|
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
MÔI TRƯỜNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 35/VBHN-BNNMT
|
Hà Nội, ngày 11 tháng
8 năm 2025
|
THÔNG
TƯ
QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT
TRÊN CẠN
Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT
ngày 31/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về
phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15
tháng 07 năm 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Thông tư số
24/2019/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày
31/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về
phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, có hiệu lực thi hành từ ngày 07 tháng
02 năm 2020.
2. Thông tư số
09/2021/TT-BNNPTNT ngày 12/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày
31/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về
phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, có hiệu lực thi hành từ ngày 27 tháng
9 năm 2021.
3. Thông tư số
09/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy
định phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về chăn nuôi và thú y, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025
Căn cứ Luật thú y ngày
19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số
199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Theo đề nghị của Cục
trưởng Cục Thú y;
Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư quy định về phòng, chống dịch
bệnh động vật trên cạn.[1]
Chương
I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Thông tư này quy
định chi tiết một số điều của Luật thú y về phòng, chống dịch bệnh động vật
trên cạn, bao gồm:
a) Danh mục bệnh động
vật phải công bố dịch, Danh mục bệnh truyền lây giữa động vật và người, Danh mục
bệnh động vật cấm giết mổ, chữa bệnh;
b) Quy định các biện
pháp phòng bệnh bắt buộc; yêu cầu vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường trong chăn
nuôi; điều kiện động vật, sản phẩm động vật được vận chuyển ra khỏi vùng có
dịch;
c) Quy định việc sử
dụng thuốc thú y chưa được lưu hành tại Việt Nam trong trường hợp khẩn cấp để
kịp thời phòng, chống dịch bệnh động vật;
d) Khai báo, chẩn đoán,
điều tra dịch bệnh động vật;
đ) Xử lý bắt buộc động
vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh và sản phẩm động vật mang mầm bệnh thuộc
Danh mục bệnh động vật phải công bố dịch, Danh mục bệnh truyền lây giữa động
vật và người hoặc phát hiện có tác nhân gây bệnh truyền nhiễm mới;
e) Điều kiện để công bố
hết dịch bệnh động vật.
2. Thông tư này áp dụng
đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan
đến hoạt động phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 2. Danh mục bệnh
động vật trên cạn phải công bố dịch, Danh mục bệnh truyền lây giữa động vật và
người, Danh mục bệnh động vật cấm giết mổ, chữa bệnh
1. Danh mục bệnh động
vật trên cạn phải công bố dịch theo quy định tại mục 1 của Phụ
lục 01 ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Danh mục bệnh truyền
lây giữa động vật và người theo quy định tại mục 2 của Phụ lục
01 ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Danh mục bệnh động
vật cấm giết mổ, chữa bệnh theo quy định tại mục 3 của Phụ lục
01 ban hành kèm theo Thông tư này.
Chương
II
QUY
ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT TRÊN CẠN
Điều 3. Các biện pháp
phòng bệnh bắt buộc cho động vật trên cạn
1. Các biện pháp phòng
bệnh bắt buộc cho động vật trên cạn bao gồm:
a) Thực hiện vệ sinh,
khử trùng tiêu độc định kỳ theo hướng dẫn tại Phụ lục 08 ban hành kèm theo Thông
tư này;
b) Phòng bệnh bắt buộc
cho động vật bằng vắc-xin được thực hiện đối với một số bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm theo quy định tại mục 1 của Phụ lục 07 ban hành kèm theo Thông
tư này;
Căn cứ vào đặc điểm
dịch tễ, sự lưu hành của các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở động
vật trên địa bàn và hướng dẫn phòng bệnh bằng vắc-xin đối với từng bệnh tại các
Phụ lục 09, 10, 12, 13, 15, 16, 21 và 22 ban hành kèm theo Thông tư này, cơ
quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương trình cấp có thẩm quyền quyết định
việc phòng bệnh bắt buộc bằng vắc-xin đối với bệnh động vật cụ thể quy định tại
mục 1.1 của Phụ lục 07 cho phù hợp với điều kiện của địa
phương và cấp Giấy chứng nhận tiêm phòng theo mẫu quy định tại mục 3 của Phụ
lục 07.
2.[2] Các cơ sở chăn nuôi gia
súc giống, gia cầm giống và bò sữa, ngoài việc thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều này phải thực hiện giám sát định kỳ đối với một số bệnh truyền lây giữa
động vật và người theo quy định tại mục 2 của Phụ lục 07 ban
hành kèm theo Thông tư số này. Căn cứ bệnh động vật quy định tại mục 2.1 của Phụ lục 07 và Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này,
Cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y cấp tỉnh tổ chức giám sát bệnh
định kỳ đối với các cơ sở chăn nuôi gia súc giống, gia cầm giống và bò sữa trên
địa bàn quản lý.
Điều 4. Yêu cầu vệ sinh
thú y, vệ sinh môi trường trong chăn nuôi đối với cơ sở chăn nuôi tập trung
1. Cơ sở chăn nuôi động
vật tập trung phải tuân thủ yêu cầu vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường trong
chăn nuôi theo quy định của pháp luật để phòng bệnh cho động vật.
2. Cơ sở chăn nuôi động
vật tập trung bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường và được cơ quan
quản lý chuyên ngành thú y tổ chức lấy mẫu, xét nghiệm, nếu có kết quả âm tính
đối với bệnh quy định tại mục 1 Phụ lục 07 ban hành kèm theo Thông
tư này thì không phải thực hiện phòng bệnh bắt buộc bằng vắc-xin đối với
bệnh đó.
Điều 5. Điều kiện động
vật, sản phẩm động vật được vận chuyển ra khỏi vùng có dịch
1. Cơ sở chăn nuôi đã
được công nhận an toàn dịch bệnh hoặc cơ sở chăn nuôi đã tham gia chương trình
giám sát dịch bệnh, nếu có nhu cầu vận chuyển động vật mẫn cảm với bệnh được
công bố dịch và sản phẩm của chúng ra khỏi vùng có dịch phải bảo đảm các điều
kiện sau đây:
a) Được cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương tổ chức lấy mẫu, xét nghiệm và có kết quả xét
nghiệm âm tính đối với mầm bệnh của bệnh được công bố dịch;
b) Được vận chuyển bằng
phương tiện đáp ứng yêu cầu tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01 - 100:
2012/BNNPTNT: Yêu cầu chung về vệ sinh thú y trang thiết bị, dụng cụ, phương
tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tươi sống và sơ chế;
c) Phương tiện vận
chuyển động vật, chứa đựng sản phẩm động vật phải được niêm phong, kẹp chì theo
hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương.
2. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc lấy mẫu, xét nghiệm; vệ
sinh, khử trùng tiêu độc phương tiện vận chuyển đối với động vật, sản phẩm động
vật quy định tại khoản 1 Điều này và hướng dẫn tuyến đường vận chuyển ra khỏi
vùng có dịch.
3. Việc kiểm dịch vận
chuyển động vật, sản phẩm động vật quy định tại Điều này phải bảo đảm về hồ sơ,
trình tự, thủ tục kiểm dịch theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường[3].
Điều 6. Quy định việc
sử dụng thuốc thú y chưa được đăng ký lưu hành tại Việt Nam trong trường hợp
khẩn cấp để phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn
1. Trong trường hợp có
dịch bệnh đối với các bệnh động vật quy định tại Điều 2 Thông tư
này hoặc bệnh truyền nhiễm mới mà trong nước chưa sẵn có thuốc thú y phù
hợp để phòng, chống dịch bệnh, Cục Chăn nuôi và Thú y[4] trình Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Môi trường[5] quyết định việc sử dụng thuốc thú y chưa được
lưu hành tại Việt Nam để phòng, chống dịch bệnh khẩn cấp.
2. Việc nhập khẩu thuốc
thú y quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm về hồ sơ, trình tự, thủ tục
nhập khẩu theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường[6].
3. Việc sử dụng thuốc
thú y quy định tại khoản 1 Điều này đề phòng, chống dịch bệnh động vật khẩn cấp
phải theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất thuốc hoặc chỉ định của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y.
Điều 7. Khai báo và báo
cáo dịch bệnh động vật
1. Tổ chức, cá nhân khi
phát hiện động vật mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh truyền nhiễm hoặc động
vật nuôi bị chết bất thường mà không rõ nguyên nhân phải thực hiện ngay việc
khai báo dịch bệnh động vật cho nhân viên thú y cấp xã, Ủy ban nhân dân (UBND)
cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y nơi gần nhất theo quy định tại khoản
1 Điều 19 của Luật thú y bao gồm các thông tin sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân
khai báo;
b) Địa điểm, thời gian
phát hiện dịch bệnh động vật;
c) Loại động vật;
d) Số lượng động vật;
đ) Mô tả dấu hiệu bệnh.
2. Việc báo cáo dịch
bệnh động vật được thực hiện như sau:
a)[7] Ở cấp xã: Nhân viên thú
y xã có trách nhiệm báo cáo dịch bệnh động vật cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo dịch bệnh động vật cho Cơ
quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y cấp tỉnh;
b)[8] (được bãi bỏ)
c) Ở cấp tỉnh: Cơ quan
quản lý chuyên ngành thú y cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo dịch bệnh động vật
cho Sở Nông nghiệp và Môi trường[9], Cơ quan Thú y vùng, Cục Chăn nuôi và
Thú y[10];
d) Ở cấp trung ương:
Cục Chăn nuôi và Thú y[11] có trách nhiệm báo cáo dịch bệnh động vật cho
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường[12] và các tổ chức quốc tế
mà Việt Nam là thành viên hoặc các quốc gia mà Việt Nam cam kết thực hiện báo
cáo, chia sẻ thông tin dịch bệnh động vật;
đ) Trong trường hợp
dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây lan nhanh, ở phạm vi rộng, tổ
chức, cá nhân quy định tại điểm a, b và c khoản này được phép báo cáo vượt cấp
lên chính quyền và các cơ quan quản lý chuyên ngành thú y cấp cao hơn;
e) Trường hợp xuất hiện
dịch bệnh động vật thuộc Danh mục bệnh truyền lây giữa động vật và người, nhân
viên thú y cấp xã và cơ quan quản lý chuyên ngành thú y còn phải thực hiện việc
báo cáo dịch bệnh động vật cho cơ quan y tế cùng cấp có liên quan theo các quy
định hiện hành;
g) Việc kiểm tra, xác
minh, thu thập thông tin và báo cáo dịch bệnh động vật quy định tại các điểm a,
b, c, d, đ và e của khoản này phải được thực hiện trong vòng 24 giờ đối với
vùng đồng bằng, trung du và 72 giờ đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo kể từ khi nhận được thông tin khai báo dịch bệnh động vật từ các cá nhân,
tổ chức có liên quan.
3. Trường hợp nghi ngờ
xuất hiện bệnh động vật quy định tại Điều 2 của Thông tư này,
nhân viên thú y cấp xã và cơ quan quản lý chuyên ngành thú y thực hiện ngay
việc báo cáo ổ dịch bệnh động vật bao gồm các nội dung sau đây:
a) Về địa điểm nơi động
vật mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh: Tên chủ vật nuôi hoặc địa điểm nơi
phát hiện động vật (địa chỉ cụ thể đến thôn, ấp, bản hoặc số nhà); số lượng tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình có động vật mắc bệnh; số lượng thôn, ấp, bản có động
vật mắc bệnh;
b) Thời gian động vật
bắt đầu có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc chết; diễn biến tình hình bệnh
theo ngày;
c) Thông tin liên quan
đến động vật mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh: Loại động vật; nguồn gốc của
động vật; tổng đàn động vật cảm nhiễm; số lượng từng loại động vật bị mắc bệnh,
chết, tiêu hủy; triệu chứng, bệnh tích của động vật mắc bệnh; loại thuốc điều
trị, vắc-xin, chế phẩm sinh học đã sử dụng và thời gian sử dụng; số động vật
được điều trị, được sử dụng vắc-xin, số động vật khỏi bệnh;
d) Tác nhân gây bệnh
(nếu biết), nguồn bệnh đang nghi ngờ hoặc đã được xác định, kết quả các chương
trình giám sát bị động và giám sát chủ động đối với bệnh (nếu có);
đ) Nhận định tình hình,
các biện pháp đã triển khai, các biện pháp sẽ áp dụng, đề xuất, kiến nghị.
4. Báo cáo cập nhật ổ
dịch bệnh động vật
a) Báo cáo cập nhật ổ
dịch được áp dụng trong trường hợp dịch bệnh động vật quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã được cơ quan quản lý chuyên ngành
thú y xác nhận;
b) Báo cáo cập nhật ổ
dịch được nhân viên thú y cấp xã và cơ quan quản lý chuyên ngành thú y thực
hiện vào trước 16 giờ hàng ngày cho đến khi kết thúc đợt dịch, kể cả ngày lễ và
ngày nghỉ cuối tuần;
c) Biểu mẫu báo cáo cập
nhật ổ dịch theo quy định tại mục 1 Phụ lục 03 ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Báo cáo điều tra ổ
dịch bệnh động vật
a) Báo cáo điều tra ổ
dịch được áp dụng trong trường hợp dịch bệnh động vật quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã được cơ quan quản lý chuyên ngành
thú y xác nhận;
b)[13] Báo cáo điều tra ổ dịch
được thực hiện trong vòng 05 ngày kể từ khi ổ dịch được cơ quan quản lý chuyên
ngành chăn nuôi và thú y xác nhận;
c) Nội dung của báo cáo
điều tra ổ dịch được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9
của Thông tư này.
6. Báo cáo kết thúc ổ
dịch bệnh động vật được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương thực hiện
trong vòng 07 ngày kể từ khi kết thúc ổ dịch theo quy định của pháp luật.
7. Báo cáo định kỳ dịch
bệnh động vật
a) Báo cáo tháng được
cơ quan quản lý chuyên ngành thú y thực hiện bằng hình thức báo cáo văn bản và
qua thư điện tử, bao gồm các thông tin về dịch bệnh động vật được tính từ ngày
01 đến ngày cuối cùng của tháng;
b) Báo cáo quý, 6 tháng
và báo cáo năm được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y tổng hợp, báo cáo thông
tin về dịch bệnh động vật trong kỳ báo cáo;
c) Báo cáo định kỳ được
thực hiện trong tuần đầu tiên của kỳ báo cáo tiếp theo;
d) Nội dung báo cáo
định kỳ được thực hiện theo biểu mẫu quy định tại mục 2 Phụ lục 03 của Thông tư
này.
8. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y phải tổ chức lưu trữ, bảo mật thông tin dịch bệnh động vật
trên địa bàn quản lý bằng văn bản và cơ sở dữ liệu máy tính theo các quy định
hiện hành.
Điều 8. Chẩn đoán bệnh
động vật
1. Tổ chức, cá nhân
thực hiện việc lấy mẫu bệnh phẩm gửi xét nghiệm phải tuân thủ theo Quy chuẩn
Việt Nam QCVN 01 - 83: 2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT
ngày 25 tháng 10 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
2. Mẫu bệnh phẩm phải
bảo đảm chất lượng cho việc thực hiện xét nghiệm, xác định tác nhân gây bệnh và
phải được gửi kèm theo phiếu gửi bệnh phẩm xét nghiệm đến phòng thử nghiệm được
cơ quan có thẩm quyền công nhận. Mẫu phiếu gửi bệnh phẩm xét nghiệm theo quy
định tại Phụ lục 04 ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Tổ chức, cá nhân
thực hiện việc chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật thực hiện theo các Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia, Tiêu chuẩn quốc gia về quy trình chẩn đoán bệnh động vật,
bảo đảm tuân thủ các quy định của Luật thú y, Luật phòng chống bệnh truyền
nhiễm và Luật bảo vệ môi trường.
4. Phòng thử nghiệm
phải tổ chức chẩn đoán, xét nghiệm mẫu bệnh phẩm ngay sau khi nhận được mẫu và
trả lời kết quả theo Mẫu phiếu trả lời kết quả xét nghiệm theo quy định tại Phụ
lục 04 ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp chưa thực hiện chẩn đoán, xét
nghiệm hoặc chưa xác định được bệnh, phòng thử nghiệm phải thông báo bằng văn
bản cho tổ chức, cá nhân gửi mẫu bệnh phẩm và nêu rõ lý do.
5. Các phòng thử nghiệm
chịu trách nhiệm báo cáo ngay kết quả xét nghiệm cho cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y có thẩm quyền.
6. Cục Chăn nuôi và Thú
y[14] hướng dẫn việc lấy mẫu,
chẩn đoán, xét nghiệm trong trường hợp xuất hiện tác nhân gây bệnh truyền nhiễm
mới.
Điều 9. Điều tra ổ dịch
1. Nguyên tắc điều tra
ổ dịch
a) Điều tra ổ dịch được
thực hiện đối với các trường hợp nghi ngờ có ổ dịch bệnh động vật quy định tại Điều 2 của Thông tư này và phải được tiến hành trong vòng 24
giờ đối với vùng đồng bằng hoặc 72 giờ đối với vùng sâu, vùng xa kể từ khi nhận
được thông tin về ổ dịch;
b) Trước khi điều tra
tại ổ dịch phải thu thập đầy đủ thông tin về tình hình chăn nuôi, dịch bệnh
động vật; chuẩn bị nguyên vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, hóa chất cần thiết
cho điều tra ổ dịch; chuẩn bị dụng cụ lấy mẫu, bảo quản, vận chuyển mẫu, bảo hộ
cá nhân; các quy định hiện hành về phòng chống dịch bệnh; nguồn lực, tài chính
cần thiết; biểu mẫu, dụng cụ thu thập thông tin;
c) Thông tin về ổ dịch
phải được thu thập chi tiết, đầy đủ, chính xác và kịp thời.
2. Nội dung điều tra ổ
dịch
a) Thu thập thông tin
ban đầu ở thời điểm trước và trong thời gian xảy ra ổ dịch, xác định các đặc điểm
dịch tễ cơ bản và sự tồn tại của ổ dịch; truy xuất nguồn gốc ổ dịch;
b) Cập nhật thông tin
về ổ dịch, bao gồm: kiểm tra, đối chiếu với những thông tin được báo cáo trước
đó; kiểm tra lâm sàng, số lượng, loài, lứa tuổi, ngày phát hiện động vật mắc
bệnh, xác định ca bệnh đầu tiên; số lượng động vật mắc bệnh; thuốc thú y,
vắc-xin, hóa chất đã được sử dụng; xác định các yếu tố nguy cơ có liên quan;
c) Mô tả diễn biến của
ổ dịch theo thời gian, địa điểm, động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh; đánh
giá về nguyên nhân ổ dịch;
d) Đề xuất tiến hành nghiên
cứu các yếu tố nguy cơ;
đ) Tổng hợp, phân tích,
đánh giá và đưa ra chẩn đoán xác định ổ dịch, xác định dịch bệnh, phương thức
lây lan;
e) Báo cáo kết quả điều
tra ổ dịch, nhận định, dự báo tình hình dịch bệnh trong thời gian tiếp theo, đề
xuất các biện pháp phòng, chống dịch.
3.[15] Trách nhiệm điều tra ổ
dịch:
a) Ủy ban nhân dân cấp
xã khi nhận được thông báo có động vật mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh
truyền nhiễm có trách nhiệm thực hiện điều tra ổ dịch bệnh trên động vật;
b) Cơ quan quản lý chuyên
ngành chăn nuôi và thú y cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, tư vấn, hỗ trợ chuyên
môn điều tra ổ dịch đối với Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan của địa phương
hỗ trợ thực hiện điều tra ổ dịch trên địa bàn quản lý;
d) Đối với dịch bệnh
động vật có diễn biến phức tạp, xuất hiện yếu tố dịch tễ mới, Cơ quan quản lý
chuyên ngành chăn nuôi và thú y cấp tỉnh đề nghị Cục Chăn nuôi và Thú y hỗ trợ
công tác điều tra ổ dịch tại địa phương.
Điều
10. Xử lý bắt buộc động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh và sản phẩm động vật
mang mầm bệnh truyền nhiễm
1. Việc áp dụng các
biện pháp tiêu hủy bắt buộc hoặc giết mổ bắt buộc phụ thuộc vào từng loại bệnh
động vật được quy định chi tiết tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này,
bao gồm:
a) Bệnh Cúm gia cầm (áp
dụng đối với thể độc lực cao hoặc chủng vi rút có khả năng truyền lây bệnh cho
người) theo quy định tại Phụ lục 09;
b) Bệnh Lở mồm long
móng theo quy định tại Phụ lục 10;
c) Bệnh Tai xanh ở lợn
theo quy định tại Phụ lục 11;
d) Bệnh Nhiệt thán theo
quy định tại Phụ lục 12;
đ) Bệnh Dịch tả lợn
theo quy định tại Phụ lục 13;
e) Bệnh Xoắn khuẩn theo
quy định tại Phụ lục 14;
g) Bệnh Dại động vật
theo quy định tại Phụ lục 15;
h) Bệnh Niu-cát-xơn theo
quy định tại Phụ lục 16;
i) Bệnh Liên cầu khuẩn
lợn (típ 2) theo quy định tại Phụ lục 17;
k) Bệnh Giun xoắn theo
quy định tại Phụ lục 18;
l) Bệnh Lao bò theo quy
định tại Phụ lục 19;
m) Bệnh Sảy thai truyền
nhiễm theo quy định tại Phụ lục 20;
n)[16] Bệnh Dịch tả lợn Châu
Phi;
Việc phòng, chống, áp
dụng các biện pháp xử lý bắt buộc đối với lợn mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi
theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường[17] và của Cục Chăn nuôi và
Thú y[18].
o)[19] Bệnh Viêm da nổi cục
Việc phòng, chống, giám
sát, chẩn đoán, xét nghiệm và áp dụng các biện pháp xử lý bắt buộc đối với gia
súc mắc bệnh, nghi mắc bệnh Viêm da nổi cục theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Nông
nghiệp và Môi trường[20] và của Cục Chăn nuôi và Thú y[21].
2. Đối với động vật, sản
phẩm động vật mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm mới, Cục Chăn nuôi và Thú y[22] trình Bộ Nông nghiệp và
Môi trường[23] quyết định các biện pháp xử lý bắt buộc.
3. Các biện pháp kỹ
thuật trong tiêu hủy, giết mổ động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh, tiêu hủy
sản phẩm động vật mang mầm bệnh truyền nhiễm được thực hiện theo quy định tại
Phụ lục 06 và hướng dẫn tại các Phụ lục 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18,
19, 20, 21 và 22 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều
11. Điều kiện để công bố hết dịch bệnh động vật
Việc công bố hết dịch
bệnh động vật bao gồm các điều kiện sau đây:
1. Trong thời gian 21
ngày kể từ ngày con vật mắc bệnh cuối cùng bị chết, bị tiêu hủy, giết mổ bắt
buộc hoặc lành bệnh mà không có con vật nào bị mắc bệnh hoặc chết vì dịch bệnh
động vật đã công bố.
2. Đã phòng bệnh bằng
vắc-xin cho động vật mẫn cảm với bệnh dịch được công bố đạt tỷ lệ trên 90% số
động vật trong diện tiêm trong vùng có dịch và trên 80% số động vật trong diện
tiêm trong vùng bị dịch uy hiếp hoặc đã áp dụng biện pháp phòng bệnh bắt buộc
khác cho động vật mẫn cảm với bệnh trong vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp
theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.
3. Thực hiện tổng vệ
sinh, khử trùng tiêu độc trong khoảng thời gian quy định tại khoản 1 Điều này đối
với vùng có dịch, vùng bị dịch uy hiếp theo hướng dẫn tại mục 5
của Phụ lục 08 ban hành kèm theo Thông tư này, bảo đảm đạt yêu cầu vệ sinh
thú y.
4. Có văn bản đề nghị
công bố hết dịch bệnh động vật của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa
phương và văn bản chấp thuận công bố hết dịch gửi kèm theo biên bản thẩm định điều
kiện công bố hết dịch của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y cấp trên.
Chương
III
TỔ
CHỨC THỰC HIỆN [24]
Điều
12. Trách nhiệm của Cục Chăn nuôi và Thú y [25]
1. Hướng dẫn, kiểm tra
và giám sát việc triển khai các quy định tại Thông tư này và các quy định có
liên quan khác về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn.
2. Xem xét, đề xuất Bộ
Nông nghiệp và Môi trường[26] bổ sung bệnh động vật vào danh mục quy định tại
Điều 2 của Thông tư này khi có các bệnh nguy hiểm khác ở
động vật mới xuất hiện.
3. Trình Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Môi trường[27] quyết định việc nhập khẩu, sử dụng thuốc thú y
chưa được lưu hành tại Việt Nam và hướng dẫn sử dụng thuốc thú y để chống dịch
khẩn cấp.
4. Hướng dẫn chi tiết
việc sử dụng các biểu mẫu báo cáo dịch bệnh động vật trên cạn.
5.[28] Hướng dẫn hoặc trình Bộ
ban hành hướng dẫn về chẩn đoán, xét nghiệm, các biện pháp kỹ thuật để phòng,
chống dịch bệnh động vật trên cạn do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm mới; giám
sát bệnh định kỳ.
6. Tổ chức tập huấn cho
các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch
bệnh động vật trên cạn.
7. Phối hợp với các tổ
chức, cá nhân có liên quan để nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các
quy định tại Thông tư này cho phù hợp.
8. Tổ chức thông tin,
tuyên truyền tới các tổ chức, cá nhân có liên quan về các quy định về phòng,
chống dịch bệnh động vật trên cạn.
Điều
13. Trách nhiệm của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương
1. Căn cứ quy định tại Thông
tư này và hướng dẫn của Cục Chăn nuôi và Thú y[29] để tổ chức thực hiện;
đồng thời hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các tổ chức, cá nhân có liên quan trên
địa bàn thực hiện.
2. Xây dựng kế hoạch
chủ động phòng, chống dịch bệnh cho động vật nuôi trên địa bàn theo quy định
tại Phụ lục 05 ban hành kèm theo Thông tư này, trình cấp có thẩm quyền phê
duyệt để tổ chức thực hiện.
3. Tổ chức tập huấn cho
các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng,
chống dịch bệnh động vật trên cạn.
4. Tổ chức thông tin,
tuyên truyền tới các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn về các quy định
về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn.
Điều
14. Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan
1. Các tổ chức, cá nhân
có liên quan đến hoạt động thú y căn cứ các quy định tại Thông tư này và các
Phụ lục ban hành kèm theo để triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh
động vật cho phù hợp.
2. Chấp hành các quy
định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn theo quy định tại Thông tư này,
các quy định khác có liên quan của pháp luật về thú y, bảo vệ môi trường, phòng
chống bệnh truyền nhiễm và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y
nhằm bảo đảm an toàn dịch bệnh cho động vật nuôi trên địa bàn, an toàn vệ sinh
thực phẩm.
3. Chấp hành sự kiểm
tra, hướng dẫn của các cơ quan quản lý chuyên ngành thú y và cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
Điều
15. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 07 năm 2016.
2. Thông tư này thay
thế các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:
a) Quyết định số
63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc ban hành Quy định về tiêm phòng bắt buộc vắc- xin cho gia súc, gia cầm;
b) Quyết định số
64/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc ban hành Danh mục các bệnh phải công bố dịch; các bệnh nguy hiểm của động
vật; các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc;
c) Thông tư số
69/2005/TT-BNN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc Hướng dẫn thực hiện một số biện pháp cấp bách phòng chống dịch cúm (H5N1)
ở gia cầm;
d) Quyết định số
38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc ban hành Quy định phòng chống bệnh Lở mồm long móng gia súc;
đ) Quyết định số
67/2006/QĐ-BNN ngày 12/9/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc sửa đổi Quyết định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 về việc Ban hành quy
định phòng chống bệnh Lở mồm long móng gia súc;
e) Quyết định số
05/2007/QĐ-BNN ngày 22/01/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc sửa đổi Quyết định số 38/2006/QĐ-BNN ngày 16/5/2006 về việc Ban hành quy
định phòng chống bệnh Lở mồm long móng gia súc;
g) Quyết định số
1037/QĐ-BNN-TY ngày 13/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc bổ sung Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn vào Danh mục các bệnh
phải công bố dịch;
h) Quyết định số
80/2008/QĐ-BNN ngày 15/7/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc ban hành Quy định phòng, chống Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
(PRRS);
i) Thông tư số
48/2009/TT-BNNPTNT ngày 04/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
việc Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh dại ở động vật;
k) Thông tư số
04/2011/TT-BNNPTNT ngày 24/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn;
l) Thông tư số
05/2011/TT-BNNPTNT ngày 24/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc Hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh Niu-cát-xơn ở gia cầm;
m) Thông tư số
53/2013/TT-BNNPTNT ngày 12/12/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc Quy định về báo cáo dịch bệnh động vật trên cạn;
n) Thông tư số
44/2014/TT-BNNPTNT ngày 01/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc Quy định các bệnh phải kiểm tra định kỳ đối với các cơ sở chăn nuôi gia
súc giống, gia cầm giống và bò sữa.
Điều
16. Trách nhiệm thi hành
1. Thủ trưởng các đơn
vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường[30], Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và
cá nhân có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao chịu trách
nhiệm tổ chức triển khai thực hiện các quy định tại Thông tư này.
2. Trong quá trình thực
hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần sửa đổi, bổ sung, đề nghị các cơ quan, tổ chức,
cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Nông nghiệp và Môi trường[31] để xem xét, giải
quyết./.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP
NHẤT
|
|
Nơi nhận:
-
Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo và đăng tải trên Cổng TTĐT Chính phủ);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng Bộ NN&MT;
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (để đăng tải);
- Cổng TTĐT Bộ NN&MT (để đăng tải);
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;
- Các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- Cục Chăn nuôi và Thú y, các đơn vị thuộc Cục Chăn nuôi và Thú y;
- Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;
- Lưu: VT, CNTY.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phùng Đức Tiến
|
PHỤ
LỤC 01
DANH MỤC BỆNH ĐỘNG VẬT TRÊN CẠN PHẢI CÔNG BỐ
DỊCH; DANH MỤC BỆNH TRUYỀN LÂY GIỮA ĐỘNG VẬT VÀ NGƯỜI; DANH MỤC BỆNH ĐỘNG VẬT
CẤM GIẾT MỔ, CHỮA BỆNH
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Danh mục bệnh động
vật trên cạn phải công bố dịch
1.1. Bệnh Cúm gia cầm
(thể độc lực cao và chủng vi rút có khả năng truyền lây bệnh cho người)
1.2. Bệnh Lở mồm long
móng
1.3. Bệnh Tai xanh ở
lợn (Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn)
1.4. Bệnh Nhiệt thán
1.5. Bệnh Dịch tả lợn
1.6. Bệnh Xoắn khuẩn
1.7. Bệnh Dại động vật
1.8. Bệnh Niu-cát-xơn
1.9. Bệnh Dịch tả lợn
Châu Phi[32]
1.10. Bệnh Viêm da nổi
cục[33]
2. Danh mục bệnh truyền
lây giữa động vật và người
2.1. Bệnh Cúm gia cầm
(thể độc lực cao và chủng vi rút có khả năng truyền lây bệnh cho người)
2.2. Bệnh Dại động vật
2.3. Bệnh Liên cầu
khuẩn lợn (típ 2)
2.4. Bệnh Nhiệt thán
2.5. Bệnh Xoắn khuẩn
2.6. Bệnh Giun xoắn
2.7. Bệnh Lao bò
2.8. Bệnh Sảy thai
truyền nhiễm
3. Danh mục bệnh động
vật cấm giết mổ, chữa bệnh
3.1. Bệnh Nhiệt thán
3.2. Bệnh Dại động vật
3.3. Bệnh Cúm gia cầm
(thể độc lực cao và chủng vi rút có khả năng truyền lây bệnh cho người)
Các Danh mục bệnh động
vật quy định tại Phụ lục này được rà soát, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với
yêu cầu thực tiễn của công tác phòng chống dịch bệnh theo đề xuất của Cục Chăn
nuôi và Thú y[34].
PHỤ
LỤC 02
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN GIÁM SÁT SAU TIÊM PHÒNG VÀ
GIÁM SÁT BỆNH ĐỘNG VẬT
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giám sát sau tiêm
phòng
1.1. Số lượng gia súc,
gia cầm phải lấy mẫu xét nghiệm để đánh giá đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng:
a) Công thức tính để
đánh giá tỷ lệ bảo hộ có đạt mức 80% hay không:
|

|
n1 = Số mẫu huyết
thanh cần lấy
p = Tỷ lệ có kháng
thể bảo hộ ước đoán
d = Sai số ước lượng
|
Bảng tính số lượng gia
súc, gia cầm phải lấy mẫu để đánh giá tỷ lệ bảo hộ có đạt mức 80% hay không:
|
Tỷ
lệ có kháng thể
bảo hộ ước đoán
|
Sai
số ước lượng
|
|
10%
|
5%
|
1%
|
|
10%
|
35
|
138
|
3457
|
|
20%
|
61
|
246
|
6147
|
|
30%
|
81
|
323
|
8067
|
|
40%
|
92
|
369
|
9220
|
|
50%
|
96
|
384
|
9604
|
|
60%
|
92
|
369
|
9220
|
|
70%
|
81
|
323
|
8067
|
|
80%
|
61
|
246
|
6147
|
|
90%
|
35
|
138
|
3457
|
Ghi chú: Yêu cầu số lượng mẫu
huyết thanh cần lấy là 61 mẫu (dựa trên Tỷ lệ có kháng thể bảo hộ ước đoán là
80% và Sai số ước lượng là 10%).
b) Trường hợp quy mô
đàn dưới 2000 con thì tính số lượng gia súc, gia cầm phải lấy mẫu theo công
thức sau:
|

|
n2: Số mẫu huyết
thanh cần lấy
N: Tổng đàn
n1: Số mẫu huyết
thanh cần lấy (theo công thức trên)
|
1.2. Nội dung kiểm tra,
phương pháp xét nghiệm
a) Nội dung kiểm tra:
Chọn ngẫu nhiên động vật nuôi trong đàn được tiêm phòng để lấy mẫu huyết thanh
đánh giá đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng; mẫu huyết thanh được lấy tại thời điểm
sau 21 ngày kể từ khi kết thúc mũi tiêm cuối cùng của đợt tiêm phòng.
b) Phương pháp xét
nghiệm: thực hiện theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành đối với từng
bệnh hoặc theo hướng dẫn của Cục Chăn nuôi và Thú y[35] đối với bệnh mới xuất
hiện.
1.3. Xử lý kết quả xét
nghiệm
a) Trường hợp tỷ lệ bảo
hộ sau tiêm phòng đạt từ 70% trở lên, đàn động vật nuôi được đánh giá là có
miễn dịch đạt tỷ lệ bảo hộ và cơ sở được sử dụng kết quả kiểm tra, xét nghiệm
để đăng ký cơ sở an toàn dịch bệnh đối với bệnh đó hoặc làm thủ tục kiểm dịch
vận chuyển động vật.
b) Trường hợp tỷ lệ bảo
hộ sau tiêm phòng đạt dưới 70%, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương
hướng dẫn cơ sở tổ chức tiêm phòng lại.
2. Giám sát bệnh động
vật
2.1. Số lượng gia súc,
gia cầm phải lấy mẫu xét nghiệm để phát hiện mầm bệnh hoặc phát hiện kháng thể
do nhiễm bệnh tự nhiên
a) Công thức tính số
mẫu: Số lượng gia súc, gia cầm được lấy mẫu để xét nghiệm phải tính dựa trên tỷ
lệ hiện mắc dự đoán là 10% theo công thức sau:
|

|
n: Số mẫu cần lấy
p1: Xác suất để phát
hiện được bệnh (0,95)
d: Số con mắc bệnh
(d=N x p2)
p2: Tỷ lệ hiện mắc dự
đoán (Ví dụ: 10%)
N: Tổng đàn vật nuôi
|
Riêng đối với bệnh Lao
bò, kiểm tra bằng phản ứng tiêm nội bì đối với 100% động vật thuộc diện phải
kiểm tra.
b) Bảng tính số lượng
gia súc, gia cầm phải lấy mẫu để xác định bệnh động vật
|
Tổng
đàn
|
Tỷ
lệ hiện mắc dự đoán
|
|
0,1%
|
0,5%
|
1%
|
2%
|
5%
|
10%
|
20%
|
|
10
|
10
|
10
|
10
|
10
|
10
|
10
|
7
|
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
19
|
15
|
10
|
|
30
|
30
|
30
|
30
|
30
|
26
|
18
|
11
|
|
40
|
40
|
40
|
40
|
39
|
31
|
20
|
11
|
|
50
|
50
|
50
|
50
|
48
|
35
|
22
|
12
|
|
100
|
100
|
100
|
96
|
78
|
45
|
25
|
13
|
|
200
|
200
|
190
|
155
|
105
|
51
|
27
|
14
|
|
500
|
500
|
349
|
225
|
129
|
56
|
28
|
14
|
|
1000
|
950
|
450
|
258
|
138
|
57
|
29
|
14
|
|
5000
|
2253
|
564
|
290
|
147
|
59
|
29
|
14
|
|
10000
|
2588
|
581
|
294
|
148
|
59
|
29
|
14
|
|
∞
|
2995
|
598
|
299
|
149
|
59
|
29
|
14
|
2.2. Nội dung, phương
pháp kiểm tra, xét nghiệm
a) Nội dung kiểm tra:
Kiểm tra lâm sàng và lấy mẫu để xét nghiệm mầm bệnh hoặc phát hiện kháng thể do
nhiễm bệnh tự nhiên; riêng đối với bệnh Lao bò, kiểm tra bằng phản ứng tiêm nội
bì.
b) Phương pháp kiểm
tra: Kiểm tra lâm sàng được thực hiện dựa trên triệu chứng lâm sàng của từng
bệnh. Lấy mẫu, xét nghiệm được thực hiện theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật hiện hành đối với từng bệnh hoặc theo hướng dẫn của Cục Chăn nuôi và Thú
y[36].
Đối với bệnh Lao bò, tiến hành phản ứng tiêm nội bì và đánh giá kết quả phản
ứng theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành.
c) Tần suất kiểm tra:
Định kỳ 01 năm kiểm tra một lần.
d) Mẫu phải được xét
nghiệm tại các phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công
nhận.
2.3. Xử lý kết quả kiểm
tra
a) Trường hợp không
phát hiện bệnh: Động vật nuôi được đánh giá là không có mầm bệnh lưu hành đối
với bệnh được kiểm tra và cơ sở được sử dụng kết quả kiểm tra, xét nghiệm để
đăng ký cơ sở an toàn dịch bệnh đối với bệnh đó hoặc làm thủ tục kiểm dịch vận
chuyển động vật.
b) Trường hợp phát hiện
bệnh, thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh cụ thể đối với từng bệnh theo
quy định tại Thông tư này.
PHỤ
LỤC 04
MẪU PHIẾU GỬI BỆNH PHẨM XÉT NGHIỆM VÀ MẪU PHIẾU
TRẢ LỜI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Mẫu Phiếu gửi bệnh
phẩm xét nghiệm
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Bệnh phẩm số:
|
|
|
|
PHIẾU
GỬI BỆNH PHẨM XÉT NGHIỆM
|
Kính
gửi: ………………………………………………….
- Họ và tên người gửi
bệnh
phẩm*:.........................................................................
- Địa chỉ người gửi mẫu
bệnh
phẩm:.......................................................................
- Số CMND (nếu có):
..............................................................................................
- Số điện
thoại:………………………………Fax: .................................................
- Email:
....................................................................................................................
1. Thông tin về mẫu:
- Nơi lấy
mẫu*:........................................................................................................
- Loài vật*:
..............................................................................................................
- Lứa tuổi:………………….-
Giống:………………….- Tính biệt: ......................
- Loại bệnh phẩm*:..................................................................................................
- Số lượng*:
.....................................................................................................
mẫu
- Ngày lấy mẫu*:
.....................................................................................................
- Vắc-xin (chủng/ loại
vắc-xin)*:
............................................................................
- Thời gian tiêm
vắc-xin:.........................................................................................
- Tình trạng bệnh phẩm:
..........................................................................................
2. Diễn biến bệnh* (trong trường hợp
nghi mắc bệnh):
- Ngày bị bệnh:
........................................................................................................
- Tổng đàn:………….con -
Số mắc bệnh:…………con - Số chết: .................. con
- Thuốc điều trị:
.......................................................................................................
- Thời gian điều
trị:..................................................................................................
- Triệu chứng:
..........................................................................................................
- Bệnh tích:
..............................................................................................................
3. Yêu cầu xét nghiệm*:
*: Các thông tin bắt
buộc phải khai báo.
(Tôi xin đảm bảo các
thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm).
Thời gian dự kiến trả
lời kết quả xét nghiệm:
Phương thức trả kết quả
xét nghiệm:
|
Người
nhận mẫu
(Ký,
ghi rõ họ tên)
|
Ngày
…….. tháng …… năm …….
Người
gửi mẫu
(Ký
tên, ghi rõ họ tên)
|
2. Mẫu Phiếu trả lời
kết quả xét nghiệm
|
TÊN
CƠ QUAN CẤP TRÊN
TÊN PHÒNG THỬ NGHIỆM
--------------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
………/……....
|
Địa
danh, ngày ... tháng ... năm 20...
|
|
Bệnh
phẩm số:
|
PHIẾU
TRẢ LỜI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM
(Kết
quả chỉ có giá trị với mẫu xét nghiệm)
|
Mã số phòng thử
nghiệm
|
Kính
gửi:……………………………………………………………….
I. Thông tin chung:
- Loài vật được lấy
mẫu:..........................................................................................
- Số lượng mẫu:………………………mẫu
- Loại bệnh
phẩm:....................................................................................................
- Vắc-xin (chủng/loại
vắc-xin):…………………- Ngày tiêm:...............................
- Ngày lấy mẫu:
- Ngày nhận mẫu:
....................................................................................................
- Nơi gửi mẫu:
.........................................................................................................
- Nơi lấy
mẫu:..........................................................................................................
- Tình trạng mẫu bệnh
phẩm:
..................................................................................
II. Chỉ tiêu và phương
pháp xét nghiệm:
- Chỉ tiêu xét nghiệm:
..............................................................................................
- Phương pháp xét
nghiệm:
.....................................................................................
- Ngày xét nghiệm:
..................................................................................................
KẾT QUẢ
Ghi rõ kết quả của từng
phép thử
“*”: Các phép thử được
công nhận phù hợp ISO/IEC 17025:2005
III. Kết luận: ..........................................................................................................
|
Nơi nhận:
- Như
trên;
- Cục Chăn nuôi và Thú y (để b/c)[37];
- Cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương;
- Lưu TH.
|
GIÁM
ĐỐC
|
PHỤ
LỤC 05
MẪU KẾ HOẠCH CHỦ ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG BỆNH ĐỘNG
VẬT
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Mẫu kế hoạch
I. Tình hình dịch bệnh
động vật trên địa bàn trong năm, nêu rõ nguyên nhân, nhận định tình hình, tồn
tại, bất cập.
II. Kế hoạch chủ động
phòng chống dịch bệnh động vật trong năm tiếp theo
1. Mục đích, yêu cầu
2. Nội dung kế hoạch
3. Giải pháp thực hiện
kế hoạch
3.1. Về tổ chức, chỉ
đạo, thanh tra, kiểm tra
3.2. Về nguồn lực
a) Dự trù vật tư, hóa
chất, kinh phí và nguồn nhân lực để triển khai các biện pháp phòng, chống dịch,
hỗ trợ cho chủ vật nuôi khi công bố dịch hoặc khi dịch bệnh xảy ra nhưng chưa
đủ điều kiện công bố dịch ở địa phương;
b) Dự trù các trang
thiết bị cần đầu tư, bổ sung, hiệu chỉnh để phục vụ công tác chẩn đoán xét
nghiệm, giám sát, điều tra ổ dịch, xây dựng bản đồ dịch tễ và phân tích số
liệu.
3.3. Giải pháp kỹ thuật
a) Về tiêm phòng vắc
xin;
b) Về giám sát dịch
bệnh, giám sát sau tiêm phòng;
c) Điều tra ổ dịch, các
biện pháp xử lý ổ dịch, chống dịch;
d) Về vệ sinh, khử
trùng tiêu độc;
đ) Về kiểm dịch vận
chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y;
e) Về quản lý hoạt động
kinh doanh thuốc thú y;
g) Quản lý người hành
nghề thú y;
h) Về xây dựng vùng, cơ
sở an toàn dịch bệnh động vật.
3.4. Giải pháp về thông
tin, tuyên truyền cho các tổ chức, cá nhân có hoạt động thú y trên địa bàn; tập
huấn cho người chăn nuôi, nhân viên thú y xã, công chức, viên chức, người lao
động trong hệ thống thú y địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ trương,
chính sách, các quy định của nhà nước, các văn bản hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y.
4. Nguồn kinh phí và cơ
chế tài chính
5. Tổ chức thực hiện:
Phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, đơn vị có liên quan để triển khai
Kế hoạch; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch.
2. Các bước xây dựng Kế
hoạch
2.1. Đánh giá cụ thể về
vai trò, tầm quan trọng, hiện trạng và xu hướng phát triển chăn nuôi của địa
phương; tổng hợp, phân tích số liệu nuôi cho một số đối tượng nuôi trọng điểm
tại địa phương; tổ chức rà soát những tồn tại, bất cập việc thực hiện Kế hoạch
của năm trước và triển khai xây dựng Kế hoạch của năm tiếp theo cho phù hợp với
thực tiễn tại địa phương.
2.2. Tổng hợp, phân
tích và đánh giá kết quả giám sát dịch bệnh; tình hình dịch bệnh (mô tả chi
tiết theo không gian, thời gian và đối tượng mắc bệnh); các yếu tố nguy cơ liên
quan đến quá trình phát sinh, lây lan dịch bệnh ở địa phương; các chỉ tiêu dịch
tễ và chỉ tiêu liên quan cần xét nghiệm nhằm xác định mức độ nguy cơ phát sinh,
dự báo khả năng phát sinh, lây lan dịch bệnh tại địa phương.
2.3. Xác định các nguồn
lực cần thiết, bao gồm: Nhân lực, vật lực, tài chính để triển khai các biện
pháp phòng, chống, hỗ trợ chủ vật nuôi, giám sát dịch bệnh, cả khi dịch bệnh
xảy ra nhưng chưa đủ điều kiện công bố dịch và khi công bố dịch.
2.4. Căn cứ các quy
chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn Việt Nam và văn bản hướng dẫn về giám sát, điều tra
dịch bệnh, điều kiện vệ sinh thú y, số lượng trại, hộ chăn nuôi, đề xuất các
nội dung giám sát dịch bệnh cụ thể.
2.5. Xây dựng dự thảo
Kế hoạch gồm đầy đủ các nội dung và dự toán kinh phí thực hiện.
2.6. Báo cáo cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch và dự toán kinh phí hàng năm.
2.7. Gửi Kế hoạch đã
được phê duyệt đến Cơ quan Thú y vùng và Cục Chăn nuôi và Thú y[38] để phối hợp chỉ đạo và
giám sát thực hiện.
2.8. Tổ chức triển khai
Kế hoạch.
2.9. Trường hợp điều
chỉnh Kế hoạch, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y cấp tỉnh gửi Kế hoạch đã
được điều chỉnh đến Cơ quan Thú y vùng và Cục Chăn nuôi Thú y[39].
PHỤ
LỤC 06
HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT TIÊU HỦY, GIẾT MỔ BẮT BUỘC
ĐỘNG VẬT MẮC BỆNH VÀ SẢN PHẨM CỦA ĐỘNG VẬT MẮC BỆNH
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Tiêu hủy
1.1. Nguyên tắc tiêu
hủy
a) Phải làm chết động
vật bằng điện hoặc phương pháp khác (nếu có).
b) Địa điểm tiêu hủy:
phải theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ưu tiên chọn địa điểm
tiêu hủy tại khu vực chăn nuôi có động vật mắc bệnh hoặc địa điểm thích hợp
khác gần khu vực có ổ dịch.
1.2. Biện pháp tiêu hủy
a) Biện pháp chôn lấp;
b) Biện pháp đốt: Đốt
bằng lò chuyên dụng hoặc đốt thủ công bằng cách đào hố, cho bao chứa xác động
vật, sản phẩm động vật vào hố và đốt bằng củi, than, rơm, rạ, xăng, dầu,..; sau
đó lắp đất và nện chặt. Riêng với bệnh Nhiệt thán, phải đổ bê tông hố chôn theo
quy định tại Phụ lục số 12 ban hành kèm theo Thông tư này.
1.3. Vận chuyển xác
động vật, sản phẩm động vật đến địa điểm tiêu hủy:
a) Trường hợp địa điểm
tiêu hủy ở ngoài khu vực có ổ dịch, xác động vật, sản phẩm động vật phải được
cho vào bao, buộc chặt miệng bao và tập trung bao chứa vào một chỗ để phun khử
trùng trước khi vận chuyển; trường hợp động vật lớn không vừa bao chứa phải sử
dụng tấm nilon hoặc vật liệu chống thấm khác để lót bên trong (đáy và xung
quanh) thùng của phương tiện vận chuyển;
b) Phương tiện vận
chuyển xác động vật, sản phẩm động vật phải có sàn kín để không làm rơi vãi các
chất thải trên đường đi;
c) Phương tiện vận
chuyển xác động vật, sản phẩm động vật phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc theo
hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y ngay trước khi vận chuyển và
sau khi bỏ bao chứa xuống địa điểm tiêu hủy hoặc dời khỏi khu vực tiêu hủy.
1.4. Quy cách hố chôn
a) Địa điểm: Hố chôn
phải cách nhà dân, giếng nước, khu chuồng nuôi động vật tối thiểu 30m và có đủ
diện tích; nên chọn nơi chôn trong vườn (tốt nhất là vườn cây ăn quả hoặc lấy
gỗ).
b) Kích cỡ: Hố chôn
phải đủ rộng phù hợp với khối lượng động vật, sản phẩm động vật và chất thải
cần chôn. Ví dụ nếu cần chôn 01 tấn động vật thì hố chôn cần có kích thước là
sâu 1,5 - 2m x rộng 1,5 - 2m x dài 1,5 - 2m.
1.5. Các bước chôn lấp
Sau khi đào hố, rải một
lớp vôi bột xuống đáy hố theo tỷ lệ khoảng 01 kg vôi /m2, cho bao chứa xuống
hố, phun thuốc sát trùng hoặc rắc vôi bột lên trên bề mặt, lấp đất và nện chặt;
yêu cầu khoảng cách từ bề mặt bao chứa đến mặt đất tối thiểu là 0,5m, lớp đất
phủ bên trên bao chứa phải dày ít nhất là 1 m và phải cao hơn mặt đất để tránh
nước chảy vào bên trong gây sụt, lún hố chôn. Phun sát trùng khu vực chôn lấp
để hoàn tất quá trình tiêu hủy.
1.6. Quản lý hố chôn
a) Hố chôn xác động vật
phải có biển cảnh báo người ra vào khu vực;
b) Ủy ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm quản lý, tổ chức kiểm tra định kỳ và xử lý kịp thời các sự cố
sụt, lún, xói mòn, rò rỉ, bốc mùi của hố chôn;
c) Địa điểm chôn lấp
phải được đánh dấu trên bản đồ của xã, ghi chép và lưu giữ thông tin tại Ủy ban
nhân dân cấp xã.
1.7. Trường hợp thuê
các tổ chức, cá nhân khác thực hiện tiêu hủy, cơ quan quản lý chuyên ngành thú
y địa phương tổ chức giám sát việc thực hiện, bảo đảm tuân thủ kỹ thuật theo
các quy định tại Phụ lục này.
2. Giết mổ bắt buộc
Việc giết mổ bắt buộc
động vật theo quy định tại khoản 4 Điều 30 của Luật thú y được thực hiện như
sau:
2.1. Đối với phương
tiện vận chuyển động vật đến cơ sở giết mổ
a) Phương tiện phải có
sàn kín hoặc phải có lót sàn bằng vật liệu chống thấm bảo đảm không làm thoát
lọt chất thải trong quá trình vận chuyển; phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc
trước khi vận chuyển động vật ra khỏi khu vực có dịch bệnh và sau khi cho động
vật xuống cơ sở giết mổ;
b) Chất thải, chất độn
phải được thu gom để đốt hoặc xử lý bằng hóa chất khử trùng trước khi chôn; lót
sàn, vật dụng cố định, chứa đựng động vật nếu không đốt hoặc chôn thì phải được
vệ sinh, khử trùng tiêu độc.
2.2. Đối với cơ sở giết
mổ động vật
a) Cơ sở giết mổ phải
bảo đảm không còn động vật lưu giữ chờ giết mổ;
b) Phải giết mổ toàn bộ
số động vật được đưa đến để giết mổ bắt buộc và theo nguyên tắc động vật khỏe
mạnh thì giết mổ trước, sau đó đến động vật có dấu hiệu mắc bệnh và động vật
mắc bệnh;
c) Sau khi hoàn tất
việc giết mổ động vật, xử lý thân thịt, phụ phẩm và sản phẩm khác của động vật,
cơ sở giết mổ phải thực hiện thu gom toàn bộ chất thải để tiêu hủy và thực hiện
vệ sinh, khử trùng tiêu độc; nước thải trong quá trình giết mổ phải được thu
gom và xử lý bằng hóa chất khử trùng; dụng cụ giết mổ, chứa đựng sản phẩm động
vật phải được vệ sinh, khử trùng tiêu độc.
2.3. Đối với thân thịt
của động vật phải được xử lý nhiệt bằng cách làm giò chả hoặc luộc chín hoặc áp
dụng các biện pháp khác bảo đảm không còn khả năng lây lan dịch bệnh.
2.4. Đối với phụ phẩm
và sản phẩm khác của động vật phải được thu gom, phun hóa chất khử trùng trước
khi cho vào bao kín hoặc dụng cụ chứa đựng, phun hóa chất khử trùng trước khi đưa
đến địa điểm tiêu hủy.
Phương tiện vận chuyển
phụ phẩm và sản phẩm khác đến địa điểm tiêu hủy phải có sàn kín; phải được vệ
sinh, khử trùng tiêu độc trước và sau khi vận chuyển đến địa điểm tiêu hủy.
PHỤ
LỤC 07
CÁC BỆNH TRUYỀN NHIỄM NGUY HIỂM Ở ĐỘNG VẬT PHẢI
PHÒNG BỆNH BẮT BUỘC BẰNG VẮC XIN VÀ GIÁM SÁT BỆNH ĐỊNH KỲ
(Ban hành kèm theo Thông
tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn)
1. Các bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm phải áp dụng biện pháp phòng bệnh bắt buộc bằng vắc xin cho
động vật nuôi
1.1. Một số bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm theo loài động vật nuôi như sau:
a) Bệnh ở trâu bò: Lở
mồm long móng, Nhiệt thán, Tụ huyết trùng, Viêm da nổi cục[40];
b) Bệnh ở lợn: Lở mồm
long móng, Tụ huyết trùng, Dịch tả lợn;
c) Bệnh ở dê, cừu: Lở
mồm long móng, Nhiệt thán;
d) Bệnh ở gà, chim cút:
Cúm gia cầm (thể độc lực cao), Niu cát xơn;
đ) Bệnh ở vịt, ngan:
Cúm gia cầm (thể độc lực cao), Dịch tả vịt;
e) Bệnh ở chó, mèo: Dại
động vật.
1.2. Căn cứ yêu cầu
thực tiễn của công tác phòng, chống dịch bệnh động vật, đặc điểm dịch tễ và sự
lưu hành của tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở động vật, Cục Chăn nuôi
và Thú y[41] trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường[42] quyết định bổ sung bệnh
động vật phải phòng bệnh bắt buộc bằng vắc- xin theo quy định tại mục 1.1 của
Phụ lục này cho phù hợp.
2. Các bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm phải áp dụng biện pháp giám sát định kỳ
2.1. Các bệnh truyền
lây giữa động vật và người phải giám sát định kỳ đối với động vật nuôi tại các
cơ sở chăn nuôi gia súc giống, gia cầm giống và bò sữa:
a) Các bệnh ở trâu bò:
Sảy thai truyền nhiễm, Lao bò, Xoắn khuẩn;
b) Các bệnh ở lợn: Xoắn
khuẩn, Liên cầu khuẩn lợn (típ 2);
c) Các bệnh ở dê: Xoắn
khuẩn;
d) Các bệnh ở gia cầm:
Cúm gia cầm (thể độc lực cao hoặc chủng vi rút cúm có khả năng truyền lây bệnh
cho người).
2.2. Căn cứ yêu cầu
thực tiễn của công tác phòng, chống dịch bệnh động vật, đặc điểm dịch tễ và sự
lưu hành của tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở động vật, Cục Chăn nuôi
và Thú y[43] trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường[44] quyết định bổ sung bệnh
động vật phải giám sát định kỳ theo quy định tại mục 2.1 của Phụ lục này cho
phù hợp.
3. Mẫu giấy chứng nhận
tiêm phòng[45]
Mẫu
số 01.DT
|
ỦY
BAN NHÂN DÂN
XÃ/PHƯỜNG/ĐẶC KHU….
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
(Đóng
dấu treo của UBND cấp xã)
|
|
GIẤY
CHỨNG NHẬN TIÊM PHÒNG
Bệnh:
……………………..
Chứng nhận động vật
nuôi của: ……………..(1)…………………………
Địa chỉ: … thôn/ấp/bản:
…… xã/phường/đặc khu: …. tỉnh/thành phố: (2)
Loài vật nuôi:
…………………..(3)………………………………………
Đã được phòng bệnh bằng
vắc xin: …………..(4)………………………..
Ngày phòng bệnh bằng
vắc xin: …………………(5)…………………….
Số lượng động vật đã
được phòng bệnh bằng vắc xin: ………………..con
Đặc điểm nhận dạng động
vật/đàn động vật: ………..(6)…………………
Giấy chứng nhận tiêm
phòng này có hiệu lực đến ngày: ……(7)…………
|
|
NGƯỜI
TIÊM PHÒNG
(Ký
và ghi rõ họ tên)
|
(1): Ghi rõ tên chủ hộ
gia đình hoặc tên của chủ trại/tên trang trại chăn nuôi.
(2): Là địa chỉ nơi
nuôi động vật được tiêm phòng.
(3): Ghi rõ loài, giống
động vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu, lợn, chó, mèo, gà, vịt, ngan…).
(4): Ghi rõ tên vắc
xin, số lô, hạn sử dụng.
(5) và (7): Ghi rõ
ngày, tháng, năm.
(6): Ghi tên vật
nuôi/số thẻ tai (nếu có), trọng lượng, màu lông, tuổi, tính biệt, mục đích nuôi
(làm giống, lấy sữa, thương phẩm…) hoặc đặc điểm nhận diện khác
PHỤ
LỤC 08
HƯỚNG DẪN CHUNG VỀ VỆ SINH, KHỬ TRÙNG TIÊU ĐỘC
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Nguyên tắc vệ sinh,
khử trùng tiêu độc
1.1. Người thực hiện
khử trùng tiêu độc phải sử dụng bảo hộ lao động phù hợp.
1.2. Hóa chất sát trùng
ít độc hại đối với người, vật nuôi, môi trường; phải phù hợp với đối tượng khử
trùng tiêu độc; có tính sát trùng nhanh, mạnh, kéo dài, hoạt phổ rộng, tiêu
diệt được nhiều loại mầm bệnh.
1.3. Trước khi phun hóa
chất sát trùng phải làm sạch đối tượng khử trùng tiêu độc bằng biện pháp cơ học
(quét dọn, cạo, cọ rửa).
1.4. Pha chế và sử dụng
hóa chất sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bảo đảm pha đúng nồng độ,
phun đúng tỷ lệ trên một đơn vị diện tích.
2. Loại hóa chất sát
trùng
2.1. Hóa chất sát trùng
trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam.
2.2. Vôi bột, vôi tôi,
nước vôi, xà phòng, nước tẩy rửa.
2.3. Loại hóa chất sát
trùng khác theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương.
3. Đối tượng vệ sinh,
khử trùng tiêu độc
3.1. Cơ sở chăn nuôi
động vật tập trung.
3.2. Hộ gia đình có
chăn nuôi động vật.
3.3. Cơ sở ấp nở gia
cầm, thủy cầm.
3.4. Cơ sở giết mổ động
vật.
3.5. Cơ sở sơ chế, chế
biến động vật, sản phẩm động vật.
3.6. Chợ buôn bán động
vật sống và sản phẩm động vật ở dạng tươi sống.
3.7. Địa điểm thu gom
động vật sống và sản phẩm động vật để buôn bán, kinh doanh, nơi cách ly kiểm
dịch động vật.
3.8. Khu vực chôn lấp,
xử lý, tiêu hủy động vật mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh; khu vực thu
gom, xử lý chất thải của động vật.
3.9. Trạm, chốt kiểm
dịch động vật, chốt kiểm soát ổ dịch.
3.10. Phương tiện vận
chuyển động vật và sản phẩm động vật.
Căn cứ đặc điểm cụ thể
của địa phương, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định khu vực
có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao cần phải vệ sinh, khử trùng tiêu độc.
4. Tần suất thực hiện
vệ sinh, tiêu độc khử trùng
4.1. Đối với cơ sở chăn
nuôi động vật tập trung: Định kỳ vệ sinh khu vực chăn nuôi, định kỳ thực hiện
tiêu độc khử trùng theo lịch của cơ sở và theo các đợt phát động của địa
phương.
4.2. Hộ gia đình có
chăn nuôi động vật: Định kỳ vệ sinh khu vực chăn nuôi và thực hiện tiêu độc khử
trùng theo các đợt phát động của địa phương.
4.3. Cơ sở ấp nở gia
cầm, thủy cầm: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi đợt ấp nở và theo
các đợt phát động của địa phương.
4.4. Cơ sở giết mổ động
vật: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi ca giết mổ động vật.
4.5. Cơ sở sơ chế, chế
biến động vật, sản phẩm động vật: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi
ca sản xuất.
4.6. Địa điểm thu gom,
chợ buôn bán động vật sống và sản phẩm động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng
khu vực buôn bán động vật, sản phẩm động vật sau mỗi phiên chợ. Nơi cách ly
kiểm dịch động vật phải định kỳ thực hiện vệ sinh và tiêu độc khử trùng ít nhất
01 lần trong tuần trong thời gian nuôi cách ly động vật.
4.7. Phương tiện vận
chuyển động vật và sản phẩm động vật: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau
mỗi lần vận chuyển.
4.8. Khu vực chôn lấp,
xử lý, tiêu hủy động vật mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh; khu vực thu
gom, xử lý chất thải của động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau khi hoàn
thành việc xử lý, chôn lấp và theo các đợt phát động của địa phương.
4.9. Trạm, chốt kiểm
dịch động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng đối với phương tiện vận chuyển động
vật, sản phẩm động vật đi qua trạm kiểm dịch.
4.10. Chốt kiểm soát ổ
dịch: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng hàng ngày đối với phương tiện vận chuyển đi
qua chốt trong thời gian có dịch.
5. Trường hợp có dịch bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm ở động vật xảy ra trên địa bàn, cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương hướng dẫn cụ thể về đối tượng, tần suất vệ sinh, khử
trùng tiêu độc trên địa bàn vùng có ổ dịch, vùng dịch và vùng bị dịch uy hiếp.
PHỤ
LỤC 09
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Cúm gia cầm
1.1. Khái niệm về bệnh
a) Bệnh Cúm gia cầm
(Avian Influenza) là một bệnh truyền nhiễm ở loài chim (bao gồm cả gia cầm và
chim hoang dã) và động vật có vú (bao gồm cả người); gây ra do vi rút cúm típ A
thuộc họ Orthomyxoviridae, chứa ARN, có vỏ bọc bằng lipit. Trên vỏ bọc
có hai loại kháng nguyên H (Hemagglutinin) và N (Neuraminidase). Kháng nguyên H
có 16 subtype đánh số thứ tự từ H1 đến H16 và kháng nguyên N có 09 subtype được
đánh số thứ tự từ N1 đến N9. Tùy theo chủng vi rút gây bệnh, ký hiệu của
subtype H và N được chỉ định cho chủng vi rút đó. Ở Việt Nam hiện nay đã xác
định chủng vi rút gây bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao là H5N1 và H5N6. Trong
chăn nuôi, gà thường bị mắc bệnh rất nặng, vịt thường mang mầm bệnh nhưng ít
khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và là nguồn chủ yếu gieo rắc mầm bệnh ra
môi trường. Một số chủng vi rút cúm gia cầm không gây bệnh cho gia cầm nhưng có
thể lây truyền bệnh cho người và gây tử vong ở người (vi rút cúm A/H7N9).
b) Sức đề kháng của vi
rút: Vi rút thường sống lâu hơn trong không khí ở độ ẩm thấp và trong phân ở điều
kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao. Vi rút có thể sống tới 35 ngày trong chuồng nuôi
có nhiệt độ thấp, tới 3 tháng trong phân gia cầm mắc bệnh. Vi rút dễ dàng bị
tiêu diệt ở nhiệt độ 70°C trong 05 phút. Trong tủ lạnh và tủ đá, vi rút có thể
sống được vài tháng. Chất sát trùng thông thường như: xút 2%, phoóc-môn 3%,
crezin 5%, chloramin B 3%, iodin 1%, halamid 20%, cồn 70° - 90°, vôi bột hoặc
nước vôi 10%, nước xà phòng đặc,...
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Động vật
mắc bệnh cúm gia cầm là các loài gia cầm như gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng, chim
cút, bồ câu, đà điểu, chim hoang dã và động vật có vú thuộc mọi lứa tuổi. Đặc
biệt vi rút có thể lây nhiễm và gây bệnh cho người.
b) Nguồn bệnh: Vi rút
có trong hầu hết các cơ quan nội tạng của động vật mắc bệnh, có nhiều trong
phân, dịch tiết như nước mũi và nước bọt của con vật mắc bệnh. Trong thiên
nhiên, các loài chim di trú, thủy cầm hoang dã mang trùng vi rút cúm là nguồn
lây lan dịch bệnh chủ yếu cho gia cầm nuôi. Trong chăn nuôi, thủy cầm mang
trùng vi rút cúm được xem là nguồn lây nhiễm bệnh chính cho gia cầm nuôi nhốt.
c) Đường truyền lây:
Trong cơ thể gia cầm mắc bệnh, vi rút cúm được nhân lên trong đường hô hấp và
đường tiêu hóa, sau đó được bài thải qua phân, nước mũi và nước bọt. Thời kỳ
lây truyền thường trong vòng từ 3 đến 5 ngày, có khi kéo dài đến 7 ngày kể từ
khi có triệu chứng của bệnh. Sự truyền lây bệnh được thực hiện theo 2 phương
thức là trực tiếp và gián tiếp.
- Lây trực tiếp: Do gia
cầm mẫn cảm tiếp xúc với gia cầm mắc bệnh cúm hoặc động vật mắc bệnh, động vật
mang trùng vi rút cúm, từ đó vi rút cúm xâm nhập vào cơ thể thông qua các chất
bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm vi rút
cúm.
- Lây gián tiếp: Qua
những dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, phương tiện
vận chuyển,... bị nhiễm phân, dịch tiết có chứa vi rút cúm của động vật mắc
bệnh bài thải ra.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Gia cầm mắc bệnh Cúm
gia cầm thể độc lực cao có thời gian ủ bệnh ngắn, thường từ 01 đến 03 ngày và
có thể dài hơn tùy theo độc lực của vi rút. Do vậy, gia cầm mắc bệnh thường bị
chết đột ngột và không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Tỷ lệ chết có thể lên
tới 100% tổng đàn trong vòng vài ngày; gia cầm đi không bình thường, loạng
choạng, lắc đầu, run rẩy, mệt mỏi, nằm tụ tập từng đám; có các biểu hiện ở
đường hô hấp như ho, khó thở, sổ mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, thở khò khè, viêm
xoang, sưng viêm mí mắt, chảy nhiều nước mắt, nhiều con sưng khớp; sưng phù đầu
và mặt, sưng mí mắt, mào và tích tím tái; xuất huyết dưới da, đặc biệt ở những
chỗ da không có lông; tiêu chảy, phân loãng màu trắng hoặc trắng xanh, ở những
con đang đẻ năng suất trứng giảm rõ rệt, có trường hợp đẻ trứng không có vỏ.
1.4. Bệnh tích: Khí
quản xuất huyết, đọng nhiều dịch rỉ viêm, túi khí dày đục, có ổ cazein, phổi
viêm xuất huyết; dạ dày tuyến xuất huyết, manh tràng, ruột non xuất huyết, hậu
môn xuất huyết, gan, lách, thận sưng hoặc xuất huyết; màng bao tim, cơ tim xuất
huyết; tim nhão, bao tim chứa nhiều dịch thẩm xuất màu vàng; buồng trứng, dịch
hoàn xuất huyết; màng não xung huyết, một số xuất huyết dưới da chân.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng tiêm
phòng
a) Trang trại, cơ sở
nuôi gia cầm tập trung: Gia cầm giống, gia cầm trứng thương phẩm, gia cầm nuôi
thịt với thời gian nuôi trên 45 ngày, trừ trường hợp được miễn tiêm phòng
theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư này;
b) Đàn gia cầm nuôi nhỏ
lẻ trong các hộ gia đình: Gà, vịt, ngan, chim cút và một số đối tượng gia cầm
mẫn cảm khác do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
2.2. Phạm vi tiêm phòng
Khu vực có ổ dịch cũ,
địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác
định.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
theo quy trình nuôi và định kỳ tiêm phòng bổ sung cho đàn gia cầm nuôi mới, đàn
gia cầm hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ hoặc theo hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương;
b) Liều lượng, đường
tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào thông
báo chủng vi rút lưu hành tại thực địa, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa
phương xác định đối tượng, phạm vi tiêm phòng và chủng loại vắc-xin sử dụng để
phòng, chống bệnh Cúm gia cầm cho phù hợp.
2.5. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả tiêm phòng.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch Cúm
gia cầm xảy ra, tổ chức tiêm phòng cho gia cầm khỏe mạnh tại các thôn, ấp, bản
nơi xảy ra dịch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ dịch theo hướng từ
ngoài vào trong đối với gia cầm mẫn cảm tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch
trong cùng xã và các xã tiếp giáp xung quanh xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh Cúm
gia cầm
4.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với đàn gia cầm mới
nuôi, đàn gia cầm trong vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan
quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
4.2. Giám sát lưu hành
vi rút cúm (thể độc lực cao hoặc chủng vi rút có khả năng truyền lây bệnh cho
người).
Lấy mẫu dịch ngoáy hầu
họng, dịch ngoáy ổ nhớp, mẫu phân tươi, mẫu bệnh phẩm tổ chức để giám sát lưu
hành vi rút và giám sát sự biến đổi của vi rút.
4.3. Giám sát sau tiêm
phòng
a) Giám sát sau tiêm
phòng để đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia
cầm sau khi được tiêm vắc-xin;
b) Lấy mẫu huyết thanh
để xét nghiệm kháng thể sau tiêm phòng;
c) Thời điểm lấy mẫu:
Sau 21 ngày kể từ thời điểm tiêm phòng gần nhất.
4.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch chủ
động phòng chống dịch bệnh Cúm gia cầm, trong đó có kế hoạch giám sát bệnh Cúm
gia cầm, bao gồm: giám sát lâm sàng, giám sát lưu hành vi rút hoặc giám sát sau
tiêm phòng. Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 02 ban hành
kèm theo Thông tư này.
4.5. Trong quá trình
giám sát, đàn gia cầm có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút cúm gia cầm
A/H5N1, A/H5N6 hoặc chủng vi rút cúm có khả năng truyền lây bệnh và gây tử vong
cho người thì xử lý như đối với ổ dịch Cúm gia cầm.
5. Xử lý gia cầm mắc bệnh
5.1. Gia cầm bị tiêu
hủy trong các trường hợp sau đây:
a) Đàn gia cầm phát
hiện mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao;
b) Đàn gia cầm nuôi thả
rông xung quanh mà chưa được tiêm phòng vắc xin cúm và đã tiếp xúc với đàn gia
cầm mắc bệnh hoặc tiếp xúc với đàn gia cầm có dấu hiệu mắc bệnh Cúm gia cầm thể
độc lực cao;
5.2. Việc tiêu hủy gia
cầm phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính vi rút cúm
A/H5N1 hoặc vi rút cúm A/H5N6 hoặc chủng vi rút cúm có khả năng truyền lây bệnh
và gây tử vong cho người hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa
phương kiểm tra, xác minh và kết luận là mắc bệnh cúm gia cầm.
5.3. Việc xử lý gia cầm
mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm dùng
để phát hiện mầm bệnh Cúm gia cầm là dịch ngoáy hầu họng, dịch ngoáy ổ nhớp,
mẫu phân tươi, mẫu bệnh phẩm tổ chức của gia cầm mắc bệnh hoặc nguyên con gia
cầm mắc bệnh.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đối với mẫu dịch ngoáy hầu
họng, dịch ngoáy ổ nhớp phải được bảo quản trong dung dịch bảo quản, bảo quản
trong điều kiện lạnh khoảng 2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng thử nghiệm nông
nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Cúm gia cầm quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 8400-26:2014.
PHỤ
LỤC 10
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Lở mồm long móng (LMLM)
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Lở mồm long
móng gia súc (Foot and Mouth Disease) là bệnh truyền nhiễm ở các loài động vật
móng guốc chẵn, lây lan mạnh, gây ra bởi loài vi rút thuộc họ Picornaviridae,
giống Aphthovirus. Vi rút có 7 típ là: A, O, C, Asia 1, SAT 1, SAT 2,
SAT 3 với hơn 60 phân típ. Ở khu vực Đông Nam Á thường thấy 3 típ là O, A và
Asia 1. Ở Việt Nam đã phát hiện típ O, A và Asia 1.
b) Sức đề kháng của vi
rút: Vi rút LMLM dễ bị tiêu diệt bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như đun
sôi 100°C); vi rút tồn tại được nhiều tháng trong thịt đông lạnh, 5-15 phút ở
60°C, chết nhanh ở 100°C, 425 ngày ở 0-4°C; vi rút dễ bị tiêu diệt bởi các chất
có độ toan cao (pH ≤ 3) và các chất kiềm mạnh như xút (pH ≥ 9); vi rút sống khoảng
07 ngày trong các chất thải hữu cơ ở chuồng nuôi và các chất có độ kiềm nhẹ (pH
từ 7,2-7,8).
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Động vật
mắc bệnh LMLM là các loài móng guốc chẵn như trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu,
nai,...;
b) Nguồn bệnh: Vi rút
có trong nước bọt, dịch mụn nước, sữa, tinh dịch, các chất bài xuất, bài tiết
của con vật mắc bệnh. Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), dịch tiết trong đường
hô hấp trên của người có thể lưu giữ vi rút trong 24 đến 48 giờ. Một đặc điểm
quan trọng là vi rút LMLM thường được bài xuất ra ngoài trước khi con vật có
biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh. Phòng thí nghiệm tham chiếu LMLM quốc
tế Pirbright (Anh quốc) đã chứng minh với típ O, lợn bài xuất vi rút trước khi
có dấu hiệu lâm sàng đầu tiên là 10 ngày, bò và cừu là 05 ngày, trung bình là
2,5 ngày. Một số tài liệu cho rằng lợn mắc bệnh có thể bài thải 400 triệu đơn
vị lây nhiễm vi rút LMLM trong ngày, trong khi đó loài nhai lại bài thải khoảng
120 ngàn đơn vị lây nhiễm.
c) Đường truyền lây
- Lây trực tiếp: Do
tiếp xúc giữa động vật mẫn cảm và động vật mắc bệnh khi nhốt chung hoặc chăn
thả chung trên đồng cỏ.
- Lây gián tiếp: Qua
thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, tay
chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút. Bệnh lây lan từ vùng này sang
vùng khác, lây từ nước này sang nước khác qua biên giới theo đường vận chuyển
động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống có mang mầm bệnh (kể cả thịt ướp
đông, da, xương, sừng, móng, sữa).
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời kỳ ủ bệnh thường
từ 2 đến 5 ngày, nhiều nhất là 21 ngày. Động vật mắc bệnh có triệu chứng sốt
cao trên 40°C, kém ăn hoặc bỏ ăn, chảy nhiều nước bọt, chân đau, mụn nước xuất
hiện ở lợi, lưỡi, vành mũi, vành móng, kẽ móng và đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra
làm lở loét mồm và dễ làm long móng, nhất là ở lợn.
Sau khi phát bệnh 10-15
ngày, con vật có thể khỏi về triệu chứng lâm sàng nhưng mầm bệnh vẫn tồn tại
trong con vật (03 - 04 tuần đối với lợn, 02 - 03 năm đối với trâu bò, 09 tháng
đối với cừu, 04 tháng đối với dê) và được bài thải ra môi trường làm phát sinh
và lây lan dịch bệnh.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng tiêm
phòng
a) Các trang trại, cơ
sở nuôi gia súc tập trung: Trâu, bò, lợn, dê, cừu trừ trường hợp được miễn
tiêm phòng theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư này;
b) Đàn gia súc nuôi nhỏ
lẻ trong các hộ gia đình: Trâu, bò, lợn nái, lợn đực giống và một số đối tượng
gia súc mẫn cảm khác do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
2.2. Phạm vi tiêm phòng
Tiêm phòng theo kế
hoạch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường[46] và tại khu vực có ổ
dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa
phương xác định.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
định kỳ theo quy trình nuôi, tiêm phòng bổ sung đối với gia súc mới phát sinh,
đàn gia súc đã hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ hoặc tiêm phòng theo kế hoạch
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường[47], theo kế hoạch và hướng dẫn của cơ
quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương;
b) Liều lượng, đường
tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào thông
báo chủng vi rút LMLM lưu hành tại thực địa, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y
địa phương xác định đối tượng, phạm vi tiêm phòng và chủng loại vắc-xin sử dụng
để phòng, chống bệnh LMLM cho phù hợp.
2.5. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp, bảo đảm hiệu quả tiêm phòng.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch LMLM
xảy ra, tổ chức tiêm phòng khẩn cấp cho gia súc khỏe mạnh tại các thôn, ấp, bản
nơi xảy ra dịch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ dịch theo hướng từ
ngoài vào trong đối với gia súc mẫn cảm tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch
trong cùng xã và các xã tiếp giáp xung quanh xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh LMLM
4.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với gia súc mới đưa
vào địa bàn, mới nuôi, gia súc trong vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao
do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
4.2. Giám sát lưu hành
vi rút
Lấy mẫu bệnh phẩm, mẫu
dịch hầu họng (probang) để giám sát lưu hành vi rút, giám sát biến đổi của vi
rút hoặc lấy mẫu huyết thanh để giám sát lưu hành kháng thể do nhiễm bệnh tự
nhiên.
4.3. Giám sát sau tiêm
phòng
a) Giám sát sau tiêm
phòng để đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia
súc sau khi được tiêm vắc-xin;
b) Lấy mẫu huyết thanh
để xét nghiệm kháng thể bảo hộ sau tiêm phòng;
c) Thời điểm lấy mẫu:
Sau 21 ngày kể từ thời điểm tiêm phòng gần nhất.
4.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch chủ
động phòng chống dịch bệnh Lở mồm long móng gia súc, trong đó có kế hoạch giám
sát bệnh LMLM, bao gồm: giám sát lâm sàng, giám sát lưu hành vi rút hoặc giám
sát sau tiêm phòng. Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 02
ban hành kèm theo Thông tư này.
4.5. Trong quá trình
giám sát lưu hành vi rút, gia súc có kết quả xét nghiệm dương tính thì xử lý
như đối với ổ dịch LMLM.
5. Xử lý gia súc mắc
bệnh
5.1. Gia súc mắc bệnh
LMLM được xử lý như sau:
a) Đối với trâu, bò dê,
cừu, hươu, nai: Tiêu hủy bắt buộc gia súc chết, gia súc mắc bệnh trong ổ dịch
đầu tiên khi mới xuất hiện tại thôn, ấp, bản hoặc gia súc mắc bệnh với típ vi
rút LMLM mới hoặc típ vi rút không xuất hiện trên địa bàn trong thời gian 10
năm trở lại đây;
Đối với gia súc không
thuộc diện nêu trên thì khuyến khích tiêu hủy; trường hợp không tiêu hủy thì
được giết mổ tiêu thụ tại chỗ hoặc đánh dấu và nuôi giữ tại địa phương theo
hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương trên cơ sở thời
gian mang trùng của từng loài (02 năm đối với trâu bò, 09 tháng đối với cừu, 04
tháng đối với dê).
b) Đối với lợn: Tiêu
hủy bắt buộc toàn bộ số lợn mắc bệnh trong ổ dịch với triệu chứng lâm sàng điển
hình để giảm thiểu nguy cơ lây lan dịch, cách ly lợn khỏe mạnh trong cùng đàn
với lợn mắc bệnh để theo dõi.
c) Đối với vùng, cơ sở
đã được công nhận an toàn dịch bệnh LMLM, thực hiện tiêu hủy hoặc giết mổ bắt
buộc gia súc mắc bệnh LMLM và xử lý ổ dịch theo quy định.
5.2. Việc xử lý gia súc
mắc bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh
LMLM hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra, xác minh
và kết luận gia súc bị mắc bệnh LMLM.
5.3. Việc xử lý gia súc
mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm để
xét nghiệm mầm bệnh là dịch mụn nước, niêm mạc xung quanh mụn nước, biểu mô,
máu, mẫu dịch probang.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; mẫu được giữ trong dung
dịch bảo quản, trong điều kiện lạnh khoảng 2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng
thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh LMLM quy định tại Tiêu chuẩn
Việt Nam TCVN 8400-1:2010.
PHỤ
LỤC 11
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAI XANH
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Tai xanh (Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn)
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Tai xanh
(Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) là bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm ở lợn. Tác nhân gây bệnh Tai xanh là do một loài vi rút PRRS thuộc
giống Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales, có
cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn RNA. Hiện nay, dựa trên việc phân tích cấu trúc
gien và kháng nguyên đã xác định được 2 típ: típ I gồm những vi rút thuộc dòng
Châu Âu và típ II gồm những vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ. Vi rút típ II gây bệnh
trầm trọng hơn ở các nước Châu Á. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, vi rút gây
bệnh Tai xanh tồn tại dưới hai dạng, dạng cổ điển có độc lực thấp và dạng biến
thể có độc lực cao, gây nhiễm và chết nhiều lợn.
b) Sức đề kháng của vi
rút: ở điều kiện môi trường có độ pH <5,5 hoặc >6,5 vi rút gần như mất
tính gây bệnh; ở nhiệt độ 4°C vi rút tồn tại trong 120 giờ, 20°C tồn tại trong
20 giờ, 37°C tồn tại trong 3 giờ, 56°C tồn tại trong vòng 6 phút; vi rút dễ
dàng bị tiêu diệt bởi ánh nắng mặt trời và các hóa chất sát trùng thông thường
như: vôi bột, nước vôi 10%, chlorine, phoóc-môn, iodin...
c) Lợn nhiễm bệnh Tai
xanh thường bị suy giảm miễn dịch, do đó tạo điều kiện cho nhiều loại bệnh khác
kế phát như Dịch tả lợn, Phó thương hàn, Tụ huyết trùng, E. coli, Liên cầu
khuẩn lợn, Mycoplasma,... từ đó làm chết nhiều lợn bệnh, gây ra những tổn thất
lớn về kinh tế cho người chăn nuôi.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây a) Loài mắc: Lợn thuộc mọi lứa tuổi.
b) Nguồn bệnh: Vi rút
có trong dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu của lợn mắc bệnh hoặc mang trùng
và phát tán ra môi trường. Ở lợn mẫn cảm, vi rút có thời gian tồn tại và bài
thải ra môi trường tương đối dài: ở lợn mang trùng và không có triệu chứng lâm
sàng, vi rút có thể được phát hiện ở nước tiểu trong 14 ngày, ở phân khoảng
28-35 ngày, ở huyết thanh khoảng 21-23 ngày, ở dịch hầu họng khoảng 56-157
ngày, ở tinh dịch sau 92 ngày và đặc biệt ở huyết thanh của lợn bị nhiễm bệnh
sau 210 ngày vẫn có thể tìm thấy vi rút.
c) Đường truyền lây
- Lây trực tiếp: Do
tiếp xúc giữa lợn khỏe mạnh với lợn mắc bệnh, lợn mang trùng, hoặc phân, nước
tiểu, bụi, nước bọt, tinh dịch có mang mầm bệnh;
- Lây gián tiếp: Qua
dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và dụng cụ bảo hộ lao động bị nhiễm
vi rút gây bệnh.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời gian ủ bệnh từ 3
đến 40 ngày, thường trong khoảng 14 ngày.
a) Lợn nái giai đoạn
cạn sữa: Lợn mắc bệnh biếng ăn hoặc bỏ ăn, sốt trên 40 °C, ho và viêm phổi.
Thường sảy thai vào giai đoạn cuối, đẻ non, động đực giả, bất dục hoặc chậm động
dục trở lại sau khi đẻ;
b) Lợn nái giai đoạn đẻ
và nuôi con: Biếng ăn, bỏ ăn, lười uống nước, lờ đờ hoặc hôn mê, mất sữa và
viêm vú, đẻ sớm khoảng 2-3 ngày, thai gỗ, lợn con chết ngay sau khi sinh;
c) Lợn đực giống: Biếng
ăn, bỏ ăn, sốt trên 40°C, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn, mất tính dục,
lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho lợn con sinh ra nhỏ;
d) Lợn con theo mẹ:
Nhiều con chết yểu sau khi sinh, những con sống sót sau có thể trạng gầy yếu,
nhanh chóng rơi vào trạng thái tụt đường huyết do không bú được, mắt có dử màu
nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô
hấp, chân choãi ra, đi run rẩy;
đ) Lợn con cai sữa và
lợn choai: Biếng ăn, bỏ ăn, sốt trên 40°C, ho nhẹ, lông xơ xác; ở một số đàn có
thể không có triệu chứng.
1.4. Bệnh tích
Bệnh tích đặc trung
nhất là ở phổi: phổi viêm hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám chắc,
đặc (nhục hóa) trên các thuỳ phổi, cuống phổi chứa nhiều dịch viêm, trên mặt
cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô, thùy bị bệnh có màu xám đỏ. Nhiều trường
hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh. Ngoài ra, có thể thấy thận
xuất huyết đinh ghim, hạch amidan sưng và sung huyết, não sung huyết, hạch màng
treo ruột xuất huyết, loét van hồi manh tràng.
2. Phòng bệnh bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng tiêm
phòng
Lợn nái, lợn đực giống
do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
2.2. Phạm vi tiêm
phòng: Vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương xác định.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
định kỳ theo quy trình nuôi, tiêm phòng bổ sung đối với đàn mới phát sinh, đàn
đã hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ hoặc tiêm theo hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương;
b) Liều lượng, đường
tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào thông
báo chủng vi rút Tai xanh lưu hành tại thực địa, cơ quan quản lý chuyên ngành
thú y địa phương xác định đối tượng, phạm vi tiêm phòng và chủng loại vắc-xin
sử dụng đề phòng, chống bệnh Tai xanh cho phù hợp.
2.5. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả tiêm phòng.
2.6. Trong quá trình thực
hiện tiêm phòng, không được làm rơi vãi vắc- xin Tai xanh (đối với vắc-xin
nhược độc) ra ngoài môi trường. Sau khi tiêm phòng, toàn bộ dụng cụ tiêm phòng
phải được tiệt trùng, vỏ chai, lọ vắc xin phải được thu hồi, tiêu hủy.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch Tai
xanh xảy ra, tổ chức tiêm phòng cho lợn mẫn cảm với bệnh tại các thôn, ấp, bản
nơi xảy ra dịch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ dịch theo hướng từ
ngoài vào trong đối với lợn mẫn cảm tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch trong
cùng xã và các xã tiếp giáp xung quanh với xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh Tai
xanh
4.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với đàn lợn mới nuôi,
đàn lợn trong vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xác định.
4.2. Giám sát lưu hành
vi rút
Lấy mẫu dịch ngoáy mũi,
dịch nước bọt, mẫu huyết thanh của lợn đang bị sốt cao hoặc phổi, lách, hạch
của lợn mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh để giám sát lưu hành và biến đổi
của vi rút.
4.3. Giám sát sau tiêm
phòng
a) Giám sát sau tiêm
phòng để đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn
sau khi được tiêm vắc-xin;
b) Lấy mẫu huyết thanh
để xét nghiệm kháng thể bảo hộ sau tiêm phòng;
c) Thời điểm lấy mẫu:
Sau 21 ngày kể từ thời điểm tiêm phòng gần nhất.
4.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế
hoạch chủ động phòng chống dịch bệnh Tai xanh ở lợn, trong đó có kế hoạch giám
sát bệnh Tai xanh, bao gồm: giám sát lâm sàng, giám sát lưu hành vi rút hoặc
giám sát sau tiêm phòng. Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ
lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
4.5. Trong quá trình
giám sát lưu hành vi rút, lợn có kết quả xét nghiệm dương tính thì xử lý như
đối với ổ dịch Tai xanh.
5. Xử lý lợn mắc bệnh
5.1. Lợn bị mắc bệnh
Tai xanh được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy ngay lợn
chết do bệnh;
b) Đối với các ổ dịch
nhỏ lẻ mới xảy ra trên địa bàn: Khuyến khích tiêu hủy lợn mắc bệnh để giảm
thiểu nguy cơ dịch lây lan rộng, cách ly triệt để lợn chưa bị mắc bệnh để theo
dõi; khuyến khích giết mổ tiêu thụ tại chỗ đối với lợn khỏe mạnh trong cùng đàn
với lợn mắc bệnh;
c) Đối với trường hợp
dịch xảy ra ở diện rộng: Tiêu hủy số lợn mắc bệnh nặng (lợn mắc bệnh nặng là
những lợn có bệnh, đã được chăm sóc tích cực, được hỗ trợ tăng cường sức đề
kháng trong vòng 07 ngày nhưng không có khả năng bình phục), nuôi cách ly triệt
để lợn mắc bệnh nhẹ để theo dõi chặt chẽ diễn biến bệnh; khuyến khích giết mổ
tiêu thụ tại chỗ đối với lợn khỏe mạnh trong cùng đàn với lợn mắc bệnh, trường
hợp không giết mổ phải nuôi cách ly để theo dõi.
5.2. Việc xử lý lợn mắc
bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh Tai
xanh hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra, xác minh
và kết luận lợn bị mắc bệnh Tai xanh.
5.2. Việc xử lý lợn mắc
bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm là
dịch ngoáy mũi, dịch nước bọt, máu của lợn đang sốt cao, phổi, lách, hạch lâm
ba của lợn mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mẫu được giữ trong dung
dịch bảo quản, trong điều kiện lạnh khoảng 2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng
thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Tai xanh quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 8400-21:2014.
PHỤ
LỤC 12
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH NHIỆT THÁN
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Nhiệt thán
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Nhiệt thán
(Anthrax) là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm của các loài động vật máu
nóng (gia súc, động vật hoang dã) và con người. Bệnh gây ra bởi vi khuẩn Bacillus
anthracis thuộc giống Bacillus, họ Bacillaceae. Khi gặp điều
kiện bất lợi ở ngoài môi trường, vi khuẩn Bacillus anthracis sẽ sinh nha
bào; nha bào Nhiệt thán có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường tự nhiên;
b) Sức đề kháng của vi
khuẩn: Vi khuẩn Nhiệt thán bị tiêu diệt ở 50°C-55°C trong 15-40 phút, 75°C
trong 01-02 phút, trong phủ tạng động vật chết 1-2 tuần. Nha bào của vi khuẩn
Nhiệt thán có sức đề kháng rất cao, đun sôi ở 100°C tồn tại trong 15 phút, hấp
ướt 121 °C trong 15 phút, sấy khô 150°C trong 60 phút. Các chất sát trùng có
thể tiêu diệt vi khuẩn như beta-propiolactone, ethylene oxide hoặc chất sát
trùng pha đặc như phoóc-môn 1% trong 2 giờ, axit fenic 5% trong 24 giờ, nước
vôi đặc trong 48 giờ,...
1.2. Nguồn bệnh và đường
truyền lây
a) Loài mắc: Các loài
động vật ăn cỏ như trâu, bò, ngựa, dê, cừu, hươu, nai; động vật ăn tạp như lợn
nhà, lợn rừng; động vật ăn thịt như chó, mèo cũng có thể bị mắc bệnh Nhiệt
thán. Người có thể mắc bệnh do vi khuẩn Nhiệt thán hoặc nha bào Nhiệt thán xâm
nhập vào cơ thể thông qua vết thương hở trên da hoặc ăn thịt gia súc mắc bệnh
Nhiệt thán hoặc hít phải nha bào Nhiệt thán trong môi trường;
b) Nguồn bệnh: Các chất
bài tiết, dịch tiết, máu từ hậu môn, mũi, miệng, phủ tạng, cơ quan sinh dục, dịch
mật, nước tiểu, sữa của động vật mắc bệnh;
Ở ngoài môi trường, đặc
biệt ở những nơi chôn động vật mắc bệnh Nhiệt thán hoặc nơi bị nhiễm chất bài
tiết của động vật mắc bệnh, vi khuẩn Nhiệt thán sẽ sinh nha bào để tồn tại
trong thời gian dài; giun đất ăn phải nha bào rồi đùn lên mặt đất theo phân;
nha bào sẽ theo nước mưa phát tán đi xa, bám vào cây cỏ, động vật ăn cỏ và ăn
phải nha bào; khi vào đường tiêu hóa, nha bào đi vào mạch máu thông qua niêm
mạc đường tiêu hóa bị tổn thương (do ký sinh trùng hoặc ngoại vật), phát triển
thành vi khuẩn và gây bệnh. Ngoài ra, động vật khỏe mạnh có thể hít phải bụi có
nha bào Nhiệt thán, nha bào xâm nhập đường hô hấp, phát triển thành vi khuẩn
Nhiệt thán, từ đó xâm nhập vào các cơ quan, tổ chức trong cơ thể gây bệnh;
c) Đường truyền lây:
Chủ yếu qua đường tiêu hóa và hô hấp do động vật khỏe mạnh hít hoặc ăn phải nha
bào Nhiệt thán trong quá trình chăn thả tự do ngoài bãi chăn.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời gian ủ bệnh trung
bình từ 3 đến 7 ngày, một số trường hợp có thời gian ủ bệnh ngắn từ vài giờ đến
2 ngày; lợn ủ bệnh từ 1 đến 2 tuần. Gia súc mắc bệnh Nhiệt thán thường có biểu
hiện lưỡi lè ra ngoài, phần bụng chướng to, lòi dom, các lỗ tự nhiên như mồm,
mũi, hậu môn, cơ quan sinh dục chảy dịch nhầy lẫn máu sẫm màu khó đông hoặc
không đông.
a) Loài nhai lại
- Thể quá cấp tính: Thể
bệnh này thường gặp ở trâu, bò, dê, cừu. Con vật sốt cao từ 40,5°C đến 42,5°C,
run rẩy, thở gấp hoặc khó thở, các niêm mạc đỏ ửng hay tím bầm, nghiến răng,
thè lưỡi, đầu gục xuống, mắt đỏ, đi loạng choạng, đứng không vững, con vật co
giật toàn thân. Một số trường hợp quan sát thấy con vật nhảy xuống ao hoặc đâm
sầm vào bụi rậm, ngã quỵ rồi chết. Con vật chết nhanh sau khi xuất hiện triệu
chứng từ một đến vài giờ. Nhiều trường hợp con vật chết khi chưa có triệu chứng
của bệnh. Sau khi chết, các lỗ tự nhiên (miệng, lỗ mũi, hậu môn và cơ quan sinh
dục) chảy máu đen và khó đông. Thường quan sát thấy xác chết cứng không hoàn
toàn;
- Thể cấp tính: Thể
bệnh này thường gặp ở trâu, bò, cừu, ngựa. Con vật sốt cao từ 40°C đến 42°C,
tim đập nhanh, thở nhanh, niêm mạc đỏ thẫm. Trong thời gian sốt, con vật đi
táo; khi thân nhiệt hạ, đi ỉa chảy, có thể quan sát thấy phân màu đen lẫn máu,
nước tiểu lẫn máu; mồm, mũi có bọt màu hồng lẫn máu; hầu, ngực và bụng bị sưng,
nóng; sản lượng sữa giảm, những con có chửa bị sảy thai. Chảy máu ở các lỗ tự
nhiên như miệng, mũi, hậu môn và lỗ sinh dục; con vật thường chết sau 1 - 3
ngày;
- Thể á cấp tính: Thể
bệnh này thường gặp ở chó, mèo và lợn. Con vật thường mắc bệnh qua đường tiêu
hóa do ăn phải thức ăn nhiễm nha bào Nhiệt thán. Con vật sốt cao, biếng ăn hoặc
bỏ ăn, nôn mửa, ỉa chảy hoặc táo bón; xuất hiện các ung sưng thủy thũng dưới da
ở cổ, họng, vai, có thể lan rộng; những chỗ da mỏng thường sưng, nóng rồi cứng
lại, không đau, về sau chỗ da sưng bị loét và chảy nước hơi vàng, có lẫn ít
máu; niêm mạc mắt, miệng, hậu môn màu đỏ;
- Thể ngoài da: Thể
bệnh này con vật có các ung Nhiệt thán ở vùng cổ, mông, ngực. Ban đầu trên da
có các vùng sưng, nóng, đau, về sau lạnh dần, không đau, giữa ung nhiệt thán bị
thối, có lúc thành mụn loét màu đỏ thẫm, chảy nước vàng;
b) Ngựa: Có biểu hiện
sốt từ 41°C đến 42°C, đau bụng dữ dội, khó thở. Con vật run rẩy, nước tiểu lẫn
máu, phân lẫn máu và mủ, mũi và miệng có thể chảy máu, con vật chết nhanh, sau
khi chết bụng chướng to, lòi dom;
c) Lợn: Sưng hầu, có
khi lan xuống cả ngực, bụng, lên mặt. Chỗ sưng có màu đỏ sẫm, tím bầm. Lợn khó
nuốt, khó thở, không kêu được.
1.4. Bệnh tích
Bệnh tích chủ yếu là
hạch hầu, hạch trước vai, hạch đùi sưng to và tụ máu; thịt tím tái thẫm máu;
lách sưng to, tím sẫm và nát nhũn như bùn; máu đen, không đông ở các xoang cơ
thể; da vùng cổ, ngực, hông có nhiều mụn loét màu đỏ thẫm, có dịch màu vàng.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng tiêm
phòng: Trâu, bò, ngựa, dê, cừu.
2.2. Phạm vi tiêm
phòng: Thực hiện tiêm phòng vắc-xin Nhiệt thán cho gia súc tại vùng có ổ dịch
cũ, vùng bị dịch uy hiếp và địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y xác định; tiêm phòng trong vòng ít nhất 10 năm liên tục tính từ năm
có ổ dịch Nhiệt thán cuối cùng.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tiêm phòng một lần
trong một năm, ngoài ra cần thực hiện tiêm phòng bổ sung đối với gia súc mới
phát sinh, đàn gia súc đã hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ;
b) Liều lượng, đường
tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả tiêm phòng.
2.5. Trong quá trình
thực hiện tiêm phòng, không được làm rơi vãi vắc- xin Nhiệt thán ra ngoài môi
trường. Sau khi tiêm phòng, toàn bộ dụng cụ tiêm phòng phải được tiệt trùng, vỏ
chai, lọ vắc xin phải được thu hồi, tiêu hủy.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch
Nhiệt thán xảy ra, tổ chức tiêm phòng vắc-xin Nhiệt thán cho trâu, bò, ngựa,
dê, cừu tại các thôn, ấp, bản nơi xảy ra dịch; đồng thời tiêm phòng bao vây ổ
dịch theo hướng từ ngoài vào trong đối với trâu, bò, ngựa, dê, cừu tại các
thôn, ấp, bản chưa có dịch trong cùng xã và các xã tiếp giáp xung quanh với xã
có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh Nhiệt
thán
Chủ yếu là giám sát lâm
sàng phát hiện sớm ca mắc bệnh Nhiệt thán; giám sát lâm sàng phải được thực
hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với đàn gia súc mới đưa vào địa bàn,
gia súc mới nuôi, gia súc trong vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ
quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
5. Xử lý động vật mắc
bệnh
5.1. Không được phép mổ
xác chết hoặc giết mổ đối với động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh Nhiệt
thán.
5.2. Động vật mẫn cảm
với bệnh Nhiệt thán trong cùng đàn với động vật mắc bệnh phải được nuôi cách ly
để theo dõi.
5.3. Tiêu hủy bắt buộc
gia súc bị chết, bị mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh Nhiệt thán theo hướng dẫn
tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này và theo các bước như sau:
a) Trước khi đưa xác
gia súc đi tiêu hủy phải đốt và nút kỹ các lỗ tự nhiên; bọc kín xác gia súc để
ngăn không cho dịch tiết thoát ra ngoài môi trường; rắc vôi bột để khử trùng;
b) Chọn hố chôn ở nơi
cao ráo, cách xa bãi chăn, nguồn nước, đường giao thông, khu dân cư;
c) Đổ một lớp vôi, tốt
nhất là vôi cục chưa tôi xuống đáy hố chôn trước khi cho xác gia súc vào hố;
d) Đốt xác gia súc
trong hố chôn; sử dụng nguyên liệu chất đốt đảm bảo xác gia súc chết được đốt
cháy hết; đổ một lớp vôi, tốt nhất là vôi cục chưa tôi lên trên xác gia súc đã
bị đốt;
đ) Xây mả gia súc mắc
bệnh Nhiệt thán: Sau khi đốt xác gia súc, phải đổ bê tông vào hố chôn, đánh dấu
cảnh báo “Mả gia súc mắc bệnh Nhiệt thán! Cấm chăn thả gia súc”, ngăn
chặn gia súc cẩn thận bằng rào chắn xung quanh mả.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm là
máu, mẩu tai hoặc mẩu lách của con vật nghi mắc bệnh.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; bảo đảm không rò rỉ ra môi
trường, bảo quản trong điều kiện lạnh khoảng 2°C đến 8°C và chuyển ngay về
phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Nhiệt thán quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 5274: 2010.
PHỤ
LỤC 13
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH DỊCH TẢ LỢN
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Dịch tả lợn
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Dịch tả lợn
(Classical Swine Fever) là bệnh truyền nhiễm của loài lợn, gây ra bởi một loại
vi rút có cấu trúc ARN thuộc giống Pestis vi rút, họ Flaviridae,
có quan hệ mật thiết với vi rút gây bệnh tiêu chảy ở bò và vi rút gây bệnh
Border ở cừu. Cho đến nay chỉ có một serotype của vi rút Dịch tả lợn đã được
xác định. Bệnh chỉ xảy ra ở loài lợn (kể cả lợn nhà và lợn rừng) với các thể
cấp tính, á cấp tính, mạn tính hoặc dạng không điển hình. Mức độ trầm trọng của
bệnh tùy thuộc vào độc lực của vi rút, tuổi của động vật mẫn cảm và thời gian
nhiễm bệnh. Lợn trưởng thành thường bị bệnh ít trầm trọng hơn và cùng có nhiều
cơ hội phục hồi hơn so với lợn con. Bệnh Dịch tả lợn có tốc độ lây lan rất
nhanh và tỷ lệ chết đến 90% và thường ghép với bệnh khác như bệnh Phó thương
hàn, Tụ huyết trùng, Đóng dấu lợn, bệnh do Mycoplasma;
b) Sức đề kháng của vi
rút: Vi rút Dịch tả lợn có sức đề kháng yếu, có khả năng tồn tại lâu ở ngoài
môi trường. Trong phân gia súc vi rút có thể sống sót trong vài ngày, vi rút có
thể sống vài tháng đến vài năm trong thịt đông lạnh. Vi rút dễ bị tiêu diệt ở
nhiệt độ cao và các chất sát trùng thông thường như xút (NaOH) 2%, nước vôi
5%,...
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Lợn mọi
lứa tuổi, đặc biệt là lợn con 2-3 tháng tuổi;
b) Nguồn bệnh: Các chất
bài tiết, dịch tiết, máu, hạch lâm ba, lách lợn mắc bệnh có chứa vi rút. Lợn
khỏi bệnh sau 2 tháng vẫn bài thải mầm bệnh ra ngoài môi trường;
c) Đường truyền lây
- Lây trực tiếp qua
tiếp xúc giữa lợn mắc bệnh và lợn khỏe mạnh.
- Lây gián tiếp qua các
chất bài tiết, qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận
chuyển hay do các động vật khác có mang mầm bệnh.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời gian nung bệnh từ
3 - 7 ngày và bệnh có thể xuất hiện ở một trong 3 thể:
a) Thể quá cấp tính
(còn gọi là bệnh Dịch tả lợn trắng): Bệnh xuất hiện đột ngột, không có triệu
chứng ban đầu, lợn ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao trên 41°C, chết nhanh trong vòng 24-48
giờ, tỷ lệ chết có thể lên tới 100%.
b) Thể cấp tính: Lợn ủ
rũ, biếng ăn hoặc bỏ ăn, sốt cao kéo dài đến lúc gần chết, mắt viêm đỏ có dử,
chảy nước mũi, miệng có loét phủ bựa vàng ở lợi, chân răng, hầu; lợn nôn mửa,
thở khó, nhịp thở rối loạn. Lúc đầu táo bón sau đó tiêu chảy, phân có mùi thối
khắm và có thể lẫn máu tươi. Trên da có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm ở tai,
mõm, bụng và 04 chân. Vào cuối kỳ bệnh, lợn bị bại 2 chân sau, đi loạng choạng
hoặc không đi được. Nếu ghép với các bệnh khác thì có triệu chứng trầm trọng
hơn;
c) Thể mạn tính: Lợn
tiêu chảy, gầy yếu, chết do kiệt sức; lợn khỏi bệnh có thể mang trùng vi rút.
1.4. Bệnh tích
a) Thể cấp tính: Bại
huyết; xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, hạch amidan; có nốt loét ở niêm
mạc miệng, lưỡi, đường tiêu hóa; tụ huyết, xuất huyết phổi, gan, túi mật, dạ
dày, đặc biệt ở đường cong lớn của dạ dày; van hồi manh tràng có những vết loét
hình cúc áo, có vòng tròn đồng tâm, bờ vết loét cao phủ bựa vàng; xuất huyết mỡ
vành tim, ngoại tâm mạc; lách có hiện tượng nhồi huyết ở rìa làm cho lách có
hình răng cưa; thận có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm như đầu chim ở vỏ thận và
tủy thận, bể thận ứ máu hoặc có cục máu; niêm mạc bàng quang bị tụ huyết, xuất
huyết;
b) Thể mạn tính: Thường
thấy có những vết loét lõm sâu ở ruột, phủ bựa vàng; phổi có thể bị viêm dính
vào lồng ngực.
Trường hợp bệnh ghép
với các bệnh truyền nhiễm khác thì triệu chứng, bệnh tích có thể thay đổi.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng tiêm
phòng
a) Lợn trong các trang
trại, cơ sở nuôi tập trung, trừ trường hợp được miễn tiêm phòng theo quy
định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư này;
b) Đàn lợn nuôi nhỏ lẻ
trong các hộ gia đình: Lợn nái, lợn đực giống do cơ quan quản lý chuyên ngành
thú y địa phương xác định.
2.2. Phạm vi tiêm
phòng: Khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương xác định.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
định kỳ theo quy trình nuôi, tiêm phòng bổ sung đối với đàn lợn mới phát sinh,
đàn lợn đã hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ hoặc hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương;
b) Liều lượng, đường
tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp đảm bảo hiệu quả tiêm phòng.
2.5. Trong quá trình
thực hiện tiêm phòng, không được làm rơi vãi vắc- xin Dịch tả lợn ra ngoài môi
trường. Sau khi tiêm phòng, toàn bộ dụng cụ tiêm phòng phải được tiệt trùng, vỏ
chai, lọ vắc xin phải được thu hồi, tiêu hủy.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch xảy
ra, tổ chức tiêm phòng cho lợn mẫn cảm với bệnh tại các thôn, ấp, bản nơi xảy
ra dịch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ dịch theo hướng từ ngoài vào
trong đối với lợn mẫn cảm tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch trong cùng xã và
các xã tiếp giáp xung quanh với xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh Dịch
tả lợn
4.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với đàn lợn mới nuôi,
trong khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương xác định.
4.2. Giám sát lưu hành
vi rút
Mẫu xét nghiệm là máu,
huyết thanh của lợn đang sốt cao hoặc thận, lách, hạch amidan, van hồi manh
tràng của lợn mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh.
4.3. Giám sát sau tiêm
phòng
a) Giám sát sau tiêm
phòng để đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn
sau khi được tiêm vắc-xin;
b) Lấy mẫu huyết thanh
để xét nghiệm kháng thể bảo hộ sau tiêm phòng;
c) Thời điểm lấy mẫu:
Sau 21 ngày kể từ thời điểm tiêm phòng gần nhất.
4.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế
hoạch chủ động phòng chống dịch bệnh Dịch tả lợn, trong đó có kế hoạch giám sát
bệnh Dịch tả, bao gồm: giám sát lâm sàng, giám sát lưu hành vi rút hoặc giám
sát sau tiêm phòng. Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 02
ban hành kèm theo Thông tư này.
4.5. Trong quá trình
giám sát lưu hành vi rút, lợn có kết quả xét nghiệm dương tính thì xử lý như
đối với ổ dịch Dịch tả lợn.
5. Xử lý lợn mắc bệnh
5.1. Lợn bị mắc bệnh
Dịch tả được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy ngay lợn
chết do bệnh;
b) Đối với các ổ dịch
nhỏ lẻ mới xảy ra trên địa bàn: Khuyến khích tiêu hủy lợn mắc bệnh, cách ly
triệt để lợn chưa bị mắc bệnh để theo dõi; khuyến khích giết mổ để tiêu thụ tại
chỗ đối với lợn khỏe mạnh trong cùng ô chuồng với lợn mắc bệnh;
c) Đối với trường hợp
dịch xảy ra ở diện rộng: Khuyến khích tiêu hủy số lợn mắc bệnh nặng (lợn mắc
bệnh nặng là những lợn có bệnh, đã được chăm sóc tích cực, được hỗ trợ tăng
cường sức đề kháng trong vòng 07 ngày nhưng không có khả năng bình phục), nuôi
cách ly lợn mắc bệnh nhẹ để theo dõi chặt chẽ diễn biến bệnh; khuyến khích giết
mổ tiêu thụ tại chỗ đối với lợn khỏe mạnh chưa được tiêm phòng vắc xin Dịch tả
lợn trong cùng ô chuồng với lợn mắc bệnh, trường hợp không giết mổ phải nuôi
cách ly để theo dõi.
5.2. Việc xử lý lợn mắc
bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh
Dịch tả lợn hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra,
xác minh và kết luận lợn bị mắc bệnh Dịch tả lợn.
5.3. Việc xử lý lợn mắc
bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm là
máu, huyết thanh của lợn đang sốt cao hoặc thận, lách, hạch amidan, van hồi
manh tràng của lợn mắc bệnh, chết, có dấu hiệu mắc bệnh.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; bảo quản trong điều kiện
lạnh khoảng 2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ
quan có thẩm quyền công nhận.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 5273:2010.
PHỤ
LỤC 14
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH XOẮN KHUẨN
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Xoắn khuẩn
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Xoắn khuẩn
(Leptospirosis) là bệnh truyền lây giữa động vật và người. Đây là bệnh truyền
nhiễm ở gia súc do xoắn khuẩn Leptospira thuộc loài L. interrogans gây
ra. Ổ chứa mầm bệnh nguyên thủy là loài gặm nhấm, chuột có thể mang khuẩn suốt
đời. Đặc điểm của bệnh là sốt, vàng da, vàng niêm mạc, nước tiểu có máu; viêm
gan, thận; rối loạn tiêu hóa; động vật mang thai có thể bị sảy thai.
b) Sức đề kháng của vi
khuẩn: Ở điều kiện thích hợp xoắn khuẩn có thể tồn tại ở ngoài môi trường vài
tháng hoặc vài năm. Xoắn khuẩn có sức đề kháng yếu, nhạy cảm với nhiệt độ, xoắn
khuẩn bị tiêu diệt ở nhiệt độ 50°C trong 10 phút, 60°C trong 5 phút. Các chất
sát trùng thông thường có thể diệt được xoắn khuẩn nhanh chóng.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Động vật
mắc bệnh là trâu bò, ngựa, dê cừu, lợn, chó mèo, động vật hoang dã, chuột, thỏ,
người...
b) Nguồn bệnh: Chuột
mang trùng; gia súc mắc bệnh; nguồn nước đọng, đất bị nhiễm nước tiểu của chuột
và gia súc mắc bệnh.
c) Đường lây truyền
- Lây trực tiếp: Qua
đường tiêu hóa, qua da, niêm mạc bị tổn thương; niêm mạc miệng, mắt và qua giao
phối.
- Lây gián tiếp: Qua
vật chủ trung gian như côn trùng, ve, mòng, ruồi, muỗi, đỉa đốt gia súc mang
bệnh và truyền cho gia súc khỏe.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
a) Thể cấp tính
- Đối với trâu bò, dê,
cừu:
+ Bê thường mắc bệnh ở
thể cấp tính, triệu chứng ban đầu sốt cao (40,5 °C - 41°C), bỏ ăn, nước tiểu có
máu, khó thở do xung huyết phổi, có chứng thiếu máu, suy kiệt dần rồi chết.
Nước tiểu màu vàng.
+ Trâu, bò trưởng thành
có biểu hiện triệu chứng rất khác nhau và khó chẩn đoán. Con cái đang trong
thời kỳ tiết sữa bị giảm sản lượng sữa. Sữa thường có màu vàng, có các vệt máu
hoặc cục máu. Bầu vú thường mềm và nhão.
- Đối với chó: Thời
gian nung bệnh từ 4-12 ngày, nhưng cũng có thể ngắn khoảng 2 ngày. Con vật sốt
40°C - 41°C, trước khi chó chết thân nhiệt hạ xuống 36°C - 36,5°C; ủ rũ, nôn
mửa, run rẩy, lưng cong, bỏ ăn, lười vận động, đầu lưỡi loét và hoại tử, tiêu
chảy, trong phân có lẫn máu.
- Đối với lợn: Bệnh
thường xảy ra ở đàn lợn con và lợn nái. Lợn con đẻ ra có triệu chứng sốt, co
giật, gày còm, ốm yếu. Lợn nái sảy thai, bỏ ăn bất thường hoặc ăn ít, mệt mỏi,
thích nằm ở xó chuồng; phù nề, đầu to, mắt híp; tiếng kêu yếu, khản đặc hay mất
hẳn, lông dựng; nước tiểu vàng, hơi sánh, có thể có màu cà phê, có lẫn máu;
niêm mạc và da vàng, lợn bị bệnh nặng da toàn thân có màu vàng; mắt đau có dử,
màu hồng, có khi mù mắt; lợn nái sau khi sảy thai 3-6 tuần thường chịu đực mà
không có biểu hiện chung của động dục.
b) Thể mạn tính
Gia súc sốt nhẹ 39°C -
39,5°C, gia súc mang thai có hiện tượng sảy thai, đẻ non, bất dục, nếu sinh con
thì con non đẻ ra yếu; gia súc đực có hiện tượng viêm khớp, sưng dịch hoàn,
tinh dịch loãng, tỷ lệ tinh trùng dị hình cao.
1.4. Bệnh tích
Ở gia súc mắc bệnh, tổ
chức liên kết dưới da có màu vàng; phổi thủy thũng, trong phế quản và phế nang
có tích nhiều nước màu vàng; mỡ vành tim có màu vàng; bàng quang căng, niêm mạc
xuất huyết nặng, chứa đầy nước tiểu màu vàng, đỏ hoặc đỏ sẫm, có khi bàng quang
xẹp, không chứa nước tiểu; gan sưng, nâu vàng, bở nát, hoại tử, thâm nhiễm tế
bào lympho và đơn nhân lớn, tế bào ống dẫn mật tăng sinh, hoại tử ống dẫn mật,
túi mật teo hoặc căng, dịch mật sánh lại như kẹo mạch nha; hạch lâm ba ruột
sưng, thủy thũng; trường hợp bệnh nặng, màng treo ruột thoái hóa biến thành tổ
chức nhầy có màu vàng; thận nhạt màu hoặc có màu vàng, sưng to có điểm hoại tử
trắng hoặc điểm xuất huyết nhỏ trên bề mặt. Đối với bào thai bị sảy có các điểm
hoại tử như đầu đinh ghim trên gan, dịch trong cơ thể có màu vàng. Đối với lợn
mắc bệnh nặng, khi mổ ra có mùi khét.
2. Phòng bệnh và chống
dịch bằng vắc-xin
2.1. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xác định khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ
cao và hướng dẫn cụ thể việc tiêm phòng vắc-xin cho phù hợp.
2.2. Khi có ổ dịch xảy
ra, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định đối tượng, phạm vi
tiêm phòng bao vây ổ dịch cho phù hợp.
3. Giám sát bệnh Xoắn khuẩn
3.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với động vật mới nuôi,
trong khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương xác định.
3.2. Giám sát bệnh Xoắn
khuẩn
a) Giám sát định kỳ
được áp dụng đối với trâu bò giống, dê giống, dê sữa, bò sữa và lợn giống. Mẫu
xét nghiệm là máu, huyết thanh của động vật để kiểm tra kháng thể do nhiễm bệnh
tự nhiên.
b) Việc giám sát bệnh
được thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch chủ
động phòng chống dịch bệnh Xoắn khuẩn, trong đó có kế hoạch giám sát bệnh Xoắn
khuẩn.
3.4. Trong quá trình
giám sát bệnh Xoắn khuẩn, gia súc có kết quả xét nghiệm dương tính thì xử lý
theo quy định.
4. Xử lý gia súc mắc
bệnh
4.1. Động vật mắc bệnh
Xoắn khuẩn được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy ngay động
vật chết do bệnh.
b) Đối với động vật mắc
bệnh: Cách ly, điều trị theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.
Trường hợp động vật mắc bệnh nặng, không có khả năng bình phục thì phải tiêu
hủy.
c) Động vật khỏe mạnh
trong cùng đàn phải được cách ly để chăm sóc, theo dõi diễn biến bệnh.
4.2. Việc xử lý động
vật mắc bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với
bệnh Xoắn khuẩn hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm
tra, xác minh và kết luận động vật bị mắc bệnh Xoắn khuẩn.
4.3. Việc xử lý tiêu
hủy động vật mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông
tư này.
5. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
5.1. Mẫu bệnh phẩm là
huyết thanh của động vật hoặc máu, nước tiểu, gan, thận của động vật mắc bệnh,
chết, có dấu hiệu mắc bệnh.
5.2. Bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đựng trong lọ vô trùng
đóng kín nắp, dán nhãn, ghi rõ bệnh phẩm đã lấy, bảo quản trong điều kiện lạnh khoảng
2°C đến 8°C và được chuyển đến phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có
thẩm quyền công nhận càng nhanh càng tốt.
5.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Xoắn khuẩn quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 8400-15:2011.
PHỤ
LỤC 15
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI ĐỘNG VẬT
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Dại
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Dại (Rabies) là
bệnh lây truyền giữa động vật và người. Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở
động vật máu nóng gây ra do vi rút Lyssa và Vesiculo thuộc họ Rhabdoviridae.
Động vật sau khi nhiễm vi rút dại có thời gian ủ bệnh khác nhau tùy thuộc loài,
độc lực của vi rút và vị trí vết cắn. Vi rút xâm nhập vào cơ thể được nhân lên
và hướng tới hệ thần kinh, phá hủy mô thần kinh, gây nên những kích động điên
dại và kết thúc bằng cái chết. Thời gian ủ bệnh ở động vật có thể kéo dài từ
vài ngày đến vài tháng, có thể lâu hơn, nhưng trước 10 ngày phát bệnh, vi rút
có thể gây nhiễm cho người và động vật khác. Vi rút dại có nhiều trong nước bọt
của chó, mèo và động vật mắc bệnh, kể cả khi con vật chưa có dấu hiệu lâm sàng.
b) Sức đề kháng của vi
rút dại: Vi rút có sức đề kháng yếu, dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ 56°C trong vòng
30 phút, ở 60°C trong 5-10 phút và ở 70°C trong 2 phút. Vi rút bị mất độc lực
dưới ánh nắng mặt trời và các chất sát trùng thông thường ở nồng độ 2-5%. Trong
điều kiện lạnh 4°C, vi rút sống được từ vài tuần đến 12 tháng, ở nhiệt độ dưới
0°C vi rút sống được từ 3 đến 4 năm. Vi rút dại được bảo tồn chủ yếu trong cơ
thể vật chủ.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Động vật
máu nóng, chủ yếu là chó, mèo.
b) Nguồn bệnh: Nguồn
mang mầm bệnh chủ yếu là chó (trên 90%), mèo nuôi và động vật hoang dã như chó
sói, chó rừng, ngoài ra còn ở mèo, chồn, cầy, cáo và một số loài động vật có vú
khác như gấu trúc, các loài dơi hút máu, dơi ăn sâu bọ.
c) Đường lây truyền: Vi
rút xâm nhập qua các vết cắn, vết liếm, vết cào, da, niêm mạc bị tổn thương,
vết thương hở.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
a) Thời kỳ ủ bệnh: Thời
kỳ ủ bệnh dại có thể thay đổi từ vài ngày đến vài tháng tùy thuộc vào vị trí
của vết cắn. Đa số bệnh phát ra trong vòng từ 21 đến 30 ngày sau khi con vật
nhiễm vi rút.
b) Các biểu hiện lâm
sàng: thường được chia làm 02 thể là thể dại điên cuồng và thể dại câm (bại
liệt). Trong thực tế, nhiều con chó mắc bệnh dại biểu hiện cả 2 thể này một
cách xen kẽ nhau, thời gian đầu có biểu hiện điên cuồng, bị kích động rồi sau
đó chuyển sang dạng bị ức chế và bại liệt.
- Thể dại điên cuồng:
được chia làm 3 thời kỳ
+ Thời kỳ tiền lâm
sàng: Chó bị dại có dấu hiệu khác thường như trốn vào góc tối, kín đáo, đến gần
chủ miễn cưỡng hoặc trái lại, tỏ ra vồn vã thái quá, thỉnh thoảng sủa vu vơ,
tru lên từng hồi; hoặc bồn chồn, nhảy lên đớp không khí.
+ Thời kỳ điên cuồng:
các phản xạ vận động bị kích thích mạnh, cắn sủa người lạ dữ dội, quá vồ vập
khi chủ gọi, chỉ cần có tiếng động nhẹ cùng nhảy lên sủa từng hồi dài. Vết
thương nơi bị cắn ngứa, chó liếm hoặc tự cắn, cào đến rụng lông, chảy máu. Chó
bỏ ăn, nuốt khó, sốt, dãn đồng tử, con vật có biểu hiện khát nước, muốn uống
nhưng không nuốt được; chó bắt đầu chảy nước dải, sùi bọt mép, tỏ vẻ bồn chồn,
cảnh giác, sợ sệt, cắn vu vơ, hay giật mình, đi lại không có chủ định, trở nên
dữ tợn, điên cuồng (2 - 3 ngày sau khi phát bệnh). Con vật bỏ nhà ra đi và
thường không trở về; trên đường đi, gặp vật gì lạ nó cũng cắn gặm, ăn bừa bãi,
tấn công chó khác, kể cả người.
+ Thời kỳ bại liệt: chó
bị liệt, không nuốt được thức ăn, nước uống, liệt hàm dưới và lưỡi nên trễ hàm,
thè lưỡi ra ngoài, nước dãi chảy ra, chân sau liệt ngày càng rõ; chó chết trong
khoảng từ 3 - 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên, do liệt cơ hô hấp và do
kiệt sức vì không ăn uống được.
Thể dại điên cuồng chỉ
chiếm khoảng 1/4 các trường hợp chó dại, số còn lại là thể dại câm.
- Thể dại câm: là dạng
bệnh không có các biểu hiện lên cơn dại điên cuồng như thường thấy; chó chỉ có
biểu hiện buồn rầu. Con vật có thể bị bại ở một phần cơ thể, nửa người hoặc 2
chân sau, nhưng thường là liệt cơ hàm, hàm trễ xuống, lưỡi thè ra; nước dãi
chảy lòng thòng, con vật không cắn, sủa được, chỉ gầm gừ trong họng. Quá trình này
tiến triển từ 2 - 3 ngày.
Nhìn chung, thể dại câm
tiến triển nhanh hơn thể dại điên cuồng, thông thường chỉ từ 2 - 3 ngày vì hành
tủy của con vật bệnh bị vi rút tác động làm rối loạn hệ tuần hoàn và hô hấp sớm
hơn.
Mèo ít bị mắc dại hơn
chó, bệnh dại ở mèo cùng tiến triển như ở chó, mèo hay núp mình vào chỗ vắng
hoặc hay kêu, bồn chồn như khi động dục; khi người chạm vào thì nó cắn mạnh và
hăng, tạo vết thương sâu.
1.4. Bệnh tích: Bệnh
tích đại thể ở chó dại ít điển hình; chỉ thấy dạ dày trống rỗng hoặc có vật lạ.
Bệnh tích vi thể ở sừng Amon của não với các tiểu thể Negri đặc trưng cho bệnh
dại, có thể được phát hiện qua kính hiển vi huỳnh quang.
2. Quy định về quản lý
chó, mèo nuôi để phòng bệnh Dại
2.1. Đối với chủ nuôi
chó, mèo (gọi chung là chủ vật nuôi)
a) Phải đăng ký việc
nuôi chó với Ủy ban nhân dân cấp xã tại các đô thị, nơi đông dân cư;
b) Xích, nhốt hoặc giữ
chó trong khuôn viên gia đình; bảo đảm vệ sinh môi trường, không ảnh hưởng xấu
tới người xung quanh. Khi đưa chó ra nơi công cộng phải bảo đảm an toàn cho
người xung quanh bằng cách đeo rọ mõm cho chó hoặc xích giữ chó và có người
dắt;
c) Nuôi chó tập trung
phải bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, không gây ồn ào, ảnh hưởng xấu tới những
người xung quanh;
d) Chấp hành tiêm
vắc-xin phòng bệnh Dại cho chó, mèo theo quy định;
đ) Chịu mọi chi phí
trong trường hợp có chó thả rông bị bắt giữ, kể cả chi phí cho việc nuôi dưỡng
và tiêu hủy chó. Trường hợp chó, mèo cắn, cào người thì chủ vật nuôi phải bồi
thường vật chất cho người bị hại theo quy định của pháp luật.
2.2. Đối với Ủy ban
nhân dân cấp xã
a) Lập sổ quản lý chó nuôi
trên địa bàn bao gồm các thông tin sau đây:
- Họ tên và địa chỉ của
chủ vật nuôi;
- Số lượng chó nuôi;
- Ngày, tháng, năm tiêm
phòng vắc-xin dại.
b) Hằng năm trước đợt
tiêm phòng phải rà soát, thống kê, cập nhập thông tin về đàn chó nuôi trên địa
bàn;
c) Quy định cụ thể việc
bắt giữ chó thả rông ở nơi công cộng thuộc địa bàn quản lý; thành lập các đội
chuyên trách để bắt chó thả rông và động vật mắc bệnh Dại, có dấu hiệu mắc bệnh
Dại; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về địa điểm tạm giữ chó
bị bắt để chủ vật nuôi đến nhận; áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính đối với chủ vật nuôi; quyết định biện pháp xử lý chó bị bắt giữ trong
trường hợp sau 48 giờ kể từ khi có thông báo mà không có người nhận;
d) Phối hợp với cơ quan
quản lý chuyên ngành thú y địa phương tổ chức tập huấn kỹ năng bắt chó thả rông
và bắt động vật mắc bệnh Dại hoặc có dấu hiệu mắc bệnh Dại cho các thành viên
của đội chuyên trách;
đ) Phối hợp với cơ quan
y tế tổ chức được tiêm vắc-xin phòng bệnh Dại cho các thành viên của đội chuyên
trách theo quy định của ngành y tế.
3. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
3.1. Đối tượng tiêm
phòng bắt buộc: Chó, mèo.
3.2. Thời gian tiêm
phòng
a) Hàng năm triển khai
chiến dịch tiêm phòng đợt chính vào tháng 3 - 4. Ngoài ra, hàng tháng phải tiêm
phòng bổ sung cho đàn chó, mèo mới phát sinh hoặc chó, mèo đã hết thời gian còn
miễn dịch bảo hộ.
b) Liều lượng, cách sử
dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
3.3. Phạm vi tiêm
phòng: Tiêm phòng cho đàn chó, mèo thuộc diện tiêm phòng do cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xác định, bảo đảm tỷ lệ tiêm phòng đạt ít nhất
70% tổng đàn.
3.4. Ủy ban nhân dân
cấp xã có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa
phương để tổ chức đợt tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo trên địa bàn. Trong
vòng 07 ngày trước đợt tiêm phòng và trong thời gian triển khai tiêm phòng, Ủy
ban nhân dân cấp xã thông báo hằng ngày trên các phương tiện truyền thông cho
cộng đồng dân cư trên địa bàn về địa điểm và ngày tiêm phòng.
3.5. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn cụ thể việc tiêm phòng vắc-xin Dại trên
địa bàn, thực hiện tiêm phòng và giám sát việc tiêm phòng và cấp Giấy chứng
nhận tiêm phòng bệnh Dại cho chủ vật nuôi có chó, mèo được tiêm phòng vắc xin
Dại.
4. Xử lý khẩn cấp ổ
dịch Dại động vật
4.1. Cơ quan có thẩm
quyền thực hiện công bố dịch theo quy định tại Điều 26 của Luật thú y.
4.2. Tiêm phòng khẩn
cấp bao vây ổ dịch
a) Tiêm phòng khẩn cấp
vắc-xin dại cho toàn bộ đàn chó, mèo khỏe mạnh trong xã có ổ dịch Dại và các xã
tiếp giáp với xã có dịch.
b) Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng Dại.
c) Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
d) Ủy ban nhân dân cấp
xã tổ chức tiêm phòng vắc-xin Dại cho chó, mèo để bao vây ổ dịch.
4.3. Ủy ban nhân dân
các cấp có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 9 của Luật thú y.
Các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm triển khai các biện pháp
phòng, chống dịch theo quy định tại Điều 25, Điều 27, Điều 28, Điều 29 và Điều
30 của Luật thú y.
4.4. Người tham gia xử
lý ổ dịch Dại phải sử dụng bảo hộ cá nhân phù hợp (bao gồm kính bảo vệ mắt,
khẩu trang y tế, găng tay, ủng và quần áo bảo hộ) theo hướng dẫn của cơ quan y
tế.
5. Giám sát bệnh Dại
5.1. Giám sát lâm sàng
là biện pháp chủ yếu nhằm phát hiện sớm các ca bệnh dại ở động vật.
5.2. Đối tượng giám sát
chủ yếu là đàn chó nuôi ở vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao, địa bàn có
chó nghi mắc bệnh Dại cắn người gây tử vong do lên cơn Dại.
5.3. Chủ vật nuôi có
trách nhiệm thường xuyên theo dõi, giám sát chó, mèo nuôi của gia đình, nếu
phát hiện con vật vô cớ cắn, cào người hoặc tấn công động vật khác thì phải
cách ly và báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc Cơ quan quản lý chuyên
ngành chăn nuôi và thú y [48]nơi gần nhất.
5.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xác định vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ
cao phát bệnh Dại, phối hợp với các cơ quan chức năng của ngành y tế xây dựng,
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện Kế hoạch giám sát bệnh dại trên
địa bàn.
6. Xử lý động vật khi
có ổ dịch Dại xảy ra
6.1. Động vật mắc bệnh
Dại, có dấu hiệu mắc bệnh Dại được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy bắt buộc
động vật chết, động vật mắc bệnh Dại.
b) Khuyến khích tiêu
hủy chó, mèo có dấu hiệu mắc bệnh Dại; trường hợp không tiêu hủy phải nuôi cách
ly để theo dõi trong vòng 14 ngày, nếu phát bệnh Dại thì phải tiêu hủy theo quy
định;
c) Khuyến khích tiêu
hủy chó, mèo chưa được tiêm phòng vắc xin Dại nhưng đã tiếp xúc với chó, mèo
mắc bệnh Dại; trường hợp không tiêu hủy phải nuôi cách ly để theo dõi trong
vòng 14 ngày, nếu phát bệnh Dại thì phải tiêu hủy theo quy định;
d) Chó, mèo vô cớ cắn,
cào người phải nuôi cách ly để theo dõi trong vòng 14 ngày, nếu phát bệnh Dại
thì phải tiêu hủy theo quy định.
6.2. Đối với chó, mèo
khỏe mạnh trong vùng có dịch bệnh Dại phải thực hiện nuôi nhốt trong thời gian
có dịch.
6.3. Việc xử lý động
vật mắc bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với
bệnh Dại hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra, xác
minh và kết luận động vật bị mắc bệnh Dại.
6.4. Việc xử lý tiêu
hủy động vật mắc bệnh Dại theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông
tư này.
7. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
7.1. Loại bệnh phẩm:
Đầu của chó, mèo mắc bệnh, chết.
7.2. Kỹ thuật lấy mẫu
bệnh phẩm
a) Người lấy mẫu bệnh
phẩm xét nghiệm bệnh dại phải sử dụng bảo hộ cá nhân gồm găng tay dày hoặc đeo
3 lớp găng tay, kính bảo vệ mắt, khẩu trang y tế, tạp dề, ủng cao su;
b) Cố định phần đầu của
xác chó, mèo, dùng dao cắt đầu ở vị trí đốt Atlas đầu tiên sau gáy.
7.3. Bao gói và bảo
quản: Bọc 3 lớp nilon và cho vào hộp bảo ôn có đá lạnh để bảo quản; dán nhãn,
ghi rõ bệnh phẩm đã lấy. Chuyển ngay bệnh phẩm đến phòng thử nghiệm được cơ
quan có thẩm quyền công nhận. Bệnh phẩm phải được gửi kèm theo phiếu gửi Mẫu
bệnh phẩm, ghi rõ bệnh sử, triệu chứng, đặc điểm dịch tễ. Nếu chưa gửi đi xét
nghiệm ngay thì giữ trong ngăn mát tủ lạnh từ 2°C đến 8°C tối đa trong 48 giờ.
7.4. Cục Chăn nuôi và
Thú y[49] hướng dẫn cụ thể quy trình lấy mẫu và chẩn
đoán, xét nghiệm bệnh Dại.
PHỤ
LỤC 16
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH NIU-CÁT-XƠN
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Niu-cát-xơn
1.1. Khái niệm về bệnh
a) Bệnh Niu-cát-xơn (Newcastle)
là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở loài gia cầm (gà, các loại chim), ở mọi lứa
tuổi đều có thể mắc bệnh, bệnh thường ghép với nhiều bệnh gia cầm khác gây ra
tỷ lệ chết cao, thiệt hại kinh tế lớn. Bệnh Niu-cát-xơn được phát hiện đầu tiên
năm 1926 tại thành phố Newcastle, vùng Đông Bắc nước Anh. Bệnh đã xuất hiện
khắp các châu lục trên thế giới trong đó có Việt Nam.
b) Bệnh Niu-cát-xơn do
một loài vi rút thuộc giống Avulavirus, họ Paramyxoviridae gây
ra. Vi rút gây bệnh Niu-cát-xơn có cấu trúc gen ARN xoắn đơn. Hệ gen của vi rút
chứa khoảng 16.000 nu-clê-ô-tít. Vi rút được nhân lên trong tế bào chất của vật
chủ.
c) Dựa vào các biểu
hiện về triệu chứng lâm sàng, có thể phân loại bệnh Niu-cát-xơn thành 4 thể
bệnh chính, bao gồm: thể độc lực cao hướng nội tạng (Viscerotropic
velogenic), thể độc lực cao hướng thần kinh (Neurotropic velogenic),
thể độc lực trung bình (Mesogenic) và thể độc lực thấp (Lentogenic).
Vi rút gây bệnh Niu-cát-xơn độc lực cao có thể gây chết gia cầm trong thời gian
ngắn khi gia cầm chưa xuất hiện triệu chứng lâm sàng. Đàn gia cầm chưa được
phòng bệnh bằng vắc-xin thì khi nhiễm bệnh có thể chết đến 100%.
d) Sức đề kháng của vi
rút: Vi rút Niu-cát-xơn dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao, ở nhiệt độ 70°C trong
30 phút, 75°C trong 5 phút và 80°C trong vòng 1 phút. Trong môi trường kiềm
hoặc a-xít hoặc dưới tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời, vi rút dễ bị phá
hủy. Trong điều kiện nhiệt độ thấp, vi rút có thể tồn tại trong thời gian dài
tới nhiều tuần trong môi trường hữu cơ như phân, các chất bài tiết hoặc trên
lông của gia cầm mắc bệnh. Các loại hóa chất sát trùng thông thường dễ dàng
tiêu diệt được vi rút.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây a) Loài mắc: Gà các loại, chim cút.
b) Đường truyền lây
- Lây trực tiếp: Vi rút
Niu-cát-xơn thường lây truyền qua đường tiếp xúc trực tiếp giữa gia cầm mắc
bệnh và gia cầm khỏe mạnh. Vi rút được bài thải qua phân, dịch tiết ở mắt, mũi,
miệng hoặc qua hơi thở của gia cầm bệnh.
- Lây gián tiếp: Vi rút
có thể lây truyền thông qua xác gia cầm bị bệnh chết, vỏ trứng, dụng cụ chăn
nuôi, thức ăn nước uống, chất thải chăn nuôi, ủng hoặc quần áo của người chăn
nuôi có mang mầm bệnh.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời kỳ ủ bệnh: Thời kỳ
ủ bệnh trung bình từ 5 - 6 ngày, nhưng có thể thay đổi từ 2 - 15 ngày.
Mức độ bệnh phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như độc lực của chủng vi rút gây bệnh, loài mắc, tuổi, sức đề
kháng. Các triệu chứng lâm sàng chủ yếu bao gồm:
a) Thể bệnh nhẹ, thể hô
hấp: Thường gặp các triệu chứng như hắt hơi, khó thở, ho, chảy nước mũi, tổ
chức vùng mắt và cổ sưng, ỉa chảy, phân có màu trắng xanh hoặc màu trắng;
b) Thể bệnh nặng: Thường
gặp các triệu chứng như suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, run cơ, sã cánh,
ngoẹo đầu và cổ, quay tròn, liệt chân, liệt toàn thân, giảm đẻ, trứng bị mỏng
vỏ, chết đột ngột; tỷ lệ tử vong có thể lên đến 100%.
1.4. Bệnh tích
Viêm túi khí dày đục,
viêm và xuất huyết khí quản, có các đám hoại tử ở dạ dày tuyến, ruột và hạch
manh tràng; xuất huyết điểm ở dạ dày tuyến, tập trung ở xung quanh lỗ đổ ra của
tuyến tiêu hóa; phù, xuất huyết hoặc thoái hóa ống dẫn trứng ở gà đẻ.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng phòng
bệnh bắt buộc bằng vắc-xin: gà các loại, chim cút;
a) Trang trại, cơ sở
nuôi gà, chim cút tập trung, trừ trường hợp được miễn tiêm phòng theo quy
định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư này.
b) Đàn gia cầm nuôi nhỏ
lẻ trong các hộ gia đình: Gà và chim cút do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y
địa phương xác định.
2.2. Phạm vi phòng
bệnh: Khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cao do cơ quan quản lý chuyên ngành
thú y địa phương xác định.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
theo quy trình nuôi và định kỳ tiêm phòng bổ sung cho đàn gia cầm nuôi mới, đàn
gia cầm hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ hoặc theo hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương;
b) Liều lượng, đường
tiêm hoặc nhỏ vắc-xin theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng
bệnh bằng vắc-xin cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả.
3. Sử dụng vắc-xin
phòng bệnh khẩn cấp khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Tổ chức sử dụng
vắc-xin phòng bệnh cho gia cầm tại các thôn, ấp, bản nơi xảy ra dịch; đồng thời
sử dụng vắc xin bao vây ổ dịch theo hướng từ ngoài vào trong đối với gia cầm
tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch trong cùng xã và các xã xung quanh tiếp giáp
với xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện và giám sát việc
phòng bệnh bằng vắc xin.
4. Giám sát bệnh
Niu-cát-xơn
4.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với gia cầm mới nuôi,
gia cầm trong vùng có ổ dịch cũ, vùng có nguy cơ cao.
4.2. Giám sát lưu hành
vi rút: Lấy mẫu dịch ngoáy hầu họng, dịch ngoáy ổ nhớp, mẫu phân tươi, mẫu bệnh
phẩm để giám sát lưu hành vi rút Niu-cát-xơn.
4.3. Giám sát sau tiêm
phòng (chủ yếu được áp dụng ở các trại giống)
a) Giám sát sau tiêm phòng
để đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia cầm
sau khi được tiêm vắc-xin;
b) Lấy mẫu huyết thanh
để xét nghiệm kháng thể bảo hộ sau tiêm phòng. c) Thời điểm lấy mẫu: Sau 21
ngày kể từ thời điểm tiêm phòng gần nhất.
4.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế
hoạch chủ động phòng chống dịch bệnh Niu-cát- xơn trong đó có kế hoạch giám sát
bệnh Niu-cát-xơn. Việc giám sát lưu hành vi rút và giám sát sau tiêm phòng được
thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Xử lý gia cầm mắc
bệnh
5.1. Gia cầm mắc bệnh
Niu-cát-xơn được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy ngay gia
cầm chết, gia cầm mắc bệnh; cách ly gia cầm khỏe mạnh trong cùng đàn để chăm
sóc nuôi dưỡng;
b) Khuyến khích giết mổ
tiêu thụ tại chỗ đối với gia cầm khỏe mạnh trong cùng đàn với gia cầm mắc bệnh,
trường hợp không giết mổ phải nuôi cách ly để theo dõi.
5.2. Việc xử lý gia cầm
mắc bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh
Niu-cát-xơn hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra,
xác minh và kết luận gia cầm bị mắc bệnh Niu-cát-xơn.
5.3. Việc xử lý tiêu
hủy gia cầm mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông
tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm dùng
để phát hiện mầm bệnh Niu-cát-xơn là dịch ngoáy hầu họng, dịch ngoáy ổ nhớp,
mẫu phân tươi, đầu, cơ quan nội tạng của gia cầm mắc bệnh hoặc nguyên con gia
cầm mắc bệnh.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; bảo quản ở nhiệt độ mát từ
2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm
quyền công nhận.
6.3. Bệnh Niu-cát-xơn
cần được chẩn đoán phân biệt với các bệnh gia cầm khác như cúm gia cầm, CRD,
viêm thanh khí quản, viêm phế quản truyền nhiễm, nấm do Mycoplasma, đậu gia cầm
(thể bạch hầu), hội chứng giảm đẻ (EDS-76).
6.4. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Niu-cát-xơn quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 8400-4: 2011.
PHỤ
LỤC 17
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH LIÊN CẦU KHUẨN LỢN
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Liên cầu khuẩn lợn
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Liên cầu khuẩn
lợn (Streptoccocus suis) là bệnh lây truyền giữa động vật và người. Ở lợn, bệnh
do vi khuẩn Streptoccocus suis (Str. suis) gây ra. Đặc trưng lâm sàng
của bệnh là nhiễm trùng huyết, viêm màng não, viêm khớp và viêm phế quản phổi.
Có hai típ gây bệnh là Str. suis típ 1 và Str. suis típ 2. Vi
khuẩn Str. suis típ 2 có khả năng gây bệnh cho người. Vi khuẩn Str.
suis típ 2 còn gây ra nhiều ổ dịch viêm màng não ở lợn con 10-14 ngày sau
cai sữa. Gần đây, bệnh hay xảy ra ở lợn sau cai sữa chăn nuôi tập trung với mật
độ cao. Nhiều trường hợp bệnh xảy ra đối với lợn sau cai sữa và lợn vỗ béo do
liên quan đến yếu tố stress như vận chuyển, xáo trộn đàn, mật độ quá cao và
không đủ thông gió.
b) Sức đề kháng của vi
khuẩn: Vi khuẩn Str.suis có thể tồn tại lâu trong phân, nước, rác; có
thể sống trong phân ở nhiệt độ 0°C tới 104 ngày, ở 9°C trong 10 ngày, ở 22°C
đến 25°C trong 8 ngày. Vi khuẩn bị vô hoạt nhanh chóng bằng các thuốc sát trùng
dùng phổ biến ở các trại chăn nuôi, nước xà phòng nồng độ 1/500 có thể diệt vi
khuẩn trong vòng 1 phút. Vi khuẩn có thể sống trong xác lợn chết ở 40°C trong 6
tuần.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Lợn ở mọi
lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, hay gặp nhất là lợn con từ 5 đến 10 tuần tuổi.
b) Nguồn bệnh: Phân,
sản phẩm của lợn sau giết mổ, đường sinh dục của lợn cái mắc bệnh có chứa vi
khuẩn.
c) Đường truyền lây
- Bệnh lây lan trong
đàn do tiếp xúc giữa lợn khỏe và lợn bệnh. Lợn mẹ bị bệnh truyền sang con. Bệnh
còn có thể lây qua đường hô hấp, đây là đường lây truyền có ý nghĩa quan trọng
do số lượng vi khuẩn trong môi trường rất lớn. Ngoài ra bệnh còn có thể lây
truyền qua dụng cụ chăn nuôi và một số nhân tố trung gian như ruồi, một số loài
chim và vật mang khác.
- Vi khuẩn khu trú ở
đường hô hấp trên của lợn khỏe mạnh, các hốc của hạch amidan, sau đó xâm nhập
vào hệ tuần hoàn và gây bệnh. Lợn con thường bị chết do nhiễm trùng máu cấp
tính, lợn lớn hơn thì vi khuẩn có thể khu trú ở các xoang hoạt dịch, nội tâm
mạc, mắt, màng não. Thời gian nhiễm khuẩn huyết là giai đoạn quan trọng trong
quá trình phát sinh viêm màng não do Str. suis (típ 2). Những mẫu vi
khuẩn Str. suis (típ 2) gây bệnh phân lập được là loại có vỏ bọc và đề
kháng khá cao với thực bào. Vi khuẩn có thể sống và nhân lên trong đại thực
bào, có thể xâm nhập vào dịch não tủy thông qua bạch cầu đơn nhân di chuyển qua
lưới mao mạch.
1.3. Triệu chứng lâm sàng
a) Lợn 2 đến 6 tuần
tuổi thường mắc bệnh thể viêm màng não và viêm khớp xảy ra riêng rẽ hoặc kết
hợp; lợn con bị nhiễm trong cùng một ô chuồng thường mắc bệnh nặng hơn. Con vật
sốt cao, thường sốt tới 42,5°C. Bỏ ăn, sưng hầu, mệt mỏi, ủ rũ, khó nuốt và cơ
thể suy sụp. Giai đoạn đầu của bệnh, con vật có triệu chứng thần kinh, co giật
cơ, mất cân bằng, hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, xiêu vẹo, bước đi
cứng nhắc, tai xuôi ép về phía thân, nằm nghiêng một bên, chân đạp bơi chèo rồi
chết. Mắt có thể bị mù, co giật cầu mắt. Một số trường hợp viêm rốn, viêm nội
tâm mạc.
b) Trong các đợt dịch
viêm màng não do Str. suis (típ 2), có một hoặc nhiều con có biểu hiện
chết đột ngột mà không có triệu chứng của bệnh, những con còn sống đi lại loạng
choạng hoặc không đứng được. Ngoài ra còn thấy viêm van tim ở lợn 13 tuần tuổi
nuôi vỗ béo ở trại lợn đã từng có bệnh viêm màng não do Str.suis.
Vi khuẩn có thể nuôi
cấy từ dịch khớp, dịch não tủy, máu, mô não, phổi, mẫu swab đường hô hấp trên
và từ hạch amidan của lợn khỏe.
1.4. Bệnh tích
Lợn chết do Str.
suis (típ 2) có bệnh tích đại thể và vi thể bao gồm bại huyết, viêm khớp,
viêm phổi và màng phổi xuất huyết hoặc viêm tơ huyết, viêm màng não mủ, viêm cơ
tim thoái hóa xuất huyết, viêm van tim hai lá, viêm nội tâm mạc hóa mủ, ngoài
ra còn viêm âm đạo và sảy thai. Trong trường hợp viêm màng não, dịch não tủy bị
đục, xung huyết và viêm màng não tích tụ thể trắng, ổ mủ ở vùng dưới nhện. Hầu
hết các trường hợp lưới võng mạc nội mô bị ảnh hưởng nặng, các mạch máu ở tâm
thất, não và tủy sống bị tắc nghẽn do dịch thẩm xuất, nhiều khi gây ra phù não.
Mô thần kinh của tủy sống, tiểu não và cuống não có thể bị thoái hóa dạng lỏng.
2. Phòng bệnh bằng
vắc-xin
Hiện chưa có vắc-xin
phòng bệnh Liên cầu khuẩn lợn, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là vệ sinh thú y,
chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn.
3. Giám sát bệnh Liên
cầu khuẩn lợn (típ 2)
3.1. Đối tượng giám sát
bệnh định kỳ: Lợn nái, đực giống do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y xác
định.
3.2. Chủ yếu là giám
sát lâm sàng và lấy mẫu dịch ngoáy mũi hoặc amidan để phân lập vi khuẩn; lấy
mẫu hạch, phủ tạng (tim, phổi, gan, lách), máu, não, khớp và dịch rỉ viêm của
lợn bị chết nghi do mắc bệnh Liên cầu khuẩn để giám sát vi khuẩn.
3.3. Khi phát hiện có
vi khuẩn Liên cầu khuẩn lợn (típ 2) phải báo ngay cho cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương để tiến hành xác minh, truy xuất nguồn gốc lợn và giám
sát bổ sung.
3.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch giám
sát bệnh Liên cầu khuẩn lợn (típ 2). Việc giám sát được thực hiện theo hướng
dẫn tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
4. Xử lý lợn mắc bệnh
4.1. Lợn bị mắc bệnh
Liên cầu khuẩn lợn (típ 2) được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy lợn chết;
cách ly, điều trị đối với lợn mắc bệnh theo hướng dẫn của chuyên môn thú y.
b) Khuyến khích giết mổ
đối với lợn khỏe mạnh trong cùng ô chuồng với lợn mắc bệnh Liên cầu khuẩn lợn
(típ 2), trường hợp không giết mổ phải nuôi cách ly để theo dõi.
4.2. Việc xử lý lợn mắc
bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với Liên cầu
khuẩn lợn (típ 2).
4.3. Việc xử lý tiêu
hủy lợn mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư
này.
5. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
5.1. Mẫu bệnh phẩm là
các phủ tạng (tim, phổi, gan, lách), máu (thể nhiễm trùng huyết), não, khớp và
dịch rỉ viêm của lợn nghi mắc bệnh.
5.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; bảo quản ở nhiệt độ mát từ
2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm
quyền công nhận.
5.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Liên cầu khuẩn lợn quy định tại
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8400-2:2010.
PHỤ
LỤC 18
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH GIUN XOẮN
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Giun xoắn (còn
gọi là bệnh Giun bao)
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Giun xoắn
(Trichinelliasis) là một bệnh chung giữa lợn, lợn rừng, chó, chuột và người.
Bệnh phân bố rộng ở hầu hết các nước trên thế giới. Bệnh gây ra do loài giun
tròn Trichinella spiralis ký sinh ở ruột non của lợn và ấu trùng ký sinh
ở cơ và tổ chức của lợn. Ấu trùng giun xoắn ký sinh tại các tổ chức cơ, được
bọc bởi màng bao tạo thành kén (giun bao). Màng kén của ấu trùng có 2 lớp, màu
trong, hình bầu dục hoặc hình tròn tùy loại vật chủ khác nhau.
b) Sức đề kháng: Ấu
trùng giun xoắn có khả năng tồn tại ở môi trường bên ngoài; ở trong kén, ấu
trùng giun xoắn có sức đề kháng rất cao; trong thịt súc vật đã thối rửa, ấu
trùng có thể sống được từ 2 đến 5 tháng trong kén. Nếu ra khỏi kén, ấu trùng sẽ
chết nhanh chóng ở nhiệt độ 45°C đến 70°C. Ở nhiệt độ - 20°C, ấu trùng chết sau
20 ngày.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Lợn, lợn
rừng, chó, mèo, hổ, báo, cầy, chuột và người ở các lứa tuổi đều có thể nhiễm
giun xoắn nếu như ăn phải nang kén của ấu trùng giun xoắn còn sống có trong
thịt lợn, thịt thú rừng, sản phẩm thịt chưa qua chế biến kỹ như nem, chạo, thịt
hun khói.
b) Nguồn bệnh: Thịt
lợn, thịt thú rừng, sản phẩm thịt chưa qua chế biến kỹ như nem, chạo, thịt hun
khói có mang nang kén của ấu trùng giun xoắn còn sống.
c) Đường truyền lây
Bệnh lây truyền qua
đường tiêu hóa do ăn phải kén giun xoắn trong thịt, phân của động vật mắc bệnh.
Người, lợn, chó, chuột ăn phải thịt có ấu trùng giun xoắn không nấu chín như
nem chua, chạo, thịt tai thì ấu trùng vào đến ruột sẽ chui ra khỏi bao kén,
phát triển thành giun trưởng thành. Lợn, chó, chuột và người vừa là vật chủ
trung gian khi mang nang kén của giun xoắn, vừa là vật chủ cuối cùng khi có
giun xoắn trưởng thành ký sinh trong ruột non.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Giun xoắn trưởng thành
ký sinh trong ruột, chui vào niêm mạc, khi sinh sản gây tổn thương niêm mạc làm
cho vật chủ đau bụng dữ dội, kích thích nhu động dạ dày, ruột làm cho vật chủ
nôn mửa, ỉa chảy. Có thể có viêm ruột cấp. Giun xoắn trong quá trình ký sinh
tiết ra độc tố, kích thích thần kinh trung ương và kích thích niêm mạc ruột,
làm cho quá trình viêm ruột trầm trọng thêm. Ấu trùng giun xoắn tạo thành các
nang kén trong cơ, chèn ép và gây tắc các mạch máu nhỏ, gây các u máu nhỏ chèn
ép thần kinh vận động, gây liệt cơ. Nếu giun xoắn có ở não sẽ gây ra trạng thái
bại liệt cho động vật hoặc người bị nhiễm giun xoắn. Các trường hợp nặng thường
gây tử vong cho động vật và người.
1.4. Bệnh tích
a) Giun xoắn trưởng
thành ký sinh ở niêm mạc ruột gây tổn thương niêm mạc ruột và gây viêm ruột
cấp, làm bong tróc niêm mạc.
b) Ấu trùng giun xoắn
ký sinh ở các tổ chức cơ, tạo ra các nang kén, gây chèn ép mạch máu và tắc mạch
máu, gây chèn ép thần kinh vận động có thể làm liệt từng bộ phận trong cơ thể.
2. Phòng bệnh
2.1. Áp dụng các biện
pháp vệ sinh phòng bệnh là chủ yếu.
2.2. Không nuôi lợn thả
rông và định kỳ tẩy giun theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.
2.3. Diệt loại gặm nhấm
xung quanh chuồng nuôi lợn.
2.4. Xử lý phân gia súc
để tiêu diệt Giun xoắn.
3. Giám sát bệnh Giun
xoắn
3.1. Chủ yếu là giám
sát lâm sàng, đặc biệt đối với lợn mới nuôi, lợn trong vùng có ổ dịch cũ, vùng
có nguy cơ cao có dấu hiệu của bệnh.
3.2. Lấy mẫu cơ hoành
để giám sát bệnh tại các cơ sở giết mổ lợn hoặc lấy huyết thanh lợn để xét
nghiệm kháng thể do nhiễm bệnh tự nhiên trong vùng có ổ dịch cũ, khu vực có
nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế
hoạch giám sát bệnh Giun xoắn trong vùng có ổ dịch cũ, khu vực có nguy cơ cao.
Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông
tư này.
4. Xử lý động vật mắc
bệnh
4.1. Động vật bị mắc
bệnh Giun xoắn được xử lý như sau:
a) Tiêu hủy bắt buộc
động vật chết, động vật mắc bệnh Giun xoắn;
b) Gia súc nghi mắc
bệnh Giun xoắn phải giết mổ bắt buộc hoặc nuôi cách ly để theo dõi.
c) Khuyến khích giết mổ
đối với gia súc khỏe mạnh trong cùng đàn với gia súc mắc bệnh Giun xoắn, trường
hợp không giết mổ phải nuôi cách ly để theo dõi.
4.2. Việc xử lý động
vật mắc bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với
bệnh Giun xoắn hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm
tra, xác minh và kết luận mắc bệnh Giun xoắn.
4.3. Việc xử lý động
vật mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
5.1. Mẫu bệnh phẩm là
cơ hoành, cơ thăn, cơ mông hoặc mẫu huyết thanh.
5.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; bảo quản ở nhiệt độ mát từ
2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan có thẩm
quyền công nhận.
5.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Giun xoắn quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 8400-3:2010.
PHỤ
LỤC 19
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH LAO BÒ
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Lao
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Lao
(Tuberculosis) là một bệnh truyền nhiễm mạn tính của nhiều loài động vật và
người gây ra do trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis. Khi động vật
mắc bệnh, trong phủ tạng thường có những hạt viêm đặc biệt gọi là hạt lao. Vi
khuẩn lao có 3 típ như sau:
- Típ gây bệnh lao ở
người: Mycobacterium tuberculosis gây bệnh lao ở người nhưng cũng có thể
gây bệnh lao cho bò, chó, mèo.
- Típ gây bệnh lao cho
bò: Mycobacterium bovis gây bệnh lao cho bò nhưng cũng có thể gây bệnh
cho người, lợn, chó, mèo.
- Típ gây bệnh lao cho
loài chim: Mycobacterium avium gây bệnh lao cho loài chim nói chung và
gia cầm; vi khuẩn cũng có thể gây bệnh cho người và lợn, bò ít mẫn cảm hơn.
b) Sức đề kháng của vi
khuẩn: Vi khuẩn có thể sống được 1 tháng trong đờm dãi ẩm, sống được nhiều tuần
trong sữa, 6 tháng trong phân gia súc khô. Vi khuẩn mẫn cảm với tia tử ngoại và
nhiệt độ; ánh sáng mặt trời tiêu diệt vi khuẩn trong 8 giờ; các chất sát trùng
như phoóc-môn 10%, xút 2% và vôi bột dễ dàng tiêu diệt vi khuẩn.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Trong tự
nhiên các loài gia súc, gia cầm, thú rừng, chim trời và người đều mắc bệnh. Tuy
nhiên mỗi loài động vật lại mẫn cảm với một trong 03 típ vi khuẩn lao khác
nhau: lao người, lao bò và lao gia cầm. Động vật non thường mẫn cảm hơn động
vật trưởng thành.
b) Nguồn bệnh: Trong cơ
thể động vật mắc bệnh, máu, sữa và các tổ chức bị lao đều có mầm bệnh. Nếu lao
ở phổi và đường tiêu hóa, thì nước mũi, nước bọt, phân chứa nhiều mầm bệnh.
c) Đường lây truyền:
Bệnh có thể lây trực tiếp từ con ốm sang con khỏe và lây gián tiếp qua các nhân
tố trung gian. Thông thường vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua các đường sau:
- Đường hô hấp: Vi
khuẩn từ cơ thể bệnh bài xuất ra ngoài qua nước bọt do ho, hắt hơi, khạc nhổ...
hoặc theo phân. Khi phân và đờm khô, mầm bệnh dính vào hạt bụi lơ lửng trong
không khí. Động vật khỏe hít phải sẽ bị lây bệnh.
- Đường tiêu hóa: Phổ
biến nhất là bê và lợn. Bê bú sữa mẹ có bệnh lao sẽ bị lây bệnh. Nếu thức ăn,
nước uống bị ô nhiễm mầm bệnh, động vật khỏe ăn phải sẽ bị lây bệnh.
Ngoài ra bệnh có thể
lấy qua núm nhau, qua đường sinh dục.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng, bệnh tích
a) Triệu chứng lâm
sàng: Lao bò thường thấy ở những thể sau:
- Lao phối: Thể này hay
gặp. Biểu hiện rõ nhất là ho, lúc đầu là ho khan, sau ho ướt, ho từng cơn. Con
vật thường phát ho khi gõ lồng ngực, bị đuổi chạy, uống nước lạnh, nằm xuống
hay đứng lên. Khi ho đờm bắn ra nhưng con vật lại nuốt vào; đờm có thể lẫn mủ,
máu; đôi khi thấy máu chảy ra ở lỗ mũi. Bò gầy yếu, lông dựng, da khô, uể oải,
ăn ít, thở khó ngày càng tăng. Nghe và gõ vùng phổi có âm đục phân tán, âm bùng
hơi và âm ran ướt hay âm kim khí.
- Lao hạch: Thể này khá
phổ biến. Nếu lao ở phổi thì hạch cũng bị lao. Hạch bị sưng thành những cục
cứng, có khi sờ thấy lổn nhổn. Các hạch hay bị lao là hạch dưới hàm, hạch tuyến
nước bọt, hạch trước vai, hạch trước đùi và hạch ruột.
- Lao vú: Tùy mức độ
bệnh mà bầu vú hoặc núm vú có thể bị biến dạng. Sờ vào cảm thấy những hạt lao
lổn nhổn, hạch vú sưng to, cứng nổi cục. Sản lượng sữa giảm rõ rệt.
- Lao đường tiêu hóa:
Phổ biến ở ruột, gan. Gia súc ỉa chảy liên miên, gầy yếu, có chướng hơi nhẹ và
rối loạn tiêu hóa.
b) Bệnh tích: thường có
3 dạng: hạt lao, khối tăng sinh thượng bì và đám viêm bã đậu.
- Hạt lao: Tùy theo
giai đoạn phát triển của bệnh mà biểu hiện hạt lao khác nhau. Các hạt lao thấy
rõ ở phổi, hạch màng treo ruột; lúc đầu hạt nhỏ và cứng gọi là lao hạt kê. Ở
phổi có giới hạn rõ, màu xám, khó bóc; nếu hạt nhiều, nắn phổi sẽ có cảm giác
như phổi bị trộn cát; cắt có tiếng kêu lạo xạo. Hạt lao này gọi là hạt xám. Các
hạt xám lớn dần bằng hạt đậu xanh, hạt ngô, thân bị thoái hóa thành bã đậu màu
vàng nên gọi là hạt vàng. Các hạt trên to lên và vỡ ra, những hạt không vỡ thì
tổ chức tăng sinh bao bọc lại gọi là hạt xơ.
- Khối tăng sinh thượng
bì: Hạt xơ tăng sinh mạnh có khi to bằng hạt dẻ, quả ổi, bị bã đậu hóa hoặc can-xi
hóa.
- Đám viêm bã đậu: Ở
giai đoạn sau các hạt lao vỡ ra biến tổ chức lao đó thành đám viêm bã đậu, nát,
thẩm dịch.
2. Phòng bệnh bằng
vắc-xin
Hiện nay chỉ có một
loại vắc-xin duy nhất phòng bệnh Lao bò là vắc-xin nhược độc BCG (Bacillus
Calmette - Guerin). Tuy nhiên, vắc-xin BCG ít được sử dụng do gây trở ngại
trong việc chẩn đoán bệnh Lao.
3. Giám sát bệnh Lao bò
3.1. Đối tượng giám sát
bệnh định kỳ: Trâu bò giống, bò sữa do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y xác
định.
3.2. Giám sát lâm sàng
thông qua việc quan sát, phát hiện những triệu chứng lâm sàng, bệnh tích điển
hình của gia súc bệnh, chết và những đặc điểm về dịch tễ học của bệnh Lao.
3.3. Giám sát phát hiện
bệnh: Định kỳ kiểm tra phát hiện bệnh Lao bò bằng phản ứng tiêm nội bì. Thực
hiện kiểm tra bệnh Lao bò đối với 100% số trâu bò giống, bò sữa thuộc diện phải
kiểm tra.
3.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch giám
sát bệnh Lao bò.
4. Xử lý gia súc mắc
bệnh
4.1. Khi phát hiện gia
súc mắc bệnh Lao, phải cách ly để điều trị gia súc mắc bệnh theo hướng dẫn của
cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương.
4.2. Tiêu hủy hoặc giết
mổ bắt buộc gia súc mắc bệnh Lao không có khả năng phục hồi.
4.3. Việc xử lý động
vật mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
5.1. Chẩn đoán bệnh Lao
bò bằng phản ứng tiêm nội bì hoặc lấy mẫu bệnh phẩm là các mô nghi ngờ hoặc có
bệnh tích với lượng từ 10 g đến 200 g và đựng vào lọ miệng rộng hoặc túi ni lon
để gửi xét nghiệm.
5.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; phải được lấy vô trùng,
bảo quản trong điều kiện lạnh từ 2°C đến 8°C và gửi về phòng thử nghiệm nông
nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận chậm nhất 24h sau khi lấy mẫu.
5.3. Phương pháp chẩn
đoán, xét nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Lao bò quy định tại
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8400-10: 2010.
PHỤ
LỤC 20
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH SẢY THAI TRUYỀN
NHIỄM
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Sảy thai truyền nhiễm
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Sảy thai truyền
nhiễm (Bucellosis) là bệnh truyền nhiễm chung cho nhiều loài gia súc và người.
Bệnh thường xuất hiện quá trình viêm, hoại tử ở một số cơ quan phủ tạng, đường
sinh dục rồi lan ra nhau thai gây ra hiện tượng sảy thai, sát nhau. Vi khuẩn
gây bệnh được chia thành 3 nhóm chính:
- Bucella abortus gây
bệnh ở trâu bò;
- Brucella suis gây
bệnh ở lợn;
- Bucella melitensis
gây bệnh ở dê, cừu;
Ngoài ra còn có Bucella
ovis chỉ gây bệnh cho cừu, Brucella cannis gây bệnh cho chó và một
số chủng vi khuẩn gây bệnh cho loài khác.
b) Sức đề kháng của vi
khuẩn: Ở nhiệt độ thường, vi khuẩn tồn tại 4 tháng trong sữa, nước tiểu và đất
ẩm ướt. Ở nhiệt độ hấp ướt 70°C trong 30 phút. Các chất sát trùng thông thường
như: a xít phenic, phoóc-môn 4%, nước vôi 5% có thể diệt vi khuẩn sau 1-2 giờ.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Động vật
mắc bệnh Sảy thai truyền nhiễm là dê, cừu, bò, trâu, lợn, chó, động vật hoang
dã và người. Loài chim và chuột có mang mầm bệnh.
b) Nguồn bệnh: Ở con
cái mang bệnh, vi khuẩn có nhiều ở núm nhau, nước ối, nước nhờn và chất nhờn âm
đạo, sữa; ở con đực, vi khuẩn có nhiều trong tinh dịch. Hầu hết các cơ quan phủ
tạng như máu, gan, lách, tủy xương, dịch hoàn đều chứa một lượng lớn vi khuẩn.
Trong máu, vi khuẩn xuất hiện từng thời kỳ, nhiều nhất khi gia súc đẻ hoặc sảy
thai. Trong thai sảy như bọc thai, phủ tạng của thai có rất nhiều vi khuẩn.
c) Đường truyền lây
- Lây trực tiếp: Qua
đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống có nhiễm vi khuẩn gây bệnh hoặc do bú sữa
mẹ; qua đường sinh dục do giao phối thụ tinh và dịch cơ quan sinh dục; qua da,
niêm mạc và vết thương hở; qua đường hô hấp do hít phải bụi có mang vi khuẩn,
lây trực tiếp. Thai đẻ non, nước ối, nhau thai là nguồn lây chính của B.abortus
ở bò và B.melitensis ở dê và cừu trong khi đó dịch và thai sảy là
nguồn lây chính của B.suis và B. Cannis.
- Lây gián tiếp: Qua
dụng cụ chăn nuôi có mang mầm bệnh. Côn trùng cũng có thể truyền bệnh và làm
lưu cữu mầm bệnh trong bầy đàn. Ruồi làm lây bệnh qua phân.
1.3. Triệu chứng
a) Triệu chứng ở bò: Bò
thường mắc bệnh do chủng vi khuẩn B.abortus, ngoài ra còn có thể mắc
bệnh do chủng B.suis và B. Melitensis. Thời gian nung bệnh từ 1
tuần đến 7 tháng, có trường hợp chỉ 72 giờ.
- Bò cái bị bệnh chủ
yếu xảy ra ở những con cái chửa tháng thứ 5,6,7. Bò có hiện tượng như sắp đẻ:
âm hộ sưng đỏ, chảy nước nhớt, vú căng, có hiện tượng sụp mông. Bò sốt nhưng
không cao, ít vận động. Thai có thể chết trước hay sau khi sảy thai, có hiện
tượng thai ra cả bọc hoặc sát nhau, nước ối màu đục, bẩn, không có mùi nhưng
lẫn màng nhau màu trắng.
- Bò đực thì triệu
chứng rõ hơn: Dịch hoàn sưng đỏ gấp 2-3 lần, sau 2-3 ngày dịch hoàn lạnh dần và
bắt đầu teo, sau con vật sốt và bỏ ăn. Chất lượng tinh trùng giảm đáng kể, tỷ
lệ tinh dị hình tăng cao, tinh dịch chuyển từ màu trắng đục sang ánh vàng. Con
vật lười vận động, thích nằm hoặc đứng một chỗ, bỏ ăn.
- Cả bò đực và bò cái
đều có hiện tượng viêm khớp: khớp háng, khớp chậu (con cái) và khớp gối (con
đực). Khớp sưng, khớp vẹo lệch làm cho bò đi lại khó khăn, sờ khớp thấy mềm, có
nhiều dịch viêm.
b) Triệu chứng ở dê,
cừu: Bệnh thường do chủng B. Melitensis gây ra, ở cừu còn do B. Ovis.
Thời gian nung bệnh từ 2-18 tuần. Triệu chứng đặc trưng là con vật bị sảy thai.
Trước khi sảy thai 1 tuần, con vật sốt cao, mệt lả, giảm cân, bỏ ăn, uống nước
nhiều, viêm vú, nằm một chỗ, không thích vận động. Dê bị viêm âm đạo, viêm âm
hộ, chảy nhiều nước nhờn. Cừu đực có triệu chứng giống bò đực, viêm dịch hoàn.
Nếu cừu mắc bệnh do chủng B. Ovis, có hiện tượng viêm khớp mạn tính,
viêm màng dịch hoàn và có các triệu chứng thần kinh.
c) Triệu chứng ở lợn:
Bệnh thường do chủng Brucella suis gây ra, thời gian nung bệnh từ 2-18
tuần. Lợn cái bị sảy thai, thai ra cả bọc. Lợn ỉa chảy, viêm thủy thũng các đầu
vú, mệt mỏi, biếng ăn, bỏ ăn. Sảy thai thường ở tuần thứ 4-12. Khi sảy thai,
lợn bị liệt chân sau, viêm khớp, sau 10-15 ngày hồi phục trở lại. Con đực bị
viêm sưng dịch hoàn.
1.4. Bệnh tích
a) Ở bào thai của động
vật bị sảy thai: Vỏ bọc thai dày lên, có nhiều điểm xuất huyết và phủ một lớp
dịch nhớt, bẩn. Nước ối bẩn, đục, lẫn máu và màng giả. Trên núm nhau có nhiều điểm
hoại tử, sưng to, đen, mềm. Nhau thai có những điểm hoại tử dạng hạt màu vàng
trắng, bờ mặt đục. Cuống rốn có mủ, điểm hoại tử lấm tấm. Gan, lách, thận của
thai bị viêm, xuất huyết và hoại tử.
b) Ở con cái: Hạch vú
bị viêm sưng. Trên bề mặt da mỏng của bầu vú có những điểm hoại tử màu trắng
xám, sữa có màu vàng.
c) Con đực: Dịch hoàn
vùng thượng hoàn sưng to gấp 2 - 3 lần bình thường, màng ngoài đường sinh dục
dày, có khi bị viêm khớp u mềm có mủ, xoang bao khớp có nhiều dịch nhày, đục,
hơi sánh. Giai đoạn sau dịch hoàn teo, có những hạt hoại tử lổn nhổn.
d) Cơ quan phủ tạng:
Gan lách bị sưng hay hoại tử.
2. Phòng bệnh
Chủ yếu là áp dụng các
biện pháp vệ sinh phòng bệnh. Việc tiêm phòng theo hướng dẫn của cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y.
3. Giám sát bệnh Sảy
thai truyền nhiễm
3.1. Đối tượng giám sát
bệnh định kỳ: Trâu bò giống, bò sữa do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y xác định.
3.2. Giám sát lâm sàng
thông qua việc quan sát, phát hiện những triệu chứng lâm sàng, bệnh tích điển
hình của gia súc mắc bệnh, chết và những đặc điểm về dịch tễ học.
3.3. Giám sát phát hiện
bệnh: Định kỳ kiểm tra phát hiện bệnh Sảy thai truyền nhiễm bằng phản ứng dị
ứng hoặc kiểm tra sữa (phản ứng MRT) hoặc kiểm tra kháng thể trong huyết thanh
(phản ứng RBT, CFT,...).
3.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch giám
sát bệnh Sảy thai truyền nhiễm. Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn tại
Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
4. Xử lý gia súc mắc
bệnh
4.1. Khi phát hiện gia
súc mắc bệnh Sảy thai truyền nhiễm, phải cách ly để điều trị theo hướng dẫn của
cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.
4.2. Tiêu hủy gia súc
chết hoặc gia súc mắc bệnh không có khả năng phục hồi.
4.3. Việc xử lý động
vật mắc bệnh theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
5.1. Mẫu bệnh phẩm là
máu, sữa, tinh dịch, lách, gan, hoạch lympho, nước ối, thai bị sảy,.. đựng vào
lọ miệng rộng hoặc túi nilon.
5.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; được lấy vô trùng, bảo
quản trong điều kiện lạnh từ 2°C đến 8°C và gửi về phòng thử nghiệm nông nghiệp
được cơ quan có thẩm quyền công nhận chậm nhất 24h sau khi lấy mẫu.
5.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Sảy thai truyền nhiễm quy định
tại Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8400-13: 2011.
PHỤ
LỤC 21
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG GIA
SÚC
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu chung về
bệnh
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Tụ huyết trùng (Pasteurellosis)
gia súc là bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trâu, bò, lợn; bệnh gây ra tỷ lệ
mắc cao, ảnh hưởng đến kinh tế cho người chăn nuôi. Bệnh do vi khuẩn Pasteurella
multocida gây ra, đây là loại cầu trực khuẩn Gram âm với đặc trưng là gây
tụ huyết và xuất huyết ở các vùng đặc biệt trên cơ thể. Vi khuẩn vào máu gây
nhiễm trùng máu gây bại xuất huyết toàn thân. Vi khuẩn thường sống trên niêm mạc
mũi, hầu, hạch amidan của một số gia súc khỏe mạnh, nhất là ở những con không
được tiêm phòng. Vi khuẩn có thể sống được hàng tháng ở trong phân, rơm rác,
trong đất chuồng nuôi. Khi gặp điều kiện thuận lợi thì những vi khuẩn này tăng
độc lực và gây bệnh cho gia súc.
b) Sức đề kháng của vi
khuẩn: Vi khuẩn có sức đề kháng không cao nên tồn tại không lâu ngoài cơ thể
trâu bò; vi khuẩn có thể tồn tại từ 1 đến 3 tháng trong đất ẩm và thiếu ánh
sáng, đầm lầy, ao bẩn có nhiều chất hữu cơ, trong chuồng trại,.. Vi khuẩn dễ bị
diệt bằng nước nóng 60°C trong 20 phút, ánh sáng mặt trời trong 12 giờ, nước
vôi 10% hoặc phoóc-môn 1% trong thời gian từ 1 đến 3 phút. Các chất sát trùng
thông thường cùng dễ tiêu diệt được vi khuẩn.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Trâu, bò,
lợn, gà.
b) Đường truyền lây
- Vi khuẩn gây bệnh xâm
nhập, lây lan theo đường tiêu hóa là chính, ngoài ra còn qua hô hấp (chủ yếu là
hô hấp trên), đặc biệt khi niêm mạc bị tổn thương. Bệnh lan truyền trực tiếp từ
con mang mầm bệnh sang con khỏe, hoặc gián tiếp qua đường thức ăn, nước uống,
chuồng trại vệ sinh kém.
- Bệnh có thể lây
truyền từ trâu, bò sang lợn, gia cầm và ngược lại.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời gian ủ bệnh rất
ngắn, chỉ từ 1-3 ngày, tuy nhiên có thể kéo dài đến 02 tuần.
a) Thể quá cấp tính:
Con vật sốt cao trên 41°C, đột ngột trở nên hung dữ, điên cuồng, chạy lung
tung, chết trong vòng 24 giờ. Thể này ít có biểu hiện gì đặc trưng.
b) Thể cấp tính: Thể này
rất phổ biến, con vật sốt cao trên 41°C, bỏ ăn, lờ đờ, nước mũi nước mắt chảy
nhiều. Niêm mạc mắt, mũi, miệng đỏ sẫm rồi tái tím. Vùng hầu sưng to làm lưỡi
thè ra ngoài. Hạch bên cổ sưng to, thở khó và nặng nề, đi lại khó khăn. Lúc đầu
táo bón, sau lại ỉa lỏng, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, bụng chướng to. Con
vật nằm liệt, đái ra máu, lịm yếu dần rồi chết trong 1 - 2 ngày. Tỷ lệ chết cao
nếu không chữa bệnh kịp thời.
c) Thể mạn tính: Một số
trâu, bò, lợn vượt qua được giai đoạn cấp tính thường chuyển sang thể mãn tính.
Con vật có biểu hiện mệt mỏi, khó thở, thở nhanh, khò khè, gầy yếu, ho từng
hồi, kéo dài, ho nhiều khi vận động, mũi khô hoặc có dịch mũi đặc, đi lại khó
khăn do viêm khớp, viêm phổi, viêm phế quản. Rối loạn tiêu hóa (phân lúc táo
lúc lỏng), giảm ăn uống, gầy yếu. Một số con mắc bệnh bị chết do suy kiệt. Một
số ít có sức chịu đựng thì những biểu hiện này nhẹ dần và khỏi, nhưng phải hàng
tháng sau mới hồi phục.
1.4. Bệnh tích
a) Hạch sưng to, tụ máu
ở cơ quan phủ tạng, ruột và dạ dày bị viêm, niêm mạc và các tổ chức liên kết
dưới da xuất huyết lấm tấm, thịt nhão.
b) Bao tim và vùng
xoang bụng tích đầy nước có khi xuất huyết. c) Gan và thận bị viêm, tụ máu.
d) Viêm phổi thùy lớn,
phổi có nhiều vùng bị gan hóa. Khí quản và phế quản tụ máu, xuất huyết, màng
phổi xuất huyết lốm đốm, dày lên và dính vào thành mạch ngực.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng tiêm
phòng
a) Các trang trại, cơ
sở chăn nuôi gia súc tập trung; trừ trường hợp được miễn tiêm phòng theo quy
định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư này;
b) Đàn gia súc nuôi nhỏ
lẻ trong các hộ gia đình: Trâu, bò, lợn nái, lợn đực giống do cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xác định.
2.2. Phạm vi tiêm
phòng: Tại khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xác định
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
định kỳ theo quy trình nuôi, tiêm phòng bổ sung đối với gia súc mới phát sinh,
đàn gia súc đã hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ hoặc tiêm phòng theo hướng
dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương;
b) Liều lượng, đường tiêm
theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp, bảo đảm hiệu quả tiêm phòng.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch xảy
ra, tổ chức tiêm phòng ngay cho gia súc khỏe mạnh tại các thôn, ấp, bản nơi xảy
ra dịch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ dịch đối với gia súc mẫn cảm
tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch trong cùng xã và các xã tiếp giáp xung quanh
xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tại chỗ hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là nhân
viên thú y hoặc người đã qua tập huấn về tiêm phòng.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh Tụ
huyết trùng
Thực hiện giám sát lâm
sàng là chủ yếu để chủ động phát hiện bệnh: Quan sát, phát hiện gia súc mắc
bệnh dựa trên những triệu chứng lâm sàng, bệnh tích điển hình của bệnh. Lấy mẫu
xét nghiệm gia súc bị chết nghi do mắc bệnh Tụ huyết trùng để phân lập vi khuẩn
gây bệnh.
5. Xử lý gia súc mắc
bệnh
5.1. Cách ly và điều
trị gia súc mắc bệnh theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa
phương.
5.2. Tiêu hủy gia súc
chết do mắc bệnh Tụ huyết trùng theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm
theo Thông tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
6.1. Mẫu bệnh phẩm là
máu tim, dịch xoang bao tim, phổi, xương ống,.. đựng vào lọ miệng rộng hoặc túi
nilon.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; được lấy vô trùng, bảo
quản trong điều kiện lạnh từ 2°C đến 8°C và gửi về phòng thử nghiệm nông nghiệp
được cơ quan có thẩm quyền công nhận chậm nhất 24h sau khi lấy mẫu.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Tụ huyết trùng quy định tại
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8400-14:2011.
PHỤ
LỤC 22
HƯỚNG DẪN PHÒNG, CHỐNG BỆNH DỊCH TẢ VỊT
(Ban
hành kèm theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Giới thiệu về bệnh
Dịch tả vịt
1.1. Khái niệm bệnh
a) Bệnh Dịch tả vịt là
bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm ở vịt. Tác nhân gây bệnh là do vi rút
thuộc nhóm Herpes trong họ Alphaherpesvirinae. Vi rút gây bệnh có
cấu trúc ADN. Bệnh Dịch tả vịt có tỷ lệ mắc bệnh và chết cao, có thể từ 70% đến
80% nếu bị nhiễm lần đầu ở trại không tiêm phòng vắc-xin Dịch tả vịt thường
xuyên, kết hợp với vệ sinh không đảm bảo.
b) Sức đề kháng của vi
rút: Vi rút bị tiêu diệt trong dung dịch phoóc-môn 3%, chlorin 3% và các hóa
chất sát trùng mạnh khác. Vi rút bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 10 phút,
50°C trong 90 đến 120 phút, nhiệt độ 22°C được 30 ngày.
1.2. Nguồn bệnh và
đường truyền lây
a) Loài mắc: Động vật
mắc bệnh Dịch tả vịt là vịt, ngan, ngỗng ở mọi lứa tuổi đều bị mắc bệnh, đặc
biệt là từ 07 ngày tuổi cho đến trưởng thành.
b) Nguồn bệnh: Phân,
dịch tiết từ mũi, miệng và mắt của gia cầm mắc bệnh có chứa vi rút.
c) Đường truyền lây:
Đường truyền lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp giữa các gia cầm khỏe mạnh và
gia cầm bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, bệnh có thể lây lan dễ dàng qua các phương
tiện cơ học như giày dép và quần áo mang từ một đàn bị nhiễm đến. Bệnh lây lan
nhanh và trầm trọng trong khoảng 2-3 ngày.
1.3. Triệu chứng lâm
sàng
Thời gian ủ bệnh thường
từ 3 - 7 ngày tùy theo độc lực của vi rút.
Vịt, ngan, ngỗng bị
bệnh có hiện tượng bỏ ăn, sợ nước, tiêu chảy nhiều, phân trắng xanh hoặc vàng
nhớt, xù lông, chảy nước mũi, mắt có dử, mí mắt sưng, niêm mạc mắt đỏ, ngoẹo
đầu, mắt thăng bằng, ngoẹo cổ, bại liệt, chết nhanh.
1.4. Bệnh tích
Tùy theo trường hợp có
thể thấy một hoặc nhiều trong những bệnh tích sau:
a) Ở vịt trưởng thành
có hiện tượng gan bị bạc màu hoặc xuất huyết điểm. Con cái có thể thấy các nang
trứng bị xuất huyết.
b) Mạch máu bị tổn
thương. Hệ bạch huyết bị tổn thương và thoái hóa nhu mô.
c) Đường tiêu hóa bị
viêm, ruột xuất huyết thành từng mảng, có nhiều chất nhờn. Đây là bệnh tích đặc
trưng của bệnh dịch tả vịt.
d) Kiểm tra vi thể thấy
tổn thương mạch máu và các cơ quan phủ tạng. Xuất hiện các thể vùi nội nhân,
thể vùi tế bào chất trong các tế bào biểu mô của hệ thống tiêu hóa. Đây là biến
đổi vi thể điển hình của bệnh.
2. Phòng bệnh bắt buộc
bằng vắc-xin
2.1. Đối tượng phòng
bệnh bằng vắc-xin: vịt, ngan, ngỗng.
2.2. Phạm vi tiêm
phòng: Vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao do cơ quan quản lý chuyên
ngành thú y địa phương xác định.
2.3. Thời gian tiêm
phòng
a) Tổ chức tiêm phòng
định kỳ theo quy trình nuôi hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú
y địa phương;
b) Liều lượng, đường
tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc-xin.
2.4. Căn cứ vào điều
kiện chăn nuôi, khí hậu thời tiết, đặc điểm của từng vùng, miền, cơ quan quản
lý chuyên ngành thú y địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tiêm
phòng cho phù hợp đảm bảo hiệu quả tiêm phòng.
3. Tiêm phòng khẩn cấp
khi có ổ dịch xảy ra
3.1. Khi có ổ dịch xảy
ra, tổ chức tiêm phòng cho vịt, ngan, ngỗng tại các thôn, ấp, bản nơi xảy ra
dịch; đồng thời tổ chức tiêm phòng bao vây ổ dịch theo hướng từ ngoài vào trong
đối với vịt, ngan, ngỗng tại các thôn, ấp, bản chưa có dịch trong cùng xã và
các xã xung quanh tiếp giáp với xã có dịch.
3.2. Huy động lực lượng
tiêm phòng và hỗ trợ tiêm phòng; người trực tiếp tham gia tiêm phòng phải là
nhân viên thú y hoặc người đã qua tập huấn.
3.3. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám
sát việc tiêm phòng.
4. Giám sát bệnh Dịch
tả vịt
4.1. Giám sát lâm sàng
phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt đối với vịt, ngan, ngỗng
mới nuôi, vịt, ngan, ngỗng trong vùng có ổ dịch cũ, vùng có nguy cơ cao do cơ
quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định.
4.2. Giám sát lưu hành
vi rút: Lấy mẫu gan, lách thận của vịt, ngan, ngỗng nghi mắc bệnh để xét nghiệm
vi rút.
4.3. Giám sát sau tiêm
phòng (áp dụng ở các trại giống)
a) Giám sát sau tiêm
phòng để đánh giá kết quả tiêm phòng và khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn sau
khi được tiêm vắc-xin;
b) Lấy mẫu huyết thanh
để xét nghiệm kháng thể bảo hộ sau tiêm phòng;
c) Thời điểm lấy mẫu:
Sau 21 ngày kể từ thời điểm tiêm phòng gần nhất.
4.4. Cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y địa phương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế
hoạch giám sát bệnh Dịch tả vịt. Việc giám sát được thực hiện theo hướng dẫn
tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Xử lý gia cầm mắc
bệnh
5.1. Cách ly gia cầm
mắc bệnh để chăm sóc, hỗ trợ phục hồi; cách ly gia cầm khỏe mạnh trong cùng đàn
để chăm sóc nuôi dưỡng hoặc khuyến khích giết mổ tiêu thụ tại chỗ;
5.2. Tiêu hủy gia cầm
chết do mắc bệnh Dịch tả vịt theo hướng dẫn tại Phụ lục 06 được ban hành kèm
theo Thông tư này.
6. Chẩn đoán xét nghiệm
bệnh
6.1. Mẫu bệnh phẩm là
gan, lách, thận của gia cầm nghi mắc bệnh.
6.2. Mẫu bệnh phẩm phải
được lấy, bao gói và bảo quản theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 83:
2011/BNNPTNT được ban hành theo Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10
năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; được bảo quản ở nhiệt độ
lạnh từ 2°C đến 8°C và chuyển ngay về phòng thử nghiệm nông nghiệp được cơ quan
có thẩm quyền công nhận.
6.3. Phương pháp xét
nghiệm: Thực hiện theo quy trình chẩn đoán bệnh Dịch tả vịt quy định tại Tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 8400-11:2011.