|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 478/KH-UBND
|
Bắc Kạn, ngày 11 tháng 8 năm 2020
|
KẾ HOẠCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 5 NĂM
2021-2025
Căn cứ công văn số 2062/BKHCN-KHTC ngày 15/7/2020 của Bộ
Khoa học và Công nghệ về việc Hướng dẫn xây dựng Khung Kế hoạch khoa học và
công nghệ 5 năm 2021-2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn xây dựng Khung Kế hoạch
khoa học và công nghệ 5 năm 2021-2025 như sau:
A. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ 5 NĂM 2016-2020
I. Kết quả thực hiện chính sách về KH&CN và đổi mới sáng
tạo 05 năm 2016-2020
1. Việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), quy
chuẩn kỹ thuật (QCVN), hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng
Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bắc Kạn chưa ban hành văn bản cấp
tỉnh về các tiêu chuẩn, quy chuẩn địa phương. Tuy nhiên, thời gian qua tỉnh đã
tích cực phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định về tiêu chuẩn
đo lường chất lượng đến các tổ chức, cá nhân liên quan. Thường xuyên tra cứu
kho tiêu chuẩn, phối hợp cung cấp các tiêu chuẩn ngành, quy chuẩn kỹ thuật phục
vụ tra cứu của các đơn vị trên địa bàn.
Giai đoạn này, tỉnh đã ban hành Kế hoạch xây dựng Quy chuẩn
địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt tại tỉnh Bắc
Kạn theo Quyết định số 367/QĐ-UBND ngày 10/3/2020 của UBND tỉnh.
2. Các cơ chế, chính sách và quy định pháp luật về tiêu
chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữu trí tuệ, năng lượng nguyên tử, an toàn bức
xạ hạt nhân và thông tin, thống kê KH&CN; chuyển giao công nghệ trong nước
và nước ngoài
- Thời gian qua, địa phương đã chỉ đạo các cơ quan chuyên
môn triển khai thực hiện Luật Đo lường, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa; chỉ
đạo ngành chuyên môn ban hành các văn bản hướng dẫn, công tác quản lý nhà nước
về đo lường, chất lượng trên địa bàn tỉnh, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, tạo được niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan quản lý nhà nước về
lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Triển khai quản lý nhà nước về lĩnh
vực sở hữu trí tuệ, năng lượng nguyên tử và hạt nhân, thông tin thống kê khoa
học và công nghệ, quản lý công nghệ theo đúng quy định, đạt hiệu quả. Công tác
kiểm tra về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, an toàn bức xạ hạt nhân, góp ý công
nghệ của các dự án đầu tư được thực hiện nghiêm túc, góp phần tích cực trong
việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này trên địa bàn.
- UBND tỉnh đã ban hành một số quy định về SHTT, ATBX hạt
nhân, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN trên địa bàn, như: Quyết định số
765/QĐ-UBND ngày 16/5/2019 về ban hành quy chế quản lý và sử dụng chỉ
dẫn địa lý “Bắc Kạn” dùng cho sản phẩm quả quýt; Quyết định 731/QĐ-UBND ngày
10/5/2019 về việc ban hành quy định về đánh giá, công nhận sáng kiến đề tài
nghiên cứu khoa học của các cá nhân để làm căn cứ xét tặng các danh hiệu thi
đua, hình thức khen thưởng; Quyết định số 1648/QĐ-UBND ngày 01/10/2018 về phê
duyệt phương án phát triển, nâng cao năng lực hệ thống tổ chức dịch vụ khoa học
và công nghệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ phù hợp với cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ 4; Quyết định số 713/QĐ-UBND ngày 08/5/2019 ban hành
kế hoạch hành động về phòng ngừa, phát hiện và chuẩn bị ứng phó nguy cơ, sự cố
hóa học, sinh học, bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn
2019-2025.
3. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp
đổi mới sáng tạo (ĐMST) và phát triển doanh nghiệp KH&CN, lấy doanh nghiệp
là trung tâm của hệ thống ĐMST quốc gia, các sản phẩm sáng tạo phục vụ trực
tiếp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, năng suất, chất lượng theo chuỗi giá
trị
- Xây dựng và triển khai Kế hoạch triển khai chương trình hỗ
trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp ĐMST tỉnh Bắc Kạn giai đoạn
2018-2025 theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017, Quyết định số 844/QĐ-TTg
ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ hệ sinh
thái khởi nghiệp, ĐMST quốc gia đến năm 2025 (Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày
20/4/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn).
- Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, ĐMST:
Trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 03 Nghị quyết: Nghị quyết số 13/NQ-HĐND
ngày 06/12/2019 quy định mức chi từ ngân sách nhà nước để tổ chức cuộc thi STKT
và cuộc thi sáng tạo TTNNĐ tỉnh Bắc Kạn; Nghị quyết số 14/NQ-HĐND ngày
06/12/2019 quy định mức chi từ ngân sách nhà nước để thực hiện hoạt động sáng
kiến trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; Nghị quyết số 04/2020/NQ-HĐND ngày 05/5/2020
quy định nội dung và mức chi từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ hệ sinh thái khởi
nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025.
4. Nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới công nghệ, ĐMST và
đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong doanh nghiệp; khuyến khích khởi nghiệp ĐMST;
cơ chế ưu đãi, phát triển doanh nghiệp ĐMST
- Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Kế hoạch đổi
mới sáng tạo theo Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 20/4/2018 của UBND tỉnh, trong
đó, nội dung chủ yếu là: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về ĐMST,
ứng dụng KH&CN trong các doanh nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ;
triển khai chương trình khởi nghiệp cho sinh viên Trường Cao đẳng cộng đồng,
Cao đẳng nghề Dân tộc nội trú; tổ chức các sự kiện kết nối cộng đồng khởi
nghiệp ĐMST; triển khai và thực hiện các cơ chế, chính sách về khởi nghiệp
ĐMST, hỗ trợ doanh nghiệp ĐMST.
- Xây dựng và triển khai kế hoạch số 423/KH-UBND ngày
02/10/2018 của UBND tỉnh về kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số
17-Ctr/TU ngày 02/8/2018 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ
Chính trị.
- Triển khai các hoạt động khảo sát, đánh giá công nghệ, góp
ý công nghệ của các dự án đầu tư ... góp phần nâng cao hiệu quả của dự án đầu
tư, hạn chế việc nhập thiết bị công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường tại
địa phương[1].
5. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
4
Trong thời gian qua, để tạo điều kiện cho cán bộ, công chức,
viên chức trên địa bàn tỉnh đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
tỉnh đã ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học. Tuy nhiên, do nguồn lực
của tỉnh hạn hẹp, nguồn đầu tư phát triển của Trung ương tập trung đầu tư cho
cơ sở vật chất, do vậy nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực về khoa học và công nghệ phục vụ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4
còn hạn chế.
6. Cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động nguồn kinh phí
ngoài ngân sách đầu tư cho KHCN và ĐMST, nhất là từ doanh nghiệp
- Tỉnh chưa ban hành chính sách riêng để khuyến khích, huy
động được nguồn kinh phí ngoài ngân sách đầu tư cho KH&CN do các doanh
nghiệp chưa thực sự chú trọng việc đầu tư nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công
nghệ.
- Chương trình khởi nghiệp, ĐMST đã được tỉnh triển khai, hỗ
trợ theo Nghị quyết số 04/2020/NQ-HĐND ngày 05/5/2020 của Hội đồng nhân dân
tỉnh quy định nội dung và mức chi từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ hệ sinh thái
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025.
7. Cơ chế khoán chi thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng
NSNN, các vướng mắc trong thực hiện cơ chế khoán chi
- Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh mới thực hiện cơ chế
khoán chi từng phần, chưa thực hiện khoán chi đến sản phẩm cuối cùng đối với
các nhiệm vụ KH&CN là do các nhiệm vụ KH&CN liên quan tới nhiều lĩnh
vực, nhiều nội dung không có định mức kinh tế-kỹ thuật cụ thể.
- Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN việc áp
dụng quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ KH&CN thực hiện theo Thông tư
liên tịch số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 30/12/2015 liên tịch giữa Bộ KH&CN
và Bộ Tài chính quy định còn gặp những khó khăn:
+ Nhiệm vụ thực hiện theo phương thức khoán chi đến sản phẩm
cuối cùng theo Điều 6 của Thông tư 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC quy định có nhiều nội
dung khó có thể để đáp ứng đồng thời các điều kiện để thực hiện khoán, ví dụ:
nhiệm vụ phải xác định rõ được chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của sản phẩm, đơn vị
đo, mức chất lượng hoặc yêu cầu khoa học cần đạt được, số lượng, quy mô...; các
khoản chi phục vụ cho hoạt động nghiên cứu như: sửa chữa, mua sắm tài sản trang
thiết bị, cơ sở vật chất, chi đoàn ra... dưới 15% tổng dự toán nguồn ngân sách
nhà nước thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, việc không được điều chỉnh phương thức
khoán chi, tổng mức kinh phí khoán, không được điều chỉnh tên, mục tiêu và sản phẩm cuối cùng yêu cầu sự cam kết
rất cao của chủ nhiệm nhiệm vụ, sẽ rất khó khăn khi có rủi ro trong việc nghiên
cứu. Do đó, việc khoán chi đến sản phẩm cuối cùng trong thực hiện nhiệm vụ rất
khó khăn để thực hiện.
+ Đối với phương thức khoán chi từng phần: Một số nội dung
thực hiện khoán chi, nhưng khi triển khai thực hiện gặp khó khăn trong quá
trình thực hiện, nhất là cơ sở thanh toán vì ngoài thực hiện theo Thông tư liên
tịch số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC còn phải thực hiện theo các quy định tại các Văn
bản pháp quy khác. Có những khoản chi khó xác định cụ thể để xây dựng mức
khoán, như: số đại biểu tham dự thực tế, kinh phí chi tiền nước, tiền văn phòng
phẩm trong khoán chi Hội thảo. Trong chi phí quản lý chung nhiệm vụ KH&CN
(5%) theo Thông tư số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2014 có nhiều nội dung
chi không có định mức kinh tế-kỹ thuật, do đó khó khăn trong việc thanh, quyết
toán.
8. Việc thành lập và hoạt động các Quỹ KH&CN, các vướng
mắc trong quá trình triển khai thực hiện
Tỉnh Bắc Kạn chưa thành lập được Quỹ KH&CN tại địa
phương do chưa đáp ứng được yêu cầu thành lập quỹ.
9. Cơ chế ưu đãi, thu hút đầu tư vào khu công nghệ cao, phát
triển nông nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung
Tỉnh Bắc Kạn chưa có khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin
tập trung nên chưa xây dựng cơ chế ưu đãi, thu hút đầu tư riêng cho khu công
nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung. Tuy nhiên, trong giai đoạn
2015-2020, tỉnh có kế hoạch xây dựng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao với diện tích sản xuất rau 25 ha. Trong đó, khoa học và công nghệ đã xây
dựng mô hình sản xuất rau an toàn ứng dụng công nghệ cao tại thành phố Bắc Kạn
với diện tích là 2,0 ha. Từ kết quả mô hình khoa học và công nghệ tại địa
phương, một số hộ dân đã tự mở rộng mô hình được 2,4 ha, bước đầu xác định mô
hình sản xuất rau công nghệ cao mang lại hiệu quả kinh tế cao.
10. Công tác thanh tra
Tổ chức triển khai thực hiện 20 cuộc thanh tra, kiểm tra
chuyên ngành thuộc lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, An toàn bức xạ hạt
nhân, Sở hữu công nghiệp, Đề tài/dự án KH&CN.
Kết quả thanh tra: Tổng số cơ sở được thanh tra 113 cơ sở,
trong đó phát hiện có 14 cơ sở vi phạm, đã xử phạt vi phạm hành chính, kiến
nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước và giảm trừ thanh quyết toán với tổng số
tiền là: 322.061.976 đồng[2], 100% số tiền xử phạt vi phạm hành
chính, kiến nghị thu hồi đã được đối tượng thanh tra thực hiện đầy đủ theo Kết
luận thanh tra. Đồng thời, qua công tác thanh tra cũng đã đề xuất, kiến nghị
một số biện pháp xử lý đối với những tồn tại, hạn chế về tiêu chuẩn đo lường
chất lượng đối với các cơ sở kinh doanh xăng dầu, kinh doanh thiết bị điện,
điện tử...
11. Đánh giá kết quả hoạt động KH&CN và ĐMST
1. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN các cấp
1.1. Đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN
được giao trong các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; chỉ thị; quyết
định của Thủ tướng Chính phủ
Tỉnh Bắc Kạn không có các nhiệm vụ KH&CN được giao trong
các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.
1.2. Đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp
quốc gia
Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh Bắc Kạn được Bộ Khoa học
và Công nghệ phê duyệt triển khai 03 đề tài, dự án[3] (02
dự án thuộc Chương trình Nông thôn miền núi, 01 đề tài KHCN độc lập cấp Quốc
gia thực hiện từ năm 2020); phối hợp theo dõi dự án ứng dụng công nghệ
phát triển bò thịt chất lượng cao thành hàng hóa theo chuỗi giá trị ở miền núi
phía Bắc.
Các nhiệm vụ cơ bản triển khai theo kế hoạch. Dự án ứng dụng công nghệ
phát triển bò thịt chất lượng cao thành hàng hóa theo chuỗi giá trị ở miền núi
phía Bắc chậm tiến độ so với thuyết minh dự án đã được phê duyệt. Sở
KH&CN đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức kiểm tra và chỉ đạo các cơ quan
chuyên môn hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của dự án.
Thông qua các đề tài, dự án tỉnh đã xây dựng được các mô
hình ứng dụng tiến bộ KH&CN mới trong sản xuất cây giống/con giống giúp cho
địa phương chủ động một phần giống cây trồng, vật nuôi đảm bảo chất lượng phục
vụ sản xuất nông lâm nghiệp; góp phần phát triển các sản phẩm có lợi thế của
địa phương, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa, liên kết theo chuỗi
giá trị có hiệu quả kinh tế cao, phục vụ tích cực công cuộc phát triển kinh tế
- xã hội và xây dựng nông thôn mới của tỉnh. Việc thực hiện các đề tài, dự án
là cơ sở để các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng KH&CN trong sản xuất,
kinh doanh nâng cao sức cạnh tranh, năng suất, chất lượng sản phẩm theo chuỗi
giá trị. Đồng thời nâng cao nhận thức của người dân trong việc ứng dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế hộ.
1.3. Tình hình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, tỉnh
năm 2020
Năm 2020, Sở KH&CN quản lý 28 đề tài, dự án KH&CN
cấp tỉnh và Chương trình NTMN ủy quyền (19 đề tài, dự án chuyển tiếp,
09 ĐTDA triển khai mới năm 2020). Trong đó, lĩnh vực khoa học nông nghiệp
chiếm 71,4%, lĩnh vực khoa học Y dược 7,1%, còn lại là các lĩnh vực khác. Các
đề tài, dự án đang triển khai cơ bản đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng nội dung.
Trong năm 2019 nghiệm thu 06 đề tài, dự án (02 nhiệm vụ xuất sắc, 03 nhiệm
vụ đạt khá, 01 nhiệm vụ đạt yêu cầu). Đa số các đề tài, dự án đã được ứng
dụng, duy trì tại địa phương, qua đó giải quyết kịp thời các vấn đề bức thiết
của tỉnh, góp phần thiết thực vào sản xuất và đời sống.
Tình hình thực hiện 6 tháng đầu năm 2020: Tổ chức nghiệm thu
cấp tỉnh 01 đề tài, xếp loại Khá; xét duyệt 09/09 đề tài, dự án triển khai năm
2020 (đạt 100% kế hoạch), Hội đồng KH&CN tỉnh tổ chức họp lựa chọn được
09/82 nhiệm vụ KH&CN năm 2021 trình UBND tỉnh phê duyệt; kiểm tra tiến độ
10/19 đề tài, dự án
(đạt 40%); tổng hợp, tham mưu cho UBND tỉnh Đề án Quỹ Gen cấp Bộ, cấp tỉnh
trình Bộ KH&CN xem xét và hoàn thành một số nhiệm vụ khác.
Một số kết quả đề tài, dự án nổi bật góp phần vào phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, cụ thể như
sau:
(1) Dự án Ứng dụng khoa học công nghệ tổ chức sản xuất,
chế biến và tiêu thụ chè Shan tuyết tại xã Bằng Phúc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc
Kạn: Xây dựng mô hình 10ha chè Shan tập trung theo tiêu chuẩn VietGap, 20ha
chè Shan tập trung theo hướng hữu cơ. Hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật cho Hợp tác
xã Hồng Hà để sản xuất 03 sản phẩm chè chất lượng (trà Shan tuyết móc câu, Hồng
Trà và Bạch Trà). Xây dựng nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm chè Shan tuyết Bằng
Phúc, bàn giao cho Hội Nông dân xã Bằng Phúc quản lý. Bao bì có nhãn hiệu hàng
hóa tập thể với logo và nhận diện đã được Cục sở hữu trí tuệ - Bộ KH&CN cấp
28/12/2018; bàn giao 05 mẫu bao bì sản phẩm (loại 100g, 200g, 500g cho sản phẩm
trà Shan tuyết móc câu; loại hộp chè Hồng Trà 100g; loại hộp chè Bạch Trà 50g)
cho Hợp tác xã Hồng Hà quản lý; hỗ trợ Hợp tác xã Hồng Hà tham gia 02 Hội chợ
triển lãm tại Hà Nội và Lạng Sơn.
Đến nay, địa phương đã nhân rộng diện tích cây chè Shan
tuyết tại xã Bằng Phúc lên tới 139,8 ha và tiếp tục chỉ đạo duy trì và mở rộng
diện tích sản xuất chè Shan tuyết theo hướng VietGAP, hữu cơ. Hợp Tác xã Hồng
Hà duy trì hoạt động sản xuất các thương hiệu chè.
(2) Đề tài Khảo nghiệm tuyển chọn một số giống lúa chất
lượng cao, năng suất khá, phù hợp với điều kiện tỉnh Bắc Kạn: Đề tài đã bố
trí tuyển chọn 10 giống lúa mới chất lượng cao, năng suất khá, phù hợp với điều
kiện sinh thái của tỉnh Bắc Kạn: Lúa thuần (gồm giống: Sơn Lâm 1 (G1), Bắc
Giang 6 (G2), Bắc Giang 1 (G3), HT18(G4), T10 (G9)), lúa lai (gồm giống:
Thái xuyên 111 (G5), Hương ưu 98 (G10)), lúa Japonica (gồm giống: TBJ3
(G6), J02 (G7), ĐS1 (G8)). Xây dựng quy trình tổ chức sản xuất tiêu thụ lúa
gạo. Xây dựng mô hình trình diễn thử nghiệm sản xuất 02 giống lúa tuyển chọn
được gồm Sơn Lâm 1, ĐS1. Sau khảo nghiệm, vụ Xuân 2020 toàn tỉnh trồng được 550
ha giống lúa ĐS1 và Vax 6 (Japonica) tạo thành sản phẩm lúa hàng hóa chất lượng
cao.
(3) Đề tài Nghiên cứu thử nghiệm, xây dựng lò sấy thuốc
lá tiết kiệm nhiên liệu, nâng cao chất lượng thuốc lá sau sấy: Nghiên cứu,
hoàn thiện được lò sấy thuốc lá theo kiểu sấy Roket Barn, sử dụng nhiên liệu
củi kết hợp với than phù hợp với điều kiện tại Bắc Kạn. Nghiên cứu, hoàn thiện
được 01 Nhà ủ vàng thuốc lá tiết kiệm năng lượng, nâng cao chất lượng cho thuốc
lá sấy. Hoàn thiện kỹ thuật xây lò và kỹ thuật sấy thuốc lá theo kiểu lò sấy
Riket Bam. Căn cứ kết quả nghiên cứu của đề tài chính quyền các cấp đã phối hợp
với các đơn vị đầu tư trên địa tuyên truyền vận động nhân dân chuyển đổi sang
lò sấy tiết kiệm nhiên liệu, kết quả đến nay trên địa bàn huyện đã chuyển đổi
được 224 lò sấy và được người dân đánh giá cao vì có khả năng tiết kiệm được
40% nhiên liệu.
(4) Dự án Bảo tồn và phát huy một số di sản văn hóa gắn với phát triển
du lịch Ba Bể: Đã thành lập 05 đội văn nghệ dân gian các dân tộc tham gia
biểu diễn phục vụ khách du lịch. Xây dựng mô hình bảo tồn và phát huy 15 món ẩm
thực đặc trưng của dân tộc; mô hình Khu vui chơi giải trí và giao lưu văn hóa
ẩm thực dân tộc; khu tắm thuốc người Dao và khu trưng bày, giới thiệu, bán các
sản phẩm du lịch văn hóa làm quà lưu niệm để phục vụ khách du lịch hồ Ba Bể.
Đang hoàn thiện cuốn sách Văn hóa dân gian các dân tộc vùng hồ Ba Bể - Bắc
Kạn và 01 bộ Phim tài liệu (35 phút) quảng bá di sản văn hóa các dân tộc
Bắc Kạn, đẩy mạnh hoạt động của Khu du lịch hồ Ba Bể. Kết quả của dự án sẽ
góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch của tỉnh nói chung và hồ Ba Bể nói
riêng.
(5) Các lĩnh vực khác: Y tế, môi trường, công nghệ thông tin cũng góp phần
tích cực trong việc phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương: Dự án Xây dựng
mô hình quản lý, chăm sóc sức khỏe người dân tại cộng đồng bằng sổ sức khỏe
điện tử: Đã vận hành sử dụng phần mềm trên hệ thống 18/18 đơn vị (trong đó
có 16 đơn vị tuyến xã, thị trấn, 1 đơn vị tuyến huyện và 1 đơn vị tuyến tỉnh,
đạt 100% kế hoạch. Phần mềm được duy trì ổn định, thường xuyên. Cán bộ các Trạm
y tế cập nhật liên tục thông tin khám chữa bệnh, thông tin người dân chuyển đi,
chuyển đến, tử vong, sinh... của người dân trên hệ thống.
1.4. Tình hình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, cấp
tỉnh 5 năm (2016-2020)
Giai đoạn 2016-2020, ngành Khoa học và Công nghệ đã triển
khai thực hiện 37 đề tài, dự án (trong đó: nông lâm nghiệp có 27 đề tài, dự án
(chiếm 72,9%); khoa học xã hội và nhân văn có 04 đề tài (chiếm 10,8%); khoa học
kỹ thuật 03 (chiếm 8,1%); y dược 03 (chiếm 8,1%). Qua triển khai các nhiệm vụ
đã đạt được một số kết quả quan trọng[4] góp phần tích cực vào việc phát triển
kinh tế - xã hội.
2. Phát triển tiềm lực KH&CN
2.1. Đánh giá tình hình hoạt động của các tổ chức KH&CN trên
địa bàn được giao quản lý; tình hình thực hiện Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày
14/6/2016; Quyết định số 171/QĐ-TTg ngày 27/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án xây dựng quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành
Trung ương về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng
và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Giai đoạn 2016-2020, Bắc Kạn có 04 đơn vị đăng ký hoạt
động KH&CN, trong đó có 02 đơn vị công lập (01 đơn vị ngành KH&CN, 01
đơn vị ngành y tế), 02 đơn vị ngoài công lập. Đến hết năm 2019, có 02 tổ chức
khoa học và công nghệ ngoài công lập đã bị hủy Giấy đăng ký hoạt động, do thời
gian qua 02 tổ chức này hoạt động không hiệu quả. Do vậy, đến thời điểm hiện
nay tỉnh Bắc Kạn còn 02 Tổ chức khoa học và công nghệ.
- Tỉnh Bắc Kạn đã phê duyệt Phương án: "Đổi mới theo
hướng giao quyền tự chủ cho tổ chức, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công
trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; xây dựng cơ chế tăng cường liên kết giữa
Trung tâm ứng dụng Khoa học Công nghệ và Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trực
thuộc Sở Khoa học và Công nghệ với các tổ chức khoa học và công nghệ và các
trường Đại học, doanh nghiệp để gắn kết nghiên cứu khoa học với hoạt động đào
tạo và sản xuất kinh doanh" theo Quyết định số 1722/QĐ-UBND ngày
27/9/2019 của UBND tỉnh Bắc Kạn; Phương án: "Phát triển, nâng cao năng
lực hệ thống tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, phát triển thị trường khoa
học và công nghệ phù hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” theo
Quyết định số 1648/QĐ-UBND ngày 01/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn.
- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã được tỉnh phê
duyệt Đề án vị trí việc làm; phê duyệt phương án tự chủ một phần theo Nghị định
54/2016/NĐ-CP của Chính phủ (Trung tâm ứng dụng Khoa học - Công nghệ và Tiêu
chuẩn Đo lường Chất lượng tự chủ từ năm 2019, mức tự chủ 12% chi thường xuyên).
- Hoạt động của các tổ chức KH&CN trên địa bàn còn hạn
chế, nhất là Tổ chức KH&CN ngoài công lập, hoạt động cầm chừng, do vậy hiệu
quả thấp, chưa khai thác và phát huy được những tiềm năng lợi thế của địa
phương cũng như nguồn lực hiện có của đơn vị.
- Việc tăng cường tiềm lực cho khoa học và công nghệ thời
gian qua chủ yếu là đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị; đầu tư cho đào tạo
nguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng mức: Nguồn đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu sử dụng từ nguồn chi thường xuyên và
nguồn tự túc của công chức, viên chức được cử đi đào tạo, tập huấn. Do vậy, năng
lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức, viên chức chưa cao.
2.2. Tình hình thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực
KH&CN bao gồm: Chính sách sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN
quy định tại Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ; đề án đào
tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN ở trong nước và nước ngoài bằng NSNN theo
Quyết định số 2395/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
Do nguồn lực của địa phương còn nhiều khó khăn nên giai đoạn
2016-2020 tỉnh Bắc Kạn chưa ban hành chính sách riêng về đào tạo nguồn nhân lực
KH&CN, tuy nhiên tỉnh có chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học, đồng thời
tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động học tập nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
2.3. Kết
quả phát triển hạ tầng KH&CN thuộc phạm vi được giao quản lý bao gồm: Khu
công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ thông tin
tập trung; phòng thí nghiệm trọng điểm; thông tin KH&CN; tăng cường tiềm
lực cho các tổ chức KH&CN...
Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục đầu tư để phát
triển hạ tầng khoa học và công nghệ tại địa phương, một số dự án đầu tư hạ tầng
trong công nghệ thông tin cho các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, như: Trung
tâm công nghệ thông tin của tỉnh, Trung tâm hành chính công của thành phố Bắc
Kạn, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin cho Văn phòng Tỉnh ủy ...
Đối với ngành khoa học và công nghệ, tỉnh đã đầu tư 02 dự án
đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đó là
đầu tư xây dựng Trụ sở và đầu tư trang thiết bị cho Chi cục tiêu chuẩn đo lường
chất lượng thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, đã góp phần nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước và dịch vụ trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng trên địa
bàn tỉnh.
2.4. Kết quả triển khai Đề án nâng cao năng lực của Trung tâm ứng dụng tiến
bộ KH&CN, Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng theo Quyết định
317/QĐ-TTg ngày 15/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Giai đoạn 2016-2020, Trung tâm ứng dụng Khoa học - Công nghệ
và Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã được đầu tư xây dựng Trụ sở, đầu tư cơ sở
vật chất, trang thiết bị, trạm nghiên cứu [5]... đã góp phần quan
trọng để tăng cường tiềm lực, năng lực cho Trung tâm đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào
thực tiễn sản xuất và đời sống; thực hiện các dịch vụ công về lĩnh vực Tiêu
chuẩn Đo lường Chất lượng. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị đã được
đầu tư chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi thực
tiễn nhiệm vụ được giao, nhất là việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm
theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP của Chính phủ. Đến nay Trung tâm mới tự chủ về tài
chính được 12%/năm.
- Tổ chức, bộ máy của Trung tâm được sắp xếp ngày càng tinh
gọn, phù hợp, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao trong tình hình mới
theo tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu Ban chấp
hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi
mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của
các đơn vị sự nghiệp công lập. Bước đầu đáp ứng được yêu cầu của hoạt động khoa
học và công nghệ, phục vụ thiết thực trong việc phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo quốc phòng - an ninh tại địa phương. Tuy nhiên, năng lực của đội ngũ
viên chức kỹ thuật còn hạn chế, việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn đã
được quan tâm nhưng chưa nhiều do việc cử đi đào tạo, tập huấn chủ yếu sử dụng
từ nguồn chi thường xuyên của đơn vị.
- Đến nay, 100% viên chức quản lý, viên chức kỹ thuật đạt
trình độ đại học trở lên; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo khả
năng kiểm định các phương tiện đo phổ biến, thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng
với các sản phẩm hàng hóa thiết yếu có trong danh mục phải kiểm tra chất lượng
của địa phương đạt 40-60%. Tuy nhiên, Trung tâm chưa có khả năng thử nghiệm
được các chỉ tiêu chất lượng, vệ sinh, an toàn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
đối với các nhóm sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
theo Quyết định số 3810/QĐ-BKHCN ngày 18/12/2019, do đó chưa đạt mục tiêu theo
Quyết định số 317/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (60% trung tâm kỹ thuật tiêu
chuẩn đo lường chất lượng có khả năng thử nghiệm được các chỉ tiêu chất lượng,
vệ sinh, an toàn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các nhóm sản phẩm,
hàng hóa nhóm 2 do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành và được công nhận đủ năng
lực phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước).
3. Phát triển doanh nghiệp KH&CN, thị trường KH&CN
và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
3.1. Đánh giá việc hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN, doanh
nghiệp công nghệ cao; hình thành và phát triển các tổ chức trung gian của thị
trường KH&CN; phát triển thị trường KH&CN; các hoạt động chợ công nghệ
và thiết bị, kết nối cung cầu, sàn giao dịch công nghệ.
Trong thời gian qua, việc hình thành và phát triển doanh
nghiệp KH&CN tại Bắc Kạn gặp nhiều khó khăn, hiện nay chỉ có 01 doanh
nghiệp KH&CN. Thị trường công nghệ tại địa phương chậm phát triển, hoạt
động kết nối cung cầu, sàn giao dịch công nghệ chưa hình thành.
3.2. Thúc
đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hình thành và phát triển
doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST; không gian làm việc chung, trung tâm hỗ trợ khởi
nghiệp ĐMST, các tổ chức ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp, tổ chức thúc đẩy
kinh doanh, nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm; hoạt động đào tạo khởi
nghiệp ĐMST, các sự kiện nhằm kết nối, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST
(Techfest).
- UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày
20/4/2018 về Kế hoạch hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Bắc
Kạn giai đoạn 2018-2022, định hướng đến năm 2025; Nghị quyết số 04/NQ-HĐND ngày
05/5/2020 của HĐND tỉnh về việc quy định nội dung và mức chi từ ngân sách nhà
nước để hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn đến năm 2025.
- Triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến các nội dung
xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Xây dựng 03 chuyên mục trên
Đài phát thanh và Truyền hình, tổ chức tọa đàm chuyên đề xây dựng Hệ sinh thái
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phối hợp với Cục phát triển thị trường và Doanh
nghiệp khoa học công nghệ trao đổi, tuyên truyền về các mô hình khởi nghiệp và
đổi mới sáng tạo với trên 150 người tham gia bao gồm các doanh nghiệp, các Hợp
tác xã và học sinh, sinh viên; tổ chức Cuộc thi tìm kiếm tài năng khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo, có 13 thí sinh tham gia. Tuy nhiên, trong quá trình triển
khai hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại địa phương đã nảy sinh
một số vấn đề khó khăn, vướng mắc như còn thiếu thông tin các nguồn đầu tư, các
chương trình và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp đặc biệt là thông tin về chính
sách, hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động khởi nghiệp, thông tin về các Doanh
nghiệp KHCN, thiếu vốn để triển khai các dự án kinh doanh và khó khăn trong
việc chứng minh tiềm năng phát triển để thu hút các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm,
thiếu các chính sách ưu tiên cho hoạt động khởi nghiệp như việc hỗ trợ phát
triển khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa đủ mạnh, chưa có các quỹ hỗ trợ doanh
nghiệp khởi nghiệp. Việc kết nối các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo của tỉnh thúc đẩy hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong hệ
sinh thái khởi nghiệp chưa hiệu quả.
4. Công tác đẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục
đích hòa bình; đảm bảo an toàn bức xạ và hạt nhân
Thời gian qua công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ
hạt nhân được tăng cường, quản lý chặt chẽ, nhất là việc thanh tra, kiểm tra
các cơ sở sử dụng thiết bị bức xạ trên địa bàn, giúp cho công tác đảm bảo an
toàn của các tổ chức, cá nhân có sử dụng các thiết bị bức xạ trong y tế và sản
xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Năng lượng và nguyên
tử [6].
5. Thông tin và thống kê KH&CN
- Công tác thông tin tư liệu, thống kê KHCN được đẩy mạnh
trong thời gian qua, bằng nhiều hình thức tuyên truyền: Qua trang website của
Sở Khoa học và Công nghệ, qua phương tiện thông tin đại chúng (Đài PTTH
tỉnh, Báo Bắc Kạn), cấp nông lịch hàng năm cho 08 huyện, thành phố. Qua đó
đã giúp cho việc tuyên truyền, giới thiệu kết quả nghiên cứu, ứng dụng và
chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, góp
phần đưa nhanh các thông tin khoa học và công nghệ tới người dân, nhất là đồng
bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn về tiếp cận thông tin
nói chung, thông tin về khoa học và công nghệ nói riêng [7].
- Giai đoạn 2015 - 2020 đã thực hiện 4 cuộc điều tra thống
kê về khoa học và công nghệ trong đó 01 cuộc điều tra về nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ năm 2018, 01 cuộc điều tra nhận thức công chúng về khoa
học và công nghệ năm 2018, 01 cuộc điều tra về hội nhập quốc tế về KH&CN
năm 2020, 01 cuộc điều tra nghiên cứu và phát triển năm 2020. Thực hiện 05 báo
cáo thống kê khoa học và công nghệ.
6. Tình hình thực hiện các dự án sử dụng vốn đầu tư phát
triển cho KH&CN
Đầu tư cho khoa học và công nghệ nói chung, đầu tư tăng
cường tiềm lực nói riêng cho lĩnh vực khoa học và công nghệ trong giai đoạn
2016-2020 của tỉnh Bắc Kạn mới đạt 0,46% so với tổng chi ngân sách hàng năm của
địa phương, giảm 0,12% so với giai đoạn 2010-2015 (0,58%).
Giai đoạn 2016-2020, Trung ương cấp cho tỉnh Bắc Kạn 41,0 tỷ
đồng để đầu tư phát triển. Trong đó, ngành khoa học tỉnh Bắc Kạn đã đầu tư
18,756 tỷ đồng để triển khai mới 01 dự án (phê duyệt năm 2018) để mua sắm thêm
các trang thiết bị phục vụ cho công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng trên địa
bàn tỉnh, trả nợ khối lượng hoàn thành của một số dự án dự án chuyển tiếp từ
giai đoạn trước (Đầu tư xây dựng Trụ sở Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng,
dự án tăng cường tiềm lực của Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
thuộc Sở Khoa học và Công nghệ). Số kinh phí còn lại tỉnh cấp cho các dự án đầu
tư để tăng cường cơ sở vật chất cho một số cơ quan, đơn vị khác trong tỉnh.
Với mức đầu tư thấp như trên, hiện nay cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác chuyên môn ngành khoa học và công nghệ chưa đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ được giao, nhất là trong thời kỳ thực hiện cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ 4 và thời kỳ đẩy mạnh triển khai chương trình khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo; đẩy nhanh phê duyệt tự chủ cho các Tổ chức khoa học và công nghệ
công lập; đầu tư các phòng thí nghiệm, kiểm nghiệm đáp ứng các tiêu chuẩn thì
việc đầu tư tăng cường tiềm lực cho các Trung tâm ở giai đoạn 2021-2025 là hết
sức cần thiết. Đối với tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016-2020, Trung ương hỗ trợ đầu
tư từ nguồn đầu tư phát triển cho tỉnh Bắc Kạn giảm dần, bình quân 8,2 tỷ
đồng/năm là thấp, ảnh hưởng tới việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm
tăng cường tiềm lực cho ngành KH&CN. Do vậy, giai đoạn 2021-2025, đề nghị
Chính phủ, Bộ KH&CN tăng đầu tư cho tỉnh Bắc Kạn khoảng 81,0 tỷ cho các dự
án tăng cường tiềm lực.
7. Các hoạt động hỗ trợ sản xuất, kinh doanh
7.1. Hoạt động ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực
công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa, xác lập và phát
triển tài sản trí tuệ, thúc đẩy ĐMST của doanh nghiệp, ngành, địa phương. Đánh
giá tổng hợp và chia theo nguồn:
Năm 2019, 2020 tỉnh giành một phần kinh phí (178 triệu đồng)
cho triển khai các hoạt động khởi nghiệp, ĐMST. Năm 2020, tỉnh sẽ xem xét điều
chỉnh Kế hoạch hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm
2025 phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.
7.2. Hoạt động sở hữu trí tuệ: Trong phạm vi quản lý của mình, đánh giá kết
quả, thành tựu, tồn tại, hạn chế các hoạt động sau:
Công tác Sở hữu trí tuệ bước đầu hoạt động có hiệu quả, góp
phần nâng cao giá trị, hiệu quả và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về Sở
hữu trí tuệ tại địa phương thông qua việc triển khai tập huấn, hướng dẫn cho
các tổ chức, cá nhân và người dân về đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đăng
ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý , Nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm đặc
thù của địa phương[8].
7.3. Hoạt động Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng
- Thường xuyên tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn đo lường chất lượng cho các cơ quan, đơn vị
có liên, tích cực tham gia góp ý đối với các văn bản pháp luật của địa phương
do các Sở, ngành soạn thảo có liên quan đến công tác tiêu chuẩn đo lường chất
lượng.
- Duy trì tra cứu kho tiêu chuẩn, hàng tháng tra cứu các
TCVN phục vụ công tác chuyên môn, đồng thời hỗ trợ các đơn vị tra cứu TCVN khi
có yêu cầu. Thường xuyên cập nhật tin cảnh báo về hàng rào kỹ thuật trong
thương mại vào trang web của Sở KHCN và cập nhật tin cảnh báo từ mạng lưới TBT
Việt Nam.
- Hướng dẫn đăng ký quyền sử dụng mã số, mã vạch cho 37 cơ
sở trên địa bàn tỉnh với các sản phẩm măng, miến, rượu, thịt gà, nấm...; hướng
dẫn 09 doanh nghiệp xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở cho các sản phẩm là
vàng thương phẩm; hướng dẫn công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy cho sản phẩm
gạch không nung.
- Thực hiện tốt công tác quản lý về tiêu chuẩn đo lường chất
lượng tại địa phương, tăng cường kiểm tra chuyên ngành về tiêu chuẩn đo lường
chất lượng, góp phần nâng cao nhận thức của các cơ sở kinh doanh, chấp hành
đúng quy định về đo lường chất lượng.
7.4. Kết quả triển khai các giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ 4 (theo tinh thần Chỉ thị số 16/CT-TTg); tình hình xây
dựng và thực hiện kế hoạch cải thiện chỉ số về ĐMST (GII); mức độ sẵn sàng cho
sản xuất tương lai theo Bộ chỉ số của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) thuộc
trách nhiệm của Bộ, ngành, địa phương mình.
Ngày 05/5/2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch
số 185- KH/TU thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ
trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Ngày 29/6/2020, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số
365/KH-UBND thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP Ngày 17/4/2020 của Chính phủ và Kế
hoạch số 185- KH/TU ngày 05/5/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị
quyết số 52- NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động
tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
7.5. Các quy định hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nhận hỗ trợ của
NSNN, các hoạt động tài trợ, cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh vay
vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để ươm tạo công nghệ, phát triển
ý tưởng, mô hình kinh doanh.
- HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 04/2020/NQ-HĐND ngày
05/5/2020 quy định nội dung và mức chi từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ hệ sinh
thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025.
- Hiện nay các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp,
ĐMST tại địa phương gặp khó khăn, do doanh nghiệp khởi nghiệp còn ít, quy mô
hoạt động của doanh nghiệp nhỏ lẻ, manh mún.
8. Hoạt động của Quỹ phát triển KH&CN các cấp
Giai đoạn 2016-2020, sau khi xem xét quy định của Nhà nước
về điều kiện thành lập quỹ, khả năng nguồn lực của địa phương, tỉnh Bắc Kạn
thấy rằng địa phương chưa đủ các điều kiện thành lập và duy trì quản lý quỹ, do
vậy, tỉnh chưa thành lập Quỹ phát triển KH&CN các cấp tại địa phương.
9. Công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, dịch vụ khoa
học và công nghệ của Trung tâm ứng dụng Khoa học-Công nghệ và Tiêu chuẩn Đo
lường Chất lượng
Giai đoạn từ 2016-2020 là thời điểm đơn vị có sự thay đổi
lớn về mặt tổ chức, cụ thể: Trung tâm Ứng dụng Khoa học - Công nghệ và Tiêu
chuẩn Đo lường Chất lượng được hợp nhất trên cơ sở 02 Trung tâm ứng dụng tiến
bộ KH&CN và Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Ngay sau khi
thành lập đơn vị đã nhanh chóng ổn định tổ chức và thực hiện hoàn thành các
nhiệm vụ mà Sở KHCN và tỉnh giao.
Kết quả bước đầu, Trung tâm đã thể hiện vai trò của đơn vị
nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch vụ tiêu chuẩn
đo lường chất lượng tại địa phương; góp phần nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ viên chức làm công tác khoa học, đồng thời đưa nhanh các
tiến bộ khoa học và công nghệ mới tới người dân trên địa bàn tỉnh như: Chuyển
giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, cung ứng giống cây trồng như: 7,5 ha mận
sớm tại xã Yên Thượng, huyện Chợ Đồn, 02 ha cây đinh lăng, 02 ha đào chín sớm
tại xã Khang Ninh, 03 ha trồng củ hoa giống, 01 ha trồng cam tại xã Yến Dương,
huyện Ba Bể. Chủ trì triển khai dự án Cải tạo vườn mận tại huyện Ba Bể, Pác
Nặm, đề tài ứng dụng KHCN trong phát triển một số loại hoa lan rừng có giá trị
kinh tế tại vườn Quốc gia Ba Bể; phối hợp với Trung tâm dịch vụ nông nghiệp
huyện Chợ Đồn thực hiện dự án Phát triển một số cây trồng hàng hóa nhằm góp
phần nâng cao thu nhập cho các nông hộ trong việc xây dựng nông thôn mới tại xã
Tân Lập, Quảng Bạch huyện Chợ Đồn; chuyển giao khoa học kỹ thuật theo chương
trình 135 và 30a cho 6 xã được 14 lớp tập huấn với 750 nông dân; tổ chức tập
huấn kỹ thuật được 21 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân
trên địa bàn tỉnh. Hướng dẫn, chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm cho các địa
phương trong tỉnh: Số lượng 15 mô hình. Làm chủ được công nghệ nuôi cấy mô để
sản xuất giống một số cây trồng nông nghiệp như: Khoai môn Bắc Kạn, lan kim
tuyến, ba kích, chuối...; đã kiểm định được 6.248 phương tiện đo nhóm 2 các
loại (gồm cột đo nhiên liệu, cân kỹ thuật, công tơ điện...); thử nghiệm 835 mẫu
vật liệu xây dựng các loại phục vụ các cá nhân, tổ chức; đo điện trở tiếp địa
được 140 điểm đo tại các cửa hàng xăng dầu và các công trình xây dựng cơ bản
trên địa bàn tỉnh.
Đối với việc thực hiện phương án tự chủ về tài chính theo
yêu cầu của tỉnh: Năm 2019, tổng thu phí, lệ phí: (Năm đầu tiên thực hiện
phương án tự chủ): 293.000.000 đồng/220.000.000 đồng (kế hoạch được giao), vượt
chỉ tiêu thu ngân sách do cấp trên giao 33%, đáp ứng tự chủ 12% kinh phí chi
thường xuyên của đơn vị.
10. Tình hình phân bổ và kết quả thực hiện dự toán ngân sách
cho hoạt động KH&CN
Hàng năm, căn cứ vào nguồn kinh phí Trung ương cấp, tỉnh Bắc
Kạn đã phân bổ kinh phí từ nguồn sự nghiệp KH&CN tỉnh để thực hiện các
nhiệm vụ KH&CN tại địa phương; việc sử sử dụng nguồn ngân sách nhà nước cho
KH&CN về cơ bản đúng mục đích, có hiệu quả. Các dự án đầu tư phát triển và
các nhiệm vụ KH&CN được triển khai và giải ngân theo đúng kế hoạch. Tuy
nhiên, do nguồn kinh phí hàng năm ít, giai đoạn 2016-2020 đầu tư sự nghiệp khoa
học và công nghệ khoảng 62,204 tỷ đồng; đầu tư phát triển 41,0 tỷ đồng, nên
tỉnh chưa chủ động được trong việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm các công
trình phục vụ công tác quản lý và triển khai các hoạt động KH&CN; chưa cấp
kinh phí cấp cho hoạt động KH&CN cấp huyện.
Mặc dù tỉnh đã phân bổ nguồn kinh phí thực hiện hoạt động
KH&CN không thấp hơn nguồn do Trung ương giao. Tuy nhiên, đầu tư cho khoa
học và công nghệ của địa phương thấp, giai đoạn 2016-2020 chỉ đạt 0,46% so với
tổng chi ngân sách của địa phương. Tình hình phân bổ kinh phí sự nghiệp
KH&CN giai đoạn 2016- 2020 như sau:
Bảng tổng hợp kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ giai
đoạn 2016-2020
ĐVT: Tỷ đồng
|
TT
|
Năm
|
Nguồn TW giao
|
Địa phương phân bổ
|
Ghi chú
|
|
Sự nghiệp KH&CN
|
Đầu tư phát triển
|
Sự nghiệp KH&CN
|
Đầu tư phát triển
|
|
1
|
2016
|
11,261
|
10,0
|
11,261
|
10,0
|
|
|
2
|
2017
|
11,580
|
10,0
|
11,580
|
10,0
|
|
|
3
|
2018
|
11,627
|
7,0
|
11,627
|
7,0
|
|
|
4
|
2019
|
12,066
|
7,0
|
12,066
|
7,0
|
|
|
5
|
2020
|
12,592
|
7,0
|
15,670
|
7,0
|
Địa phương giao tăng 24,4% so với TW giao
|
|
|
Tổng
|
59,126
|
41,0
|
62,204
|
41,0
|
|
11. Đánh giá chung hoạt động KH&CN 05 năm 2016-2020
Hoạt động KH&CN của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016-2020 đã
thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần tích cực trong việc thực hiện
thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt
trong 5 năm qua, tỉnh đã đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực
KH&CN, sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy chế quản lý, quy định định mức
tài chính đối với nhiệm vụ KH&CN, đổi mới sáng tạo; quản lý hệ thống chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008, chuyển đổi sang hệ thống
QLCL theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001: 2015 tại các cơ quan hành chính
nhà nước đến cấp tỉnh, triển khai HTQLCL theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO
9001:2015 tới toàn bộ các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Nhiều kết quả
của đề tài/dự án ứng dụng thành công trong thực tiễn đã góp phần tạo sản phẩm
mới, có giá trị kinh tế; xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị. Đầu tư
cho hoạt động khoa học và công nghệ có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải,
bước đầu tạo thành vùng sản xuất hàng hóa, có giá trị kinh tế tại địa phương,
như các mô hình sản xuất cam sành Vietgap, mô hình sản xuất chè shan tuyết hữu
cơ, Vietgap; mô hình rau ứng dụng công nghệ cao, mô hình lò sấy thuốc lá tiết
kiệm nhiên liệu...
Hoạt động duy trì và phát triển quyền sở hữu trí tuệ cho các
sản phẩm nông nghiệp mang thương hiệu của tỉnh cũng được quan tâm: Phát triển
chỉ dẫn địa lý Quýt Bắc Kạn; Nhãn hiệu tập thể Miến dong Bắc Kạn; Gạo nếp Khẩu
Nua Lếch Ngân Sơn, Gạo Bao Thai Chợ Đồn, xây dựng và được cấp mới Nhãn hiệu tập
thể Chè Shan tuyết Bằng Phúc, nhờ đó các sản phẩm đặc sản của địa phương đã
được quảng bá rộng rãi, được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh đánh giá cao.
Chương trình khởi nghiệp, ĐMST bước đầu đã được quan tâm,
triển khai các hoạt động thiết thực như triển khai cuộc thi, tổ chức tọa đàm về
khởi nghiệp, ĐMST, hỗ trợ doanh nghiệp, HTX về phát triển sở hữu trí tuệ ... đã
mang lại hiệu quả tốt, góp phần tuyên truyền tới toàn thể các ngành, các cấp,
các doanh nghiệp, HTX và nhân dân nắm bắt được tầm quan trọng của khởi nghiệp,
ĐMST trong việc phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
III. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
1. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động khoa học và công
nghệ giai đoạn 2016-2020 còn một số hạn chế như:
- Việc ứng dụng và nhân rộng một số ít đề tài, dự án thành
công vào thực tiễn còn gặp khó khăn; hoạt động KH&CN cấp huyện còn yếu và
còn nhiều bất cập trong công tác quản lý nhà nước.
- Cơ chế quản lý tài chính; quản lý, xử lý tài sản hình
thành sau khi triển khai các nhiệm vụ KH&CN còn một số bất cập (NĐ
70/2018/NĐ-CP).
- Dịch vụ KH&CN chưa phát triển, hầu như các hoạt động
chuyển giao tiến bộ KH&CN tại địa phương còn ít, nguồn thu từ dịch vụ
KH&CN thấp, nên khả năng tự chủ của tổ chức KH&CN công lập gặp khó
khăn.
- Các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư nghiên cứu khoa học
và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng
cạnh tranh sản phẩm, hàng hóa. Việc đổi mới công nghệ, đăng ký hợp đồng chuyển
giao công nghệ còn hạn chế.
- Các hoạt động ĐMST, chương trình khởi nghiệp chưa được đẩy
mạnh; thị trường khoa học và công nghệ chưa phát triển, số lượng doanh
nghiệp đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp ít. Hoạt động sử dụng, khai thác tài
sản trí tuệ còn hạn chế, chưa hỗ trợ tích cực cho thúc đẩy năng suất, chất
lượng của sản phẩm, hàng hóa, khai thác tiềm năng thế mạnh vùng, địa phương.
- Chưa đánh giá được đóng góp của chỉ số TFP (chỉ số năng
suất tổng hợp) của hoạt động khoa học và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế tại
địa phương.
2. Các nguyên nhân chủ yếu
2.1. Khách quan
- Điều kiện địa lý, khí hậu, đất đai với địa hình phức tạp,
hạn hán, lũ lụt, gió lốc, mưa đá, dịch bệnh thường xuyên xảy ra hằng năm. Hệ
thống giao thông còn khó khăn đã ảnh hưởng tới kết quả hoạt động khoa học và
công nghệ tại địa phương.
- Điều kiện kinh tế của địa phương còn khó khăn, nguồn thu
ngân sách thấp.
2.2. Chủ quan
- Công tác tuyên truyền về vai trò, vị trí của khoa học và
công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương còn hạn chế, nhất là
việc tuyên truyền cho các doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và đổi mới
công nghệ trong sản xuất chưa được quan tâm đúng mức.
- Tỉnh chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút
nguồn nhân lực có trình độ cao về công tác.
- Do là tỉnh miền núi khó khăn, nên tỉnh chưa có điều kiện
để đầu tư cho tăng cường tiềm lực KH&CN tại địa phương, việc tăng cường đầu
tư tiềm lực khoa học công nghệ chủ yếu do nguồn kinh phí từ Trung ương hỗ trợ.
- Nguồn nhân lực cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh còn thiếu
và không đồng đều giữa các ngành. Lao động ở nông thôn chủ yếu theo lao động
truyền thống, hầu hết chưa qua đào tạo.
- Trình độ của người dân còn hạn chế, kinh tế khó khăn nên
đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất và đời sống.
B. KHUNG KẾ HOẠCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH BẮC KẠN 5 NĂM
2021-2025
1. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025
1. Quan điểm và tư duy mới về phát triển
- Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế -
xã hội và bảo vệ tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư
trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng,
năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa
học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển
khoa học và công nghệ của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng.
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế
quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển khoa
học và công nghệ; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ
chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương.
- Đầu tư nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát
triển bền vững, trực tiếp nâng cao dân trí, phát triển kinh tế-xã hội; tỉnh xây
dựng các chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học
và công nghệ.
- Chủ động, tích cực hợp tác khoa học và công nghệ với các
Trường Đại học, Viện nghiên cứu trong và ngoài nước, từng bước hội nhập quốc tế
về khoa học và công nghệ.
2. Mục tiêu
- Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Bảo đảm cung cấp luận
cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển
kinh tế-xã hội của tỉnh, ứng dụng và phát triển một số công nghệ có tác động
đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm có
tính cạnh tranh cao trên thị trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và
công nghệ phục vụ thiết thực nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
giai đoạn 2021-2025.
- Xây dựng được ít nhất 03 mô hình ứng dụng công nghệ cao
trong sản xuất; mô hình sản xuất nông lâm nghiệp đối với sản phẩm chủ lực của
địa phương; hỗ trợ 03 Doanh nghiệp đổi mới công nghệ, 04 doanh nghiệp khởi
nghiệp ĐMST, 30 hồ sơ đăng ký bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ;
- Triển khai có hiệu quả Đề án: truy xuất nguồn gốc; Đề án:
Tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao
năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến
năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh;
- Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ
cao, tâm huyết, trung thực, tận tụy. Phát triển các tổ chức khoa học và công
nghệ đáp ứng nhiệm vụ nghiên cứu và ứng dụng. Tăng cường phát triển các doanh
nghiệp khoa học và công nghệ.
3. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp
3.1. Đổi mới tư duy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,
quản lý Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính
quyền về vai trò của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Xác định việc phát huy và phát triển khoa học và công
nghệ là một nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền trên địa bàn
tỉnh; là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng của người đứng đầu cấp
ủy, chính quyền từ tỉnh đến huyện. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công
nghệ với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và
từng cấp; kế hoạch ứng dụng và phát triển khoa học và công nghệ là một nội dung
của quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương.
3.2. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ
chức hoạt động khoa học và công nghệ ở cấp tỉnh và cấp cơ sở; nâng cao hiệu quả
hoạt động khoa học và công nghệ
3.2.1. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và
cơ chế tài chính
- Đổi mới cơ chế xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách đối
với hoạt động khoa học và công nghệ phù hợp với đặc thù của lĩnh vực khoa học
và công nghệ và nhu cầu phát triển của ngành, địa phương; bảo đảm đồng bộ, gắn
kết giữa định hướng phát triển dài hạn, chương trình phát triển trung hạn với
kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ hằng năm.
- Điều chỉnh phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa
học và công nghệ theo hướng căn cứ vào kết quả, hiệu quả sử dụng kinh phí khoa
học và công nghệ của địa phương, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu
quả.
- Đẩy mạnh thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ và cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm khoa học
và công nghệ cuối cùng theo kết quả đầu ra. Xây dựng cơ chế đặc thù trong quản
lý, sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo
hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm
vụ khoa học và công nghệ. Thành lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Tăng
cường công tác kiểm tra giám sát, hình thành cơ chế đánh giá độc lập, tư vấn,
phản biện, giám định xã hội đối với các hoạt động khoa học và công nghệ.
- Có cơ chế thúc đẩy, đổi mới công nghệ theo hướng ứng dụng
công nghệ mới, công nghệ hiện đại; hỗ trợ chuyển giao công nghệ tiên tiến cho
các doanh nghiệp; chấm dứt và ngăn chặn có hiệu quả việc nhập công nghệ lạc
hậu, công nghệ gây nguy hại đến sức khỏe con người, tài nguyên, môi trường,
kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh tại địa phương.
- Huy động mạnh mẽ nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn nước
ngoài đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ. Nâng tổng đầu tư xã hội cho
khoa học và công nghệ đạt 1,5% GDP vào năm 2020, trên 2% GDP vào năm 2025.Tăng
đầu tư của Nhà nước cho khoa học và công nghệ bảo đảm tối thiểu 1,5-2% tổng chi
ngân sách nhà nước hằng năm. Có cơ chế sử dụng vốn sự nghiệp kinh tế hỗ trợ đổi
mới và chuyển giao công nghệ. Khuyến khích thành lập hoặc liên kết với nhà nước
thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm đối với các hoạt động nghiên cứu phát triển
công nghệ mới, công nghệ cao.
3.2.2. Đổi mới hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ
Quy hoạch, sắp xếp lại tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp
với mục tiêu và định hướng phát triển nhiệm vụ khoa học và công nghệ của địa
phương trong từng giai đoạn. Xây dựng các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng phục
vụ cho việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ; phát
triển hệ thống các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, từng bước đáp ứng nhu
cầu phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở địa phương. Đẩy mạnh công tác
tự chủ đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
3.2.3. Đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức khoa học và
công nghệ
-
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức hoạt
động khoa học và công nghệ phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học và công
nghệ tại địa phương;
- Tăng cường sự liên kết giữa các tổ chức khoa học và công
nghệ với doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, đổi
mới công nghệ, đào tạo nhân lực.
- Giao quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì nhiệm vụ khoa
học và công nghệ, đồng thời có cơ chế phân chia hợp lý lợi ích giữa Nhà nước,
cơ quan chủ trì và tác giả. Tạo điều kiện để các tổ chức khoa học và công nghệ
được vay vốn từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ hoặc các tổ chức
tín dụng.
3.2.4. Đổi mới quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, cơ chế,
chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ
Quy hoạch phát triển nhân lực khoa học và công nghệ gắn chặt
chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội; đáp ứng nhu cầu phát triển của
địa phương tới năm 2025, tầm nhìn 2030 theo chiến lược phát triển nguồn nhân
lực tỉnh Bắc Kạn.
Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng,
đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia giỏi,
có nhiều đóng góp. Tạo môi trường thuận lợi, điều kiện cơ sở vật chất để cán bộ
khoa học và công nghệ phát triển tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá
trị lao động sáng tạo của mình. Nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất của
cán bộ quản lý khoa học và công nghệ ở địa phương.
Có chính sách trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ khoa học và
công nghệ đầu ngành, cán bộ khoa học và công nghệ được giao chủ trì nhiệm vụ
khoa học quan trọng của tỉnh, cán bộ khoa học và công nghệ trẻ tài năng. Chủ
động phát hiện và đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ từ các trường phổ thông, cao
đẳng, đại học.
Có chính sách hỗ trợ cán bộ KH&CN đi làm việc và thực
tập có thời hạn tại các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp ở nước
ngoài để giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có ý nghĩa của tỉnh.
Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tác giả các công
trình nghiên cứu khoa học và công nghệ; có chính sách đãi ngộ, khen thưởng đối
với tác giả các công trình được công bố quốc tế, giải thưởng khoa học quốc gia,
các sáng chế được bảo hộ trong và ngoài nước.
Đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm
cán bộ khoa học và công nghệ. Có chính sách tiếp tục sử dụng cán bộ khoa học và
công nghệ có trình độ cao đã hết tuổi lao động có tâm huyết và có sức khỏe làm
việc vào công tác nghiên cứu khoa học.
3.2.5. Kiện toàn, nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước
về khoa học và công nghệ
-
Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo hướng
tinh gọn, tập trung vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế,
chính sách; tăng cường điều phối liên ngành, liên vùng. Phân định rõ trách
nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh
và huyện; gắn với trách nhiệm của người đứng đầu Sở, ngành trong tỉnh và chính
quyền các cấp ở địa phương.
- Điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ quản lý khoa học
và công nghệ của các sở, ngành tại địa phương. Trong đó tăng cường phân công, phân
cấp quyền chủ động xây dựng và phê duyệt kế hoạch, quyền đề xuất phân bổ ngân
sách khoa học và công nghệ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực
hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
- Nâng cao năng lực, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động và tự chủ của đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.
3.3. Triển khai các định hướng nhiệm vụ khoa học và công
nghệ chủ yếu
3.3.1. Tăng cường nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ
hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đảm bảo quốc
phòng, an ninh và mục đích công cộng
Quan tâm đúng mức nghiên cứu cơ bản, điều tra đánh giá nguồn
tài nguyên thiên nhiên mà tỉnh có lợi thế; đẩy mạnh ứng dụng nghiên cứu cơ bản
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chú trọng
phát triển một số lĩnh vực liên ngành giữa khoa học tự nhiên với khoa học kỹ
thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển bền vững.
Khoa học xã hội và nhân văn tập trung vào nghiên cứu lý luận
và tổng kết thực tiễn đổi mới kinh tế- xã hội; chú trọng các nghiên cứu về mô
hình và chiến lược phát triển, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, xu thế phát triển xã hội, văn hóa, lịch sử, dân tộc, tôn giáo phục
vụ xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3.3.2. Ưu tiên phát triển một số công nghệ tiên tiến, công
nghệ cao
- Chú trọng tiếp nhận, ứng dụng và phát triển công nghệ tiên
tiến trong sản xuất, kinh doanh, công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông lâm
nghiệp, chế biến nông sản, y- dược, bảo vệ môi trường.
- Phát triển công nghệ môi trường: xử lý nước thải, chất
thải rắn, chất thải nguy hại, khí thải, ứng dụng công nghệ sản xuất sạch, công
nghệ thân thiện với môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Phát triển công nghệ
tái chế chất thải.
3.3.3. Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ
trong các ngành, lĩnh vực tại địa phương
Dự kiến giai đoạn 2021-2025 triển khai 40-50 đề tài, dự án
phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tập trung chủ yếu một số nội
dung sau:
- Tiếp tục phát triển khoa học và công nghệ nông nghiệp
(Giống cây trồng vật nuôi, kỹ thuật canh tác, công nghệ bảo quản, chế biến, hỗ
trợ các sản phẩm thuộc đề án OCOP; sản phẩm nông lâm nghiệp chủ lực của tỉnh
v.v).
- Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, nhất là trong trong
lĩnh vực y tế. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong chế biến, sản
xuất thuốc từ dược liệu, và thuốc y học cổ truyền.
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng về ứng phó biến đổi khí hậu,
bảo vệ môi trường.
- Chú trọng ứng dụng khoa học và công nghệ để khai thác có
hiệu quả tiềm năng lợi thế và điều kiện đặc thù của từng vùng sinh thái, từng
bước tạo được các sản phẩm chủ lực cho từng vùng sinh thái.
4. Phát huy và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ
- Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho các trung tâm nghiên
cứu, ứng dụng trên địa bàn tỉnh đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy nhanh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tập trung nguồn lực xây dựng, quy hoạch các khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh; các trung tâm nghiên cứu gắn với các
phòng thí nghiệm hiện đại trong tỉnh đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, triển
khai, quản lý và sản xuất.
- Đẩy mạnh phát triển các doanh nghiệp khoa học và công
nghệ; hỗ trợ các doanh nghiệp thành lập tổ chức nghiên cứu và phát triển.
- Xây dựng hệ thống các giải pháp để hỗ trợ phát triển thị
trường công nghệ, ngăn chặn nhập các công nghệ lạc hậu.
- Phát triển hạ tầng thông tin và thống kê khoa học và công
nghệ trong tỉnh từng bước hiện đại.
5. Phát triển thị trường khoa học và công nghệ
- Tiếp tục tuyên truyền, thực hiện pháp luật về sở hữu trí
tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản
phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả cho việc vận hành thị trường khoa học
và công nghệ. Có chế tài xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong giao dịch,
mua bán các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ.
- Phát triển các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, môi
giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá và định giá công nghệ.
- Xây dựng quy định và tiêu chí đánh giá, định giá tài sản
trí tuệ, chuyển nhượng, góp vốn vào doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ. Hoàn
thiện các chính sách về hỗ trợ xác lập và bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, xây
dựng thương hiệu và thương mại hóa sản phẩm. Khuyến khích thành lập tổ chức
chuyển giao công nghệ trên địa bàn tỉnh.
- Xây dựng bộ chỉ số thống kê, đo lường kết quả và hiệu quả
hoạt động khoa học và công nghệ của các ngành và tỉnh. Đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong việc cung cấp, trao đổi, giao dịch thông tin về khoa học
công nghệ.
- Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu đổi mới
công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của hoạt động sản xuất,
kinh doanh (dự kiến hỗ trợ 3-5 doanh nghiệp);
- Xây dựng hệ thống các giải pháp để hỗ trợ phát triển thị
trường trong tỉnh, ngăn chặn nhập khẩu các sản phẩm, công nghệ lạc hậu.
7. Hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
- Tranh thủ các chương trình hỗ trợ, tài trợ từ các tổ chức
phi chính phủ, các quốc gia, tài chính... cho hoạt động nghiên cứu, triển khai
khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh; liên kết đào tạo nhân lực khoa học và
công nghệ cho tỉnh.
- Tăng cường hợp tác với các Trường Đại học, các Viện nghiên
cứu trong và ngoài nước. Có cơ chế, chính sách ưu đãi về đầu tư, đất đai, cơ sở
hạ tầng, thủ tục hành chính... để tạo đột phá trong thu hút các chuyên gia, nhà
khoa học và công nghệ đến công tác tại tỉnh.
- Đẩy mạnh Hợp tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công
nghệ đối với các nước trên thế giới và khu vực, như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái
Lan, v.v...
8. Tăng cường công tác quản nhà nước về Công nghệ, Tiêu
chuẩn đo lường chất lượng, Sở hữu công nghiệp, an toàn bức xạ hạt nhân
- Triển khai thực hiện đồng bộ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn
kỹ thuật; Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa; Luật Đo lường; các Chương trình,
Đề án của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ...
- Tăng cường kiểm định các loại phương tiện đo thuộc danh
mục bắt buộc phải kiểm định;
- Đẩy mạnh tuyên truyền về Sở hữu công nghiệp để nâng cao
nhận thức cho người dân và doanh nghiệp;
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp
luật trong lĩnh vực an toàn bức xạ hạt nhân.
II. Kiến nghị
- Bộ KH&CN tiếp tục quan tâm đầu tư cho khoa học và công
nghệ vùng miền núi, khó khăn.
- Bộ KH&CN xem xét đề xuất với Chính phủ sửa đổi, bổ
sung Nghị định 70/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định việc quản lý, sử dụng tài
sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học
và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
Trên đây là Khung Kế hoạch Khoa học và Công nghệ 5 năm
2021-2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn./.
|
Nơi nhận:
Gửi bản
giấy + bản điện
tử:
- Bộ KH&CN;
Gửi bản điện tử:
- TT. Tỉnh ủy, HĐND tỉnh;
- CT, PCT UBND tỉnh
(Bà Hoa);
- Sở KH&CN;
- Sở KH&ĐT;
- Sở Tài chính;
- CVP, PCVP (Ô.Thất);
- Lưu: VT, HàNN.
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Đỗ Thị Minh
Hoa
|
|
FILE ĐƯỢC ĐÍNH
KÈM THEO VĂN BẢN

|