Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 06/VBHN-VPQH Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Văn phòng quốc hội Người ký: Lê Quang Mạnh
Ngày ban hành: 05/02/2026 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 06VBHN-VPQH

Hà Nội, ngày 05 tháng 02 năm 2026

 

LUẬT

CƯ TRÚ

Luật Cư trú số 68/2020/QH14 ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2021, được sửa đổi, bổ sung bởi:

1. Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;

2. Luật số 118/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Cư trú[1].

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc đăng ký, quản lý cư trú; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chỗ ở hợp pháp là nơi được sử dụng để sinh sống, thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của công dân, bao gồm nhà ở, tàu, thuyền, phương tiện khác có khả năng di chuyển hoặc chỗ ở khác theo quy định của pháp luật.

2.[2] Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã.

3. Cơ sở dữ liệu về cư trú là cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tập hợp thông tin về cư trú của công dân, được số hóa, lưu trữ, quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin, được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.

4.[3] Cơ quan đăng ký cư trú là cơ quan quản lý cư trú trực tiếp thực hiện việc đăng ký cư trú của công dân, bao gồm Công an xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là Công an cấp xã).

5. Đăng ký cư trú là việc thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo tạm vắng, thông báo lưu trú và khai báo thông tin, điều chỉnh thông tin về cư trú.

6. Lưu trú là việc công dân ở lại một địa điểm không phải nơi thường trú hoặc nơi tạm trú trong thời gian ít hơn 30 ngày.

7. Tạm vắng là việc công dân vắng mặt tại nơi cư trú trong một khoảng thời gian nhất định.

8. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú.

9. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định ngoài nơi thường trú và đã được đăng ký tạm trú.

10. Nơi ở hiện tại là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú mà công dân đang thường xuyên sinh sống; trường hợp không có nơi thường trú, nơi tạm trú thì nơi ở hiện tại là nơi công dân đang thực tế sinh sống.

Điều 3. Nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú

1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

2. Bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội; kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

3. Trình tự, thủ tục đăng ký cư trú phải đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, không gây phiền hà; việc quản lý cư trú phải bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả.

4. Thông tin về cư trú phải được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú theo quy định của pháp luật; tại một thời điểm, mỗi công dân chỉ có một nơi thường trú và có thể có thêm một nơi tạm trú.

5. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân

1. Công dân thực hiện quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong các trường hợp sau đây:

a) Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách;

b) Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[4], biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

c) Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng;

d) Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật này;

đ) Các trường hợp khác theo quy định của luật.

3. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan.

Điều 5. Bảo đảm việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân và quản lý cư trú

1. Nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để bảo đảm việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân.

2. Nhà nước bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, đầu tư phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại cho hoạt động đăng ký, quản lý cư trú.

Điều 6. Hợp tác quốc tế về quản lý cư trú

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện hợp tác quốc tế về quản lý cư trú phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; thực hiện điều ước quốc tế liên quan đến quản lý cư trú mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm về cư trú

1. Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú.

2. Lạm dụng việc sử dụng thông tin về nơi thường trú, nơi tạm trú làm điều kiện để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

3. Đưa, môi giới, nhận hối lộ trong việc đăng ký, quản lý cư trú.

4. Không tiếp nhận, trì hoãn việc tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ, tài liệu, thông tin đăng ký cư trú hoặc có hành vi nhũng nhiễu khác; không thực hiện, thực hiện không đúng thời hạn đăng ký cư trú cho công dân khi hồ sơ đủ điều kiện đăng ký cư trú; xóa đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú trái với quy định của pháp luật.

5. Thu, quản lý, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với quy định của pháp luật.

6. Tự đặt ra thời hạn, thủ tục, giấy tờ, tài liệu, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch thông tin, sổ sách, hồ sơ về cư trú.

7. Cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ, tài liệu về cư trú trái với quy định của pháp luật.

8. Lợi dụng việc thực hiện quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

9. Làm giả giấy tờ, tài liệu, dữ liệu về cư trú; sử dụng giấy tờ, tài liệu, dữ liệu giả về cư trú; cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu sai sự thật về cư trú; khai man điều kiện, giả mạo hồ sơ, giấy tờ, tài liệu để được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú; mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, cầm cố, nhận cầm cố, hủy hoại giấy tờ, tài liệu về cư trú.

10. Tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú.

11.[5] Giải quyết cho đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú khi biết rõ người đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú không sinh sống tại chỗ ở đó, trừ trường hợp đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú cho trẻ em dưới 6 tuổi về với cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ.

12. Đồng ý cho người khác đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú không sinh sống tại chỗ ở đó.

13. Truy nhập, khai thác, hủy hoại, làm cản trở, gián đoạn hoạt động, thay đổi, xóa, phát tán, cung cấp trái phép thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú.

Chương II

QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN VỀ CƯ TRÚ

Điều 8. Quyền của công dân về cư trú

1. Lựa chọn, quyết định nơi cư trú của mình, đăng ký cư trú phù hợp với quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Được bảo đảm bí mật thông tin cá nhân, thông tin về hộ gia đình trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật.

3. Được khai thác thông tin về cư trú của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; được cơ quan đăng ký cư trú trong cả nước không phụ thuộc vào nơi cư trú của mình xác nhận thông tin về cư trú khi có yêu cầu.

4. Được cơ quan đăng ký cư trú cập nhật, điều chỉnh thông tin về cư trú của mình trong Cơ sở dữ liệu về cư trú khi có thay đổi hoặc khi có yêu cầu.

5. Được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền tự do cư trú của mình khi có yêu cầu.

6. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ quyền tự do cư trú.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Nghĩa vụ của công dân về cư trú

1. Thực hiện việc đăng ký cư trú theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, giấy tờ, tài liệu về cư trú của mình cho cơ quan, người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin, giấy tờ, tài liệu đã cung cấp.

3. Nộp lệ phí đăng ký cư trú theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Điều 10. Quyền, nghĩa vụ của chủ hộ và thành viên hộ gia đình về cư trú

1. Những người cùng ở tại một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột thì có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú theo hộ gia đình.

2. Người không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu có đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp theo quy định của Luật này thì được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú vào cùng một hộ gia đình.

3. Nhiều hộ gia đình có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp.

4. Chủ hộ là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp hộ gia đình không có người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì chủ hộ là người được các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp các thành viên hộ gia đình không đề cử được thì chủ hộ là thành viên hộ gia đình do Tòa án quyết định.

Trường hợp hộ gia đình chỉ có một người thì người đó là chủ hộ.

5. Chủ hộ có quyền và nghĩa vụ thực hiện, tạo điều kiện, hướng dẫn thành viên hộ gia đình thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú và những nội dung khác theo quy định của Luật này; thông báo với cơ quan đăng ký cư trú về việc trong hộ gia đình có thành viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 29 của Luật này.

6. Thành viên hộ gia đình có quyền và nghĩa vụ thống nhất đề cử chủ hộ; thực hiện đầy đủ quy định về đăng ký, quản lý cư trú.

Chương III

NƠI CƯ TRÚ

Điều 11. Nơi cư trú của công dân

1. Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi thường trú, nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi ở hiện tại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này.

Điều 12. Nơi cư trú của người chưa thành niên

1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống; trường hợp không xác định được nơi thường xuyên chung sống thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi do cha, mẹ thỏa thuận; trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.

2.[6] Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha hoặc mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quđịnh.

Điều 13. Nơi cư trú của người được giám hộ

1. Nơi cư trú của người được giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ.

2. Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Điều 14. Nơi cư trú của vợ, chồng

1. Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống.

2. Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 15. Nơi cư trú của người học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang

1. Nơi cư trú của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, sinh viên, học viên các trường Quân đội nhân dân là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng có nơi cư trú khác theo quy định của Luật này.

2. Nơi cư trú của sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, học sinh, sinh viên, học viên các trường Công an nhân dân, hạ sĩ quan nghĩa vụ, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an có nơi cư trú khác theo quy định của Luật này.

3. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi đơn vị đóng quân đối với người quy định tại khoản 1 Điều này do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định, đối với người quy định tại khoản 2 Điều này do Bộ trưởng Bộ Công an quy định.

Điều 16. Nơi cư trú của người sinh sống, người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền hoặc phương tiện khác có khả năng di chuyển

1. Nơi cư trú của người sinh sống, người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền hoặc phương tiện khác có khả năng di chuyển (sau đây gọi chung là phương tiện) là nơi đăng ký phương tiện đó, trừ trường hợp có nơi cư trú khác theo quy định của Luật này.

Đối với phương tiện không phải đăng ký hoặc có nơi đăng ký phương tiện không trùng với nơi thường xuyên đậu, đỗ thì nơi cư trú của người sinh sống, người làm nghề lưu động là nơi phương tiện đó thường xuyên đậu, đỗ.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 17. Nơi cư trú của người hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, trẻ em, người khuyết tật, người không nơi nương tựa trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo

1. Nơi cư trú của người hoạt động tín ngưỡng, nhà tu hành, chức sắc, chức việc, người khác hoạt động tôn giáo sinh sống trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo, trừ trường hợp có nơi cư trú khác theo quy định của Luật này.

2. Nơi cư trú của trẻ em, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không nơi nương tựa được nhận nuôi và sinh sống trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo.

Điều 18. Nơi cư trú của người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp

1. Nơi cư trú của người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp tại cơ sở trợ giúp xã hội là cơ sở trợ giúp xã hội.

2. Nơi cư trú của người được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng là nơi cư trú của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng.

Điều 19. Nơi cư trú của người không có nơi thường trú, nơi tạm trú

1. Nơi cư trú của người không có cả nơi thường trú và nơi tạm trú do không đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú là nơi ở hiện tại của người đó; trường hợp không có địa điểm chỗ ở cụ thể thì nơi ở hiện tại được xác định là đơn vị hành chính cấp xã nơi người đó đang thực tế sinh sống. Người không có nơi thường trú, nơi tạm trú phải khai báo thông tin về cư trú với cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại.

2. Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm hướng dẫn việc khai báo thông tin về cư trú theo các trường thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú.

 3. Trường hợp người quy định tại khoản 1 Điều này chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận thông tin khai báo, cơ quan đăng ký cư trú tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin; trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày.

4. Trường hợp người quy định tại khoản 1 Điều này đã có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận thông tin khai báo, cơ quan đăng ký cư trú tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin.

5. Sau khi kiểm tra, xác minh, cơ quan đăng ký cư trú cập nhật thông tin của công dân về nơi ở hiện tại và các thông tin khác vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đã khai báo về việc đã cập nhật thông tin.

6. Trường hợp có thay đổi thông tin về cư trú thì công dân phải khai báo lại với cơ quan đăng ký cư trú để rà soát, điều chỉnh thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú; khi đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì phải làm thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Chương IV

ĐĂNG KÝ THƯỜNG TRÚ

Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú

1. Công dân có chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của mình thì được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp đó.

2.[7] Người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ mà không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó.

Công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó đồng ý trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; người từ đủ 6 tuổi trở lên về ở với cha, mẹ, người giám hộ; cha, mẹ về ở với con; người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi về ở với người giám hộ;

b) Người cao tuổi về ở với anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột; người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không có khả năng lao động, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi về ở với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột;

c) Người chưa thành niên được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hoặc không còn cha, mẹ về ở với cụ nội, cụ ngoại, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Được chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý cho đăng ký thường trú tại địa điểm thuê, mượn, ở nhờ và được chủ hộ đồng ý nếu đăng ký thường trú vào cùng hộ gia đình đó;

b) Bảo đảm điều kiện về diện tích nhà ở tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không thấp hơn 08 m2 sàn/người.

4. Công dân được đăng ký thường trú tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo có công trình phụ trợ là nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người hoạt động tôn giáo được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển đến hoạt động tôn giáo tại cơ sở tôn giáo;

b) Người đại diện cơ sở tín ngưỡng;

c) Người được người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đồng ý cho đăng ký thường trú để trực tiếp quản lý, tổ chức hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng;

d) Trẻ em, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không nơi nương tựa được người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, người đứng đầu hoặc người đại diện cơ sở tôn giáo đồng ý cho đăng ký thường trú.

5. Người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp được đăng ký thường trú tại cơ sở trợ giúp xã hội khi được người đứng đầu cơ sở đó đồng ý hoặc được đăng ký thường trú vào hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý.

6. Người sinh sống, người làm nghề lưu động trên phương tiện được đăng ký thường trú tại phương tiện đó khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Là chủ phương tiện hoặc được chủ phương tiện đó đồng ý cho đăng ký thường trú;

b) Phương tiện được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật; trường hợp phương tiện không thuộc đối tượng phải đăng ký, đăng kiểm thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phương tiện thường xuyên đậu, đỗ về việc sử dụng phương tiện đó vào mục đích để ở;

c) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc phương tiện đã đăng ký đậu, đỗ thường xuyên trên địa bàn trong trường hợp phương tiện không phải đăng ký hoặc nơi đăng ký phương tiện không trùng với nơi thường xuyên đậu, đỗ.

7. Việc đăng ký thường trú của người chưa thành niên phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.

8.[8] Công dân không được đăng ký thường trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 của Luật này, trừ trường hợp người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ và quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

Điều 21. Hồ sơ đăng ký thường trú

1. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc sở hữu chỗ ở hợp pháp.

2.[9] Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú, trong đó ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp hoặc người được ủy quyền, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản. Trường hợp người dưới 6 tuổi đăng ký thường trú về ở với cha, mẹ, người giám hộ thì Tờ khai thay đổi thông tin về cư trú không cần có ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp hoặc người được ủy quyền;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân với chủ hộ, thành viên hộ gia đình, trừ trường hợp đã có thông tin thể hiện quan hệ này trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú;

c) Giấy tờ, tài liệu chứng minh các điều kiện khác quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật này.

3. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú, trong đó ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp được cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ hoặc người được ủy quyền, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;

b) Hợp đồng cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ hoặc văn bản về việc cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật;

c) Giấy tờ, tài liệu chứng minh đủ diện tích nhà ở để đăng ký thường trú theo quy định.

4. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại các điểm a, b và c khoản 4 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú; đối với người quy định tại điểm c khoản 4 Điều 20 của Luật này thì trong tờ khai phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh là nhà tu hành, chức sắc, chức việc hoặc người khác hoạt động tôn giáo và được hoạt động tại cơ sở tôn giáo đó theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đối với người quy định tại điểm a khoản 4 Điều 20 của Luật này; giấy tờ, tài liệu chứng minh là người đại diện cơ sở tín ngưỡng đối với người quy định tại điểm b khoản 4 Điều 20 của Luật này;

c) Văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo có công trình phụ trợ là nhà ở.

5. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại điểm d khoản 4 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú, trong đó ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng hay người đứng đầu hoặc người đại diện cơ sở tôn giáo, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;

b) Văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc người đăng ký thường trú thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật này và việc trong cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo có công trình phụ trợ là nhà ở.

6. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại khoản 5 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú; đối với người được cá nhân, hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thì trong tờ khai phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc người được ủy quyền, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;

b) Văn bản đề nghị của người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội đối với người được cơ sở trợ giúp xã hội nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp;

c) Giấy tờ, tài liệu xác nhận về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp.

7. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người quy định tại khoản 6 Điều 20 của Luật này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú; đối với người đăng ký thường trú không phải là chủ phương tiện thì trong tờ khai phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ phương tiện hoặc người được ủy quyền, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;

b) Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện và giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện hoặc văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc sử dụng phương tiện đó vào mục đích để ở đối với phương tiện không thuộc đối tượng phải đăng ký, đăng kiểm;

c) Văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về địa điểm phương tiện đăng ký đậu, đỗ thường xuyên trong trường hợp phương tiện không phải đăng ký hoặc nơi đăng ký phương tiện không trùng với nơi thường xuyên đậu, đỗ.

8. Trường hợp người đăng ký thường trú quy định tại các khoản 1,[10] 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này là người chưa thành niên thì trong tờ khai thay đổi thông tin cư trú phải ghi rõ ý kiến đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản.

9.[11] Trường hợp người đăng ký thường trú quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này là người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam thì trong hồ sơ đăng ký thường trú phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng; trường hợp không có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng thì phải có giấy tờ, tài liệu khác chứng minh có quốc tịch Việt Nam.

10. Chính phủ quy định chi tiết về các loại giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp và giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân quy định tại Điều này.

Điều 22. Thủ tục đăng ký thường trú

1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình cư trú.

2. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn người đăng ký bổ sung hồ sơ.

3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký thường trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

4. Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định của Luật này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký.

Điều 23. Địa điểm không được đăng ký thường trú mới

1. Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn, chiếm hành lang bảo vệ quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng, khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật.

2. Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn, chiếm trái phép hoặc chỗ ở xây dựng trên diện tích đất không đủ điều kiện xây dựng theo quy định của pháp luật.

3. Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Chỗ ở bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phương tiện được dùng làm nơi đăng ký thường trú đã bị xóa đăng ký phương tiện hoặc không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

5. Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 24. Xóa đăng ký thường trú

1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xóa đăng ký thường trú:

a) Chết; có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết;

b) Ra nước ngoài để định cư;

c) Đã có quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú quy định tại Điều 35 của Luật này;

d) Vắng mặt liên tục tại nơi thường trú từ 12 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác hoặc không khai báo tạm vắng, trừ trường hợp xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không phải để định cư hoặc trường hợp đang chấp hành án phạt tù, chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

đ)[12] Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, huỷ bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam;

e) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà sau 12 tháng kể từ ngày chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới, trừ trường hợp quy định tại điểm h khoản này;

g) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng sau đó quyền sở hữu chỗ ở đó đã chuyển cho người khác mà sau 12 tháng kể từ ngày chuyển quyền sở hữu vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới, trừ trường hợp được chủ sở hữu mới đồng ý tiếp tục cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ và cho đăng ký thường trú tại chỗ ở đó hoặc trường hợp quy định tại điểm h khoản này;

h) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ và không được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho giữ đăng ký thường trú tại chỗ ở đó; người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở thuộc quyền sở hữu của mình nhưng đã chuyển quyền sở hữu chỗ ở cho người khác và không được chủ sở hữu mới đồng ý cho giữ đăng ký thường trú tại chỗ ở đó;

i) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tại phương tiện đã bị xóa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan đã đăng ký thường trú có thẩm quyền xóa đăng ký thường trú và phải ghi rõ lý do, thời điểm xóa đăng ký thường trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú.

3. Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú.

Điều 25. Tách hộ

1. Thành viên hộ gia đình được tách hộ để đăng ký thường trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; trường hợp có nhiều thành viên cùng đăng ký tách hộ để lập thành một hộ gia đình mới thì trong số các thành viên đó có ít nhất một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Được chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý, trừ trường hợp thành viên hộ gia đình đăng ký tách hộ là vợ, chồng đã ly hôn mà vẫn được cùng sử dụng chỗ ở hợp pháp đó;

c) Nơi thường trú của hộ gia đình không thuộc trường hợp quy định tại Điều 23 của Luật này.

2. Hồ sơ tách hộ bao gồm tờ khai thay đổi thông tin cư trú, trong đó ghi rõ ý kiến đồng ý cho tách hộ của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản.

Trường hợp tách hộ sau ly hôn quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì hồ sơ tách hộ bao gồm tờ khai thay đổi thông tin cư trú, giấy tờ, tài liệu chứng minh việc ly hôn và việc tiếp tục được sử dụng chỗ ở hợp pháp đó.

3. Thủ tục tách hộ được thực hiện như sau:

a) Người đăng ký tách hộ nộp hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này đến cơ quan đăng ký cư trú;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về hộ gia đình liên quan đến việc tách hộ vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin; trường hợp từ chối giải quyết tách hộ thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 26. Điều chỉnh thông tin về cư trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú

1. Việc điều chỉnh thông tin về cư trú của công dân được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Thay đổi chủ hộ;

b) Thay đổi thông tin về hộ tịch so với thông tin đã được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu về cư trú;

c) Thay đổi địa chỉ nơi cư trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú do có sự điều chỉnh về địa giới đơn vị hành chính, tên đơn vị hành chính, tên đường, phố, tổ dân phố, thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, cách đánh số nhà.

2.[13] Hồ sơ điều chỉnh thông tin về cư trú quy định tại điểm a khoản Điều này bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc điều chnh thông tin.

3. Thủ tục điều chỉnh thông tin về cư trú được thực hiện như sau:

a) Đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thành viên hộ gia đình nộp hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này đến cơ quan đăng ký cư trú. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm điều chỉnh thông tin về chủ hộ trong Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho thành viên hộ gia đình về việc đã cập nhật thông tin; trường hợp từ chối điều chỉnh thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do;

b)[14] Đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, khi có sự thay đổi thông tin về hộ tịch của cơ quan có thẩm quyền, thông tin thay đổi về hộ tịch của công dân được cập nhật từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho Cơ sở dữ liệu về cư trú;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm điều chỉnh, cập nhật việc thay đổi thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú.

Chương V

ĐĂNG KÝ TẠM TRÚ, THÔNG BÁO LƯU TRÚ, KHAI BÁO TẠM VẮNG

Điều 27. Điều kiện đăng ký tạm trú

1. Công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú.

2. Thời hạn tạm trú tối đa là 02 năm và có thể tiếp tục gia hạn nhiều lần.

3. Công dân không được đăng ký tạm trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 của Luật này.

Điều 28. Hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú

1. Hồ sơ đăng ký tạm trú bao gồm:

a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú; đối với người đăng ký tạm trú là người chưa thành niên thì trong tờ khai phải ghi rõ ý kiến đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp.

2. Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình dự kiến tạm trú.

Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú, cơ quan đăng ký cư trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì hướng dẫn người đăng ký bổ sung hồ sơ.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi tạm trú mới, thời hạn tạm trú của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký tạm trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3. Trong thời hạn 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn tạm trú đã đăng ký, công dân phải làm thủ tục gia hạn tạm trú.

Hồ sơ, thủ tục gia hạn tạm trú thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Sau khi thẩm định hồ sơ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cập nhật thông tin về thời hạn tạm trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người đăng ký về việc đã cập nhật thông tin đăng ký tạm trú; trường hợp từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 29. Xóa đăng ký tạm trú

1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xóa đăng ký tạm trú:

a) Chết; có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết;

b) Đã có quyết định hủy bỏ đăng ký tạm trú quy định tại Điều 35 của Luật này;

c) Vắng mặt liên tục tại nơi tạm trú từ 06 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác;

d)[15] Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, huỷ bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam;

đ) Đã được đăng ký thường trú tại chính nơi tạm trú;

e) Người đã đăng ký tạm trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác;

g) Người đã đăng ký tạm trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng sau đó quyền sở hữu chỗ ở đó đã chuyển cho người khác, trừ trường hợp được chủ sở hữu mới đồng ý cho tiếp tục sinh sống tại chỗ ở đó;

h) Người đăng ký tạm trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tại phương tiện đã bị xóa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan đã đăng ký tạm trú có thẩm quyền xóa đăng ký tạm trú và phải ghi rõ lý do, thời điểm xóa đăng ký tạm trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú.

3. Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký tạm trú.

Điều 30. Thông báo lưu trú [16]

1. Khi có người lưu trú qua đêm, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch, chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý phương tiện, các cơ sở lưu trú khác có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú; trường hợp người đến lưu trú tại chỗ ở của cá nhân, hộ gia đình mà cá nhân, thành viên hộ gia đình không có mặt tại chỗ ở đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú.

2. Nội dung thông báo về lưu trú bao gồm: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu của người lưu trú; lý do lưu trú; thời gian lưu trú; địa chỉ lưu trú.

3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; trường hợp người đến lưu trú sau 23 giờ thì việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 08 giờ ngày hôm sau.

4. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết việc thông báo lưu trú.

Điều 31. Khai báo tạm vắng

1. Công dân có trách nhiệm khai báo tạm vắng trong các trường hợp sau đây:

a)[17] Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 01 ngày trở lên đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt quản chế, cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, người chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành;

b) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 01 ngày trở lên đối với người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[18]; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

c) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã[19] nơi đang cư trú từ 03 tháng liên tục trở lên đối với người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc người đang phải thực hiện các nghĩa vụ khác đối với Nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

d) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi thường trú từ 12 tháng liên tục trở lên đối với người không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này, trừ trường hợp đã đăng ký tạm trú tại nơi ở mới hoặc đã xuất cảnh ra nước ngoài.

2.[20] Trước khi đi khỏi nơi cư trú, người quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này phải có ý kiến đồng ý của cơ quan có thẩm quyền giám sát, quản lý, giáo dục người đó. Công dân khai báo tạm vắng với cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia.

Cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận nội dung khai báo tạm vắng, kiểm tra nội dung khai báo và trao đổi với cơ quan có thẩm quyền giám sát, quản lý, giáo dục người đó. Trong thời hạn 01 ngàlàm việc kể từ ngày nhận được đề nghị khai báo tạm vắng, cơ quan đăng ký cư trú cấp phiếu khai báo tạm vắng cho công dân; trường hợp phức tạp thì thời gian giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 02 ngày làm việc.

3.[21] Người quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này khai báo qua điện thoại, phương tiện điện tử hoặc hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Công an quy đnhTrường hợp người quy đnh tại điểm d khoản 1 Điều này là người chưa thành niên thì người thực hiện khai báo là cha, mẹ hoặc người giám hộ.

4. Nội dung khai báo tạm vắng bao gồm họ và tên, số định danh cá nhân hoặc[22] số hộ chiếu của người khai báo tạm vắng; lý do tạm vắng; thời gian tạm vắng; địa chỉ nơi đến.

5. Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cập nhật thông tin khai báo tạm vắng của công dân vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người khai báo về việc đã cập nhật thông tin khai báo tạm vắng khi có yêu cầu.

Chương VI

TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ CƯ TRÚ

Điều 32. Trách nhiệm quản lý nhà nước về cư trú

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cư trú trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cư trú và có trách nhiệm sau đây:

a) Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về cư trú;

b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú; tổ chức việc đăng ký, quản lý cư trú trên toàn quốc, cập nhật thông tin về cư trú vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú;

c) Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ quy định về quản lý cư trú trái với quy định của Luật này;

d) Ban hành, in ấn và quản lý tờ khai thay đổi thông tin cư trú và các giấy tờ, tài liệu, biểu mẫu, sổ sách về cư trú;

đ) Trang bị máy móc, phương tiện, thiết bị; bố trí, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý cư trú;

e) Thống kê nhà nước về cư trú, tổng kết, nghiên cứu khoa học về quản lý cư trú, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về cư trú;

g) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật;

h) Hợp tác quốc tế về quản lý cư trú.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về cư trú theo sự phân công của Chính phủ.

4. Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa phương;

b) Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về quản lý cư trú;

c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về cư trú;

d) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký cư trú

1. Niêm yết công khai thủ tục hành chính; hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú; công khai địa điểm, số điện thoại hoặc cách thức khác để tiếp nhận thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng.

2.[23] Cập nhật thông tin về cư trú của công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú. Tiếp nhận phản hồi của người dân về việc thông tin sai lệch, phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh, kịp thời cập nhật, điều chỉnh thông tin công dân.

3. Xác nhận thông tin về cư trú, thông báo về kết quả thực hiện các thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú, khai báo thông tin, điều chỉnh thông tin về cư trú, tách hộ, khai báo tạm vắng dưới hình thức văn bản, tin nhắn điện tử hoặc hình thức khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.

4. Quản lý, lưu trữ hồ sơ, giấy tờ, tài liệu về đăng ký, quản lý cư trú và bảo mật thông tin về đăng ký cư trú của công dân.

5. Giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến cư trú, quản lý cư trú theo thẩm quyền.

Điều 34. Người làm công tác đăng ký cư trú

1. Người làm công tác đăng ký cư trú phải được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao.

2. Khi thực hiện nhiệm vụ, người làm công tác đăng ký cư trú phải có thái độ, lời nói, cử chỉ nghiêm túc, khiêm tốn, hòa nhã; tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, giấy tờ, tài liệu có liên quan và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của Luật này; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc hướng dẫn đó.

Điều 35. Hủy bỏ đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú

Trường hợp cơ quan, người có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng và điều kiện theo quy định của Luật này thì cơ quan đã thực hiện việc đăng ký hoặc thủ trưởng cấp trên trực tiếp của cơ quan đã đăng ký có trách nhiệm ra quyết định hủy bỏ việc đăng ký đó. Cơ quan đã đăng ký có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người đăng ký và nêu rõ lý do.

Điều 36. Cơ sở dữ liệu về cư trú

1. Cơ sở dữ liệu về cư trú được xây dựng để phục vụ công tác quản lý nhà nước về cư trú, là tài sản quốc gia do Bộ Công an thống nhất quản lý.

2. Cơ sở dữ liệu về cư trú phải bảo đảm kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật, đáp ứng chuẩn về cơ sở dữ liệu và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật công nghệ thông tin.

3. Việc thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ và khai thác, sử dụng dữ liệu về cư trú phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

a) Ứng dụng công nghệ thông tin để thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin về cư trú đầy đủ, nhanh chóng, chính xác; bảo đảm an toàn dữ liệu theo đúng nguyên tắc, định dạng hệ cơ sở dữ liệu;

b) Bảo đảm an toàn các thiết bị lưu trữ thông tin, tài liệu về cư trú;

c) Bảo vệ an ninh mạng, an ninh thông tin về cư trú trên mạng máy tính; bảo đảm an ninh[24] thông tin, tài liệu lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu về cư trú; phòng, chống các hành vi tấn công, xâm nhập, đánh cắp thông tin, phá hoại hoặc làm hư hỏng dữ liệu về cư trú;

d) Mọi sự truy nhập đến Cơ sở dữ liệu về cư trú để thay đổi thông tin về cư trú của công dân phải được sự phê duyệt của thủ trưởng cơ quan đăng ký cư trú hoặc cơ quan khác có thẩm quyền;

đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cung cấp, trao đổi, sao chép, in trái phép thông tin, tài liệu từ Cơ sở dữ liệu về cư trú.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc xây dựng, quản lý, sử dụng Cơ sở dữ liệu về cư trú, thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú và việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu từ Cơ sở dữ liệu về cư trú cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Chương VII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[25]

Điều 37. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các luật có liên quan đến quản lý cư trú

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 9 của Luật Căn cước công dân số 59/2014/QH13 như sau:

“1. Nội dung thông tin được thu thập, cập nhật gồm:

a) Họ, chữ đệm và tên khai sinh;

b) Ngày, tháng, năm sinh;

c) Giới tính;

d) Nơi đăng ký khai sinh;

đ) Quê quán;

e) Dân tộc;

g) Tôn giáo;

h) Quốc tịch;

i) Tình trạng hôn nhân;

k) Nơi thường trú;

l) Nơi tạm trú;

m) Tình trạng khai báo tạm vắng;

n) Nơi ở hiện tại;

o) Quan hệ với chủ hộ;

p) Nhóm máu, khi công dân yêu cầu cập nhật và xuất trình kết luận về xét nghiệm xác định nhóm máu của người đó;

q) Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân, quốc tịch của cha, mẹ, vợ, chồng hoặc người đại diện hợp pháp;

r) Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ và các thành viên hộ gia đình;

s) Ngày, tháng, năm chết hoặc mất tích.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 2 của Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật số 46/2014/QH13, Luật số 97/2015/QH13 và Luật số 35/2018/QH14 như sau:

“7. Hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế (sau đây gọi chung là hộ gia đình) là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú.”.

3. Bãi bỏ khoản 3 và khoản 4 Điều 19 của Luật Thủ đô số 25/2012/QH13.

4. Bãi bỏ điểm b khoản 1 Điều 45 của Luật Lý lịch tư pháp số 28/2009/QH12.

Điều 38. Điều khoản thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

2. Luật Cư trú số 81/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2013/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

3. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú đã được cấp vẫn được sử dụng và có giá trị như giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú theo quy định của Luật này cho đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022.

Trường hợp thông tin trong Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú khác với thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú thì sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú.

Khi công dân thực hiện các thủ tục đăng ký cư trú dẫn đến thay đổi thông tin trong Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu hồi Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú đã cấp, thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú theo quy định của Luật này và không cấp mới, cấp lại Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú.

4. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan khác có liên quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành có nội dung quy định liên quan đến Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú hoặc có yêu cầu xuất trình giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật này, hạn chế việc sử dụng thông tin về nơi cư trú là điều kiện để thực hiện các thủ tục hành chính.

 

 

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

CHỦ NHIỆM




Lê Quang Mạnh

 



[1] Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên..

Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự có căn cứ ban hành như sau:

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ số 13/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 40/2024/QH15, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 51/2019/QH14, Luật số 23/2023/QH15 và Luật số 103/2025/QH15, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam số 49/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 23/2023/QH15, Luật Cư trú số 68/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2024/QH15, Luật Căn cước số 26/2023/QH15, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở số 30/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 51/2024/QH15, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15, Luật Đường bộ số 35/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 112/2025/QH15, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 135/2025/QH15.”.

[2] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[4] Từ “thị trấn” được thay thế bằng từ “đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[6] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[7] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[8] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[9] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[10] Số “2,” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[11] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[12] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[13] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[14] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[15] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[16] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[17] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

[18] Từ “thị trấn” được thay thế bằng từ “đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[19] Từ “huyện” được thay thế bằng từ “xã” theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[20] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[21] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[22] Cụm từ “số Chứng minh nhân dân,” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[23] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[24] Cụm từ “an toàn” được thay thế bằng cụm từ “an ninh” theo quy định tại điểm c khoản 12 Điều 4 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

[25] Điều 178 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:

Điều 178. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Quy định tại Điều 139, khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.”.

Khoản 1 Điều 11 của Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:

Điều 11. Điều khoản thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.”.

THE OFFICE OF NATIONAL ASSEMBLY OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
----------------

No. 06VBHN-VPQH

Hanoi, February 05, 2026

 

LAW

RESIDENCE

The Law on Residence No. 68/2020/QH14 dated November 13, 2020 of the National Assembly, which comes into force from July 01, 2021 is amended by:

1. The Law on Juvenile Justice No. 59/2024/QH15 dated November 30, 2024 of the National Assembly, which comes into force from January 01, 2026;

2. The Law on No. 118/2025/QH15 dated December 10, 2025 of the National Assembly on amendments to some articles of 10 laws related to security and order, which comes into force from July 01, 2026;

Pursuant to Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

The National Assembly promulgates the Law on Residence[1].

Chapter I

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 1. Scope

This Law provides for exercise of the right of Vietnamese citizens to reside in the territory of the Socialist Republic of Vietnam freely; registration and management of residence; rights, obligations and responsibilities of citizens, regulatory bodies and organizations concerning registration and management of residence.

Article 2. Definition of terms

In this Law, the terms below are construed as follows:

1. “Lawful place of residence” means a dwelling over which a citizen has the right to ownership or right to use, including houses, watercrafts, other vehicles or other dwellings as per the law.

2. [2] “Residence” means a citizen’s state of living at a location in a commune-level administrative division.

3. “Residence database” means a specialized database comprising information on residence of citizens digitalized, stored and managed by the information infrastructure, and connected and shared with the national population database and other databases as prescribed by law.

4. [3] “Residence registration authority” means a residence authority directly processing residence registration of citizens and including police authorities of communes, wards and special zones (hereinafter referred to as “commune-level police authorities”).”.

5. “Residence registration” means permanent residence registration, temporary residence registration, temporary absence declaration, stay notification and information declaration, and revision to information on residence.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



7. “Temporary absence” means a citizen’s absence from his/her place of residence for a definite amount of time.

8. “Place of permanent residence” (hereinafter referred to as “permanent residence”) means a place of secure and long-term residence of a citizen that is registered as their permanent residence;

9. “Place of temporary residence” (hereinafter referred to as “temporary residence”) means a place of short-term residence of a citizen save their place of permanent residence that is registered as their temporary residence.

10. “Current place of residence” (hereinafter referred to as “current residence”) means the place of permanent or temporary residence where a citizen lives on a regular basis; if the citizen has no place of permanent or temporary residence, the place where they are living shall be their current place of residence.

Article 3. Residence and residence management rules

1. Residence and residence management shall adhere to the Constitution and the law.

2. Residence and residence management shall protect the legitimate rights and interests of citizens, the interests of the State, the community and the society; right to freedom of residence and other basic rights of citizens, and state responsibility for socio - economic development, national defense and security protection and preservation of public order and social safety in a harmonious manner.

3. Residence registration procedures must be simple, convenient, timely, accurate, transparent and public and avoid harassment; residence management must be strict and effective.

4. Information on residence shall be updated to the national population database and residence database as prescribed by law; at a point in time, a citizen shall have only one permanent residence and may have one temporary residence.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 4. Exercise of right to freedom of residence of citizens

1. Citizens shall exercise their right to freedom of residence in accordance with this Law and other relevant provisions of law.

2. Exercise of the right to freedom of residence of citizens will be restricted for the following cases:

a) Persons banned from leaving their place of residence or temporarily detained by presiding officers or presiding authorities; convicts yet to receive the sentence enforcement decision or having received the sentence enforcement decision but out on bail or granted suspension of sentence enforcement; convicts undergoing probation; persons serving a custodial sentence, imposed a residence ban, under mandatory supervision or serving a community sentence; and persons on parole;

b) Persons currently subject to compulsory education in their communes/wards/special zones or serving a sentence in a correctional institution or rehabilitation center; persons who must serve a sentence in a correctional institution or rehabilitation center but is granted suspension of sentence enforcement; and persons under supervision during consideration of admission to a correctional institution or rehabilitation center;

c) Persons placed under medical quarantine as they pose the risk of spreading an infectious disease to the community;

d) Locations and areas placed under medical quarantine for prevention and control of an infectious disease as per the decision of the competent authority or person; localities declaring state of emergency as per the law; locations forbidden from new permanent residence registration, new temporary residence registration and household division according to regulations of this Law;

dd) Other cases prescribed by law.

3. Exercise of the right to freedom of residence of citizens shall be restricted only as prescribed by law. Content and duration of such restriction shall conform to effective judgments and decisions issued by the Court, decisions issued by other competent authorities or relevant regulations of law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. The State shall provide consistent policies and measures to protect the right to freedom of residence of citizens.

2. The State shall maintain budget, facilities, workforce and investment in development of advanced and modern technology for residence registration and management.

Article 6. International cooperation in management of residence

The Socialist Republic of Vietnam shall promote international cooperation in management of residence in compliance with Vietnamese law and international law; and apply conventions related to management of residence to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory.

Article 7. Prohibited acts

1. Obstructing a citizen from exercising his/her right to freedom of residence.

2. Misusing information on permanent or temporary residence to restrict a citizen’s legitimate rights and interests.

3. Giving, acting as a broker or receiving a bribe for residence registration or management.

4. Failing to receive or postponing receipt of residence registration documents or information or committing other acts of harassment; failing to process or processing a valid application for residence registration in a belated manner; annulling permanent or temporary residence registration against regulations of law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6. Imposing a deadline, procedure, document or form against regulations of law or falsifying information or a document on residence.

7. Deliberately issuing or refusing to issue a document on residence against regulations of law.

8. Misusing the right to freedom of residence to violate state interests or legitimate rights and interests of an organization or individual.

9. Forging a document or data on residence; using a forged document or data on residence; providing inaccurate information or document on residence; making a false declaration or forging a document for permanent or temporary residence registration; buying, selling, hiring, leasing, borrowing, lending, destroying, pawning or receiving a document on residence as collateral.

10. Organizing, inciting, enticing, persuading, aiding and abetting or forcing another person to commit a violation against regulations on residence.

11. [5] Processing an application for permanent or temporary residence registration when clearly knowing the applicant does not reside at the registered address, except for cases of permanent or temporary residence registration for children under 6 years old living with their father, mother or guardian.”.

12. Letting another person register one’s place of residence as their permanent or temporary residence out of selfish interest or when they does not actually reside in such place.

13. Accessing, using, destroying, obstructing or disrupting operation of or changing, deleting, distributing or providing information in the residence database illegally.

Chapter II

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 8. Rights of citizens to residence

1. Choose and decide their places of residence and register residence in accordance with this Law and other relevant provisions of law.

2. Have personal information and information on their households in the residence database protected, excluding the cases where provision of such information is required as per the law.

3. Use information on their residence in the national population database, and have residence information verified by registration authorities across the country regardless of their places of residence when requesting.

4. Have information on their residence in the residence database updated or revised by registration authorities upon change or when requesting.

5. Be provided with information and documents related to the exercise of their right to freedom of residence when requesting.

6. Have their right to freedom of residence protected by competent authorities.

7. Make a denunciation of and file a complaint or lawsuit against violations against regulations on residence as prescribed by law.

Article 9. Obligations of citizens to residence

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Provide sufficient and accurate information and documents on their residence for the competent authority and individual in a timely manner and take responsibility for the information and documents provided.

3. Pay residence registration charges as prescribed by laws on fees and charges.

Article 10. Rights and obligations of household heads and members to residence

1. Persons living together in a lawful place of residence and related by blood (paternal grandparents, maternal grandparents, parents, spouse, children and biological siblings, nieces, nephews and grandchildren) may register such place as their permanent or temporary residence as one household.

2. A person other than the persons mentioned in clause 1 herein, if eligible to register the same lawful place of residence as their permanent or temporary residence according to regulations of this Law, may register such place as their permanent or temporary residence with the previously mentioned household.

3. Multiple households may register one lawful place of residence as their permanent or temporary residence.

4. The head of a household shall be a person with full legal capacity selected by all household members; regarding households without a person with full legal capacity, the household head shall be the person selected by all household members; if the household members fail to agree on a household head, the Court shall select the household head from the household members.

If a household has only one member, such member shall be the household head.

5. Household heads have the rights and obligations to enable their household members to comply with regulations on residence registration and management and other regulations in this Law and give instructions on such compliance; and notify the registration authority if any household member falls into the cases mentioned in clause 1 Article 24 and clause 1 Article 29 of this Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Chapter III

PLACE OF RESIDENCE

Article 11. Place of residence of citizens

1. The place of residence of a citizen includes a permanent residence and/or a temporary residence.

2. In case the places of permanent and temporary residence of a citizen cannot be determined, their place of residence shall be determined in accordance with regulations in clause 1 Article 19 herein.

Article 12. Place of residence of juveniles

1. The place of residence of a juvenile shall be the place of residence of their parents; if their parents have different places of residence, their place of residence shall be the place of residence of the parent with whom they usually live; in case the place where the juvenile usually live with their parent cannot be determined, their parents shall agree on their place of residence; otherwise, the Court shall decide the place of residence of the juvenile.

2. [6] Minors may have a place of residence different from the place(s) of residence of their parents with permission of the father or the mother, or in accordance with the laws.

Article 13. Place of residence of wards

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Wards may have a place of residence different from that of their guardian with their guardian’s permission or in compliance with the law.

Article 14. Place of residence of spouses

1. The place of residence of spouses shall be the place where they usually live together.

2. Spouses may have different places of residence as agreed upon or in accordance with relevant regulations of law.

Article 15. Place of residence of persons learning or working in armed forces

1. The place of residence of officers, non-commissioned officers, soldiers, professional servicemen, workers, defense public employees and students of people’s army schools shall be the places where they are stationed, excluding officers, non-commissioned officers, soldiers, professional servicemen, workers and defense public employees whose places of residence are located differently according to regulations of this Law.

2. The place of residence of professional officers, professional non-commissioned officers, technical officers, technical non-commissioned officers, students of police schools, conscripted non-commissioned officers, conscripted members and public security workers shall be the places where they are stationed, excluding professional officers, professional non-commissioned officers, technical officers, technical non-commissioned officers and public security workers whose places of residence are located differently according to regulations of this Law.

3. Conditions, applications and procedures for registration of workstations as permanent or temporary residence are provided for by the Minister of National Defense for the persons mentioned in clause 1 herein and by the Minister of Public Security for the persons mentioned in clause 2 herein.

Article 16. Place of residence of persons living or working on watercrafts or other vehicles on an itinerant basis

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



For vehicles which do not require registration or the vehicle registration places of which are not where they frequently dock or park, the place of residence of persons living or working on these vehicles on an itinerant basis shall be the places where the vehicles frequently dock or park.

2. The Government shall elaborate this Article.

Article 17. Place of residence of persons involved in religious practices and folk religious practices, and children, persons with disabilities and helpless persons in folk religious establishments and religious establishments

1. The place of residence of persons involved in folk religious practices, monastic dignitaries, sub-dignitaries and other persons involved in religious practices living in folk religious establishments or religious establishments shall be those folk religious establishments or religious establishments, excluding cases where places of residence are located differently according to regulations of this Law.

2. The place of residence of children, persons with very severe disabilities, persons with severe disabilities and helpless persons adopted and living in folk religious establishments or religious establishments shall be such folk religious establishments or religious establishments.

Article 18. Place of residence of persons receiving care and support

1. The place of residence of persons receiving care and support in social support facilities shall be such social support facilities.

2. The place of residence of persons receiving care in the community shall be the places of residence of their caregivers.

Article 19. Place of residence of persons without permanent and temporary residences

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Registration authorities shall provide instructions on residence information declaration based on the information fields in the national population database and residence database.

 3. In case the person provided for in Clause 1 herein does not have their information recorded in the national population database and/or residence database, within 30 days from the date of receipt of declared information, the registration authority shall verify the information; for complicated cases, this time limit may be extended up to 60 days.

4. In case the person provided for in clause 1 herein has had their information recorded in the national population database and residence database, within 05 working days from the date of receipt of declared information, the registration authority shall verify the information.

5. After verifying, the registration authority shall update information on the declarant's current residence and other information into the national population database and residence database and notify the declarant of such update.

6. If there is any change to residence information, citizens must notify the registration authority to have their information in the national population database and residence database revised; and carry out the permanent or temporary residence registration procedures when eligible as per regulations of this Law.

7. The Government shall elaborate this Article.

Chapter IV

PERMANENT RESIDENCE REGISTRATION

Article 20. Conditions for permanent residence registration

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. [7] Persons under 6 years old may register a lawful place of residence that is not under their ownership as their permanent residence when they live with their parent or guardian in such place without the permission of the household head and owner of such place.

Persons may register a lawful place of residence that is not under their ownership as their permanent residence with the permission of the household head and owner of such place in the following cases:

a) The citizen is someone who comes to live with their spouse; a person from 6 years old coming to live with his/her parent(s) or guardian; or a parent coming to live with his/her child; a person lacking legal capacity, or a person with difficulties in cognition or self-control coming to live with his/her guardian;

b) The citizen is an old person coming to live with their biological sibling or grandchild; or a person with very severe disability, a person with severe disability, a person who has lost work capacity, a person who lacks legal capacity, a person with difficulties in cognition or self-control coming to live with their paternal grandparent(s), maternal grandparent(s), biological sibling, biological uncle, biological aunt, biological niece/nephew, biological grandchild;

c) The citizen is a minor coming to live with their great-grandparent(s), paternal grandparent(s), maternal grandparent(s), biological sibling, biological uncle or biological aunt with the permission of their parent or guardian or if they have no parent.

3. Excluding the cases mentioned in clause 2 herein, a citizen may register a lawful place of residence that they rent, borrow or stay in as their permanent residence when the following conditions are met:

a) The owner of the lawful place of residence agrees to let the citizen register the location that they rent, borrow or stay in as their permanent residence and the household head agrees to let the citizen register the location as their permanent residence with the household;

b) The condition for minimum floor area stipulated by the provincial People’s Council is satisfied and such area shall be more than 08 m2 of floor/person.

4. A citizen may register a folk religious establishment or religious establishment with housing as an auxiliary work as their permanent residence in any of the following cases:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) The citizen represents the folk religious establishment;

c) The representative or management board of the folk religious establishment agrees to let the citizen register the establishment as their permanent residence for the citizen to oversee and organize religious activities in the establishment directly;

d) The representative or management board of the folk religious establishment or the head or representative of the religious establishment agrees to let the citizen, who is a child, person with very severe disability, person with severe disability or helpless person, register the establishment as their permanent residence.

5. A person receiving care or support may register their social support facility as their permanent residence with the permission of the facility head or register their care giving household as their permanent residence with the permission of the household head and owner of the lawful place of residence.

6. A person living or working on a vehicle on an itinerant basis may register the vehicle as their permanent residence when the following conditions are met:

a) The person owns the vehicle or is permitted to register the vehicle as their permanent residence by the vehicle owner;

b) The vehicle has been registered/inspected as prescribed by law; if the vehicle does not require registration, the People's Committee of the commune where it frequently docks or parks must confirm that it is used for living purpose;

c) If the vehicle does not require registration or the vehicle registration place is not where it frequently docks or parks, the commune-level People's Committee must confirm that the vehicle has registered to dock or park in the commune frequently.

7. The permanent residence of a minor must be registered with the permission of either of their parents or their guardian, unless their place of residence is decided by the Court.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 21. Application for permanent residence registration

1. Application for permanent residence registration for those mentioned in clause 1 Article 20 of this Law includes:

a) Declaration of change to residence information;

b) Written proof of ownership of lawful place of residence.

2. [9] Application for permanent residence registration for persons prescribed in clause 2, Article 20 of this Law includes:

a) Declaration of change to residence information including permission for permanent residence registration from the household head and owner of lawful place of residence or authorized person, unless a written permission has been obtained. For cases where persons under 6 years old register permanent residence to come to live with their parent or guardian, the Declaration of change to residence information may not include permission for permanent residence registration from the household head and owner of lawful place of residence or authorized person;

b) Written proof of the consanguinity between the applicant and the household head and/or a household member, unless such information is already available in the National Population Database or the Residence Database;

c) Proofs of satisfaction of other requirements as prescribed in clause 2, Article 20 of this Law.

3. Application for permanent residence registration for those mentioned in clause 3 Article 20 of this Law includes:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Agreement or document on renting, borrowing or staying in the lawful place of residence notarized or certified as prescribed by law;

c) Written proof of sufficient floor area for permanent residence registration per the law.

4. Application for permanent residence registration for those mentioned in points a, b and c clause 4 Article 20 of this Law includes:

a) Declaration of change to residence information; for the persons mentioned in point c clause 4 Article 20 herein, this declaration must include the permission for permanent residence registration from the representative or management board of the folk religious establishment, unless a written permission has been obtained;

b) Written proof that the applicant is a monastic, dignitary or sub-dignitary or is involved in religious activities and is working in the religious establishment in compliance with regulations of laws on folk religions and religions if the applicant is one of the persons mentioned in point a clause 4 Article 20 herein; or written proof that the applicant is the representative of the folk religious establishment if the application is one of the persons mentioned in point b clause 4 Article 20 herein;

c) Written confirmation from the commune-level People’s Committee that the folk religious establishment or religious establishment has housing as an auxiliary work;

5. Application for permanent residence registration for those mentioned in point d clause 4 Article 20 of this Law includes::

a) Declaration of change to residence information, including permission for permanent residence registration from the representative or management board of the folk religious establishment, or the head or representative of the religious establishment, unless a written permission has been obtained;

b) Written confirmation from the commune-level People's Committee that the applicant is one of the persons mentioned in clause 2 Article 17 herein and that the folk religious establishment or religious establishment has housing as an auxiliary work.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Declaration of change to residence information; if the applicant receives care from an individual or household, the declaration must include the permission for permanent residence registration from the head of the care giving household and owner of the lawful place of residence of the caregiver or care giving household or authorized person, unless a written permission has been obtained;

b) Application prepared by the head of the social support facility if the applicant receives care and support from a social support facility;

c) Written confirmation of the care and support given.

7. Application for permanent residence registration for those mentioned in clause 6 Article 20 of this Law includes:

a) Declaration of change to residence information; if the applicant is not the vehicle owner, the declaration must include the permission for permanent residence registration from the vehicle owner or authorized person, unless a written permission has been obtained;

b) Vehicle registration certificate and certificate for compliance with technical safety and environmental protection requirements of the vehicle or written confirmation from the commune-level People’s Committee that such vehicle is used for living purpose if the vehicle does not require registration;

c) Written confirmation from the commune-level People's Committee of the location in the commune where the vehicle has registered to dock or park frequently if the vehicle does not require registration or the vehicle registration place is not where it frequently docks or parks.

8. In case the applicants mentioned in clauses 1, 2, 3, 4, 5, 6 and 7 herein are minors, the declaration of change to residence information must include the permission from either of their parents or guardian, unless a written permission has been obtained.

9. [11] In case where the applicants prescribed in clauses 1, 2, 3, 4, 5, 6 and 7 of this Article are overseas Vietnamese who are holding Vietnamese citizenship, their applications shall include a valid Vietnamese passport. Otherwise, their applications shall include another written proof of their Vietnamese citizenship.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 22. Procedures for permanent residence registration

1. The applicant shall submit an application to the registration authority of the locality where they reside.

2. Upon receipt of the application, the registration authority shall check and issue an application receipt acknowledgement to the applicant; and instruct the applicant to complete their application if it is incomplete.

3. Within 07 working days from the date of receipt of the adequate and valid application, the registration authority shall appraise and update information on the new permanent residence of the applicant to the residence database and notify the applicant of such update; and provide a written explanation for the applicant if the application is rejected.

4. A person who has registered their permanent residence but is moving to another lawful place of residence and is eligible for permanent residence registration shall register their new place of residence as their permanent residence according to regulations of this Law within 12 months starting from the date on which they become eligible.

Article 23. Locations not eligible for new permanent residence registration

1. Places of residence situated in locations or areas forbidden from construction or encroaching protection corridors for national defense and security, transport, irrigation, dikes and energy, protection markers for technical infrastructure works and ranked historical - cultural sites, areas at risk of landslides, flash floods and pipe floods, and protection areas for other works as prescribed by law.

2. Places of residence the whole floor area of which are located on illegally encroached land or places of residence located on land not eligible for construction as per the law.

3. Places of residence with a decision on land use right revocation and decision approving plan for compensation, assistance and relocation issued by the competent authority; places of residence being houses the whole or a part of floor area of which is subject to a dispute or complaint related to ownership or right of use and unresolved as per the law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. Places of residence being houses with a demolition decision issued by the competent authority.

Article 24. Annulment of permanent residence registration

1. Permanent residence registration by a person will be annulled in any of the following cases:

a) The person is deceased or declared missing or deceased by the Court;

b) The person resides overseas permanently;

c) The person is issued with a decision on annulment of permanent residence registration according to regulations in Article 35 of this Law;

d) The person is absent from their permanent residence for 12 consecutive months or more without registering any other place of residence as their temporary one or declaring temporary absence, unless they go abroad for any purpose other than the purpose of permanent residence or serve a sentence in a prison, correctional institution or rehabilitation center;

dd) [12] The person is permitted to renounce their Vietnamese citizenship or stripped of their Vietnamese citizenship or has the decision to grant Vietnamese citizenship annulled or has the decision on permission for restoration of Vietnamese nationality annulled by the competent authority;

e) The person registered the place of residence that they were renting, borrowing or staying in as their permanent residence but has stopped renting, borrowing or staying in that place for 12 months and yet to register a new permanent residence, excluding the cases provided for in point h herein;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



h) The person registered a place of residence that they were renting, borrowing or staying in as their permanent residence but has stopped renting, borrowing or staying in this place and is no longer permitted to register it as their permanent residence by the person allowing them to rent, borrow or stay in it; or the person registered a place of residence under their ownership as their permanent residence but has transferred ownership of the place to another person and is not permitted to register it as their permanent residence by the new owner;

i) The person registered a place of residence that has been demolished or confiscated as decided by the competent authority or a vehicle the vehicle registration of which has been annulled as per the law as their permanent residence.

2. The registration authority with which a person registers their permanent residence has the jurisdiction to annul such registration and must specify the reason for and time of such annulment in the residence database.

3. The Government shall elaborate application and procedure for annulment of permanent residence registration.

Article 25. Household division

1. A household member may separate themselves from their household to register the lawful place of residence where their household resides as their permanent residence when the following conditions are met:

a) The separating member has full legal capacity; in case multiple members separate themselves from the household to form a new household, at least one of them must have full legal capacity;

b) The household head and owner of the lawful place of residence agree to this separation, excluding the case where the separating members are divorced spouses who both may use the lawful place of residence;

c) The permanent residence of the household does not fall into the cases provided for in Article 23 of this Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



For post-divorce household division mentioned in point b clause 1 herein, the application for household division includes a declaration of change to residence information and written proofs of the divorce and permission to continue using the lawful place of residence.

3. Household division procedures shall be followed as follows:

a) The applicant submits an application containing the documents mentioned in clause 2 herein to the registration authority;

b) Within 05 working days from the date of receipt of the adequate and valid application, the registration authority shall appraise and update information on the households related to the separation to the residence database and notify the applicant of such update; and provide a written explanation for the applicant if the application is rejected.

Article 26. Revision to residence information in residence database

1. Residence information of a citizen shall be revised in the following cases:

a) Change of household head;

b) Change to information on their civil status, which is recorded in the residence database;

c) Change to the address of their place of residence recorded in the residence database due to change to administrative unit boundaries, administrative unit name, name of their street, neighborhood, village, commune or hamlet, or house number.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Declaration of revision to residence information;

b) Written proof of the revision.

3. Procedures for revision of residence information shall be followed as follows:

a) For the case in point a clause 1 herein, a household member shall submit an application mentioned in clause 2 herein to the registration authority. Within 03 working days from the date of receipt of the adequate and valid application, the registration authority shall revise information on the household head in the residence database and notify the applicant of such revision; and provide a written explanation for the applicant if the application is rejected;

b)[14] For the case in point b clause 1 herein, when there is any change to civil status information issued by the competent authority, such change shall be updated from the national population database to the residence database;

c) For the case in point c clause 1 herein, the registration authority shall revise and update the information in the residence database.

Chapter V

TEMPORARY RESIDENCE REGISTRATION, STAY NOTIFICATION AND TEMPORARY ABSENCE DECLARATION

Article 27. Conditions for temporary residence registration

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The maximum time limit for temporary residence is 02 years, which may be extended multiple times.

3. Citizens must not register the places mentioned in Article 23 of this Law as their new temporary residences.

Article 28. Applications and procedures for temporary residence registration and temporary residence extension

1. Application for temporary residence registration includes:

a) Declaration of change to residence information; if the applicant is a minor, the declaration must include the permission from either of their parents or guardian, unless a written permission has been obtained;

b) Written proof of ownership of lawful place of residence.

2. The applicant shall submit their application to the registration authority of the locality where they plan to reside temporarily.

Upon receipt of the application, the registration authority shall check it and issue an application receipt acknowledgement to the applicant; and instruct the applicant to complete their application if it is incomplete.

Within 03 working days from the date of receipt of the adequate and valid application, the registration authority shall appraise and update information on the new temporary residence and temporary residence period of the applicant to the residence database and notify the applicant of such update; and provide a written explanation for the applicant if the application is rejected.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Application and procedure for temporary residence extension shall adhere to regulations in clauses 1 and 2 herein. After appraising the application, the registration authority shall update information on the new temporary residence period of the applicant to the residence database and notify the applicant of such update; and provide a written explanation for the applicant if the application is rejected.

Article 29. Annulment of temporary residence registration

1. Temporary residence registration by a person will be annulled in any of the following cases:

a) The person is deceased or declared missing or deceased by the Court;

b) The person is issued with a decision on annulment of temporary residence registration according to regulations in Article 35 of this Law;

c) The person is absent from their temporary residence for 06 consecutive months or more without registering another place of residence as their temporary residence;

d) [15] The person is permitted to renounce their Vietnamese citizenship or stripped of their Vietnamese citizenship or has the decision to grant Vietnamese citizenship annulled or has the decision on permission for restoration of Vietnamese nationality annulled by the competent authority;

dd) Their temporary residence has been registered as their permanent residence;

e) The person registered the place of residence that they were renting, borrowing or staying in as their temporary residence but has stopped renting, borrowing or staying in that place and yet to register a new temporary residence;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



h) The person registers a place of residence that has been demolished or confiscated as decided by the competent authority or a vehicle the vehicle registration of which has been annulled as per the law as their temporary residence.

2. The registration authority with which a person registers their temporary residence has the jurisdiction to annul such registration and must specify the reason for and time of such annulment in the residence database.

3. The Government shall elaborate application and procedure for annulment of temporary residence registration.

Article 30. Stay notification [16]

1. When a person comes to stay overnight, a member of the household, a representative of the healthcare establishment, a representative of tourist accommodation establishment, the owner or person authorized to manage other means and establishments is responsible for notifying such stay to the registration authority. If a person comes to stay in the place of residence of an absent individual or household, that person shall notify their stay to the registration authority.

2. The stay notification includes: full name; date of birth; personal identification number or passport number of the staying person; stay reason; stay duration; stay address.

3. The stay shall be notified before 11 p.m of the starting day of the stay. If the person comes to stay after 11 p.m, the stay notification shall be done before 8 a.m of the following day.

4. The Minister of Public Security shall elaborate the stay notification.

Article 31. Temporary absence declaration

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a)[17] The citizen is out on bail; or is convicted but has yet to receive the sentence enforcement decision or has received the sentence enforcement decision but is out on bail or granted suspension of sentence enforcement; or is convicted and undergoing probation; or is under mandatory supervision or serving a community sentence; or is on parole; is serving community-based diversion measure, or serving educational measure at reformatory but is granted postponement, suspension of sentence enforcement, and leaves the commune where they are residing for 01 day or more;

b) The citizen is currently subject to compulsory education in their commune/ward/special zone[18]; or serves a sentence in a correctional institution or rehabilitation center but is granted suspension of sentence enforcement; or is subject to supervision during consideration of admission to a correctional institution or rehabilitation center and leaves the commune where they are residing for 01 day or more;

c) The citizen is of military conscription age or fulfilling other obligations to the State as decided by the competent authority and leaves the commune[19] where they are residing for 03 consecutive months or more;

d) The citizen does not fall into the cases mentioned in points a, b and c herein and leaves the commune where their permanent residence is located for 12 consecutive months or more, unless they have registered their new place of residence as their temporary residence or go abroad.

2. [20] Before leaving the place of residence, the person prescribed in points a and b, clause 1 of this Article shall obtain approval from the competent authority supervising, managing or educating him/her. Citizens shall declare temporary absence to the registration authority of the place where they reside via the National Public Service Portal or VNeID.

The registration authority shall receive the temporary absence declaration, check the declared information and communicate with the competent authority supervising, managing and educating the applicant. Within 01 working day from the receipt of the temporary absence declaration, the registration authority shall issue the temporary absence declaration form for the citizen. In complex cases, the processing time may be longer but shall not exceed 02 working days.

3. [21] Persons prescribed in points c and d, clause 1 of this Article may make declaration via phone, online or other methods as prescribed by the Minister of Public Security. If the persons prescribed in point d, clause 1 of this Article are minors, their parent or guardian shall make the declaration.

4. The information to be declared includes full name and personal ID number[22] or passport number of the declarant; reason for temporary absence; temporary absence duration; and address of the declarant’s destination.

5. Registration authorities shall update temporary absence declaration information of citizens to the residence database and notify the declarants of such update upon request.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



RESIDENCE MANAGEMENT RESPONSIBILITIES

Article 32. Responsibility for state management of residence

1. The Government shall exercise the unified state management of residence throughout the country.

2. The Ministry of Public Security shall answer to the Government for state management of residence and perform the following tasks:

a) Formulate and promulgate legislative documents on residence within its jurisdiction or propose these documents to the Government for promulgation;

b) Direct and organize implementation of legislative documents on residence; organize residence registration and management throughout the country, update information on residence to the national population database and residence database;

c) Suspend implementation of or annul regulations on residence management that are inconsistent with regulations of this Law within its jurisdiction or propose such annulment to the competent authority;

d) Promulgate, print and manage declarations of change to residence information and documents, forms and books in relation to residence;

dd) Provide equipment; appoint officials in charge of residence management and provide training and refresher courses for them;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



g) Conduct inspection, settle complaints and denunciations, and handle violations against regulations on residence as prescribed by law;

h) Carry out international cooperation in management of residence.

3. Ministries and ministerial-level agencies shall exercise state management of residence within their jurisdiction and as assigned by the Government.

4. People’s Committees at all levels shall perform the following tasks within their jurisdiction:

a) Organize implementation of legislative documents on residence in their localities;

b) Direct cooperation among relevant regulatory bodies in residence management in their localities;

c) Organize dissemination of and education on regulations on residence;

d) Conduct inspection, settle complaints and denunciations, and handle violations against regulations on residence as prescribed by law.

Article 33. Responsibilities of registration authorities

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. [23] Update citizens' residence information to the national population database and the residence database; receive feedback from citizens regarding incorrect information, cooperate with relevant authorities in verifying, promptly updating and correcting citizens' information.

3. Confirm residence information, announce results of procedures for permanent residence registration, temporary residence registration, temporary residence extension, and information declaration, revision of information on residence, household division and temporary absence declaration in writing, via electronic messages or by other ways as stipulated by the Minister of Public Security.

4. Manage and retain documents on residence registration and management and protect information on residence registration.

5. Handle propositions, complaints and denunciations of citizens concerning residence and residence management within their jurisdiction.

Article 34. Persons in charge of residence registration

1. Persons in charge of residence registration must be professionally qualified for their assigned tasks.

2. When fulfilling their duties, persons in charge of residence registration must have formal, respectful and polite manners, speech and gestures; receive and check relevant documents and process them by the deadlines stated in regulations of this Law; if an application is incomplete or invalid, give detailed instructions in writing to the applicant and take responsibility to the law for this task.

Article 35. Annulment of permanent residence registration and temporary residence registration

In case where a responsible authority or individual carries out permanent or temporary residence registration ultra vires, for the wrong person or not in compliance with a condition provided for in this Law, the authority having done the registration or head of the supervisory body thereof shall issue a decision to annul the registration. The authority having done the registration shall notify the applicant and provide the reason in writing.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. The residence database shall be developed for the purpose of state management of residence and be national property under the unified management of the Ministry of Public Security.

2. The residence database must be connected with the national population database and other databases as prescribed by law, and meet standards for databases and technical regulations and standards on information technology.

3. The following requirements for collection, storage, processing, protection and use of data on residence must be met:

a) Apply information technology to collect, store and process residence information in an adequate, timely and accurate manner; ensure data safety according to rules and database format;

b) Ensure safety of equipment for storage of information and documents on residence;

c) Protect cyber security and security of residence information on computer networks; ensure safety of information and documents stored in the residence database; prevent and control attacks, intrusion, information theft and destruction or damage to data on residence;

d) All access to the residence database aiming to change information on residence of citizens must be approved by the head of the registration authority or another competent authority;

dd) Regulatory bodies, organizations and individuals must not provide, exchange, copy or print information and documents from the residence database illegally.

4. The Government shall elaborate development, management and use of the residence database, information in the residence database and provision and exchange of information and documents from the residence database for/with regulatory bodies, organizations and individuals.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



IMPLEMENTATION CLAUSES [25]

Article 37. Amendment to and annulment of some Articles of laws related to residence management

1. Clause 1 of Article 9 of the Law on Citizen Identification No. 59/2014/QH13 is amended as follows:

 “1. Information to be collected and updated includes:

a) Family name, middle name and first name given upon birth;

b) Date of birth:

c) Gender;

d) Place of birth registration;

dd) Native place;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



g) Religion;

h) Nationality:

i) Martial status;

k) Permanent residence;

l) Temporary residence;

m) Declaration of temporary absence;

n) Current residence;

o) Relationship with household head;

p) Blood type, available at the citizen's request and upon presentation of their blood type test result;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



r) Family name, middle name and first name, and identity card number of household head and household members;

s) Death or missing date.”.

2. Clause 7 of Article 2 of the Law on Health Insurance No. 25/2008/QH12, amended by the Law No. 32/2013/QH13, Law No. 46/2014/QH13, Law No. 97/2015/QH13 and Law No. 35/2018/QH14, is amended as follows:

7. “Household holding health insurance policy” (hereinafter referred to as “household”) includes all of the persons who register one lawful place of residence as their permanent or temporary residence in compliance with regulations of law on residence.”.

3. Clauses 3 and 4 Article 19 of the Law on the Capital No. 25/2012/QH13 are annulled.

4. Point b clause 1 Article 45 of the Law on Judicial Records No. 28/2009/QH12 is annulled.

Article 38. Implementation clauses

1. This Law takes effect from July 01, 2021.

2. The Law on Residence No. 81/2006/QH11, amended by the Law No. 36/2013/QH13, ceases to be effective from the effective date of this Law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



In case information in a household registration book or temporary residence register differs from information in the residence database, the latter shall be used.

When a citizen implements a residence registration procedure that changes information in their household registration book or temporary residence register, the registration authority shall revoke the issued household registration book or temporary residence register, update information in the residence database in compliance with regulations of this Law and does not issue a new household registration book or temporary residence register or reissue the old household registration book or temporary residence register to the citizen.

4. The Government, ministries, ministerial-level agencies and other regulatory bodies shall review legislative documents promulgated or to be promulgated by them and related to household registration books and/or temporary residence registers or providing for presentation of written confirmations of residence to amend these documents in consistency with regulations of this Law, and avoid using information on places of residence as a condition for administrative procedures.

 

 

CERTIFIED BY

CHAIRMAN




Le Quang Manh

 

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 06/VBHN-VPQH ngày 05/02/2026 hợp nhất Luật Cư trú do Văn phòng Quốc hội ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

2.236

DMCA.com Protection Status
IP: 216.73.216.114