), nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo các Điều
9, 15, 17, 18, 20, 21, 22, 28, 30, 31, 32, 33, 34, 36 của Luật Nuôi con nuôi;
đăng ký lại việc nuôi con nuôi và ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi
con nuôi đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài[4].
Điều 2. Thẩm
quyền đăng ký việc nuôi con nuôi
Thẩm quyền đăng ký việc nuôi
con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Luật Nuôi con nuôi và quy
định cụ thể sau đây:
1.[5] Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng
hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác
ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận
con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con
nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận
làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng
trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở
nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của
cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
2. Đối với việc nuôi con nuôi
nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây
gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con
nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng
được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở
nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi.
Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc
nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3. Đối với việc nuôi con nuôi
giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi
tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện
đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú ở nước không có Cơ
quan đại diện, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại
Cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất đối với họ.
Điều 3. Trẻ
em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi
1.[6] Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận
đích danh làm con nuôi theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi
con nuôi, gồm trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt;
trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn
chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em không có hậu
môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em mắc các bệnh về máu; trẻ em bị khuyết tật
khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác cần điều trị khẩn cấp hoặc cả đời.
2.[7] Trẻ em thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này, nếu được
nhận làm con nuôi ở nước ngoài thì được miễn thủ tục giới thiệu trẻ em làm con
nuôi theo quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi.
3.[8] (được bãi bỏ)
Điều 4. Hỗ
trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo ở cơ sở nuôi dưỡng[9]
Việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý,
sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và
tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở
cơ sở nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Luật Nuôi con
nuôi, pháp luật về tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản viện trợ, tài trợ
cho các cơ sở nuôi dưỡng công lập và ngoài công lập và quy định cụ thể sau đây:
1. Cá nhân, tổ chức trong và
ngoài nước hỗ trợ nhân đạo thông qua chương trình, dự án, viện trợ phi dự án hoặc
tài trợ cho Quỹ bảo trợ trẻ em.
2. Khi hỗ trợ nhân đạo, cá
nhân, tổ chức không được yêu cầu cơ sở nuôi dưỡng cho trẻ em làm con nuôi; cơ sở
nuôi dưỡng không được cam kết cho trẻ em làm con nuôi vì lý do đã nhận hỗ trợ
nhân đạo.
Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ
trợ nhân đạo bằng tiền thì phải thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng.
3. Khi hỗ trợ, tiếp nhận hỗ trợ
nhân đạo, ngoài việc thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này,
cha mẹ nuôi nước ngoài, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại
Việt Nam và cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm như sau:
a) Cha mẹ nuôi nước ngoài thông
tin cho tổ chức con nuôi nước ngoài về các khoản hỗ trợ nhân đạo đã thực hiện ở
Việt Nam;
b) Định kỳ 06 tháng và hằng năm
hoặc theo yêu cầu, tổ chức con nuôi nước ngoài báo cáo Bộ Tư pháp[10] các khoản hỗ trợ nhân đạo của
cha mẹ nuôi và của tổ chức;
c) Định kỳ 06 tháng và hằng năm
hoặc theo yêu cầu, cơ sở nuôi dưỡng báo cáo việc tiếp nhận, sử dụng và quản lý
các khoản hỗ trợ nhân đạo theo quy định của pháp luật và báo cáo Bộ Tư pháp[11] về việc tiếp nhận, quản lý và sử
dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài
được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.
Điều 5. Thời
hạn và giá trị sử dụng của giấy tờ[12]
1. Giấy khám sức khỏe, Văn bản
xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận
con nuôi trong nước theo quy định tại Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi và Giấy
khám sức khoẻ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 21 của Nghị
định này có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nộp
hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Văn bản xác nhận tình trạng sức
khoẻ, Bản điều tra về tâm lý, gia đình, Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản
theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Nuôi con nuôi, Giấy khám sức khoẻ và
Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em theo quy định tại
khoản 1 Điều 32 của Luật Nuôi con nuôi có giá trị sử dụng nếu được lập, cấp,
xác nhận chưa quá 12 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền.
3. Phiếu lý lịch tư pháp do cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với người nhận con nuôi theo quy định
tại điểm g khoản 1 Điều 31 của Luật Nuôi con nuôi và điểm b khoản
1 Điều 21 của Nghị định này, người dự kiến đứng đầu Văn phòng con nuôi nước
ngoài tại Việt Nam theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 31 của
Nghị định này có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 12 tháng, tính đến
ngày nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền.
4. Giấy tờ có trong hồ sơ của
người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, hồ sơ xin cấp, gia hạn, sửa
đổi Giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam do cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền lập, cấp, xác nhận mà bị tẩy xoá, sửa chữa
làm sai lệch nội dung hoặc thông tin trong các văn bản, giấy tờ được khai không
đúng sự thật thì không có giá trị sử dụng. Người thực hiện hành vi tẩy xoá, sửa
chữa làm sai lệch nội dung hoặc khai thông tin không đúng sự thật bị xử lý vi
phạm theo quy định pháp luật.
Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ MỘT SỐ
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON NUÔI
Mục 1.
NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC
Điều 6. Rà
soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi[13]
1. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi,
trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa đang được cá nhân, gia
đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế theo quy định của pháp
luật, Ủy ban nhân dân cấp xã định kỳ 06 tháng rà soát, đánh giá việc trẻ em cần
được nhận làm con nuôi. Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận
trẻ em làm con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn
giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Nếu không có công
dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Ủy ban nhân dân
cấp xã có văn bản kèm theo hồ sơ trẻ em gửi Sở Tư pháp để tìm người nhận trẻ em
làm con nuôi theo quy định tại khoản 3 của Điều này, đồng thời báo cáo Ủy ban
nhân dân cấp huyện để biết.
2. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi,
trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa sống ở cơ sở nuôi dưỡng
thì cơ sở nuôi dưỡng đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi, lập hồ sơ
trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật
Nuôi con nuôi, xin ý kiến của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đối với cơ sở
thuộc trách nhiệm quản lý cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với cơ sở
thuộc trách nhiệm quản lý cấp huyện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được đầy đủ hồ sơ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Ủy ban nhân
dân cấp huyện có ý kiến gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm
người nhận con nuôi theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc tìm người nhận trẻ em
làm con nuôi được thực hiện như sau:
a) Khi tiếp nhận hồ sơ trẻ em
theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu có công dân Việt Nam thường
trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 của Luật
Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp kiểm tra điều kiện của người nhận con nuôi trước khi
giao 01 bộ hồ sơ trẻ em cho người nhận con nuôi và giới thiệu người nhận con
nuôi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi
để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không có công dân Việt
Nam thường trú ở trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, Sở Tư pháp thông báo
tìm người nhận trẻ em làm con nuôi theo phương thức và thời hạn quy định tại điểm
c khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi;
b) Trong thời hạn thông báo
trên phạm vi cấp tỉnh, nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đăng ký
nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 của Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư
pháp thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này. Sau khi hết thời hạn thông báo,
nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con
nuôi, Sở Tư pháp gửi danh sách trẻ em cho Bộ Tư pháp để thông báo tìm người nhận
con nuôi theo phương thức và thời hạn quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của
Luật Nuôi con nuôi;
c) Trong thời hạn thông báo
trên phạm vi toàn quốc, nếu công dân Việt Nam thường trú ở trong nước có nguyện
vọng và đủ điều kiện nhận trẻ em làm con nuôi thì liên hệ với Sở Tư pháp để thực
hiện theo quy định tại điểm a khoản này.
Hết thời hạn thông báo trên phạm
vi toàn quốc mà không có công dân Việt Nam thường trú trong nước nhận trẻ em
làm con nuôi, đối với trẻ em quy định tại khoản 2 Điều này, Bộ Tư pháp thông
báo cho Sở Tư pháp để thực hiện xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi nước
ngoài.
Đối với trẻ em thuộc diện quy định
tại khoản 1 Điều này, trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú trong nước
nhận trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban
nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng nếu trẻ em không được
chăm sóc thay thế bằng hình thức phù hợp khác theo quy định pháp luật. Trường hợp
cơ sở nuôi dưỡng đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi, lập hồ sơ trẻ
em theo quy định tại khoản 2 Điều này thì không phải thực hiện lại việc thông
báo tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi;
d) Nội dung thông báo tìm người
nhận trẻ em làm con nuôi phải bảo đảm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình của trẻ em theo quy định pháp luật.
Điều 7. Hồ
sơ đăng ký nuôi con nuôi[14]
Hồ sơ của người nhận con nuôi
và người được nhận làm con nuôi được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ quy định
tại Điều 17 và khoản 1 Điều 18 của Luật Nuôi con nuôi và được thực hiện như
sau:
1. Người nhận con nuôi nộp hồ
sơ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi
thông qua hình thức nộp trực tiếp, gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực
tuyến theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường
điện tử.
2. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi khai thác được thông tin từ
Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác thì người nhận con nuôi
không phải nộp thành phần hồ sơ là Hộ chiếu, Thẻ căn cước, Căn cước công dân,
Phiếu lý lịch tư pháp, Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân, Giấy khám sức khỏe,
Giấy chứng tử của cha, mẹ đẻ của trẻ em mồ côi quy định tại khoản 2, khoản 3,
khoản 4, khoản 5 Điều 17, điểm b, điểm d khoản 1 Điều 18 của Luật Nuôi con
nuôi.
Trường hợp không khai thác được
thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi yêu cầu người
nhận con nuôi bổ sung thành phần hồ sơ; đồng thời đề nghị người nhận con nuôi cập
nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.
3. Đối với Văn bản xác nhận
hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi
quy định tại khoản 5 Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi: Trường hợp người nhận con
nuôi có nơi thường trú và nơi tạm trú khác nhau, trong 02 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được đề nghị của người nhận con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
nhận con nuôi thường trú trực tiếp xác minh trong 05 ngày làm việc hoặc có văn
bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tạm trú của người nhận con nuôi thực hiện
xác minh, đánh giá hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của
người nhận con nuôi. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn
bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tạm trú của người nhận con nuôi
thực hiện xác minh, đánh giá theo nội dung Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình,
tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi và có văn bản thông
báo kết quả đánh giá cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường
trú.
Điều 8.
Trách nhiệm lấy ý kiến của những người liên quan về việc nuôi con nuôi
1. Việc lấy ý kiến của những
người liên quan về việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 20
của Luật Nuôi con nuôi và do công chức tư pháp - hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp
xã, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi trực tiếp thực hiện.
2. Trường hợp người nhận con
nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người
đó thường trú nhưng không phải là nơi thường trú của người được nhận làm con
nuôi, thì việc lấy ý kiến của những người liên quan về việc nuôi con nuôi được
thực hiện như sau:
a) Trường hợp cử công chức tư
pháp - hộ tịch trực tiếp đi lấy ý kiến, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ
sơ có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người được nhận
làm con nuôi cử công chức tư pháp - hộ tịch của mình phối hợp lấy ý kiến của những
người liên quan.
b) Trường hợp không thể cử công
chức tư pháp - hộ tịch trực tiếp đi lấy ý kiến, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
nhận hồ sơ có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người
được nhận làm con nuôi lấy ý kiến của những người liên quan.
Trong thời hạn 08 ngày làm việc[15], kể từ ngày nhận được đề nghị của
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của
người được nhận làm con nuôi cử công chức tư pháp - hộ tịch của mình trực tiếp
lấy ý kiến của những người liên quan và gửi kết quả cho Ủy ban nhân dân cấp xã
có yêu cầu.
3. Việc lấy ý kiến phải thể hiện
bằng văn bản và đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 9 của
Nghị định này.
Điều 9. Yêu
cầu về kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên quan
1. Khi kiểm tra hồ sơ, công chức
tư pháp - hộ tịch phải nghiên cứu, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của
những người liên quan. Trường hợp người được nhận làm con nuôi có cha mẹ đẻ,
thì công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra việc cha mẹ đẻ có thỏa thuận với cha mẹ
nuôi để giữ lại quyền, nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện quyền, nghĩa
vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi.
2. Khi lấy ý kiến của những người
liên quan theo quy định tại Điều 20 và Điều 21 của Luật Nuôi con nuôi, công chức
tư pháp - hộ tịch phải tư vấn để trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của gia đình.
Trường hợp cho trẻ em làm con
nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì công chức tư
pháp - hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người liên quan về mục đích nuôi
con nuôi; quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sau khi đăng
ký nuôi con nuôi; về việc cha mẹ đẻ sẽ không còn các quyền, nghĩa vụ đối với
con theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật Nuôi con nuôi, nếu cha mẹ đẻ và
cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp những người liên
quan do chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu rõ những vấn đề được tư vấn hoặc bị ảnh
hưởng, tác động bởi yếu tố tâm lý, sức khỏe đã đồng ý cho trẻ em làm con nuôi
sau đó muốn thay đổi ý kiến, thì trong thời hạn 10 ngày làm việc[16] kể từ ngày được lấy ý kiến, những
người liên quan phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang
giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi. Hết thời hạn này, những người liên quan không
được thay đổi ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi.
Điều 10.
Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi
Thủ tục đăng ký việc nuôi con
nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Luật Nuôi con nuôi và quy định
cụ thể sau đây:
1.[17] Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ thời điểm kết
thúc thời hạn thay đổi ý kiến theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của
Nghị định này, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký nuôi con nuôi và tổ
chức giao nhận con nuôi. Việc giao nhận con nuôi được tổ chức tại trụ sở Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi đăng ký việc nuôi con nuôi với sự có mặt của cha, mẹ nuôi,
cha, mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm
con nuôi. Trường hợp cha, mẹ nuôi hoặc cha, mẹ đẻ của trẻ em mà một trong hai
người vì lý do khách quan không thể có mặt tại buổi giao nhận con nuôi thì phải
có ủy quyền cho người kia.
Công chức tư pháp - hộ tịch ghi
vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước cho
bên giao, bên nhận. Bản điện tử Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước được gửi
qua Kho quản lý dữ liệu điện tử của cá nhân hoặc qua hộp thư điện tử cá nhân.
Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của
các bên và đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giải quyết việc nuôi con nuôi.
2.[18] Căn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, theo yêu cầu
của cha mẹ nuôi và sự đồng ý của con nuôi từ đủ chín tuổi trở lên, cơ quan đăng
ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của con
nuôi theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về hộ tịch.
3.[19] Việc bổ sung, thay đổi thông tin về cha, mẹ trong Giấy
khai sinh của con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Điều
10a. Thông báo tình hình phát triển của con nuôi[20]
1. Trường hợp cha, mẹ nuôi thay
đổi nơi thường trú khi chưa hết thời hạn phải thông báo tình hình phát triển của
con nuôi, cha, mẹ nuôi có trách nhiệm tiếp tục thông báo tình hình phát triển của
con nuôi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chuyển đến cho đến khi hết thời hạn
thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Nuôi con nuôi.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
cha, mẹ nuôi chuyển đến có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện
việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Nuôi con nuôi.
Mục 2.
NUÔI CON NUÔI NƯỚC NGOÀI
Điều 11.[21] (được
bãi bỏ)
Điều 12.[22] (được
bãi bỏ)
Điều 13. Hồ
sơ của người nhận con nuôi
Hồ sơ của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam
làm con nuôi phải có các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Nuôi con
nuôi.
Khi nộp hồ sơ tại Bộ Tư pháp[23], người nhận con nuôi đích danh
theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi con nuôi phải nộp 01 bộ hồ sơ của
người được nhận làm con nuôi và tùy từng trường hợp còn phải có giấy tờ tương ứng
sau đây:
1. Bản sao giấy chứng nhận kết
hôn của cha dượng hoặc mẹ kế với mẹ đẻ hoặc cha đẻ của người được nhận làm con
nuôi.
2. Giấy tờ, tài liệu để chứng
minh người nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm
con nuôi.
3. Bản sao quyết định của cơ
quan có thẩm quyền Việt Nam cho người đó nhận con nuôi Việt Nam và giấy tờ, tài
liệu để chứng minh người con nuôi đó với trẻ em được nhận làm con nuôi là anh,
chị em ruột.
4. Giấy tờ, tài liệu để chứng
minh trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em thuộc một trong các trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này.
5.[24] Giấy xác nhận của Công an cấp xã nơi người nhận con
nuôi cư trú tại Việt Nam và giấy tờ, tài liệu khác chứng minh người nhận con nuôi
thuộc diện là người nước ngoài đang làm việc, học tập liên tục tại Việt Nam
trong thời gian ít nhất là 01 năm, tính đến ngày nộp hồ sơ tại Bộ Tư pháp.
Điều 14. Hồ
sơ của người được nhận làm con nuôi
Hồ sơ của người được nhận làm con
nuôi phải có các giấy tờ được lập theo quy định tại Điều 32 của Luật Nuôi con
nuôi và các quy định cụ thể sau đây:
1. Bản tóm tắt đặc điểm, sở
thích, thói quen của trẻ em phải ghi trung thực các thông tin về sức khỏe, tình
trạng bệnh tật (nếu có) của trẻ em, sở thích, thói quen hàng ngày đáng lưu ý của
trẻ em để thuận lợi cho người nhận con nuôi trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi.
Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế
nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi thì không cần văn bản này.
2.[25] Đối với trẻ em thuộc diện thông qua thủ tục giới thiệu,
thì phải có các văn bản sau đây:
a) Văn bản của Sở Tư pháp kèm
theo giấy tờ, tài liệu về việc đã thông báo tìm gia đình thay thế trong nước
cho trẻ em theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi;
b) Văn bản xác nhận của Bộ Tư
pháp[26] về việc đã hết thời hạn
thông báo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của Luật Nuôi con nuôi nhưng
không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi.
3.[27] Tại lễ giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp giao cho cha, mẹ
nuôi 01 bộ hồ sơ trẻ em gồm các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật
Nuôi con nuôi và văn bản lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ và ý kiến
của trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi; trường
hợp trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng thì phải có văn bản lấy ý kiến của
Giám đốc cơ sở nuôi dưỡng về việc cho trẻ em làm con nuôi.
Điều 15.
Kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên quan về việc cho trẻ em làm
con nuôi ở nước ngoài
1.[28] Sở Tư pháp kiểm tra hồ sơ và cử công chức lấy ý kiến của
những người liên quan về việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài theo quy định
tại khoản 1 Điều 33 của Luật Nuôi con nuôi.
Trường hợp cha, mẹ đẻ hoặc người
giám hộ của trẻ em cư trú ở địa phương khác thì Sở Tư pháp nơi giải quyết việc
nuôi con nuôi cử công chức hoặc gửi văn bản đề nghị Sở Tư pháp nơi cha, mẹ đẻ
hoặc người giám hộ của trẻ em cư trú lấy ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi
ở nước ngoài. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của
Sở Tư pháp nơi giải quyết việc nuôi con nuôi, Sở Tư pháp nơi cha, mẹ đẻ hoặc
người giám hộ của trẻ em cư trú tiến hành lấy ý kiến về việc cho trẻ em làm con
nuôi ở nước ngoài theo quy định pháp luật và gửi văn bản lấy ý kiến cho Sở Tư
pháp nơi giải quyết việc nuôi con nuôi.
2. Việc kiểm tra hồ sơ và lấy ý
kiến phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
9 của Nghị định này.
Trường hợp những người liên
quan do chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu rõ những vấn đề được tư vấn hoặc bị ảnh
hưởng, tác động bởi yếu tố tâm lý, sức khỏe đã đồng ý cho trẻ em làm con nuôi
sau đó muốn thay đổi ý kiến, thì trong thời hạn 22 ngày làm việc[29] kể từ ngày được lấy ý kiến, những
người liên quan phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp nơi đang giải quyết
hồ sơ nuôi con nuôi. Hết thời hạn này, những người liên quan không được thay đổi
ý kiến về việc cho trẻ em làm con nuôi.
Điều 16.
Yêu cầu về xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài[30]
1.[31] Trước khi xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở
nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật Nuôi con nuôi, Sở Tư pháp
kiểm tra, thẩm định hồ sơ của trẻ em và đối chiếu với các quy định về đối tượng,
độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi, trường hợp phải thông qua thủ tục giới
thiệu, trường hợp được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật
Nuôi con nuôi.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được
cho làm con nuôi ở nước ngoài, phải có văn bản xác minh và kết luận rõ ràng của
Công an cấp tỉnh về nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha, mẹ đẻ
và chưa phát hiện vấn đề gì liên quan đến mua bán người. Trường hợp hồ sơ trẻ
em thể hiện thông tin cha, mẹ đẻ của trẻ em cư trú ở địa phương khác, Công an cấp
tỉnh nơi giải quyết việc nuôi con nuôi trực tiếp xác minh hoặc gửi văn bản đề nghị
Công an cấp tỉnh nơi có thông tin cư trú của cha, mẹ đẻ của trẻ em xác minh.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà
Công an cấp tỉnh xác minh được thông tin về cha, mẹ đẻ và Sở Tư pháp liên hệ được
với cha, mẹ đẻ thì Sở Tư pháp tiến hành lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ trước khi xác
nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi.
Trường hợp không thể liên hệ được
với cha, mẹ đẻ, Sở Tư pháp niêm yết tại trụ sở Sở Tư pháp trong thời hạn 60
ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, đồng thời có văn bản đề nghị Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có thông tin cư trú của cha, mẹ đẻ niêm yết tại trụ sở Ủy
ban nhân dân cấp xã về việc cho trẻ em làm con nuôi. Thời hạn niêm yết là 60
ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư
pháp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn niêm yết, Ủy ban
nhân dân cấp xã có văn bản gửi Sở Tư pháp thông báo về kết quả niêm yết tại địa
phương.
2. Việc xác nhận trẻ em có đủ
điều kiện làm con nuôi phải bảo đảm trẻ em đáp ứng đủ các yêu cầu về độ tuổi, đối
tượng được nhận đích danh, đối tượng phải thông qua thủ tục giới thiệu; hồ sơ
phải có đủ các giấy tờ hợp lệ.
Trường hợp trẻ em có đủ điều kiện
làm con nuôi, Sở Tư pháp phải có văn bản xác nhận đối với từng trường hợp cụ thể.
3.[32] Sau khi xác nhận trẻ em đủ điều kiện được cho làm con
nuôi ở nước ngoài, Sở Tư pháp gửi Bộ Tư pháp hồ sơ gồm các giấy tờ theo quy định
tại khoản 1 Điều 32 của Luật Nuôi con nuôi kèm theo văn bản xác nhận trẻ em đủ
điều kiện được cho làm con nuôi nước ngoài, văn bản xác minh của Công an cấp tỉnh
đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi; văn bản lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ hoặc người
giám hộ và ý kiến của trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên về việc đồng ý cho trẻ em
làm con nuôi; văn bản thể hiện ý kiến của Giám đốc cơ sở nuôi dưỡng về việc cho
trẻ em làm con nuôi đối với trường hợp trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng.
Điều 17.
Thủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ của người nhận con nuôi nước ngoài
Thủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ
của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước
ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được thực hiện theo quy định tại khoản
3 Điều 31 của Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:
1.[33] Trường hợp nhận con nuôi theo quy định tại điểm a, b, c
và đ khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi con nuôi, người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho
Bộ Tư pháp thông qua hình thức nộp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu
chính. Trường hợp ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam nộp hồ sơ thì phải
có văn bản ủy quyền. Văn bản ủy quyền do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập,
cấp, xác nhận phải được dịch ra tiếng Việt; việc hợp pháp hoá lãnh sự văn bản ủy
quyền này được thực hiện theo quy định pháp luật.
2.[34] Trường hợp nhận trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng làm
con nuôi, người nhận con nuôi thường trú tại nước là thành viên của điều ước quốc
tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp thông qua tổ chức con
nuôi của nước đó được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Tổ chức con nuôi lựa chọn
nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ Tư pháp hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính.
Trường hợp người nhận con nuôi
thường trú ở nước không có tổ chức con nuôi được cấp phép hoạt động tại Việt
Nam thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp thông qua Cơ quan Trung
ương về nuôi con nuôi của nước nơi người nhận con nuôi thường trú, hoặc cơ quan
đại diện ngoại giao hoặc cơ quan đại diện lãnh sự của nước đó tại Việt Nam.
3. Bộ Tư pháp[35] xem xét, tiếp nhận hồ sơ của người nhận con nuôi căn cứ
số lượng trẻ em Việt Nam có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài.
Điều 18.
Yêu cầu về kiểm tra, thẩm định hồ sơ của người nhận con nuôi nước ngoài
Việc kiểm tra hồ sơ của người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ
em Việt Nam làm con nuôi được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của
Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:
1. Sau khi nhận đủ hồ sơ của
người nhận con nuôi, Bộ Tư pháp[36]
kiểm tra, thẩm định hồ sơ để xác định:
a) Người nhận con nuôi đã được
cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó thường trú bảo đảm đáp ứng đủ điều
kiện nuôi con nuôi theo pháp luật của nước đó;
b) Người nhận con nuôi đáp ứng
đủ điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam.
2. Khi thẩm định hồ sơ, nếu thấy
cần thiết, Bộ Tư pháp[37] lấy ý
kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội để xác định người nhận con nuôi
có điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.
3. Hồ sơ của người nhận con
nuôi được chấp thuận nếu đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này; trường hợp không chấp thuận, Bộ Tư pháp[38] trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do bằng văn bản.
Điều 19.
Chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp[39]
1. Đối với các trường hợp được
quy định tại điểm a, b và c khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp
chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp để Sở Tư pháp kiểm tra, xác
minh hồ sơ của người được nhận làm con nuôi, lấy ý kiến của những người liên
quan về việc giải quyết nuôi con nuôi và xác nhận người được nhận làm con nuôi
đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài.
2. Trường hợp trẻ em sống ở cơ
sở nuôi dưỡng thuộc diện được quy định tại khoản 1 Điều 3 của
Nghị định này, sau khi nhận được hồ sơ của trẻ em và các giấy tờ theo quy định
tại khoản 3 Điều 16 của Nghị định này, Bộ Tư pháp có văn bản
đề nghị các Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam tìm người có điều kiện
phù hợp với việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em. Sau khi tìm được người có điều
kiện phù hợp với việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em, Bộ Tư pháp giải quyết cho
trẻ em làm con nuôi nước ngoài theo phương thức và thời hạn quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi và chuyển hồ sơ của người nhận con
nuôi cho Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục.
3. Trường hợp giải quyết nuôi
con nuôi đối với trẻ em sống ở cơ sở nuôi dưỡng theo thủ tục giới thiệu, Bộ Tư
pháp chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp theo quy định tại khoản
3 Điều 34 của Luật Nuôi con nuôi để thực hiện việc giới thiệu trẻ em. Việc chuyển
hồ sơ phải căn cứ số lượng trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài và số
lượng hồ sơ của người nhận con nuôi đã được chấp thuận, bảo đảm lựa chọn gia
đình phù hợp nhất cho trẻ em.
Điều 20.
Yêu cầu về giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài
Việc giới thiệu trẻ em làm con
nuôi ở nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Điều 35, Điều 36 của Luật
Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:
1. Căn cứ tình hình thực tiễn của
địa phương, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế phối hợp
liên ngành để tham mưu, tư vấn trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước
ngoài bảo đảm chặt chẽ, khách quan, phù hợp với nhu cầu và lợi ích tốt nhất của
trẻ em.
2. Sau khi giới thiệu trẻ em
làm con nuôi, Sở Tư pháp báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho ý kiến. Trường hợp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, thì trong
thời hạn không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý,
Sở Tư pháp chuyển cho Bộ Tư pháp[40]
01 bộ hồ sơ của trẻ em kèm theo văn bản đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường
hợp không đồng ý với việc giới thiệu của Sở Tư pháp, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
thông báo rõ lý do bằng văn bản để Sở Tư pháp tiến hành giới thiệu lại. Sau 03
tháng kể từ ngày Ủy ban nhân dân tỉnh không đồng ý mà Sở Tư pháp không giới thiệu
được thì Sở Tư pháp phải gửi trả lại hồ sơ của người nhận con nuôi cho Bộ Tư
pháp[41] kèm theo văn bản nêu rõ
lý do.
3.[42] Trong khi kiểm tra kết quả giải quyết việc nuôi con
nuôi nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 28 và khoản 2 Điều 36 của Luật
Nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã
hội trong trường hợp cần thiết. Nếu trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi ở
nước ngoài, việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi bảo đảm đúng trình tự, thủ
tục quy định và đáp ứng lợi ích tốt nhất của trẻ em, Bộ Tư pháp thông báo bằng
văn bản cho người nhận con nuôi, Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của nước
nơi người nhận con nuôi thường trú kèm theo các văn bản, giấy tờ sau:
a) Báo cáo đánh giá việc trẻ em
Việt Nam đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài;
b) Giấy khai sinh của trẻ em;
c) Quyết định tiếp nhận đối với
trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng;
d) Giấy khám sức khoẻ của trẻ
em;
đ) Văn bản lấy ý kiến của cha,
mẹ đẻ hoặc người giám hộ, ý kiến của trẻ em đủ 09 tuổi trở lên về việc cho trẻ
em làm con nuôi; văn bản thể hiện ý kiến của Giám đốc cơ sở nuôi dưỡng về việc
cho trẻ em làm con nuôi đối với trường hợp trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng.
Trường hợp trẻ em không đủ điều
kiện để cho làm con nuôi, việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi không bảo đảm
đúng trình tự, thủ tục theo quy định hoặc không đáp ứng lợi ích tốt nhất của trẻ
em, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp.
Mục 3.
NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI
Điều 21.
Thủ tục giải quyết việc người nước ngoài cư trú ở khu vực biên giới nước láng
giềng nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
1. Người nước ngoài cư trú ở
khu vực biên giới của nước láng giềng nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở khu vực
biên giới của Việt Nam làm con nuôi phải có đơn kèm theo các giấy tờ sau đây do
cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng cấp:
a) Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ
có giá trị thay thế;
b) Phiếu lý lịch tư pháp;
c) Văn bản xác nhận về việc người
nhận con nuôi có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật nước
đó;
d) Văn bản xác nhận tình trạng
hôn nhân;
đ) Giấy khám sức khỏe;
e) Hai ảnh mới nhất, chụp toàn
thân, cỡ 9 cm x 12 cm hoặc 10 cm x 15 cm.
2. Giấy tờ quy định tại khoản 1
Điều này phải được dịch ra tiếng Việt, lập thành 02 bộ hồ sơ. Người nhận con
nuôi phải nộp 02 bộ hồ sơ của mình kèm theo 02 bộ hồ sơ của trẻ em được nhận
làm con nuôi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của trẻ em được nhận làm
con nuôi; mỗi bộ hồ sơ của trẻ em gồm các giấy tờ quy định tại Điều 18 của Luật
Nuôi con nuôi.
Khi nộp hồ sơ, người nhận con
nuôi phải xuất trình Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế để kiểm tra và nộp
lệ phí đăng ký nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại khoản 1 Điều 40 của Nghị định này.
3. Trong thời hạn 10 ngày làm
việc[43], kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người
liên quan theo quy định tại Điều 9 của Nghị định này và có
văn bản gửi Sở Tư pháp kèm theo 01 bộ hồ sơ của người nhận con nuôi và 01 bộ hồ
sơ của trẻ em để xin ý kiến.
4. Trong thời hạn 08 ngày làm
việc[44], kể từ ngày nhận được
văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp xem xét hồ sơ xin nhận con nuôi
và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
5. Trong thời hạn 5 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã
đăng ký việc nuôi con nuôi và tiến hành giao nhận con nuôi theo thủ tục quy định
tại Điều 10 của Nghị định này; trường hợp Sở Tư pháp không
đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người
nhận con nuôi.
Điều 22.
Thủ tục xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới đủ điều kiện
nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới làm con nuôi, ghi
vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi con nuôi đã được giải quyết tại cơ quan
có thẩm quyền của nước láng giềng[45]
1. Công dân Việt Nam thường trú
ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới
của nước láng giềng làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều
14 của Luật Nuôi con nuôi.
2. Hồ sơ đề nghị xác nhận đủ điều
kiện nhận con nuôi phải có các giấy tờ theo quy định tại Điều 17 của Luật Nuôi
con nuôi và được lập thành 01 bộ.
3. Người nhận con nuôi lựa chọn
nộp hồ sơ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thường trú thông qua hình thức nộp
trực tiếp, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc nộp trực tuyến theo quy định của
pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Ủy ban nhân dân cấp huyện kiểm
tra hồ sơ và xác nhận nếu người đó có đủ điều kiện nhận con nuôi theo quy định
tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi. Văn bản xác nhận đủ điều kiện được trả cho
người có yêu cầu qua thư điện tử, Kho quản lý dữ liệu điện tử, hệ thống bưu
chính hoặc tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.
4. Sau khi đăng ký nuôi con
nuôi tại cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng, người nhận con nuôi phải
làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người
đó cư trú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Mục 4.
NUÔI CON NUÔI TRÊN THỰC TẾ MÀ CHƯA ĐĂNG KÝ
Điều 23.
Đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế
1. Việc nuôi con nuôi đã phát
sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01
tháng 01 năm 2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50
của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết
ngày 31 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ
nuôi và con nuôi.
2. Quy định tại khoản 1 Điều
này cũng được áp dụng đối với trường hợp công dân Việt Nam thường trú ở khu vực
biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới của nước láng
giềng làm con nuôi trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 mà chưa đăng ký tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Điều 24. Hồ
sơ đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế
1. Người nhận con nuôi phải làm
Tờ khai đăng ký nuôi con nuôi thực tế và nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi
người đó thường trú. Trong Tờ khai cần ghi rõ ngày, tháng, năm phát sinh quan hệ
nuôi con nuôi trên thực tế, có chữ ký của ít nhất hai người làm chứng.
2. Kèm theo Tờ khai phải có các
giấy tờ sau đây:
a) Bản sao Giấy chứng minh nhân
dân và sổ hộ khẩu của người nhận con nuôi;
b) Bản sao Giấy chứng minh nhân
dân hoặc Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi;
c) Bản sao Giấy chứng nhận kết
hôn của người nhận con nuôi, nếu có;
d) Giấy tờ, tài liệu khác để chứng
minh về việc nuôi con nuôi, nếu có.
Điều 25.
Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế
1. Trong thời hạn 10 ngày làm
việc[46], kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã cử công chức tư pháp - hộ tịch phối hợp Công
an xã tiến hành kiểm tra và xác minh; nếu cả người nhận con nuôi và người được
nhận làm con nuôi đều còn sống, quan hệ cha mẹ và con giữa các bên vẫn đang tồn
tại, các bên có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau trên thực tế như
cha mẹ và con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi.
2. Khi đăng ký việc nuôi con
nuôi, cả người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đều phải có mặt.
Công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng
nhận nuôi con nuôi cho các bên.
Mục 5.
NUÔI CON NUÔI GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NHAU TẠM TRÚ Ở NƯỚC NGOÀI
Điều 26. Hồ
sơ đăng ký việc nuôi con nuôi
1.[47] Hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành 01 bộ, gồm
các giấy tờ quy định tại Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi.
Đối với Phiếu lý lịch tư pháp
quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi, người nhận con nuôi nộp
Phiếu lý lịch tư pháp số 1.
Trường hợp người nhận con nuôi
nộp Phiếu lý lịch tư pháp điện tử, Cơ quan đại diện tra cứu được thông tin về
nhân thân, về tình trạng hôn nhân của người nhận con nuôi từ Cơ sở dữ liệu quốc
gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành thì người nhận con nuôi không phải nộp
bản giấy của giấy tờ quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 17 của Luật
Nuôi con nuôi.
Kết quả tra cứu được Cơ quan đại
diện lưu trữ dưới dạng điện tử hoặc bản giấy, phản ánh đầy đủ, chính xác thông
tin tại thời điểm tra cứu và đính kèm hồ sơ của người nhận con nuôi.
Trường hợp người nhận con nuôi
cư trú ở nước ngoài từ 06 tháng trở lên, Phiếu lý lịch tư pháp, Giấy khám sức
khoẻ, Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế
của người đó có thể do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó cư trú cấp.
2. Hồ sơ của người được nhận
làm con nuôi được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ theo quy định tại các điểm
a, b, c và tùy từng trường hợp còn phải có giấy tờ tương ứng quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 18 của Luật Nuôi con nuôi. Trường hợp người được nhận làm con
nuôi cư trú ở nước ngoài từ 06 tháng trở lên, thì giấy khám sức khỏe và giấy tờ
tương ứng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 18 của Luật Nuôi con nuôi có thể do
cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó cư trú cấp.
Điều 27.
Thủ tục nộp hồ sơ và đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện
1.[48] Người nhận con nuôi nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người
được nhận làm con nuôi tại Cơ quan đại diện theo quy định tại khoản
3 Điều 2 của Nghị định này thông qua hình thức nộp trực tiếp, gửi hồ sơ qua
hệ thống bưu chính hoặc nộp trực tuyến theo quy định của pháp luật về thực hiện
thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
2. Trong thời hạn 08 ngày làm
việc[49], kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ, Cơ quan đại diện kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên
quan về việc nuôi con nuôi. Việc kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người
liên quan phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại Điều 9 của Nghị
định này.
3. Nếu xét thấy các bên có đủ
điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi, thì trong thời hạn
15 ngày làm việc[50], kể từ ngày
lấy ý kiến của những người liên quan, Cơ quan đại diện đăng ký việc nuôi con
nuôi.
Khi đăng ký nuôi con nuôi, cha
mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ và người được nhận làm con nuôi phải có mặt.
Cơ quan đại diện ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi
con nuôi cho các bên, đồng thời gửi văn bản thông báo cho Bộ Tư pháp[51] và Cục Lãnh sự kèm theo bản sao
Giấy chứng nhận nuôi con nuôi.
4. Trường hợp hồ sơ nuôi con
nuôi không rõ ràng, cần yêu cầu cơ quan trong nước kiểm tra, xác minh, Cơ quan
đại diện có văn bản kèm bản chụp hồ sơ gửi Bộ Tư pháp[52], đồng gửi Cục Lãnh sự, yêu cầu xác minh.
Trong thời hạn 22 ngày làm việc[53], kể từ ngày nhận được văn bản
yêu cầu, Bộ Tư pháp[54] đề nghị
cơ quan có liên quan trong nước thẩm tra, xác minh và trả lời cho Cơ quan đại
diện.
Trường hợp từ chối đăng ký, Cơ
quan đại diện thông báo lý do bằng văn bản cho người nhận con nuôi.
Điều 28.
Thông báo tình hình phát triển của con nuôi và theo dõi việc nuôi con nuôi
Trong thời hạn 3 năm, kể từ
ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm định kỳ 6 tháng gửi báo cáo
cho Cơ quan đại diện nơi họ cư trú về tình trạng sức khỏe, tinh thần, sự hòa nhập
của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng; trường hợp việc nuôi con
nuôi tiếp tục thực hiện tại Việt Nam, thì trong thời hạn này việc thông báo
tình hình phát triển của con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của
Luật Nuôi con nuôi.
Mục 6.
ĐĂNG KÝ LẠI VIỆC NUÔI CON NUÔI, GHI VÀO SỔ ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI VIỆC NUÔI CON
NUÔI ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT TẠI CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA NƯỚC NGOÀI[55]
Điều 29.
Đăng ký lại việc nuôi con nuôi
1. Việc nuôi con nuôi đã được
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, nhưng cả Sổ hộ tịch và
bản chính giấy tờ đăng ký nuôi con nuôi bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được,
thì được đăng ký lại, nếu cả cha, mẹ nuôi và con nuôi đều còn sống vào thời điểm
yêu cầu đăng ký lại.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
cha mẹ nuôi và con nuôi thường trú hoặc nơi đã đăng ký việc nuôi con nuôi trước
đây thực hiện đăng ký lại việc nuôi con nuôi. Sở Tư pháp nơi cha mẹ nuôi và con
nuôi thường trú hoặc nơi đã đăng ký việc nuôi con nuôi trước đây thực hiện đăng
ký lại việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
3.[56] Người có yêu cầu đăng ký lại việc nuôi con nuôi lựa chọn
nộp Tờ khai đăng ký lại việc nuôi con nuôi thông qua hình thức nộp trực tiếp, gửi
qua hệ thống bưu chính hoặc nộp trực tuyến theo quy định của pháp luật về thực
hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Tờ khai phải có cam đoan của
người yêu cầu đăng ký lại về tính trung thực của việc đăng ký nuôi con nuôi trước
đó và có chữ ký của ít nhất hai người làm chứng.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Sở
Tư pháp phải giải thích rõ cho người có yêu cầu đăng ký lại việc nuôi con nuôi
về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật. Trong phạm
vi thẩm quyền giải quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp từ chối đăng ký lại
việc nuôi con nuôi hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký lại
việc nuôi con nuôi, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
4.[57] Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy
tờ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận nuôi con nuôi
trong nước. Bản chính Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước được gửi cho người
yêu cầu đăng ký lại qua hệ thống bưu chính hoặc trả trực tiếp tại Ủy ban nhân
dân cấp xã. Bản điện tử Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước gửi qua Kho quản
lý dữ liệu điện tử của cá nhân hoặc qua hộp thư điện tử cá nhân.
Đối với trường hợp đăng ký lại
việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định để Sở Tư pháp tiến hành các thủ tục tiếp theo.
5. Trong mục ghi chú của bản
chính các giấy tờ quy định tại khoản 4 Điều này và Sổ đăng ký nuôi con nuôi phải
ghi rõ là đăng ký lại.
Điều 30.
Ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi con nuôi đã được giải quyết tại cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài [58]
1. Việc nuôi con nuôi giữa công
dân Việt Nam với nhau hoặc giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được
giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được ghi vào Sổ đăng ký
nuôi con nuôi trong các trường hợp sau:
a) Việc nuôi con nuôi đã được
giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước nơi giải quyết
việc nuôi con nuôi cùng là thành viên;
b) Việc nuôi con nuôi đã được
giải quyết theo quy định pháp luật của nước ngoài, trừ trường hợp vi phạm những
nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Thẩm quyền, thủ tục ghi vào
Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi con nuôi đã được giải quyết tại cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Đối với trường hợp nuôi con
nuôi được giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thì ngoài các
giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật hộ tịch, hồ sơ còn phải có văn bản
chứng nhận việc nuôi con nuôi đã được thực hiện phù hợp với điều ước quốc tế của
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
3. Bộ Tư pháp[59] đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp
danh sách các nước có quan hệ hợp tác với Việt Nam theo điều ước quốc tế về
nuôi con nuôi.
Chương
III
THỦ TỤC CẤP, GIA HẠN, SỬA
ĐỔI, THU HỒI GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CON NUÔI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Điều 31. Hồ
sơ của tổ chức con nuôi nước ngoài xin cấp phép hoạt động tại Việt Nam
1. Hồ sơ của tổ chức con nuôi
nước ngoài xin cấp phép hoạt động tại Việt Nam phải có các giấy tờ sau đây:
a) Đơn của tổ chức con nuôi nước
ngoài xin phép hoạt động tại Việt Nam;
b) Bản sao Điều lệ, Quy chế hoạt
động hoặc văn bản thành lập tổ chức con nuôi nước ngoài;
c) Bản sao giấy phép do cơ quan
có thẩm quyền của nước nơi tổ chức được thành lập cấp, cho phép tổ chức được hoạt
động trong lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam;
d) Báo cáo tình hình hoạt động
trong lĩnh vực con nuôi quốc tế trong 03 năm gần nhất, bao gồm cả tình hình
thu, chi tài chính về con nuôi quốc tế, không vi phạm pháp luật và được cơ quan
có thẩm quyền của nước nơi tổ chức được thành lập xác nhận; trường hợp đã hoạt
động trong lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, thì phải có báo cáo
về tình hình hoạt động tại Việt Nam;
đ)[60] (được bãi bỏ)
e)[61] (được bãi bỏ)
g)[62] Sơ yếu lý lịch tự thuật[63], phiếu lý lịch tư pháp, bản sao văn bằng, chứng chỉ về
trình độ chuyên môn của người dự kiến đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài tại
Việt Nam và văn bản của tổ chức chấp thuận cử người đó làm người đứng đầu Văn
phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.
Đối với phiếu lý lịch tư pháp
do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, Bộ Tư pháp có trách nhiệm khai thác,
sử dụng thông tin trên Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để thay thế phiếu lý lịch
tư pháp.
Trường hợp không khai thác được
thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì Bộ Tư
pháp yêu cầu cá nhân, tổ chức bổ sung phiếu lý lịch tư pháp; đồng thời đề nghị
cá nhân, tổ chức thực hiện cập nhật, điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu
lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật.
2.[64] Giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này được lập thành 01
bộ hồ sơ và nộp tại Bộ Tư pháp[65].
Điều 32.
Tiêu chuẩn của người đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam
1. Người đứng đầu Văn phòng con
nuôi nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sau đây:
a) Là công dân Việt Nam hoặc
công dân nước ngoài; nếu là công dân Việt Nam thì không thuộc diện công chức,
viên chức theo quy định của pháp luật;
b) Có đạo đức tốt;
c) Không có tiền án, tiền sự,
không thuộc diện bị cấm xuất cảnh, nhập cảnh;
d) Hiểu biết về pháp luật, văn
hóa, xã hội Việt Nam liên quan đến nuôi con nuôi và pháp luật quốc tế về nuôi
con nuôi.
2. Một người chỉ được đứng đầu
một Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 33.
Trình tự cấp giấy phép cho tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
1.[66] Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ,
Bộ Tư pháp kiểm tra, thẩm định hồ sơ; phỏng vấn để kiểm tra, đánh giá về tiêu
chuẩn của người dự kiến đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; kiểm
tra, đánh giá về điều kiện, năng lực chuyên môn của tổ chức và đội ngũ nhân
viên của tổ chức con nuôi nước ngoài; đề nghị Bộ Công an cho ý kiến.
2. Trong thời hạn 22 ngày làm
việc[67], kể từ ngày nhận được đề
nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an trả lời bằng văn bản cho Bộ Tư pháp.
3.[68] Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
văn bản trả lời của Bộ Công an, Bộ Tư pháp xem xét, quyết định cấp Giấy phép hoạt
động nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Giấy phép) cho tổ chức
con nuôi nước ngoài và thông báo cho Bộ Công an, cơ quan thuế có thẩm quyền để
phối hợp quản lý. Trường hợp từ chối cấp Giấy phép, Bộ Tư pháp thông báo lý do
bằng văn bản cho tổ chức con nuôi nước ngoài.
4. Giấy phép có giá trị trên phạm
vi toàn quốc trong thời hạn tối đa là 05 năm kể từ ngày cấp và có thể được gia
hạn nhiều lần, thời gian gia hạn mỗi lần tối đa là 05 năm.
Điều 34.
Gia hạn Giấy phép
1. Tổ chức con nuôi nước ngoài
được cấp Giấy phép hoạt động tại Việt Nam, nếu chấp hành nghiêm chỉnh các quy định
của pháp luật, thì được gia hạn Giấy phép.
2.[69] Trong thời hạn 60 ngày trước khi Giấy phép hết hạn, tổ
chức con nuôi nước ngoài phải làm đơn xin gia hạn gửi Bộ Tư pháp, kèm theo Giấy
phép, văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tổ chức được thành lập cấp,
cho phép tổ chức được hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài và báo
cáo hoạt động tại Việt Nam.
3.[70] Trong thời hạn 22 ngày làm việc[71], kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ;
kiểm tra hoạt động của Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; đánh giá lại
năng lực chuyên môn của tổ chức con nuôi nước ngoài nếu thấy cần thiết; đề nghị
Bộ Công an cho ý kiến.
4. Trong thời hạn 10 ngày làm
việc[72], kể từ ngày nhận được
công văn đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an trả lời bằng văn bản cho Bộ Tư
pháp.
5.[73] Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
văn bản trả lời của Bộ Công an, Bộ Tư pháp xem xét, quyết định gia hạn Giấy
phép và thông báo cho Bộ Công an, cơ quan thuế có thẩm quyền để phối hợp quản
lý. Trường hợp từ chối gia hạn Giấy phép, Bộ Tư pháp thông báo lý do bằng văn bản
cho tổ chức con nuôi nước ngoài.
Điều 35. Sửa
đổi Giấy phép[74]
1. Trường hợp tổ chức con nuôi
nước ngoài thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở chính tại nước nơi tổ chức được
thành lập, thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở của Văn phòng con nuôi nước ngoài
tại Việt Nam, tổ chức phải có đơn gửi Bộ Tư pháp đề nghị ghi chú nội dung thay
đổi.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đơn đề nghị ghi chú thay đổi, Bộ Tư pháp ghi nội dung thay
đổi vào Giấy phép, thông báo cho Bộ Công an, cơ quan thuế có thẩm quyền trong
trường hợp có thay đổi tên gọi, địa điểm trụ sở của Văn phòng con nuôi nước
ngoài tại Việt Nam để phối hợp quản lý.
2.[75] Trường hợp thay đổi người đứng đầu Văn phòng con nuôi
nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức con nuôi nước ngoài phải có đơn gửi Bộ Tư
pháp, kèm theo đơn phải có Giấy phép và 01 bộ hồ sơ của người dự kiến đứng đầu
Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam theo quy định tại điểm
g khoản 1 Điều 31 của Nghị định này.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ, đề nghị Bộ Công an
cho ý kiến.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Tư pháp, Bộ Công an trả lời bằng văn bản
cho Bộ Tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Bộ Công an, Bộ Tư pháp xem xét, quyết
định cho phép thay đổi người đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt
Nam và thông báo cho Bộ Công an, cơ quan thuế có thẩm quyền để phối hợp quản
lý. Trường hợp không chấp nhận người dự kiến đứng đầu Văn phòng con nuôi nước
ngoài tại Việt Nam, Bộ Tư pháp thông báo lý do bằng văn bản cho tổ chức con
nuôi nước ngoài.
Điều 36.
Thu hồi Giấy phép
1. Tổ chức con nuôi nước ngoài
bị thu hồi Giấy phép hoạt động con nuôi nước ngoài tại Việt Nam theo quy định tại
khoản 3 Điều 43 của Luật Nuôi con nuôi và các quy định cụ thể sau đây:
a) Tổ chức con nuôi nước ngoài
đã chấm dứt hoạt động tại nước nơi tổ chức đó được thành lập;
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài không cho phép tổ chức tiếp tục hoạt động tại Việt Nam;
c) Tổ chức con nuôi nước ngoài
đề nghị chấm dứt hoạt động tại Việt Nam trước thời hạn ghi trong Giấy phép do Bộ
Tư pháp cấp;
d) Hết hạn Giấy phép hoạt động
tại Việt Nam mà tổ chức không đề nghị gia hạn hoặc có đơn đề nghị nhưng không
được gia hạn;
đ) Bị tước quyền sử dụng Giấy
phép theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Tổ chức con nuôi nước ngoài
phải nộp lại Giấy phép cho Bộ Tư pháp[76]
và thanh toán mọi khoản nợ (nếu có) với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
tại Việt Nam.
3. Bộ Tư pháp[77] thông báo cho Bộ Công an, cơ quan thuế có thẩm quyền và
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thu hồi Giấy phép.
Điều 37.
Quản lý tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam
1. Căn cứ tình hình thực tiễn,
sau khi trao đổi với Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế của các nước có
liên quan, Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao ấn định số lượng tổ
chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.
2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp
với Bộ Công an và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan thực hiện quản lý Văn
phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.
Chương IV
LỆ PHÍ ĐĂNG KÝ NUÔI CON
NUÔI, LỆ PHÍ CẤP, GIA HẠN, SỬA ĐỔI GIẤY PHÉP CỦA TỔ CHỨC CON NUÔI NƯỚC NGOÀI,
CHI PHÍ GIẢI QUYẾT NUÔI CON NUÔI NƯỚC NGOÀI
Điều 38.
Nguyên tắc thu, nộp, quản lý và sử dụng
1.[78] (được bãi bỏ)
2. Chi phí giải quyết nuôi con
nuôi nước ngoài là khoản tiền mà người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam
phải nộp khi nhận con nuôi ở Việt Nam để bù đắp một phần chi phí giải quyết
nuôi con nuôi nước ngoài.
3. Toàn bộ số tiền thu được
theo quy định tại[79] khoản 2 Điều
này phải nộp vào tài khoản của cơ quan thu mở tại Kho bạc Nhà nước để theo dõi
quản lý, sử dụng theo quy định.
Cơ quan thu có trách nhiệm lập
dự toán thu, chi hàng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện
thanh quyết toán theo chế độ hiện hành.
Mục 1[80] (được
bãi bỏ)
Mục 2. CHI
PHÍ GIẢI QUYẾT NUÔI CON NUÔI NƯỚC NGOÀI
Điều 47. Mức
thu, cơ quan thu chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài
1. Mức thu chi phí giải quyết
nuôi con nuôi nước ngoài là năm mươi triệu đồng (50.000.000 đồng)/trường hợp.
Khoản tiền này không bao gồm
chi phí dịch vụ, đi lại, ăn ở và phí tổn phát sinh trên thực tế mà người nhận
con nuôi trực tiếp chi trả, kể cả chi phí đưa trẻ em ra nước ngoài sau khi được
giải quyết cho làm con nuôi.
2. Bộ Tư pháp[81] có trách nhiệm thu chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước
ngoài.
Điều 48. Đối
tượng nộp, miễn nộp chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài
1. Người nước ngoài không thường
trú tại Việt Nam phải nộp chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài khi người
đó đồng ý nhận trẻ em Việt Nam được giới thiệu làm con nuôi theo quy định tại
khoản 3 Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi.
2. Người nước ngoài không thường
trú tại Việt Nam nhận trẻ em quy định tại khoản 1 Điều 3 của
Nghị định này làm con nuôi được miễn nộp chi phí giải quyết nuôi con nuôi
nước ngoài.
Điều 49.
Chế độ sử dụng chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài
1. Cơ quan thu chuyển 95% mức
chi phí quy định tại khoản 1 Điều 47 của Nghị định này cho
ngân sách cấp tỉnh để phân bổ sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bảo vệ,
chăm sóc trẻ em tại địa phương, trong đó:
a) 70% mức chi phí quy định tại
khoản 1 Điều 47 của Nghị định này được sử dụng vào việc
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và cải thiện các điều kiện về cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ nhu cầu, lợi ích của trẻ em;
b) 15% mức chi phí quy định tại
khoản 1 Điều 47 của Nghị định này được bổ sung quỹ lương và
nâng cao năng lực cho nhân viên của cơ sở nuôi dưỡng;
c) 5% mức chi phí quy định tại khoản 1 Điều 47 của Nghị định này được sử dụng vào việc xác
minh nguồn gốc của trẻ em được cho làm con nuôi;
d) 5% mức chi phí quy định tại khoản 1 Điều 47 của Nghị định này được sử dụng vào việc hoàn tất
thủ tục và giao nhận con nuôi.
Cơ quan, tổ chức sử dụng chi
phí có trách nhiệm sử dụng hiệu quả, đúng mục đích phần chi phí được phân bổ, lập
sổ sách theo dõi và định kỳ hằng năm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời
gửi cho Sở Tư pháp tổng hợp để báo cáo Bộ Tư pháp.
2. Cơ quan thu được trích lại
5% mức chi phí quy định tại khoản 1 Điều 47 của Nghị định này
để chi cho việc thu và chuyển chi phí; xác nhận và cấp biên lai thu chi phí cho
người nộp; lập sổ sách theo dõi, kiểm tra việc sử dụng khoản chi phí này bảo đảm
đúng mục đích, có hiệu quả; tổng hợp và báo cáo công khai hằng năm về tình hình
thu, nộp, sử dụng chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước trong phạm vi toàn quốc
theo quy định và phù hợp thông lệ quốc tế.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[82]
Điều 50.
Điều khoản chuyển tiếp
1. Hồ sơ xin nhận con nuôi
trong nước do Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận và hồ sơ do Cơ quan đại diện tiếp
nhận trước ngày 01 tháng 01 năm 2011 mà chưa giải quyết xong, thì tiếp tục được
giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số
158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về quản lý và đăng ký hộ
tịch và các văn bản liên quan khác.
2. Hồ sơ xin nhận con nuôi nước
ngoài do Cục Con nuôi tiếp nhận và đã thông báo cho người nhận con nuôi về trẻ
em có đủ điều kiện được giới thiệu làm con nuôi trước ngày 01 tháng 01 năm 2011
mà chưa giải quyết xong, thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Nghị định
số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm
2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP
ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài và các văn bản liên quan khác.
3. Tổ chức con nuôi nước ngoài
đã được cấp Giấy phép lập Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam trước ngày
01 tháng 01 năm 2011 được hoạt động tại Việt Nam đến ngày 30 tháng 9 năm 2011;
nếu tiếp tục hoạt động tại Việt Nam, thì tổ chức con nuôi nước ngoài phải đáp ứng
đủ điều kiện và được cấp Giấy phép hoạt động nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt
Nam theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và Nghị định này.
Điều 51.
Bãi bỏ các quy định về nuôi con nuôi tại các Nghị định liên quan
1. Bãi bỏ chương IV “Nuôi con
nuôi” từ Điều 35 đến Điều 64, Điều 71 và những quy định liên quan khác về nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7
năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
2. Bãi bỏ các khoản 8, 9, 10,
11, 12, 13 của Điều 2 và những quy định liên quan khác về nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài tại Nghị định số 69/2006/NĐ- CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10
tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài.
3. Bãi bỏ các điều từ Điều 25 đến
Điều 28 và những quy định liên quan khác về trình tự, thủ tục đăng ký việc nuôi
con nuôi tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ
về quản lý và đăng ký hộ tịch.
4. Bãi bỏ Chương IV “Đăng ký nhận
nuôi con nuôi” từ Điều 15 đến Điều 17 tại Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27
tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy định về việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia
đình đối với các dân tộc thiểu số.
Điều 52.
Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 08 tháng 5 năm 2011.
2. Bộ Tư pháp tổ chức thi hành
Nghị định này./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cổng TTĐT Chính phủ (để đăng tải);
- Cổng TTĐT Bộ Tư pháp (để đăng tải);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (để đăng tải).
- Lưu: VT, HCTP.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Thanh Ngọc
|
[1] Nghị định số 114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi
con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài có căn
cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Nuôi con nuôi
ngày 17 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước
ngày 25 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí
ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Tài chính;
Chính phủ ban hành Nghị định
quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức
nuôi con nuôi nước ngoài.”
Nghị định số 24/2019/NĐ-CP sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con
nuôi có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Nuôi con nuôi
ngày 17 tháng 6 năm 2010;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp;
Chính phủ ban hành Nghị định
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con
nuôi.”
Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Nghị định về nuôi con nuôi có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Nuôi con nuôi
ngày 17 tháng 6 năm 2010;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp;
Chính phủ ban hành Nghị định
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi.”
Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa
đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều
kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính
phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một
số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh
thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.”
[2] Cụm
từ “lệ phí đăng ký nuôi con nuôi” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10
của Nghị định số 114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp
giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2017.
[3] Cụm
từ “mức thu, chế độ quản lý, sử dụng lệ phí” được bãi bỏ theo quy định tại khoản
2 Điều 10 của Nghị định số 114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi con
nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
[4] Cụm
từ “công nhận việc nuôi con nuôi đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài” được thay thế bởi cụm từ “ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi con
nuôi đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài” theo quy định
tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[5] Khoản
này được sửa đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[6] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[7] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định số
06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[8] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[9] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[10]
Cụm từ “Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Cục Con nuôi)” được thay
thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[11]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm d khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[12]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị định số
06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[13]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21
tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019 và được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08
tháng 01 năm 2025.
[14]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Nghị định số
06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi,
có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025 và được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị
định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc
phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[15]
Cụm từ “trong thời hạn 10 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 08
ngày làm việc” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[16]
Cụm từ “trong thời hạn 15 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 10
ngày làm việc” theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[17]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[18]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định
số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP
ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[19]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định
số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP
ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[20]
Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Nghị định số
06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi,
có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[21]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[22]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị định số
06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi,
có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[23]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[24]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[25]
Khoản này được sửa đổi theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[26]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[27]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[28]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[29]
Cụm từ “trong thời hạn 30 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 22
ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[30]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[31]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 1 của Nghị
định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi
con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[32]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 1 của Nghị
định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi
con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[33]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[34]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[35]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[36]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[37]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[38]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[39]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01
năm 2025.
[40]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[41]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[42]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Nghị định
số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP
ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019 và được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Nghị định
về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[43]
Cụm từ “trong thời hạn 15 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 10
ngày làm việc” theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[44]
Cụm từ “trong thời hạn 10 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 08
ngày làm việc” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[45]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[46]
Cụm từ “trong thời hạn 15 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 10
ngày làm việc” theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[47]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01
năm 2025.
[48]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[49]
Cụm từ “trong thời hạn 10 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 08
ngày làm việc” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[50]
Cụm từ “trong thời hạn 20 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 15
ngày làm việc” theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[51]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[52] Cụm
từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[53]
Cụm từ “trong thời hạn 30 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 22
ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[54]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[55]
Cụm từ “công nhận việc nuôi con nuôi đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài” được thay thế bởi cụm từ “ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc
nuôi con nuôi đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài” theo
quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[56]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[57]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[58]
Điều này được sửa đổi theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, có hiệu
lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[59]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm e khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[60]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[61]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị định số
24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày
21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 4 năm 2019.
[62]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Nghị định
số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ
tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có
hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[63]
Cụm từ “Lý lịch cá nhân” được thay thế bởi cụm từ “Sơ yếu lý lịch tự thuật”
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày
08 tháng 01 năm 2025.
[64]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026
[65]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[66]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 17 Điều 1 của
Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về
nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[67]
Cụm từ “trong thời hạn 30 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 22
ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 14 của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính,
điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ
ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[68]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 17 Điều 1 của
Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về
nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[69]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 18 Điều 1 của
Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về
nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[70]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 18 Điều 1 của
Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về
nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[71]
Cụm từ “trong thời hạn 30 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 22
ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 14 của Nghị định số
18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[72]
Cụm từ “trong thời hạn 15 ngày” được thay thế bởi cụm từ “trong thời hạn 10
ngày làm việc” theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14 của Nghị định số 18/2026/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính,
điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có hiệu lực kể từ
ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[73]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 18 Điều 1 của
Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về
nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[74]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Nghị định
số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con
nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[75]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 14 của Nghị định
số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ
tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có
hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
[76]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[77]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm
2025.
[78]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định số
114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt
động của tổ chức con nuôi nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
[79]
Cụm từ “khoản 1 và” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định
số 114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép
hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2017.
[80]
Mục này bao gồm các điều 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45 và 46 được bãi bỏ theo quy
định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định số 114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng
ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước
ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
[81]
Cụm từ “Cục Con nuôi” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định về nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
[82] Các điều 9, 10 và 11 của Nghị định số 114/2016/NĐ-CP
quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động của tổ chức
con nuôi nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 quy định như
sau:
“Điều 9. Điều khoản chuyển
tiếp
Trường hợp người nộp hồ sơ
xin nhận con nuôi đã nộp lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước hoặc nước
ngoài, tổ chức con nuôi nước ngoài nộp hồ sơ xin cấp, gia hạn, sửa đổi giấy
phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam đã nộp lệ phí cấp,
gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 thì việc
thu, quản lý, sử dụng lệ phí thực hiện theo quy định tại Nghị định số
19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Nuôi con nuôi.
Điều 10. Hiệu lực thi
hành
1. Nghị định này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
2. Kể từ ngày Nghị định này
có hiệu lực thi hành, cụm từ “lệ phí đăng ký nuôi con nuôi”, “mức thu, chế độ
quản lý, sử dụng lệ phí” tại khoản 1 Điều 1; cụm từ “khoản 1 và” tại khoản 3 Điều
38; quy định tại khoản 1 Điều 38 và các Điều: 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46
Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi hết hiệu lực thi hành.
Điều 11. Tổ chức thực hiện
1. Bộ Tài chính hướng dẫn lập
dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho
công tác nuôi con nuôi và cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động của tổ chức
con nuôi nước ngoài tại Việt Nam.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Nghị định này.”
Điều 3 và Điều 4 của Nghị định
số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP
ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Nuôi con nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019 quy định như
sau:
“Điều 3. Trách nhiệm tổ
chức thực hiện
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Nghị định này.
Điều 4. Điều khoản thi
hành
Nghị định này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 25 tháng 4 năm 2019.”
Điều 3 của Nghị định số
06/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nuôi con nuôi,
có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 3. Điều khoản thi
hành
1. Nghị định này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày ký ban hành.
2. Đối với hồ sơ của người
nhận con nuôi đã được nộp tại Sở Tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 22 của
Nghị định số 19/2011/NĐ-CP trước ngày Nghị định này có hiệu lực, hồ sơ đó được
tiếp tục giải quyết theo quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.
3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan
chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.”
Điều 17 và Điều 18 của Nghị định
số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ
tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, có
hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 17. Điều khoản thi
hành
1. Nghị định này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026.
2. Thay thế một số từ, cụm từ,
bãi bỏ một số điều khoản của Nghị định số 121/2025/NĐ-CP quy định về phân quyền,
phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp như sau:
a) Thay thế cụm từ “khoản 4
Điều 2a của Luật Luật sư” thành “khoản 4 Điều 2a của Nghị định số
123/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 137/2018/NĐ-CP” tại khoản
3 Điều 9;
b) Thay thế từ “khoản 1”
thành “khoản 2” tại Điều 26;
c) Bãi bỏ điểm b khoản 1 mục
I Phụ lục III; điểm c khoản 2 mục IV Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số
121/2025/NĐ-CP quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước
của Bộ Tư pháp.
3. Bãi bỏ điểm c khoản 1 Điều
16 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý.
Điều 18. Trách nhiệm thi
hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị
định này.”