|
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
MÔI TRƯỜNG
CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 123/QĐ-TSKN
|
Hà Nội, ngày 20
tháng 3 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH HƯỚNG DẪN BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG MỘT SỐ BỆNH NGUY
HIỂM TRÊN TÔM NƯỚC LỢ
CỤC TRƯỞNG CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ
Căn cứ Quyết định số 246/QĐ-BNNMT ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Cục Thủy sản và Kiểm ngư;
Căn cứ Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về phòng chống dịch bệnh động vật
thủy sản đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT ngày 24/10/2024 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày
10/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông
nghiệp và Môi trường);
Căn cứ Thông tư số 10/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Môi trường quy định phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền
quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư;
Theo đề nghị của Trưởng
phòng Quản lý bệnh thuỷ sản.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Ban hành kèm theo Quyết định này Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh
nguy hiểm trên tôm nước lợ.
(Chi
tiết Phụ lục kèm theo)
Điều 2.
Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có
liên quan tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn cơ sở sản xuất giống, nuôi trồng thủy
sản tham khảo, áp dụng các biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên
tôm nước lợ. Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc, đề
nghị các cơ quan, đơn vị liên hệ với Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Phòng Quản lý bệnh
thủy sản, địa chỉ: số 10 Nguyễn Công Hoan, Giảng Võ, Hà Nội) để phối hợp xử lý.
Điều 3.
Chánh Văn phòng Cục; Trưởng phòng Quản lý bệnh thủy sản; Thủ trưởng các đơn vị
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Thứ trưởng Phùng Đức Tiến (để b/c);
- Cục trưởng Trần Đình Luân (để b/c);
- Các Phòng (Quản lý bệnh thủy sản; NTTS; Giống và TATS; KHCN và HTQT); TT.
Khảo nghiệm, Kiểm nghiệm và Kiểm định Thủy sản;
- TT. Thông tin Thủy sản và Kiểm ngư (để đăng tải);
- Lưu: VT, BTS (NTT).
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Nhữ Văn Cẩn
|
PHỤ LỤC.
HƯỚNG DẪN BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG MỘT SỐ BỆNH NGUY HIỂM
TRÊN TÔM NƯỚC LỢ
(Kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TSKN ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Cục
trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư)
I. PHẠM
VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
1. Phạm vi điều chỉnh: Hướng
dẫn các biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm nước lợ
(tôm sú, tôm thẻ chân trắng) tại Việt Nam nhằm hỗ trợ phát hiện sớm, xử lý kịp
thời, giảm thiểu thiệt hại và bảo đảm an toàn dịch bệnh, nâng cao hiệu quả sản
xuất và đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc trong chuỗi
sản xuất thủy sản.
2. Đối tượng áp dụng: Tài
liệu này áp dụng đối với: (1) Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản, thú y thủy
sản ở Trung ương và địa phương trong việc hướng dẫn, tổ chức triển khai các biện
pháp phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ; (2) Các tổ chức, cá nhân tham gia
hoạt động sản xuất giống và nuôi tôm nước lợ; (3) các đơn vị nghiên cứu; tổ chức,
cá nhân làm công tác xét nghiệm, chẩn đoán bệnh thủy sản, dịch vụ thú y thủy sản
tham gia công tác giám sát, chẩn đoán và hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh.
II. THÔNG
TIN CHUNG VỀ CÁC BỆNH NGUY HIỂM
1. Bệnh Đốm
trắng (WSD):
a) Tên bệnh: Bệnh Đốm trắng
(White Spot Disease - WSD).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
White Spot Syndrome Virus (WSSV), thuộc chi Whispovirus, họ Nimaviridae.
Đây là loại virus có cấu trúc DNA sợi đôi, có màng bao lipid nên nhạy cảm với
các chất diệt khuẩn nồng độ cao.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Tôm sú (Penaeus
monodon), tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), tôm nương (P.
chinensis), tôm he Nhật Bản (P. japonicus), tôm bạc (P.
merguiensis), tôm thẻ (P. semisulcatus), tôm rảo (Metapenaeus
ensis); các loài giáp xác tự nhiên (cua, còng, tôm hoang dã) đóng vai trò
là vật chủ mang mầm bệnh.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm có
thể cảm nhiễm ở mọi giai đoạn từ hậu ấu trùng đến trưởng thành; trong đó nhạy cảm
nhất là giai đoạn từ 20-45 ngày và 60-65 ngày sau khi thả nuôi.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Thường
bùng phát mạnh vào các giai đoạn giao mùa khi thời tiết thay đổi đột ngột. Tại
miền Bắc tập trung từ tháng 5-7; miền Trung từ tháng 2-5 và miền Nam từ tháng
11-3 năm sau.
- Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh
mang tính toàn cầu và xuất hiện ở hầu hết các vùng nuôi tôm tại Việt Nam, chiếm
40-50% tổng số ổ dịch báo cáo hằng năm.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Qua nguồn nước,
bùn đáy, thức ăn tươi sống, xác tôm chết, dụng cụ, phương tiện, người nuôi. Nguồn
nước cấp chung chưa xử lý, không có ao lắng, hoặc thức ăn tươi sống chưa khử
trùng. Các loài trung gian như giáp xác nhỏ, giun nhiều tơ, nhuyễn thể hai mảnh
vỏ, mực, chim ăn tôm có thể phát tán virus giữa các ao hoặc vùng nuôi.
+ Truyền dọc: Từ tôm bố mẹ sang
trứng, ấu trùng và hậu ấu trùng. Tôm bố mẹ mang mầm bệnh dù không biểu hiện vẫn
có thể truyền virus cho thế hệ sau.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Giai đoạn cấp tính: Tôm giảm ăn
đột ngột hoặc bỏ ăn hoàn toàn, bơi lờ đờ, mất phương hướng và tấp mép bờ. Thân
tôm chuyển sang màu hồng đỏ, vỏ dễ bong tróc, máu loãng và chậm đông. Triệu chứng
đặc trưng là các đốm trắng tròn (đường kính 0,5-2 mm) xuất hiện dày đặc bên dưới
lớp vỏ giáp đầu ngực và các đốt bụng. Tỷ lệ chết có thể đạt 80-100% chỉ trong
vòng 2-5 ngày.
- Giai đoạn mãn tính: Tôm nhiễm
virus nhưng không biểu hiện dấu hiệu lâm sàng hoặc đốm trắng thưa thớt, thường
xuất hiện trong điều kiện môi trường thuận lợi, ít biến động và không bị
stress.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm (mang, chân bơi hoặc tôm nguyên con) được cố định ngay trong dung dịch
cồn 90-95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR hoặc
Real-time PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710-3:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực
quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số
12/2024/TT-BNNPTNT.
2. Hội chứng
Hoại tử gan tụy cấp (AHPND/EMS):
a) Tên bệnh: Hội chứng
Hoại tử gan tụy cấp (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease - AHPND), thường
được gọi là Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome - EMS).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
các chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus siêu độc lực. Tác nhân này
mang một plasmid chứa các gen mã hóa độc tố phức hợp PirA và PirB, gây phá hủy
tế bào biểu mô ống gan tụy của tôm. Ngoài ra, độc tố này cũng có thể tìm thấy
trên một số loài vi khuẩn Vibrio khác như V. harveyi, V.
owensii do sự chuyển gen ngang.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Chủ yếu là
tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và tôm sú (Penaeus monodon).
Trong đó, tôm thẻ chân trắng thể hiện mức độ mẫn cảm và tỷ lệ chết cao hơn.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm thường
mắc bệnh ở giai đoạn nhỏ, tập trung trong 10 đến 45 ngày đầu sau khi thả giống.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bệnh
có thể xuất hiện quanh năm nhưng bùng phát mạnh nhất vào mùa nắng nóng (từ
tháng 3-8) khi nhiệt độ nước tăng cao (>30°C) và môi trường ao nuôi bị ô nhiễm
hữu cơ.
- Vùng xuất hiện bệnh: Phổ biến
tại tất cả các vùng nuôi tôm nước lợ tại Việt Nam.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Qua đường tiêu
hóa khi tôm khỏe ăn phải xác tôm bệnh, thức ăn tươi sống chứa mầm bệnh; qua nguồn
nước cấp, bùn đáy, dụng cụ, người chăm sóc và động vật trung gian.
+ Truyền dọc: Vi khuẩn tồn tại
trên cơ thể hoặc trong phân tôm bố mẹ, nhiễm vào trứng và ấu trùng trong quá
trình sinh sản.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng: Tôm giảm ăn đột
ngột, bơi lờ đờ, mất phương hướng và bắt đầu hiện tượng rớt đáy. Vỏ tôm có biểu
hiện mềm, mỏng.
- Bệnh tích đặc trưng: Khi quan
sát khối gan tụy, thấy hiện tượng gan tụy teo nhỏ, dai, nhợt nhạt hoặc có màu
trắng đục. Đường ruột tôm thường trống rỗng hoặc đứt khúc, không có thức ăn. Ở
giai đoạn cấp tính, tế bào biểu mô ống gan tụy bị bong tróc hàng loạt, làm mất
chức năng tiêu hóa. Tỷ lệ chết có thể đạt 70- 100% trong vòng 20-30 ngày đầu
sau thả.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm là khối gan tụy, ruột giữa hoặc tôm nguyên con (đối với tôm giống) được
cố định trong dung dịch cồn 90-95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện chẩn đoán xác định
bằng kỹ thuật PCR hoặc Real-time PCR để phát hiện gen độc tố PirA và PirB
theo tiêu chuẩn TCVN 8710-19:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định
tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
3. Bệnh
Hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHN):
a) Tên bệnh: Bệnh Hoại tử
cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (Infectious Hypodermal and Haematopoietic
Necrosis - IHHN).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
Infectious Hypodermal and Haematopoietic Necrosis Virus (IHHNV),
thuộc họ Parvoviridae. Đây là virus DNA sợi đơn, kích thước siêu nhỏ (22
nm) và không có màng bao lipid nên rất bền vững trong môi trường nước và bùn
đáy. Virus này có khả năng chèn đoạn mã di truyền vào bộ gen tôm, gây khó khăn
cho việc chẩn đoán vì dễ tạo kết quả dương tính giả.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Hai loài tôm
bị ảnh hưởng chính là tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei). Ngoài ra, virus còn được phát hiện ở tôm thẻ bạc (P.
merguiensis), tôm he Nhật bản (Marsupenaeus japonicus) và tôm xanh P.
stylirostris.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm có
thể nhiễm ở mọi giai đoạn, nhưng dấu hiệu bệnh lý biểu hiện rõ nhất trong 10-20
ngày đầu sau khi thả giống.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bệnh
có thể xuất hiện quanh năm, nhưng thường xảy ra với tần suất cao hơn trong mùa khô
(tháng 3-7), khi nhiệt độ nước cao, các yếu tố môi trường biến động mạnh, tảo
tàn gây stress cho tôm. Ở tôm thương phẩm, bệnh thường xuất hiện trong 10-20
ngày đầu sau thả, đặc biệt ở giai đoạn tôm đang phát triển mạnh và lột xác thường
xuyên.
- Vùng xuất hiện bệnh: Toàn quốc,
đặc biệt là các cơ sở sản xuất giống tại Nam Trung Bộ và các vùng nuôi thâm
canh tại Đồng bằng sông Cửu Long.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Qua việc ăn xác
tôm, tiếp xúc với nước, bùn đáy nhiễm virus hoặc qua các vật chủ trung gian như
cua, còng và tôm hoang dã.
+ Truyền dọc: Lây trực tiếp từ
tôm bố mẹ mang mầm bệnh qua trứng và ấu trùng trong quá trình sinh sản.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng trên tôm thẻ chân
trắng: Tôm giảm ăn, tăng trưởng giảm 10- 30% và phân đàn. Dấu hiệu dị hình rõ rệt:
chủy đầu uốn cong, râu quăn queo, sống lưng và phần đuôi bất đối xứng, vỏ mỏng
và sần sùi.
- Triệu chứng trên tôm sú: Vỏ
tôm chuyển màu xanh khác thường, các bó cơ bụng trắng đục. Tôm chết rớt đáy mạnh
trong giai đoạn 10-20 ngày sau thả.
- Bệnh tích đặc trưng: Hoại tử
tế bào biểu mô vỏ, mang và các cơ quan tạo máu. Quan sát dưới kính hiển vi thấy
trong nhân tế bào có các cấu trúc bất thường bắt màu hồng đặc trưng, phản ánh
quá trình virus xâm nhập và nhân lên trong tế bào.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm (mang, cơ quan bạch huyết hoặc chân bơi) được cố định trong cồn
90-95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR hoặc Real-time
PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710- 20:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định
tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
4. Bệnh Đầu
vàng (YHD):
a) Tên bệnh: Bệnh Đầu
vàng (Yellow Head Disease - YHD).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
Yellow Head Virus genotype 1 (YHV-1), thuộc chi Okavirus, họ Roniviridae.
Đây là loại virus có cấu trúc RNA sợi đơn, hình que và có màng bao lipid bên
ngoài. Trong số 9 kiểu gen đã được phát hiện, YHV-1 là dòng có độc lực cao nhất,
gây ra tỷ lệ chết lên đến 70-100% chỉ trong 3-10 ngày.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Tôm sú (Penaeus
monodon) là loài mẫn cảm nhất, dễ chết hàng loạt. Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei) có thể nhiễm nhưng biểu hiện nhẹ. Ngoài ra, một số loài tôm khác
như P. japonicus, P. chinensis, Metapenaeus ensis cũng có
thể bị nhiễm.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm mẫn
cảm nhất và dễ phát bệnh nhất ở giai đoạn từ 30-70 ngày tuổi.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Thường
bùng phát mạnh vào đầu mùa mưa hoặc giai đoạn chuyển mùa khi thời tiết khắc
nghiệt, nhiệt độ nước dao động lớn và độ mặn giảm đột ngột.
- Vùng xuất hiện bệnh: Phổ biến
tại các vùng nuôi trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Duyên hải miền
Trung và miền Bắc.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Tôm khỏe ăn xác
hoặc phân tôm bệnh; virus tồn tại trong nước, bùn đáy; lây qua động vật trung
gian (cua, cá nhỏ, giáp xác) hoặc dụng cụ, con người.
+ Truyền dọc: Lây trực tiếp từ
tôm bố mẹ mang mầm bệnh qua trứng và ấu trùng trong quá trình sinh sản.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng: Tôm tiêu thụ thức
ăn lớn bất thường trong vài ngày, sau đó đột ngột bỏ ăn hoàn toàn, bơi lờ đờ,
phản ứng chậm chạp và tấp vào ven bờ.
- Bệnh tích đặc trưng: Phần
giáp đầu ngực của tôm chuyển sang màu vàng nhạt đến vàng sẫm. Khối gan tụy sưng
to, có màu vàng sáng hoặc vàng nhạt. Thân tôm mềm, mắt chuyển sang màu sẫm, dạ
dày và đường ruột hoàn toàn trống rỗng. Trên tôm thẻ chân trắng, các biểu hiện
vàng đầu có thể không xuất hiện rõ ràng bằng mắt thường.
- Bệnh tích vi thể: Hoại tử tế
bào diện rộng ở gan tụy, cơ quan tạo máu, mô lympho và mang; nhân tế bào bị
phân mảnh nghiêm trọng.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm (chân bơi hoặc mang tôm) được bảo quản trong cồn 90-95% hoặc dung dịch
RNA later. Thực hiện chẩn đoán bằng kỹ thuật RT-PCR hoặc real-time RT PCR theo
tiêu chuẩn TCVN 8710- 4:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
5. Bệnh Hoại
tử cơ (IMN):
a) Tên bệnh: Bệnh Hoại tử
cơ (Infectious Myonecrosis - IMN).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
Infectious Myonecrosis Virus (IMNV), thuộc họ Totiviridae. Đây là
virus có cấu trúc RNA sợi đôi (dsRNA), hình cầu, kích thước khoảng 40 nm và
không có màng bao lipid. Đặc điểm không màng bao giúp virus này có sức đề kháng
cực cao, chịu được dải pH rộng (5-9) và chỉ bị bất hoạt hoàn toàn ở nhiệt độ
trên 60°C hoặc xử lý bằng hóa chất nồng độ cao.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei) là loài cảm nhiễm chính. Tôm he xanh (P.
stylirostris) và tôm he Trung Quốc (F. chinensis) có thể mang mầm bệnh
nhưng ít biểu hiện triệu chứng. Tôm sú (Penaeus monodon) có thể nhiễm
nhưng hiếm khi phát bệnh.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm mẫn
cảm nhất ở giai đoạn từ 30-100 ngày tuổi, đặc biệt là thời điểm trước khi thu
hoạch hoặc ngay sau khi lột xác khi hệ miễn dịch suy yếu.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bùng
phát mạnh vào mùa khô và giai đoạn đầu mùa mưa (tháng 4-6 và tháng 9-10) khi
nhiệt độ nước ấm (28-32°C). Bệnh thường kích phát sau các cú sốc môi trường như
tảo tàn đột ngột, biến động pH hoặc hàm lượng oxy hòa tan thấp.
- Vùng xuất hiện bệnh: Phổ biến
tại các vùng nuôi thâm canh ở Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Qua việc ăn xác
tôm bệnh, phân, tiếp xúc với nước/bùn nhiễm virus hoặc qua vật chủ trung gian
như cua, còng.
+ Truyền dọc: Có thể xảy ra từ
tôm bố mẹ nhiễm virus sang con qua trứng, tuy chưa được khẳng định hoàn toàn.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng: Tôm bơi lờ đờ
sát mặt nước hoặc tấp mép bờ, phản ứng sinh tồn chậm. Sức ăn giảm sút rõ rệt và
rỗng ruột trong 3-5 ngày đầu của đợt dịch.
- Bệnh tích đặc trưng: Các thớ
cơ vân ở phần bụng (đặc biệt là đốt đuôi và thân giữa) mất độ trong suốt tự
nhiên, chuyển sang màu trắng đục hoặc mờ đục.
Vùng cơ hoại tử trở nên giòn, dễ
vỡ, phần đuôi có thể bị gãy gập. Một số cá thể xuất hiện các đốm đỏ nhỏ trên vỏ
do tụ máu ở vùng hoại tử nhưng không có đốm trắng canxi, gan tụy thường teo nhẹ.
- Tỷ lệ chết: Tôm chết rải rác
kéo dài từ 1-2 tuần, tổng thiệt hại lũy kế có thể đạt từ 40-70%. Tình trạng tôm
chết có xu hướng gia tăng khi xuất hiện hiện tượng đồng nhiễm với các tác nhân
khác như vi khuẩn Vibrio spp. hoặc vi bào tử trùng EHP.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm là mô cơ vân bị đục, phần đuôi hoặc cơ quan bạch huyết, được cố định
trong cồn 90-95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện chẩn đoán bằng kỹ thuật Nested
RT-PCR hoặc Realtime RT-PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710-8:2023 tại phòng thử nghiệm
đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số
12/2024/TT-BNNPTNT.
6. Hội chứng
Taura (TSV):
a) Tên bệnh: Hội chứng
Taura (Taura Syndrome Disease - TSD).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
Taura syndrome virus (TSV), thuộc họ Dicistroviridae, giống Aparavirus.
Đây là loại virus có cấu trúc RNA sợi đơn, hình cầu nhỏ (31-32 nm) và không có
lớp màng bao lipid bên ngoài. Đặc điểm này giúp virus có khả năng kháng cự mạnh
mẽ với các điều kiện khắc nghiệt, tồn tại bền vững trong bùn đáy và nước mặn.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Loài cảm nhiễm
chính là tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) với tỷ lệ chết có thể
đạt 40-90% trong ổ dịch cấp tính. Một số loài khác như P. monodon, P.
stylirostris có thể nhiễm nhưng thường ít biểu hiện triệu chứng hoặc chết
thấp hơn.
- Giai đoạn nhiễm: Thường xuất
hiện khi tôm lột xác hàng loạt, đặc biệt trong giai đoạn 10-40 ngày sau thả.
- Mùa vụ xuất hiện: Bùng phát mạnh
vào mùa khô (từ tháng 3-6) khi nhiệt độ nước ao tăng cao và duy trì ổn định ở
ngưỡng 28-32°C.
- Vùng xuất hiện bệnh: Tồn tại
rải rác ở nhiều vùng nuôi trên cả nước.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Virus khuếch
tán qua môi trường nước, qua việc tôm khỏe ăn xác tôm bệnh hoặc phân chứa mầm bệnh.
Lây truyền cơ học qua dụng cụ, thiết bị sục khí và các động vật trung gian như
cua, còng, chim ăn tôm.
+ Truyền dọc: Lây trực tiếp từ
tôm bố mẹ mang mầm bệnh qua trứng và ấu trùng trong quá trình sinh sản.
d) Dấu hiệu bệnh lý: Hội
chứng Taura trải qua ba giai đoạn bệnh lý khác biệt rõ rệt:
- Giai đoạn cấp tính: Tôm yếu,
bơi lờ đờ hoặc tấp nổi dọc bờ ao. Dấu hiệu đặc trưng nhất là toàn bộ cơ thể (đặc
biệt là phần đuôi và chân bơi) chuyển sang màu đỏ nhạt đến đỏ sẫm. Lớp vỏ rất mềm,
các bó cơ bụng xuất hiện màu đục trắng, gan tụy teo tóp, ruột rỗng. Tỷ lệ chết
có thể lên đến 60-90% chỉ trong 3-5 ngày.
- Giai đoạn chuyển tiếp: Dấu hiệu
đỏ thân giảm bớt nhưng vỏ vẫn rất mềm, tôm chậm lớn. Xuất hiện các đốm sẹo đen
rải rác trên vỏ do quá trình tự chữa lành các vùng biểu mô bị hoại tử.
- Giai đoạn mãn tính: Tôm không
còn biểu hiện màu đỏ rõ rệt nhưng cơ vẫn có màu đục trắng không đồng đều, vỏ mỏng.
Tôm trở thành vật mang mầm bệnh dai dẳng và đào thải virus ra môi trường.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm là mô mang, chân bơi hoặc biểu mô vỏ được cố định trong dung dịch cồn
phân tích 90-95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện chẩn đoán xác định bằng kỹ thuật
Real-time PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710-5:2023 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực
quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số
12/2024/TT-BNNPTNT.
7. Bệnh Vi
bào tử trùng (EHP):
a) Tên bệnh: Bệnh Vi bào
tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei - EHP).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
vi sinh vật nhân thực nội bào siêu nhỏ có tên là Enterocytozoon hepatopenaei
(EHP), một loại vi bào tử trùng nội bào thuộc nhóm nấm. Bào tử EHP có lớp vỏ
kitin rất dày và kiên cố, giúp chúng tồn tại bền bỉ trước các điều kiện môi trường
khắc nghiệt và vô hiệu hóa các loại hóa chất khử trùng thông thường ở nồng độ
tiêu chuẩn.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei) và tôm sú (Penaeus monodon) đều là vật
chủ thích hợp. Các loài giáp xác hoang dã nhỏ, giun nhiều tơ, mực, nghêu, hàu
trong môi trường tự nhiên cũng đóng vai trò là ổ chứa mầm bệnh.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm dễ
bị lây nhiễm nhất là từ 30-60 ngày tuổi.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Xuất
hiện quanh năm nhưng bùng phát phổ biến vào mùa khô và những đợt nắng nóng kéo
dài. Khi nhiệt độ nước trên 30°C và độ mặn trên 25‰, bào tử EHP có điều kiện
sinh sôi và lây lan.
- Vùng xuất hiện bệnh: Lưu hành
rộng khắp tại các vùng nuôi tôm trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh
Nam Trung Bộ.
- Phương thức truyền lây:
+ Truyền ngang: Lây chủ yếu qua
đường tiêu hóa, tôm ăn phải bào tử EHP trong phân, xác tôm chết, thức ăn tươi sống
hoặc tiếp xúc với bùn đáy chứa bào tử EHP.
+ Truyền dọc: Hiện chưa có bằng
chứng khoa học khẳng định lây truyền dọc từ buồng trứng, nhưng tôm giống dễ bị
vấy nhiễm gián tiếp qua phân và chất bài tiết của tôm bố mẹ ngay trong môi trường
bể ương.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng: Tôm nhiễm EHP
thường không gây chết hàng loạt, nhưng làm giảm tốc độ tăng trưởng rõ rệt. Tôm
có biểu hiện còi cọc, phân đàn mạnh (cỡ tôm không đồng đều) mặc dù vẫn tiêu thụ
thức ăn tương đối nhiều. Ngoài ra, tôm thường có cơ thể gầy, vỏ mềm, phản xạ
bơi lội chậm chạp, khả năng bắt mồi kém và hiệu quả chuyển hóa thức ăn thấp.
- Bệnh tích đặc trưng: Khi quan
sát khối gan tụy thấy màu nhạt hơn bình thường, bị teo nhỏ lại, đôi khi xuất hiện
những mảng trắng đục không đều. Đường ruột teo tóp, chứa rất ít thức ăn hoặc trống
rỗng; tôm thải ra các đoạn phân đứt khúc màu trắng có thể nổi trên mặt nước.
- Bệnh tích vi thể: Tế bào biểu
mô hình ống gan tụy bị tổn thương nặng nề, mất tính toàn vẹn và bong tróc; quan
sát dưới kính hiển vi thấy các bào tử EHP hình ô-van khu trú bên trong tế bào
chất.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu
bệnh phẩm là mô gan tụy, đoạn ruột giữa, phân tôm hoặc mẫu bùn đáy ao được cố định
trong cồn Ethanol 90-95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện chẩn đoán xác định bằng kỹ
thuật PCR, Nested PCR hoặc Real- time PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710-12:2019 tại
phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều
1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
8. Hội chứng
Phân trắng (WFS):
a) Tên bệnh: Hội chứng
Phân trắng (White Feces Syndrome - WFS).
b) Tác nhân gây bệnh: Đây
là một rối loạn tiêu hóa phức hợp do sự tương tác đa nguyên nhân (multifactorial)
bao gồm: (1) Sự bùng phát của vi bào tử trùng EHP gây tổn thương niêm mạc ruột;
(2) Sự xâm chiếm của các chủng vi khuẩn Vibrio spp. cơ hội (V.
parahaemolyticus, V. harveyi...); (3) Tình trạng mất cân bằng hệ vi
sinh vật đường ruột; và (4) Các yếu tố môi trường nước cực đoan như ô nhiễm hữu
cơ nặng, tảo lam nở hoa tiết độc tố.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Đối tượng bị ảnh
hưởng nặng nề nhất là tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei); tôm sú
(Penaeus monodon) cũng có khả năng mắc nhưng ở mức độ nhẹ hơn.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm thường
mắc bệnh trong khoảng từ 20-70 ngày tuổi, đây là thời kỳ tôm tăng trưởng nhanh
và tiêu thụ lượng thức ăn lớn.
- Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bùng
phát mạnh nhất vào mùa khô hoặc giai đoạn đầu nắng nóng khi nhiệt độ nước duy
trì cao (28-33°C), pH dao động mạnh và oxy hòa tan tầng đáy thấp.
- Vùng xuất hiện bệnh: Lưu hành
phổ biến tại các vùng nuôi thâm canh trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long và dải
Duyên hải miền Trung.
- Phương thức truyền lây: Lây truyền
ngang qua đường tiêu hóa với tốc độ rất nhanh. Tôm khỏe nhiễm bệnh khi ăn phải
các sợi phân trắng trôi nổi chứa nồng độ cao vi khuẩn và bào tử EHP, hoặc tiếp
xúc với bùn đáy ô nhiễm.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng đặc trưng: Xuất hiện
các đoạn phân màu trắng đục, kết cấu rỗng hoặc chứa mủ dịch nổi lềnh bềnh trên
mặt nước, tập trung nhiều ở góc ao hoặc khu vực cuối gió.
- Biểu hiện trên tôm: Thân tôm
sẫm màu, vỏ ốp, lỏng lẻo; đường ruột trắng đục hoặc rỗng hoàn toàn. Khối gan tụy
bị teo, mềm nhão và chuyển sang màu vàng nhạt hoặc trắng bợt. Tôm giảm ăn rõ rệt,
bơi lờ đờ và tấp mép bờ.
- Bệnh tích vi thể: Các sợi
phân trắng thực chất là hỗn hợp tế bào biểu mô gan tụy bị bong tróc, vi nhung
mao đường ruột bị hoại tử kết dính với vi khuẩn và bào tử EHP.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Sử
dụng phương pháp soi tươi dịch ép gan tụy hoặc mẫu phân dưới kính hiển vi để
phát hiện sự tập trung của vi khuẩn và bào tử. Thực hiện chẩn đoán xác định và
định lượng các tác nhân bằng kỹ thuật PCR hoặc Real-time PCR theo tiêu chuẩn
TCVN 8710-12:2019 (xác định EHP) và TCVN 8710-19:2019 (xác định nhóm Vibrio)
tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21
Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
9. Bệnh Đục
thủy tinh (TPD):
a) Tên bệnh: Bệnh Đục thủy
tinh (Translucent Post-Larvae Disease - TPD), còn được gọi là Bệnh hậu ấu trùng
mờ đục hoặc Bệnh hậu ấu trùng thủy tinh (GPD).
b) Tác nhân gây bệnh: Do
chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus siêu độc lực mới (ký hiệu là
VpTPD). Khác với bệnh AHPND, chủng này không chứa gen độc tố PirA/PirB mà
sở hữu một plasmid mang hệ thống độc tố phức hợp Toxin complex. Trong đó,
protein VHVP-2 (Vibrio High Virulent Protein) được xác định là nhân tố độc lực
chính gây phá hủy tế bào và hoại tử hệ thống tiêu hóa của tôm giống.
c) Một số đặc điểm dịch tễ:
- Loài cảm nhiễm: Chủ yếu trên
tôm thẻ chân trắng.
- Giai đoạn nhiễm bệnh: Mẫn cảm
cao nhất từ PL4-PL7, kéo dài đến giai đoạn tôm mới thả nuôi (PL15); giảm dần từ
PL30 trở lên.
- Đặc điểm bùng phát: Dịch diễn
biến rất nhanh, tỷ lệ chết có thể đạt 60% vào ngày thứ hai và lên đến 90-100%
chỉ trong vòng 24-72 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng.
- Phương thức truyền lây: Lây
truyền ngang qua nguồn nước cấp nhiễm khuẩn trong bể ương, qua thức ăn tươi sống
hoặc lây chéo cơ học do dùng chung dụng cụ trong trại giống.
d) Dấu hiệu bệnh lý:
- Triệu chứng: Tôm giống đột ngột
bỏ ăn, bơi lội yếu, mất dần sức sống và rớt đáy hàng loạt.
- Bệnh tích đặc trưng: Khối gan
tụy teo tóp, nhợt nhạt và chuyển sang mất màu hoàn toàn. Dạ dày và đường ruột
hoàn toàn trống rỗng. Đặc điểm nhận diện quan trọng nhất là toàn bộ cơ thể tôm
mất sắc tố, chuyển sang màu trắng đục và trong suốt như thủy tinh do sự thoái
hóa nhanh chóng của mô cơ.
- Bệnh tích vi thể: Hoại tử cấp
tính và bong tróc ồ ạt biểu mô ống gan tụy và ruột giữa; vi khuẩn xâm nhập sâu
vào các mô lót niêm mạc.
đ) Chẩn đoán xét nghiệm: Do
dấu hiệu lâm sàng dễ nhầm lẫn với AHPND hoặc EHP, bắt buộc phải chẩn đoán bằng kỹ
thuật sinh học phân tử. Sử dụng kỹ thuật Multiplex PCR nhắm vào các đoạn gen mã
hóa độc tố vhvp1 và vhvp-2. Mẫu bệnh phẩm là tôm giống mờ đục phải
được cố định ngay trong dung dịch Ethanol 90-95% để bảo vệ cấu trúc DNA trước
khi gửi phân tích tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản
19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
III. CÁC
BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG BỆNH
1. Phòng,
chống dịch bệnh
Hoạt động phòng, chống dịch bệnh
trên tôm nước lợ phải được triển khai theo nguyên tắc “phòng bệnh là chính”,
tăng cường tính chủ động trong giám sát mầm bệnh và an toàn sinh học. Tuyệt đối
không sử dụng kháng sinh với mục đích phòng bệnh. Cụ thể thực hiện theo các hướng
dẫn sau:
a) Đối với cơ sở nuôi tôm bố
mẹ
- Nguồn nước: Nước cấp vào hệ
thống phải qua lưới lọc để loại bỏ vật chủ trung gian, kết hợp xử lý bằng hóa
chất (Chlorine, Iodine), tia UV hoặc lọc tinh để diệt trừ mầm bệnh trước khi
đưa vào hệ thống sản xuất. Nước được xử lý đảm bảo chất lượng theo quy định.
- Nguồn gốc, chất lượng tôm bố
mẹ: Chỉ sử dụng tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF), có nguồn gốc rõ ràng. Việc quản lý,
sử dụng tôm bố mẹ phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 09/3/2026 của Bộ Nông nghiệp
và Môi trường về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi
trường nuôi trồng thủy sản; Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT
ngày 13/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kiểm dịch động vật, sản phẩm
động vật thủy sản và các quy định pháp luật có liên quan.
- Thức ăn: Sử dụng thức ăn công
nghiệp và thức ăn tự chế biến bảo đảm chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng, được bảo
quản đúng quy cách, không bị nhiễm nấm mốc, nhiễm khuẩn. Đối với thức ăn tươi sống
(như giun nhiều tơ, mực, hàu…), phải được xử lý phù hợp và kiểm soát mầm bệnh
(ưu tiên kiểm tra bằng phương pháp PCR khi cần thiết), bảo đảm không mang mầm bệnh
trước khi cho tôm ăn.
- Sử dụng thuốc, hoá chất, sản
phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản theo quy định của Bộ Nông nghiệp và
Môi trường.
b) Đối với cơ sở sản xuất,
ương dưỡng tôm giống
- Xử lý nguồn nước: Nước phải
được khử trùng triệt để; khuyến khích sử dụng hệ thống màng siêu lọc hoặc Ozone
để loại bỏ vi khuẩn Vibrio.
- Vệ sinh bể và dụng cụ: Các bể
đẻ, bể ương phải được vệ sinh, sát trùng bằng Chlorine nồng độ cao hoặc hóa chất
kiềm mạnh trước và sau mỗi đợt sản xuất. Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng bể
và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
- Xử lý ấu trùng: Thực hiện rửa
ấu trùng Nauplius hoặc trứng tôm bằng dung dịch Formol (100-200 ppm) hoặc
Iodine (1-2 ppm) để tiêu diệt mầm bệnh bám ngoài vỏ.
- Giám sát sức khỏe:
+ Bổ sung vitamin, khoáng chất
để tăng đề kháng cho tôm giống.
+ Kiểm tra định kỳ các yếu tố
môi trường (DO, pH, độ kiềm, khí độc).
+ Thực hiện xét nghiệm PCR định
kỳ 100% các lô tôm hậu ấu trùng (PL) trước khi xuất bán nhằm cắt đứt chuỗi lây
truyền dịch bệnh.
- Quản lý chất thải: Xác tôm và
chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra
môi trường.
c) Đối với cơ sở nuôi tôm
thương phẩm
- Lựa chọn con giống: Sử dụng
giống khỏe mạnh, nguồn gốc từ đàn bố mẹ SPF và đã được kiểm dịch theo quy định.
- Ao lắng và ao xử lý nước độc
lập; cấp nước qua màng lọc tinh. Thiết kế hệ thống xi-phông đáy để loại bỏ chất
thải hữu cơ và mầm bệnh.
- An toàn sinh học:
+ Trang bị lưới chắn chim, rào
chắn ngăn chặn vật chủ trung gian như cua, còng.
+ Sử dụng dụng cụ riêng biệt
cho từng ao và khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
+ Hạn chế người lạ vào khu vực
nuôi; thực hiện vệ sinh, khử trùng người và phương tiện khi ra vào cơ sở.
- Quản lý môi trường và dinh dưỡng:
+ Duy trì các chỉ tiêu môi trường
ổn định (DO > 5 mg/L, pH 7,5-8,3), hạn chế thay nước đột ngột gây stress cho
tôm.
+ Sử dụng thức ăn chất lượng, bổ
sung men vi sinh, vitamin C, khoáng chất và chất kích thích miễn dịch
(β-glucan) để nâng cao sức đề kháng.
+ Sử dụng chế phẩm sinh học định
kỳ để ức chế vi khuẩn có hại (Vibrio spp.) và ổn định hệ vi sinh vật ao
nuôi.
- Giám sát và báo cáo:
+ Theo dõi sức khỏe tôm hàng
ngày; khuyến khích lấy mẫu xét nghiệm định kỳ 2-4 tuần/lần để phát hiện sớm mầm
bệnh.
+ Khi tôm có dấu hiệu bệnh lý
hoặc chết bất thường, phải báo cáo ngay cho cơ quan chức năng trong vòng 48-72
giờ.
+ Tuyệt đối không xả nước ao bệnh
ra môi trường khi chưa qua xử lý khử trùng bằng Chlorine (nồng độ ≥ 30 ppm)
trong ít nhất 7 ngày.
- Quản lý chất thải: Xác tôm và
chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra
môi trường.
2. Xây dựng
và triển khai kế hoạch giám sát dịch bệnh
Công tác giám sát dịch bệnh phải
được thực hiện thường xuyên nhằm phát hiện sớm tác nhân gây bệnh, kịp thời bao
vây và xử lý ổ dịch ngay từ diện hẹp.
a) Giám sát chủ động:
- Chủ cơ sở nuôi phải chủ động
lấy mẫu xét nghiệm theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành để nhận diện sớm các
nguy cơ nhiễm mầm bệnh nguy hiểm.
- Tần suất kiểm tra: Khuyến
khích lấy mẫu tôm xét nghiệm tầm soát mầm bệnh định kỳ ít nhất 01 lần/tháng (hoặc
2-4 tuần/lần) đối với tôm nuôi thương phẩm, đặc biệt tại các vùng nuôi thâm
canh, siêu thâm canh mật độ cao hoặc trong giai đoạn thời tiết biến động.
- Đối với trại sản xuất giống:
Thực hiện xét nghiệm PCR định kỳ 100% các lô tôm hậu ấu trùng (PL) trước khi xuất
bán để đảm bảo cung cấp giống sạch bệnh ra thị trường.
b) Giám sát bị động:
- Khi phát hiện tôm nuôi có biểu
hiện bệnh lý truyền nhiễm, chết nhanh với số lượng lớn hoặc chết bất thường
không rõ nguyên nhân, chủ cơ sở phải thực hiện khai báo ngay lập tức.
- Địa chỉ tiếp nhận: Nhân viên
thú y cấp xã, UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y thủy sản nơi
gần nhất qua điện thoại, văn bản hoặc trực tiếp.
- Thời hạn báo cáo: Không quá
48 giờ đối với vùng đồng bằng và 72 giờ đối với vùng sâu, vùng xa tính từ thời
điểm phát hiện dấu hiệu bệnh.
- Phối hợp lấy mẫu: Chủ cơ sở
phối hợp với cán bộ chuyên môn để kiểm tra và lấy mẫu gửi phòng thử nghiệm đủ
năng lực. Mẫu bệnh phẩm được cố định ngay trong cồn Ethanol 90% - 95% với tỷ lệ
thể tích 1:10 để đảm bảo chất lượng xét nghiệm PCR.
c) Xử lý kết quả dương tính:
- Thông báo: Chủ cơ sở phải
thông báo cho các hộ nuôi xung quanh để cùng triển khai biện pháp phòng bệnh,
tránh dịch lây lan trên diện rộng.
- Cô lập ao bị bệnh: Ngừng ngay
việc cho ăn, tuyệt đối không thay nước hoặc xả nước chưa qua xử lý ra môi trường
chung nhằm chặn đứng dòng lây lan.
- Tiêu hủy tôm bệnh:
+ Tiêu hủy trực tiếp trong ao bằng
hóa chất Chlorine (nồng độ 40-100 ppm) hoặc vôi bột để tiêu diệt hoàn toàn sinh
khối tôm nhiễm bệnh.
+ Xác tôm sau tiêu hủy bắt buộc
phải ngâm trong ao ít nhất 07 ngày để hóa chất tiêu diệt triệt để mầm bệnh ẩn
sâu trong mô tế bào và để dư lượng hóa chất tự phân hủy trước khi xả thải.
+ Thu hoạch: Trường hợp tôm đạt
kích cỡ thương phẩm, khuyến khích thu hoạch sớm và chỉ được phép vận chuyển tôm
ra ngoài vùng có dịch sau khi đã xử lý theo hướng dẫn của cơ quan quản lý
chuyên ngành thủy sản hoặc thú y và hướng dẫn thực hiện của UBND xã.
- Xử lý tôm chưa đạt kích cỡ
thu hoạch:
+ Nếu tôm dương tính nhưng chưa
có dấu hiệu lâm sàng: Tăng cường chăm sóc, bổ sung vitamin C, vitamin E, khoáng
chất và các chất kích thích miễn dịch (β-glucan) để nâng cao sức đề kháng.
+ Nếu tôm có biểu hiện bệnh lý
rõ rệt: Cân nhắc thu hoạch hoặc tiêu hủy tùy theo mức độ thiệt hại và giá trị
kinh tế tại thời điểm đó.
- Vệ sinh môi trường: Khử trùng
triệt để nước và bùn đáy ao bệnh bằng Chlorine nồng độ ≥ 30 ppm; tiêu độc dụng
cụ, lưới, thiết bị quạt nước và khu vực bờ ao bằng hóa chất sát trùng mạnh.
- Giám sát các ao chưa bị bệnh:
Theo dõi chặt chẽ sức khỏe tôm và các chỉ tiêu môi trường; thực hiện an toàn
sinh học nghiêm ngặt, hạn chế người và dụng cụ di chuyển giữa các ao để tránh
lây nhiễm chéo.
3. Hồ sơ
lưu trữ
Trong quá trình sản xuất, cơ sở
nuôi tôm phải thiết lập và duy trì hệ thống sổ nhật ký theo dõi (bằng hình thức
văn bản giấy hoặc dữ liệu điện tử) để ghi chép đầy đủ các thông tin liên quan tới
quản lý sức khỏe đàn tôm và đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Hệ
thống hồ sơ lưu trữ bao gồm các nội dung chính sau:
a) Hồ sơ về nguồn gốc con giống:
Lưu giữ đầy đủ các hóa đơn, chứng từ mua bán giống; giấy chứng nhận kiểm dịch
giống thủy sản và các phiếu kết quả xét nghiệm khẳng định tôm âm tính với các mầm
bệnh nguy hiểm của từng lô giống khi nhập về cơ sở.
b) Hồ sơ theo dõi tình trạng sức
khỏe và môi trường: Ghi chép diễn biến hằng ngày về khả năng bắt mồi, tốc độ
tăng trưởng, các dấu hiệu bệnh lý lâm sàng và tỷ lệ tôm chết rải rác hoặc bất
thường. Đồng thời, lưu trữ nhật ký quan trắc các yếu tố môi trường như nhiệt độ,
pH, độ mặn, DO và hàm lượng khí độc.
c) Hồ sơ sử dụng vật tư đầu
vào: Nhật ký chi tiết về việc sử dụng thức ăn, thuốc thú y thủy sản, hóa chất,
chế phẩm sinh học và các sản phẩm xử lý cải tạo môi trường trong suốt quá trình
sản xuất. Hồ sơ phải thể hiện rõ: tên sản phẩm, số lô, liều lượng, lý do sử dụng,
phương pháp sử dụng và xác nhận thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi thu hoạch
theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.
d) Hồ sơ kiểm soát dịch bệnh và
xử lý ổ dịch: Ghi chép các biện pháp an toàn sinh học đã triển khai tại cơ sở.
Trong trường hợp xảy ra dịch bệnh, phải lưu giữ hồ sơ về tình hình phát sinh,
các báo cáo dịch bệnh gửi cơ quan chức năng, và biên bản xử lý tiêu hủy tôm bệnh
(bao gồm nồng độ hóa chất sử dụng, thời gian ngâm xác tôm) hoặc hồ sơ giám sát
thu hoạch sớm.
Toàn bộ hồ sơ phải được lưu giữ
đầy đủ, có hệ thống và sẵn sàng xuất trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu kiểm
tra hoặc khi cần thực hiện điều tra dịch tễ học.
4. Yêu cầu
về thu hoạch sản phẩm
Hoạt động thu hoạch và vận chuyển
tôm phải đảm bảo tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm và vệ sinh thú y nhằm
bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và tránh lây lan dịch bệnh ra môi trường ngoài:
a) Ngừng sử dụng thuốc và hóa
chất: Cơ sở nuôi phải tuyệt đối tuân thủ thời gian ngừng sử dụng thuốc kháng
sinh, hóa chất trước thời điểm thu hoạch theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất
hoặc quy định của cơ quan quản lý. Việc này nhằm đảm bảo dư lượng thuốc và hóa
chất trong sản phẩm tôm không vượt quá giới hạn cho phép, đáp ứng các tiêu chuẩn
an toàn thực phẩm trong nước và quốc tế.
b) Kiểm soát dư lượng: Trước
khi thu hoạch, cơ sở chế biến cần phối hợp chặt chẽ với cơ sở nuôi để tổ chức lấy
mẫu tôm phân tích các chỉ tiêu cần thiết theo yêu cầu của khách hàng hoặc cơ
quan chức năng. Phải đảm bảo sản phẩm không tồn dư kháng sinh cấm, hóa chất độc
hại và cơ sở nuôi phải chịu trách nhiệm về kết quả kiểm soát này.
c) Vận chuyển tôm sau thu hoạch:
Tôm sau khi thu hoạch phải được vận chuyển đến cơ sở chế biến bằng các dụng cụ
và phương tiện chuyên dụng, đảm bảo duy trì điều kiện an toàn vệ sinh thú y
trong suốt quá trình di chuyển.
d) Vệ sinh sau vận chuyển: Toàn
bộ dụng cụ và phương tiện vận chuyển sau khi sử dụng phải được vệ sinh làm sạch
triệt để và khử trùng bằng các biện pháp cơ học hoặc hóa học phù hợp để loại bỏ
nguy cơ mang mầm bệnh sang các vùng nuôi khác./.