|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 18/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 12 tháng 02 năm 2026
|
BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG
Bộ luật
Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật
Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15 ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
2. Luật
Dân số số 113/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
3. Luật
Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Căn cứ
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Bộ luật Lao động[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Bộ luật
Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người
lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác
liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Người
lao động, người học nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao
động.
2. Người
sử dụng lao động.
3. Người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
4. Cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Bộ
luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người
lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được
trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
Độ tuổi
lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại
Mục 1 Chương XI của Bộ luật này.
2. Người
sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia
đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa
thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ.
3. Tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở
tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động
thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp
luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn
cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
4. Tổ
chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại
diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ
lao động.
5. Quan
hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động,
trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của
các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động
cá nhân và quan hệ lao động tập thể.
6. Người
làm việc không có quan hệ lao động là người làm việc không trên cơ sở thuê
mướn bằng hợp đồng lao động.
7. Cưỡng
bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác
để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ.
8.
Phân biệt đối xử trong lao động là hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên
dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc,
giới tính, độ tuổi, tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng,
chính kiến, khuyết tật, trách nhiệm gia đình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm
HIV hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, tổ chức của người
lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc
làm hoặc nghề nghiệp.
Việc phân
biệt, loại trừ hoặc ưu tiên xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các
hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương thì không
bị xem là phân biệt đối xử.
9. Quấy
rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ
người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn
hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc
theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động.
Điều 4. Chính sách của Nhà nước về lao động
1. Bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người làm việc không
có quan hệ lao động; khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động
có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động.
2. Bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, quản lý lao động đúng
pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội.
3. Tạo điều
kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học
nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động; áp
dụng một số quy định của Bộ luật này đối với người làm việc không có quan hệ
lao động.
4. Có
chính sách phát triển, phân bố nguồn nhân lực; nâng cao năng suất lao động; đào
tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; hỗ trợ
duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động; ưu đãi đối
với người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của
cách mạng công nghiệp, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5. Có
chính sách phát triển thị trường lao động, đa dạng các hình thức kết nối cung,
cầu lao động.
6. Thúc đẩy
người lao động và người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng
quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
7. Bảo đảm
bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động
nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành
niên.
Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động
1. Người
lao động có các quyền sau đây:
a) Làm việc;
tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ
nghề nghiệp; không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại
nơi làm việc;
b) Hưởng
lương phù hợp với trình độ, kỹ năng nghề trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng
lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn, vệ
sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có hưởng lương và được hưởng
phúc lợi tập thể;
c) Thành
lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động, tổ chức nghề
nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại,
thực hiện quy chế dân chủ, thương lượng tập thể với người sử dụng lao động và
được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;
d) Từ chối
làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe trong
quá trình thực hiện công việc;
đ) Đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động;
e) Đình
công;
g) Các
quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người
lao động có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực
hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;
b) Chấp
hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám
sát của người sử dụng lao động;
c) Thực
hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 6. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
1. Người
sử dụng lao động có các quyền sau đây:
a) Tuyển
dụng, bố trí, quản lý, điều hành, giám sát lao động; khen thưởng và xử lý vi phạm
kỷ luật lao động;
b) Thành
lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động, tổ chức
nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu
tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích ký kết thỏa ước lao động
tập thể; tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đối thoại, trao đổi
với tổ chức đại diện người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động;
d) Đóng cửa
tạm thời nơi làm việc;
đ) Các
quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người
sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực
hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;
tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động;
b) Thiết
lập cơ chế và thực hiện đối thoại, trao đổi với người lao động và tổ chức đại
diện người lao động; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;
c) Đào tạo,
đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nhằm duy trì, chuyển đổi
nghề nghiệp, việc làm cho người lao động;
d) Thực
hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng
và thực hiện các giải pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Tham
gia phát triển tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, công nhận kỹ năng
nghề cho người lao động.
Điều 7. Xây dựng quan hệ lao động
1. Quan hệ
lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự
nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
nhau.
2. Người
sử dụng lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và người lao động, tổ
chức đại diện người lao động xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định
với sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Công
đoàn tham gia cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ xây dựng quan hệ
lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định; giám sát việc thi hành quy định của pháp
luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
4. Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức
đại diện của người sử dụng lao động khác được thành lập theo quy định của pháp
luật có vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động, tham gia xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động
1. Phân
biệt đối xử trong lao động.
2. Ngược
đãi người lao động, cưỡng bức lao động.
3. Quấy rối
tình dục tại nơi làm việc.
4. Lợi dụng
danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ
dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật.
5. Sử dụng
lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với
nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ
năng nghề quốc gia.
6. Lôi
kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao
động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột, cưỡng
bức lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật.
7. Sử dụng
lao động chưa thành niên trái pháp luật.
Chương II
VIỆC LÀM,
TUYỂN DỤNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
Điều 9. Việc làm, giải quyết việc làm
1. Việc
làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm.
2. Nhà nước,
người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo
đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.
Điều 10. Quyền làm việc của người lao động
1. Được tự
do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ
nơi nào mà pháp luật không cấm.
2. Trực
tiếp liên hệ với người sử dụng lao động hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm
để tìm kiếm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe
của mình.
Điều 11. Tuyển dụng lao động
1. Người
sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm,
doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động theo nhu cầu
của người sử dụng lao động.
2. Người
lao động không phải trả chi phí cho việc tuyển dụng lao động.
Điều 12. Trách nhiệm quản lý lao động của người sử dụng lao
động
1. Lập, cập
nhật, quản lý, sử dụng sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử và xuất
trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
2. Khai
trình việc sử dụng lao động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động,
định kỳ báo cáo tình hình thay đổi về lao động trong quá trình hoạt động với cơ
quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo cho cơ
quan bảo hiểm xã hội.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
HỢP ĐỒNG LAO
ĐỘNG
Mục 1. GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Điều 13. Hợp đồng lao động
1. Hợp đồng
lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc
làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
trong quan hệ lao động.
Trường hợp
hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có
trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được
coi là hợp đồng lao động.
2. Trước
khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp
đồng lao động với người lao động.
Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng
lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động
giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
Hợp đồng
lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng
lao động bằng văn bản.
2. Hai
bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn
dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm
a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.
Điều 15. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1. Tự
nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
2. Tự do
giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập
thể và đạo đức xã hội.
Điều 16. Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng
lao động
1. Người
sử dụng lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công
việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo
vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng
lao động mà người lao động yêu cầu.
2. Người
lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ
tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ
năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến
việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
Điều 17. Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi
giao kết, thực hiện hợp đồng lao động
1. Giữ bản
chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
2. Yêu cầu
người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho
việc thực hiện hợp đồng lao động.
3. Buộc
người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động.
Điều 18. Thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động
1. Người
lao động trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
2. Đối với
công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm
người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động
trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động
phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao
động.
Hợp đồng
lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên,
ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
3. Người
giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Người
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định
của pháp luật;
b) Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc
người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
c) Người
đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc
người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
d) Cá
nhân trực tiếp sử dụng lao động.
4. Người
giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Người
lao động từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Người
lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đồng ý bằng văn bản của
người đại diện theo pháp luật của người đó;
c) Người
chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
d) Người
lao động được những người lao động trong nhóm ủy quyền hợp pháp giao kết hợp đồng
lao động.
5. Người
được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động không được ủy quyền lại cho người khác
giao kết hợp đồng lao động.
Điều 19. Giao kết nhiều hợp đồng lao động
1. Người lao
động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động
nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.
2. Người
lao động đồng thời giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao
động thì việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được
thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 20. Loại hợp đồng lao động
1. Hợp đồng
lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng
lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định
thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b) Hợp đồng
lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn,
thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể
từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
2. Khi hợp
đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn
tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:
a) Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp
đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền,
nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;
b) Nếu hết
thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp
đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
c) Trường
hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn
thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc
thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động
đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều
177 của Bộ luật này.
Điều 21. Nội dung hợp đồng lao động
1. Hợp đồng
lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa
chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng
lao động bên phía người sử dụng lao động;
b) Họ
tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng
minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người
lao động;
c) Công
việc và địa điểm làm việc;
d) Thời hạn
của hợp đồng lao động;
đ) Mức
lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương,
phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;
e) Chế độ
nâng bậc, nâng lương;
g) Thời
giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
h) Trang
bị bảo hộ lao động cho người lao động;
i) Bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp;
k) Đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.
2. Khi
người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật
công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa
thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh
doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp
vi phạm.
3. Đối với
người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
diêm nghiệp thì tùy theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung
chủ yếu của hợp đồng lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải
quyết trong trường hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hỏa hoạn,
thời tiết.
4. Chính
phủ quy định nội dung của hợp đồng lao động đối với người lao động được thuê
làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước.
5. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Điều 22. Phụ lục hợp đồng lao động
1. Phụ lục
hợp đồng lao động là bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng
lao động.
2. Phụ lục
hợp đồng lao động quy định chi tiết, sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của hợp
đồng lao động nhưng không được sửa đổi thời hạn của hợp đồng lao động.
Trường hợp
phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều, khoản của hợp đồng lao
động mà dẫn đến cách hiểu khác với hợp đồng lao động thì thực hiện theo nội
dung của hợp đồng lao động.
Trường hợp
phụ lục hợp đồng lao động sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của hợp đồng lao
động thì phải ghi rõ nội dung điều, khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu
lực.
Điều 23. Hiệu lực của hợp đồng lao động
Hợp đồng
lao động có hiệu lực kể từ ngày hai bên giao kết, trừ trường hợp hai bên có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 24. Thử việc
1. Người
sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi
trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng
thử việc.
2. Nội
dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định
tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
3. Không
áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn
dưới 01 tháng.
Điều 25. Thời gian thử việc
Thời gian
thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công
việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện
sau đây:
1. Không
quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của
Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh
doanh tại doanh nghiệp;
2. Không
quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn,
kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
3. Không
quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn,
kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
4. Không
quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.
Điều 26. Tiền lương thử việc
Tiền
lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng
ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc
1. Khi kết
thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc
cho người lao động.
Trường hợp
thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao
động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động
hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử
việc.
Trường hợp
thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp
đồng thử việc.
2. Trong
thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao
động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
Mục 2. THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Điều 28. Thực hiện công việc theo hợp đồng lao động
Công việc
theo hợp đồng lao động phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện. Địa
điểm làm việc được thực hiện theo hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có
thỏa thuận khác.
Điều 29. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp
đồng lao động
1. Khi gặp
khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện
pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước
hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm
thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng
không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người
lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng
dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.
Người sử
dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu
sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động
làm công việc khác so với hợp đồng lao động.
2. Khi tạm
thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định
tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết
trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí
công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.
3. Người
lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương
theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của
công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30
ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của
công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.
4. Người
lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá
60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao
động phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Điều 99 của Bộ
luật này.
Điều 30. Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
1. Các
trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động bao gồm:
a) Người
lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ;
b) Người
lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;
c) Người
lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng,
cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
d) Lao động
nữ mang thai theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật này;
đ) Người
lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
e) Người
lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu
nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
g) Người
lao động được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với
phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác;
h) Trường
hợp khác do hai bên thỏa thuận.
2. Trong
thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng
lương và quyền, lợi ích đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai
bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 31. Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực
hiện hợp đồng lao động
Trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người
lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người
lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng
lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có
quy định khác.
Điều 32. Làm việc không trọn thời gian
1. Người
lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động có thời gian làm việc
ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần hoặc
theo tháng được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể
hoặc nội quy lao động.
2. Người
lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động làm việc không trọn thời gian
khi giao kết hợp đồng lao động.
3. Người
lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương; bình đẳng trong thực hiện
quyền và nghĩa vụ với người lao động làm việc trọn thời gian; bình đẳng về cơ hội,
không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 33. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động
1. Trong
quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung
nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 03 ngày
làm việc về nội dung cần sửa đổi, bổ sung.
2. Trường
hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động
được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng
lao động mới.
3. Trường
hợp hai bên không thỏa thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động
thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết.
Mục 3. CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
1. Hết hạn
hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177
của Bộ luật này.
2. Đã
hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
3. Hai
bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
4. Người
lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường
hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
5. Người
lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
6. Người
lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã
chết.
7. Người
sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự,
mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt
động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền
thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
8. Người
lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.
9. Người
lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều
35 của Bộ luật này.
10. Người
sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này.
11. Người
sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều
42 và Điều 43 của Bộ luật này.
12. Giấy
phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc
tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
13. Trường
hợp thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không
đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.
Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của
người lao động
1. Người
lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước
cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất
45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất
30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12
tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất
03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời
hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với
một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện
theo quy định của Chính phủ.
2. Người
lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước
trong trường hợp sau đây:
a) Không
được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều
kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều
29 của Bộ luật này;
b) Không
được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người
sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi
làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy
rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động
nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138
của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi
nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người
sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện
hợp đồng lao động.
Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của
người sử dụng lao động
1. Người
sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp
sau đây:
a) Người
lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được
xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của
người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử
dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người
lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc
theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục
đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ
12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm
việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả
năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức
khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục
giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c) Do
thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất,
kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao
động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người
lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều
31 của Bộ luật này;
đ) Người
lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật
này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người
lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục
trở lên;
g) Người
lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản
2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến
việc tuyển dụng người lao động.
2. Khi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a,
b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người
lao động như sau:
a) Ít nhất
45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất
30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến
36 tháng;
c) Ít nhất
03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới
12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d) Đối với
một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện
theo quy định của Chính phủ.
3. Khi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều
này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.
Điều 37. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực
hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
1. Người
lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng
theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Người
lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người
sử dụng lao động đồng ý.
3. Người
lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12
tháng tuổi.
Điều 38. Hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Mỗi bên đều
có quyền hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn
báo trước nhưng phải thông báo bằng văn bản và phải được bên kia đồng ý.
Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng
lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ
luật này.
Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không
được trợ cấp thôi việc.
2. Phải bồi
thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những
ngày không báo trước.
3. Phải
hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều
62 của Bộ luật này.
Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Phải
nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải
trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong
những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động
một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi
được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản
tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao
động.
Trường hợp
không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động
vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp
vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều
36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương
theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường
hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả
quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc
theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng
lao động.
3. Trường
hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động
đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản
1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ
luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động
nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng
lao động.
Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp
thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế
1. Những
trường hợp sau đây được coi là thay đổi cơ cấu, công nghệ:
a) Thay đổi
cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động;
b) Thay đổi
quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề
sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động;
c) Thay đổi
sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm.
2. Những
trường hợp sau đây được coi là vì lý do kinh tế:
Khủng hoảng
hoặc suy thoái kinh tế;
Thực hiện
chính sách, pháp luật của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện
cam kết quốc tế.
3. Trường
hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động
thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động
theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ
làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.
4. Trong
trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải
thôi việc thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng
lao động theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này.
5. Trong
trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải
cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại
Điều 47 của Bộ luật này.
6. Việc
cho thôi việc đối với người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến
hành sau khi đã trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối
với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành
viên và thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cho người lao động.
Điều 43. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
1. Trong
trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình
doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động thì người sử dụng
lao động phải xây dựng phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này.
2. Người
sử dụng lao động hiện tại và người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm thực
hiện phương án sử dụng lao động đã được thông qua.
3. Người
lao động bị thôi việc thì được nhận trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật này.
Điều 44. Phương án sử dụng lao động
1. Phương
án sử dụng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Số lượng
và danh sách người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động được đào tạo
lại để tiếp tục sử dụng, người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời
gian;
b) Số lượng
và danh sách người lao động nghỉ hưu;
c) Số lượng
và danh sách người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;
d) Quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động và các bên liên quan
trong việc thực hiện phương án sử dụng lao động;
đ) Biện
pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án.
2. Khi
xây dựng phương án sử dụng lao động, người sử dụng lao động phải trao đổi ý kiến
với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở. Phương án sử dụng lao động phải được thông báo công
khai cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông qua.
Điều 45. Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động
1. Người
sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt
hợp đồng lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định của Bộ luật này,
trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 34 của
Bộ luật này.
2. Trường
hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động thì thời điểm
chấm dứt hợp đồng lao động tính từ thời điểm có thông báo chấm dứt hoạt động.
Trường hợp
người sử dụng lao động không phải là cá nhân bị cơ quan chuyên môn về đăng ký
kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo
pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện
theo pháp luật theo quy định tại khoản 7 Điều 34 của Bộ luật
này thì thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động tính từ ngày ra thông báo.
Điều 46. Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp
đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4,
6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách
nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho
mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền
lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều
36 của Bộ luật này.
2. Thời
gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm
việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham
gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và
thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ
cấp mất việc làm.
3. Tiền
lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề
theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Trợ cấp mất việc làm
1. Người
sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường
xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này, cứ mỗi năm làm việc trả 01
tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
2. Thời
gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã
làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã
tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc,
trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền
lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề
theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động
1. Trong
thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có
trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi
bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:
a) Người
sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
b) Người
sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
c) Chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Do
thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
2. Tiền
lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc
và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng
lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị
chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
3. Người
sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn
thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và
trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của
người lao động;
b) Cung cấp
bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu
người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động
trả.
Mục 4. HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU
Điều 49. Hợp đồng lao động vô hiệu
1. Hợp đồng
lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây:
a) Toàn bộ
nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật;
b) Người
giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết
hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này;
c) Công
việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm.
2. Hợp đồng
lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng
không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.
Điều 50. Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Tòa án nhân
dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Điều 51. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu
1. Khi hợp
đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần thì xử lý như sau:
a) Quyền,
nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể
đang áp dụng; trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo
quy định của pháp luật;
b) Hai
bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để
phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động.
2. Khi hợp
đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của
người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký
sai thẩm quyền thì hai bên ký lại.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 5. CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
Điều 52. Cho thuê lại lao động
1. Cho
thuê lại lao động là việc người lao động giao kết hợp đồng lao động với một người
sử dụng lao động là doanh nghiệp cho thuê lại lao động, sau đó người lao động
được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác
mà vẫn duy trì quan hệ lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng
lao động.
2. Hoạt động
cho thuê lại lao động là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện
bởi các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và áp dụng đối
với một số công việc nhất định.
Điều 53. Nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động
1. Thời hạn
cho thuê lại lao động đối với người lao động tối đa là 12 tháng.
2. Bên thuê
lại lao động được sử dụng lao động thuê lại trong trường hợp sau đây:
a) Đáp ứng
tạm thời sự gia tăng đột ngột về nhu cầu sử dụng lao động trong khoảng thời
gian nhất định;
b) Thay
thế người lao động trong thời gian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ công dân;
c) Có nhu
cầu sử dụng lao động trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.
3. Bên
thuê lại lao động không được sử dụng lao động thuê lại trong trường hợp sau
đây:
a) Để
thay thế người lao động đang trong thời gian thực hiện quyền đình công, giải
quyết tranh chấp lao động;
b) Không
có thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
của người lao động thuê lại với doanh nghiệp cho thuê lại lao động;
c) Thay
thế người lao động bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do
kinh tế hoặc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập.
4. Bên
thuê lại lao động không được chuyển người lao động thuê lại cho người sử dụng
lao động khác; không được sử dụng người lao động thuê lại được cung cấp bởi
doanh nghiệp không có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
Điều 54. Doanh nghiệp cho thuê lại lao động
1. Doanh
nghiệp cho thuê lại lao động phải ký quỹ và được cấp Giấy phép hoạt động cho
thuê lại lao động.
2. Chính
phủ quy định việc ký quỹ, điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn,
thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và danh mục công việc được thực
hiện cho thuê lại lao động.
Điều 55. Hợp đồng cho thuê lại lao động
1. Doanh
nghiệp cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động phải ký kết hợp đồng cho
thuê lại lao động bằng văn bản và được làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.
2. Hợp đồng
cho thuê lại lao động gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Địa điểm
làm việc, vị trí việc làm cần sử dụng lao động thuê lại, nội dung cụ thể của
công việc, yêu cầu cụ thể đối với người lao động thuê lại;
b) Thời hạn
thuê lại lao động; thời gian bắt đầu làm việc của người lao động thuê lại;
c) Thời
giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện an toàn, vệ sinh lao động tại nơi
làm việc;
d) Trách
nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
đ) Nghĩa
vụ của mỗi bên đối với người lao động.
3. Hợp đồng
cho thuê lại lao động không được có những thỏa thuận về quyền, lợi ích của người
lao động thấp hơn so với hợp đồng lao động mà doanh nghiệp cho thuê lại lao động
đã ký với người lao động.
Điều 56. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại
lao động
Ngoài các
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 6 của Bộ luật này,
doanh nghiệp cho thuê lại lao động có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Bảo đảm
đưa người lao động có trình độ phù hợp với những yêu cầu của bên thuê lại lao động
và nội dung của hợp đồng lao động đã ký với người lao động;
2. Thông
báo cho người lao động biết nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động;
3. Thông
báo cho bên thuê lại lao động biết sơ yếu lý lịch của người lao động, yêu cầu của
người lao động;
4. Bảo đảm
trả lương cho người lao động thuê lại không thấp hơn tiền lương của người lao động
của bên thuê lại lao động có cùng trình độ, làm cùng công việc hoặc công việc
có giá trị như nhau;
5. Lập hồ
sơ ghi rõ số lao động đã cho thuê lại, bên thuê lại lao động và định kỳ báo cáo
cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
6. Xử lý
kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động khi bên thuê lại
lao động trả lại người lao động do vi phạm kỷ luật lao động.
Điều 57. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê lại lao động
1. Thông
báo, hướng dẫn cho người lao động thuê lại biết nội quy lao động và các quy chế
khác của mình.
2. Không
được phân biệt đối xử về điều kiện lao động đối với người lao động thuê lại so
với người lao động của mình.
3. Thỏa
thuận với người lao động thuê lại về làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ theo
quy định của Bộ luật này.
4. Thỏa
thuận với người lao động thuê lại và doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển
dụng chính thức người lao động thuê lại làm việc cho mình trong trường hợp hợp
đồng lao động của người lao động thuê lại với doanh nghiệp cho thuê lại lao động
chưa chấm dứt.
5. Trả lại
người lao động thuê lại không đáp ứng yêu cầu như đã thỏa thuận hoặc vi phạm kỷ
luật lao động cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
6. Cung cấp
cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động chứng cứ về hành vi vi phạm kỷ luật lao
động của người lao động thuê lại để xem xét xử lý kỷ luật lao động.
Điều 58. Quyền và nghĩa vụ của người lao động thuê lại
Ngoài các
quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật này,
người lao động thuê lại có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Thực
hiện công việc theo hợp đồng lao động đã ký với doanh nghiệp hoạt động cho thuê
lại lao động;
2. Chấp
hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám
sát hợp pháp của bên thuê lại lao động;
3. Được
trả lương không thấp hơn tiền lương của người lao động của bên thuê lại lao động
có cùng trình độ, làm cùng công việc hoặc công việc có giá trị như nhau;
4. Khiếu
nại với doanh nghiệp cho thuê lại lao động trong trường hợp bị bên thuê lại lao
động vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê lại lao động;
5. Thỏa
thuận chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động để giao
kết hợp đồng lao động với bên thuê lại lao động.
Chương IV
GIÁO DỤC NGHỀ
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHỀ
Điều 59. Đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
1. Người lao
động được tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp, tham gia đánh giá, công nhận kỹ
năng nghề quốc gia, phát triển năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu việc
làm và khả năng của mình.
2. Nhà nước
có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động có đủ điều kiện đào tạo nghề
nghiệp và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình và
người lao động khác trong xã hội thông qua hoạt động sau đây:
a)2[2]Thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc
mở lớp đào tạo nghề tại nơi làm việc để đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; phối hợp với cơ sở giáo dục nghề
nghiệp đào tạo chương trình giáo dục trung học nghề và các chương trình đào tạo
trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng theo quy định;
b) Tổ chức
thi kỹ năng nghề cho người lao động; tham gia hội đồng kỹ năng nghề; dự báo nhu
cầu và xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề; tổ chức đánh giá và công nhận kỹ năng
nghề; phát triển năng lực nghề nghiệp cho người lao động.
Điều 60. Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
1. Người
sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, phát triển kỹ năng nghề cho người lao
động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm
nghề khác cho mình.
2. Hằng
năm, người sử dụng lao động thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh.
Điều 61. Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng
lao động
1. Học
nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển
người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc. Thời gian học nghề theo
chương trình đào tạo của từng trình độ theo quy định của Luật Giáo dục nghề
nghiệp.
2. Tập
nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển
người vào để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vị trí việc làm tại
nơi làm việc. Thời hạn tập nghề không quá 03 tháng.
3.3[3] Người
sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì
không được thu học phí.
4.
Người học nghề, người tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe
phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc
danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành phải
từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.
5.
Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp
hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do
hai bên thỏa thuận.
6.
Hết thời hạn học nghề, tập nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ
các điều kiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 62. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động,
người lao động và chi phí đào tạo nghề
1.
Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được
đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước
ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ
cho người sử dụng lao động.
Hợp
đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.
2.
Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a)
Nghề đào tạo;
b)
Địa điểm, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo;
c)
Thời hạn cam kết phải làm việc sau khi được đào tạo;
d)
Chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;
đ)
Trách nhiệm của người sử dụng lao động;
e)
Trách nhiệm của người lao động.
3.
Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người
dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi
phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học. Trường
hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao
gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo.
Chương V
ĐỐI
THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC, THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
Mục 1. ĐỐI THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC
Điều 63. Tổ chức đối thoại tại nơi làm việc
1.
Đối thoại tại nơi làm việc là việc chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận,
trao đổi ý kiến giữa người sử dụng lao động với người lao động hoặc tổ chức đại
diện người lao động về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan
tâm của các bên tại nơi làm việc nhằm tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, cùng nỗ
lực hướng tới giải pháp các bên cùng có lợi.
2.
Người sử dụng lao động phải tổ chức đối thoại tại nơi làm việc trong trường hợp
sau đây:
a)
Định kỳ ít nhất 01 năm một lần;
b)
Khi có yêu cầu của một hoặc các bên;
c)
Khi có vụ việc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36, các điều 42, 44, 93, 104, 118 và khoản 1 Điều 128
của Bộ luật này.
3.
Khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động hoặc tổ chức đại diện người
lao động tiến hành đối thoại ngoài những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
4.
Chính phủ quy định việc tổ chức đối thoại và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
tại nơi làm việc.
Điều 64. Nội dung đối thoại tại nơi làm việc
1.
Nội dung đối thoại bắt buộc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều
63 của Bộ luật này.
2.
Ngoài nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, các bên lựa chọn một hoặc một số
nội dung sau đây để tiến hành đối thoại:
a)
Tình hình sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động;
b)
Việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động,
quy chế và cam kết, thỏa thuận khác tại nơi làm việc;
c)
Điều kiện làm việc;
d)
Yêu cầu của người lao động, tổ chức đại diện người lao động đối với người sử dụng
lao động;
đ)
Yêu cầu của người sử dụng lao động đối với người lao động, tổ chức đại diện người
lao động;
e)
Nội dung khác mà một hoặc các bên quan tâm.
Mục 2. THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ
Điều 65. Thương lượng tập thể
Thương
lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức
đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc
tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định
về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn
định.
Điều 66. Nguyên tắc thương lượng tập thể
Thương
lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, hợp tác, thiện chí,
bình đẳng, công khai và minh bạch.
Điều 67. Nội dung thương lượng tập thể
Các
bên thương lượng lựa chọn một hoặc một số nội dung sau để tiến hành thương lượng
tập thể:
1.
Tiền lương, trợ cấp, nâng lương, thưởng, bữa ăn và các chế độ khác;
2.
Mức lao động và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa
ca;
3.
Bảo đảm việc làm đối với người lao động;
4.
Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động;
5.
Điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan
hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động;
6.
Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động;
7.
Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và
quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
8.
Nội dung khác mà một hoặc các bên quan tâm.
Điều 68. Quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp
1.
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể
khi đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp
theo quy định của Chính phủ.
2.
Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng
quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ chức có quyền yêu cầu thương lượng là tổ
chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp. Các tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở khác có thể tham gia thương lượng tập thể khi được tổ chức đại
diện người lao động có quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý.
3.
Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà
không có tổ chức nào đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này thì các tổ chức có
quyền tự nguyện kết hợp với nhau để yêu cầu thương lượng tập thể nhưng tổng số
thành viên của các tổ chức này phải đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định tại khoản
1 Điều này.
4.
Chính phủ quy định việc giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến quyền
thương lượng tập thể.
Điều 69. Đại diện thương lượng tập thể tại doanh nghiệp
1.
Số lượng người tham gia thương lượng tập thể của mỗi bên do các bên thỏa thuận.
2.
Thành phần tham gia thương lượng tập thể của mỗi bên do bên đó quyết định.
Trường
hợp bên người lao động có nhiều tổ chức đại diện tham gia thương lượng tập thể
theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì tổ chức
đại diện có quyền yêu cầu thương lượng quyết định số lượng đại diện của mỗi tổ
chức tham gia thương lượng.
Trường
hợp bên người lao động có nhiều tổ chức đại diện tham gia thương lượng tập thể
theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Bộ luật này thì số lượng
đại diện của mỗi tổ chức do các tổ chức đó thỏa thuận. Trường hợp không thỏa
thuận được thì từng tổ chức xác định số lượng đại diện tham gia tương ứng theo
số lượng thành viên của tổ chức mình trên tổng số thành viên của các tổ chức.
3.
Mỗi bên thương lượng tập thể có quyền mời tổ chức đại diện cấp trên của mình cử
người tham gia là đại diện thương lượng và bên kia không được từ chối. Đại diện
thương lượng tập thể của mỗi bên không được vượt quá số lượng quy định tại khoản
1 Điều này, trừ trường hợp được bên kia đồng ý.
Điều 70. Quy trình thương lượng tập thể tại doanh nghiệp
1.
Khi có yêu cầu thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ
sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể theo quy định tại Điều
68 của Bộ luật này hoặc yêu cầu của người sử dụng lao động thì bên nhận được
yêu cầu không được từ chối việc thương lượng.
Trong
thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng,
các bên thỏa thuận về địa điểm, thời gian bắt đầu thương lượng.
Người
sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm và các điều kiện cần
thiết để tổ chức các phiên họp thương lượng tập thể.
Thời
gian bắt đầu thương lượng không được quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu
thương lượng tập thể.
2.
Thời gian thương lượng tập thể không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương
lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Thời
gian tham gia các phiên họp thương lượng tập thể của đại diện bên người lao động
được tính là thời gian làm việc có hưởng lương. Trường hợp người lao động là
thành viên của tổ chức đại diện người lao động tham gia các phiên họp thương lượng
tập thể thì thời gian tham gia các phiên họp không tính vào thời gian quy định
tại khoản 2 Điều 176 của Bộ luật này.
3.
Trong quá trình thương lượng tập thể, nếu có yêu cầu của bên đại diện người lao
động thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, bên người sử dụng
lao động có trách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất,
kinh doanh và nội dung khác liên quan trực tiếp đến nội dung thương lượng trong
phạm vi doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương lượng tập thể, trừ
thông tin về bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động.
4.
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền tổ chức thảo luận, lấy ý kiến
người lao động về nội dung, cách thức tiến hành và kết quả của quá trình thương
lượng tập thể.
Tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở quyết định về thời gian, địa điểm và
cách thức tiến hành thảo luận, lấy ý kiến người lao động nhưng không được làm ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.
Người
sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình
tổ chức đại diện người lao động thảo luận, lấy ý kiến người lao động.
5.
Việc thương lượng tập thể phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ nội dung đã
được các bên thống nhất, nội dung còn ý kiến khác nhau. Biên bản thương lượng tập
thể phải có chữ ký của đại diện các bên thương lượng và của người ghi biên bản.
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở công bố rộng rãi, công khai biên bản
thương lượng tập thể đến toàn bộ người lao động.
Điều 71. Thương lượng tập thể không thành
1.
Thương lượng tập thể không thành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)
Một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy
định tại khoản 1 Điều 70 của Bộ luật này;
b)
Đã hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này
mà các bên không đạt được thỏa thuận;
c)
Chưa hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này
nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt
được thỏa thuận.
2.
Khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết
tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này. Trong khi đang giải quyết
tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình
công.
Điều 72. Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể
có nhiều doanh nghiệp tham gia
1.
Nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều
doanh nghiệp tham gia thực hiện theo quy định tại Điều 66 và Điều
67 của Bộ luật này.
2.
Quy trình tiến hành thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều
doanh nghiệp tham gia do các bên thỏa thuận quyết định, bao gồm cả việc thỏa
thuận tiến hành thương lượng tập thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể
quy định tại Điều 73 của Bộ luật này.
3.
Trường hợp thương lượng tập thể ngành thì đại diện thương lượng là tổ chức công
đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định.
Trường
hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng
do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận.
Điều 73. Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham
gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể
1.
Trên cơ sở đồng thuận, các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham
gia có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh
nghiệp tham gia thương lượng hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các
doanh nghiệp tham gia thương lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tiến hành thương lượng
tập thể.
2.
Khi nhận được yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp
tham gia, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thương lượng tập
thể để tổ chức việc thương lượng tập thể. Thành phần Hội đồng thương lượng tập
thể bao gồm:
a)
Chủ tịch Hội đồng do các bên quyết định và có trách nhiệm điều phối hoạt động của
Hội đồng thương lượng tập thể, hỗ trợ cho việc thương lượng tập thể của các
bên;
b)
Đại diện các bên thương lượng tập thể do mỗi bên cử. Số lượng đại diện mỗi bên
thương lượng tham gia Hội đồng do các bên thỏa thuận;
c)
Đại diện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3.
Hội đồng thương lượng tập thể tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên
và tự chấm dứt hoạt động khi thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp
tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên.
4.
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt
động của Hội đồng thương lượng tập thể.
Điều 74. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong
thương lượng tập thể
1.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho các bên thương lượng
tập thể.
2.
Xây dựng và cung cấp các thông tin, dữ liệu về kinh tế - xã hội, thị trường lao
động, quan hệ lao động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy thương lượng tập thể.
3.
Chủ động hoặc khi có yêu cầu của cả hai bên thương lượng tập thể, hỗ trợ các
bên đạt được thỏa thuận trong quá trình thương lượng tập thể; trường hợp không
có yêu cầu, việc chủ động hỗ trợ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ được tiến
hành nếu được các bên đồng ý.
4.
Thành lập Hội đồng thương lượng tập thể khi có yêu cầu của các bên thương lượng
tập thể có nhiều doanh nghiệp theo quy định tại Điều 73 của Bộ
luật này.
Mục 3. THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
Điều 75. Thỏa ước lao động tập thể
1.
Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể
và được các bên ký kết bằng văn bản.
Thỏa
ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước
lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp và các
thỏa ước lao động tập thể khác.
2.
Nội dung thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật;
khuyến khích có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật.
Điều 76. Lấy ý kiến và ký kết thỏa ước lao động tập thể
1.
Đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, trước khi ký kết, dự thảo thỏa
ước lao động tập thể đã được các bên đàm phán phải được lấy ý kiến của toàn bộ
người lao động trong doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp chỉ
được ký kết khi có trên 50% người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán
thành.
2.
Đối với thỏa ước lao động tập thể ngành, đối tượng lấy ý kiến bao gồm toàn bộ
thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh
nghiệp tham gia thương lượng. Thỏa ước lao động tập thể ngành chỉ được ký kết
khi có trên 50% tổng số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành.
Đối
với thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp, đối tượng lấy ý kiến bao gồm
toàn bộ người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc toàn bộ
thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh
nghiệp tham gia thương lượng. Chỉ những doanh nghiệp có trên 50% số người được
lấy ý kiến biểu quyết tán thành mới tham gia ký kết thỏa ước lao động tập thể
có nhiều doanh nghiệp.
3.
Thời gian, địa điểm và cách thức lấy ý kiến biểu quyết đối với dự thảo thỏa ước
lao động tập thể do tổ chức đại diện người lao động quyết định nhưng không được
làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp
tham gia thương lượng. Người sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở
hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động lấy ý kiến biểu quyết
về dự thảo thỏa ước.
4.
Thỏa ước lao động tập thể được ký kết bởi đại diện hợp pháp của các bên thương
lượng.
Trường
hợp thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp được tiến hành thông qua Hội
đồng thương lượng tập thể thì được ký kết bởi Chủ tịch Hội đồng thương lượng tập
thể và đại diện hợp pháp của các bên thương lượng.
5.
Thỏa ước lao động tập thể phải được gửi cho mỗi bên ký kết và cho cơ quan
chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 77 của Bộ luật này.
Đối
với thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều
doanh nghiệp thì từng người sử dụng lao động và từng tổ chức đại diện người lao
động tại các doanh nghiệp tham gia thỏa ước phải được nhận 01 bản.
6.
Sau khi thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động phải công
bố cho người lao động của mình biết.
7.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 77. Gửi thỏa ước lao động tập thể
Trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng
lao động tham gia thỏa ước phải gửi 01 bản thỏa ước lao động tập thể đến cơ
quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở
chính.
Điều 78. Hiệu lực và thời hạn của thỏa ước lao động tập thể
1.
Ngày có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể do các bên thỏa thuận và được
ghi trong thỏa ước. Trường hợp các bên không thỏa thuận ngày có hiệu lực thì thỏa
ước lao động tập thể có hiệu lực kể từ ngày ký kết.
Thỏa
ước lao động tập thể sau khi có hiệu lực phải được các bên tôn trọng thực hiện.
2.
Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp có hiệu lực áp dụng đối với người sử dụng
lao động và toàn bộ người lao động của doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể
ngành và thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp có hiệu lực áp dụng đối
với toàn bộ người sử dụng lao động và người lao động của các doanh nghiệp tham
gia thỏa ước lao động tập thể.
3.
Thỏa ước lao động tập thể có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Thời hạn cụ thể do
các bên thỏa thuận và ghi trong thỏa ước lao động tập thể. Các bên có quyền thỏa
thuận thời hạn khác nhau đối với các nội dung của thỏa ước lao động tập thể.
Điều 79. Thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp
1.
Người sử dụng lao động, người lao động, bao gồm cả người lao động vào làm việc
sau ngày thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực, có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ thỏa
ước lao động tập thể đang có hiệu lực.
2.
Trường hợp quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hợp đồng lao động đã
giao kết trước ngày thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực thấp hơn quy định
tương ứng của thỏa ước lao động tập thể thì phải thực hiện theo thỏa ước lao động
tập thể. Quy định của người sử dụng lao động chưa phù hợp với thỏa ước lao động
tập thể thì phải được sửa đổi cho phù hợp; trong thời gian chưa sửa đổi thì thực
hiện theo nội dung tương ứng của thỏa ước lao động tập thể.
3.
Khi một bên cho rằng bên kia thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm thỏa ước lao động
tập thể thì có quyền yêu cầu thi hành đúng thỏa ước lao động tập thể và các bên
có trách nhiệm cùng xem xét giải quyết; nếu không giải quyết được, mỗi
bên đều có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo quy định của
pháp luật.
Điều 80. Thực hiện thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp
trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại
hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh
nghiệp
1.
Trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình
doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp
thì người sử dụng lao động kế tiếp và tổ chức đại diện người lao động có quyền
thương lượng theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật này căn
cứ vào phương án sử dụng lao động để xem xét lựa chọn việc tiếp tục thực hiện,
sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp cũ hoặc thương lượng để
ký kết thỏa ước lao động tập thể mới.
2.
Trường hợp thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp hết hiệu lực do người sử dụng
lao động chấm dứt hoạt động thì quyền lợi của người lao động được giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Điều 81. Quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp,
thỏa ước lao động tập thể ngành và thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh
nghiệp
1.
Trường hợp thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể có
nhiều doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành quy định về quyền, nghĩa vụ
và lợi ích của người lao động khác nhau thì thực hiện theo nội dung có lợi nhất
cho người lao động.
2.
Doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc
thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp nhưng chưa có thỏa ước lao động
tập thể doanh nghiệp thì có thể xây dựng thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp
với những nội dung có lợi hơn cho người lao động so với thỏa ước lao động tập
thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp.
3.
Khuyến khích doanh nghiệp chưa tham gia thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa
ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp thực hiện nội dung có lợi hơn cho
người lao động của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập
thể có nhiều doanh nghiệp.
Điều 82. Sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể
1.
Thỏa ước lao động tập thể chỉ được sửa đổi, bổ sung theo thỏa thuận tự nguyện của
các bên, thông qua thương lượng tập thể.
Việc
sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể được thực hiện như việc thương lượng,
ký kết thỏa ước lao động tập thể.
2.
Trường hợp quy định của pháp luật thay đổi dẫn đến thỏa ước lao động tập thể
không còn phù hợp với quy định của pháp luật thì các bên phải tiến hành sửa đổi,
bổ sung thỏa ước lao động tập thể cho phù hợp với quy định của pháp luật. Trong
thời gian tiến hành sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể thì quyền lợi của
người lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 83. Thỏa ước lao động tập thể hết hạn
Trong
thời hạn 90 ngày trước ngày thỏa ước lao động tập thể hết hạn, các bên có thể
thương lượng để kéo dài thời hạn của thỏa ước lao động tập thể hoặc ký kết thỏa
ước lao động tập thể mới. Trường hợp các bên thỏa thuận kéo dài thời hạn của thỏa
ước lao động tập thể thì phải lấy ý kiến theo quy định tại Điều
76 của Bộ luật này.
Khi
thỏa ước lao động tập thể hết hạn mà các bên vẫn tiếp tục thương lượng thì thỏa
ước lao động tập thể cũ vẫn được tiếp tục thực hiện trong thời hạn không quá 90
ngày kể từ ngày thỏa ước lao động tập thể hết hạn, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác.
Điều 84. Mở rộng phạm vi áp dụng của thỏa ước lao động tập
thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp
1.
Khi một thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều
doanh nghiệp có phạm vi áp dụng chiếm trên 75% người lao động hoặc trên 75%
doanh nghiệp cùng ngành, nghề, lĩnh vực trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu
chế xuất, khu công nghệ cao thì người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của
người lao động tại đó đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định mở rộng
phạm vi áp dụng một phần hoặc toàn bộ thỏa ước đó đối với các doanh nghiệp cùng
ngành, nghề, lĩnh vực trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu
công nghệ cao.
2.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này; quy định trình tự, thủ tục và thẩm
quyền quyết định mở rộng phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể quy định tại
khoản 1 Điều này.
Điều 85. Gia nhập và rút khỏi thỏa ước lao động tập thể
ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp
1.
Doanh nghiệp có thể gia nhập thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động
tập thể có nhiều doanh nghiệp khi có sự đồng thuận của tất cả người sử dụng lao
động và tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp là thành viên của thỏa
ước, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 84 của Bộ luật
này.
2.
Doanh nghiệp thành viên của thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động
tập thể có nhiều doanh nghiệp được rút khỏi thỏa ước lao động tập thể khi có sự
đồng thuận của tất cả người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động
tại doanh nghiệp là thành viên của thỏa ước, trừ trường hợp có khó khăn đặc biệt
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 86. Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1.
Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số nội dung trong
thỏa ước lao động tập thể vi phạm pháp luật.
2.
Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a)
Toàn bộ nội dung thỏa ước lao động tập thể vi phạm pháp luật;
b)
Người ký kết không đúng thẩm quyền;
c)
Không tuân thủ đúng quy trình thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Điều 87. Thẩm quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu
Tòa
án nhân dân có quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Điều 88. Xử lý thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Khi
thỏa ước lao động tập thể bị tuyên bố vô hiệu thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của
các bên ghi trong thỏa ước lao động tập thể tương ứng với toàn bộ hoặc phần bị
tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận
hợp pháp trong hợp đồng lao động.
Điều 89. Chi phí thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập
thể
Mọi
chi phí cho việc thương lượng, ký kết, sửa đổi, bổ sung, gửi và công bố thỏa ước
lao động tập thể do phía người sử dụng lao động chi trả.
Chương VI
TIỀN
LƯƠNG
Điều 90. Tiền lương
1.
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa
thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh,
phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
2.
Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
3.
Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới
tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
Điều 91. Mức lương tối thiểu
1.
Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công
việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối
thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội.
2.
Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.
3.
Mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động
và gia đình họ; tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường;
chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động;
việc làm và thất nghiệp; năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quyết định và công bố mức lương tối thiểu
trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia.
Điều 92. Hội đồng tiền lương quốc gia
1.
Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ về mức lương tối
thiểu và chính sách tiền lương đối với người lao động.
2.
Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia bao gồm các thành
viên là đại diện của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam, một số tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương và chuyên
gia độc lập.
3.
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng
tiền lương quốc gia.
Điều 93. Xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động
1.
Người sử dụng lao động phải xây dựng thang
lương, bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động,
thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động
và trả lương cho người lao động.
2.
Mức lao động phải là mức trung bình bảo đảm số đông người lao động thực hiện được
mà không phải kéo dài thời giờ làm việc bình thường và phải được áp dụng thử
trước khi ban hành chính thức.
3.
Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng
thang lương, bảng lương và định mức lao động.
Thang
lương, bảng lương và mức lao động phải được công bố công khai tại nơi làm việc
trước khi thực hiện.
Điều 94. Nguyên tắc trả lương
1.
Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao
động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng
lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
2.
Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi
tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương
vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn
vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.
Điều 95. Trả lương
1.
Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa
thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.
2.
Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng
tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam
thì có thể bằng ngoại tệ.
3.
Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho
người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương
làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có).
Điều 96. Hình thức trả lương
1.
Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo
thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
2.
Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động
được mở tại ngân hàng.
Trường
hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng
thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản
và chuyển tiền lương.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 97. Kỳ hạn trả lương
1.
Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày,
tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày
phải được trả gộp một lần.
2.
Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng
một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một
thời điểm có tính chu kỳ.
3.
Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa
thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được
tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
4.
Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện
pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30
ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền
bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả
chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi
người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời
điểm trả lương.
Điều 98. Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
1.
Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền
lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
a)
Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
b)
Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
c)
Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền
lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương
ngày.
2.
Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền
lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của
ngày làm việc bình thường.
3.
Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền
lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban
ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày
nghỉ lễ, tết.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 99. Tiền lương ngừng việc
Trường
hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:
1.
Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương
theo hợp đồng lao động;
2.
Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người
lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do
hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;
3.
Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do
thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động
theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai
bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:
a)
Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc
được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;
b)
Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do
hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu
tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.
Điều 100. Trả lương thông qua người cai thầu
1.
Nơi nào sử dụng người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự thì
người sử dụng lao động là chủ chính phải có danh sách và địa chỉ của những người
này kèm theo danh sách những người lao động làm việc với họ và phải bảo đảm việc
họ tuân thủ quy định của pháp luật về trả lương, an toàn, vệ sinh lao động.
2.
Trường hợp người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự không trả
lương hoặc trả lương không đầy đủ và không bảo đảm các quyền lợi khác cho người
lao động thì người sử dụng lao động là chủ chính phải chịu trách nhiệm trả
lương và bảo đảm các quyền lợi cho người lao động.
Trong
trường hợp này, người sử dụng lao động là chủ chính có quyền yêu cầu người cai
thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự đền bù hoặc yêu cầu cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Điều 101. Tạm ứng tiền lương
1.
Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và
không bị tính lãi.
2.
Người sử dụng lao động phải cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với
số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01
tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
và người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng.
Người
lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng
tiền lương.
3.
Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền
lương của những ngày nghỉ.
Điều 102. Khấu trừ tiền lương
1.
Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi
thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng
lao động theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật này.
2.
Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.
3.
Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương thực trả hằng
tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
Điều 103. Chế độ nâng lương, nâng bậc, phụ cấp, trợ
cấp
Chế
độ nâng lương, nâng bậc, phụ cấp, trợ cấp và các chế độ khuyến khích đối với
người lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập
thể hoặc quy định của người sử dụng lao động.
Điều 104. Thưởng
1.
Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng
lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức
độ hoàn thành công việc của người lao động.
2.
Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại
nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Chương VII
THỜI
GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
Mục 1. THỜI GIỜ LÀM VIỆC
Điều 105. Thời giờ làm việc bình thường
1.
Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ
trong 01 tuần.
2.
Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần
nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ
làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong
01 tuần.
Nhà
nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với
người lao động.
3.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp
xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
và pháp luật có liên quan.
Điều 106. Giờ làm việc ban đêm
Giờ
làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
Điều 107. Làm thêm giờ
1.
Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc
bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy
lao động.
2.
Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy
đủ các yêu cầu sau đây:
a)
Phải được sự đồng ý của người lao động;
b)
Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình
thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường
theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12
giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;
c)
Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3.
Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ
trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
a)
Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử,
chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
b)
Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
c)
Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
d)
Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất
thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát
sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai,
hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền
sản xuất;
đ)
Trường hợp khác do Chính phủ quy định.
4.
Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng lao
động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 108. Làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt
Người
sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày
nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm theo quy định tại Điều
107 của Bộ luật này và người lao động không được từ chối trong trường hợp
sau đây:
1.
Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo
quy định của pháp luật;
2.
Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh
nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức
khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Mục 2. THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
Điều 109. Nghỉ trong giờ làm việc
1.
Người lao động làm việc theo thời giờ làm việc quy định tại Điều
105 của Bộ luật này từ 06 giờ trở lên trong một ngày thì được nghỉ giữa giờ
ít nhất 30 phút liên tục, làm việc ban đêm thì được nghỉ giữa giờ ít nhất 45
phút liên tục.
Trường
hợp người lao động làm việc theo ca liên tục từ 06 giờ trở lên thì thời gian
nghỉ giữa giờ được tính vào giờ làm việc.
2.
Ngoài thời gian nghỉ quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động bố
trí cho người lao động các đợt nghỉ giải lao và ghi vào nội quy lao động.
Điều 110. Nghỉ chuyển ca
Người
lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca làm
việc khác.
Điều 111. Nghỉ hằng tuần
1.
Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc
biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần thì người sử dụng lao động có
trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất
04 ngày.
2.
Người sử dụng lao động có quyền quyết định sắp xếp ngày nghỉ hằng tuần vào ngày
Chủ nhật hoặc ngày xác định khác trong tuần nhưng phải ghi vào nội quy lao động.
3.
Nếu ngày nghỉ hằng tuần trùng với ngày nghỉ lễ, tết quy định tại khoản
1 Điều 112 của Bộ luật này thì người lao động được nghỉ bù ngày nghỉ hằng
tuần vào ngày làm việc kế tiếp.
Điều 112. Nghỉ lễ, tết
1.
Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết
sau đây:
a)
Tết Dương lịch: 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);
b)
Tết Âm lịch: 05 ngày;
c)
Ngày Chiến thắng: 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);
d)
Ngày Quốc tế lao động: 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);
đ)
Quốc khánh: 02 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc
sau);
e)
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).
2.
Lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài các ngày nghỉ theo quy
định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và
01 ngày Quốc khánh của nước họ.
3.
Hằng năm, căn cứ vào điều kiện thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể
ngày nghỉ quy định tại điểm b và điểm đ khoản 1 Điều này.
Điều 113. Nghỉ hằng năm
1.
Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ
hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
a)
12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
b)
14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết
tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
c)
16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm.
2.
Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số
ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.
3.
Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết
số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho
những ngày chưa nghỉ.
4.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham
khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết.
Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm
thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
5.
Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền
lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.
6.
Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt,
đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở
đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính
cho 01 lần nghỉ trong năm.
7.
Chính phủ quy định chi tiết điều này.
Điều 114. Ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm
niên làm việc
Cứ
đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của
người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật
này được tăng thêm tương ứng 01 ngày.
Điều 115. Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương
1.
Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo
với người sử dụng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Kết
hôn: nghỉ 03 ngày;
b) Con đẻ,
con nuôi kết hôn: nghỉ 01 ngày;
c) Cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ
hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 03 ngày.
2. Người
lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng
lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; cha
hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.
3. Ngoài
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động có thể thỏa thuận với
người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.
Mục 3. THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI ĐỐI VỚI NGƯỜI
LÀM CÔNG VIỆC CÓ TÍNH CHẤT ĐẶC BIỆT
Điều 116. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người
làm công việc có tính chất đặc biệt
Đối với
các công việc có tính chất đặc biệt trong lĩnh vực vận tải đường bộ, đường sắt,
đường thủy, đường hàng không; thăm dò, khai thác dầu khí trên biển; làm việc
trên biển; trong lĩnh vực nghệ thuật; sử dụng kỹ thuật bức xạ và hạt nhân; ứng
dụng kỹ thuật sóng cao tần; tin học, công nghệ tin học; nghiên cứu ứng dụng
khoa học, công nghệ tiên tiến; thiết kế công nghiệp; công việc của thợ lặn;
công việc trong hầm lò; công việc sản xuất có tính thời vụ, công việc gia công
theo đơn đặt hàng; công việc phải thường trực 24/24 giờ; các công việc có tính
chất đặc biệt khác do Chính phủ quy định thì các Bộ, ngành quản lý quy định cụ
thể thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi sau khi thống nhất với Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội và phải tuân thủ quy định tại Điều 109 của
Bộ luật này.
Chương VIII
KỶ LUẬT LAO
ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT
Mục 1. KỶ LUẬT LAO ĐỘNG
Điều 117. Kỷ luật lao động
Kỷ luật lao
động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản
xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và
do pháp luật quy định.
Điều 118. Nội quy lao động
1. Người
sử dụng lao động phải ban hành nội quy lao động, nếu sử dụng từ 10 người lao động
trở lên thì nội quy lao động phải bằng văn bản.
2. Nội
dung nội quy lao động không được trái với pháp luật về lao động và quy định của
pháp luật có liên quan. Nội quy lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau
đây:
a) Thời
giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
b) Trật tự
tại nơi làm việc;
c) An
toàn, vệ sinh lao động;
d) Phòng,
chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy
rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Việc bảo
vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử
dụng lao động;
e) Trường
hợp được tạm thời chuyển người lao động làm việc khác so với hợp đồng lao động;
g) Các
hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ
luật lao động;
h) Trách
nhiệm vật chất;
i) Người
có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động.
3. Trước
khi ban hành nội quy lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, người sử
dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ
sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
4. Nội
quy lao động phải được thông báo đến người lao động và những nội dung chính phải
được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 119. Đăng ký nội quy lao động
1. Người
sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải đăng ký nội quy lao
động tại cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người
sử dụng lao động đăng ký kinh doanh.
2. Trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động
phải nộp hồ sơ đăng ký nội quy lao động.
3. Trong
thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký nội quy lao động,
nếu nội dung nội quy lao động có quy định trái với pháp luật thì cơ quan chuyên
môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo, hướng dẫn người sử dụng
lao động sửa đổi, bổ sung và đăng ký lại.
4. Người
sử dụng lao động có các chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh đặt ở nhiều
địa bàn khác nhau thì gửi nội quy lao động đã được đăng ký đến cơ quan chuyên
môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, đơn vị, cơ sở
sản xuất, kinh doanh.
5. Căn cứ
điều kiện cụ thể, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện thực hiện việc đăng ký nội quy lao động theo quy định tại Điều này.
Điều 120. Hồ sơ đăng ký nội quy lao động
Hồ sơ
đăng ký nội quy lao động bao gồm:
1. Văn bản
đề nghị đăng ký nội quy lao động;
2. Nội
quy lao động;
3. Văn bản
góp ý của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở;
4. Các
văn bản của người sử dụng lao động có quy định liên quan đến kỷ luật lao động
và trách nhiệm vật chất (nếu có).
Điều 121. Hiệu lực của nội quy lao động
Nội quy
lao động có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định tại Điều 119 của Bộ luật này nhận được đầy đủ hồ sơ
đăng ký nội quy lao động.
Trường hợp
người sử dụng lao động sử dụng dưới 10 người lao động ban hành nội quy lao động
bằng văn bản thì hiệu lực do người sử dụng lao động quyết định trong nội quy
lao động.
Điều 122. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động
1. Việc xử
lý kỷ luật lao động được quy định như sau:
a) Người
sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
b) Phải
có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động
đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;
c) Người
lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện
người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự
tham gia của người đại diện theo pháp luật;
d) Việc xử
lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.
2. Không
được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm
kỷ luật lao động.
3. Khi một
người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng
hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
4. Không
được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau
đây:
a) Nghỉ ốm
đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
b) Đang bị
tạm giữ, tạm giam;
c) Đang chờ
kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi
vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật
này;
d) Người
lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
5. Không
xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong
khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình.
6. Chính
phủ quy định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động.
Điều 123. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động
1. Thời
hiệu xử lý kỷ luật lao động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường
hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật
công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ
luật lao động là 12 tháng.
2. Khi hết
thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật này, nếu
hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời
hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian
nêu trên.
3. Người
sử dụng lao động phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 124. Hình thức xử lý kỷ luật lao động
1. Khiển
trách.
2. Kéo
dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng.
3. Cách
chức.
4. Sa thải.
Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải
Hình thức
xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau
đây:
1. Người
lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng
ma tuý tại nơi làm việc;
2. Người
lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng
hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử
dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội
quy lao động;
3. Người
lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm
trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại
hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người
lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng
dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý
do chính đáng.
Trường hợp
được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân
nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp
khác được quy định trong nội quy lao động.
Điều 126. Xóa kỷ luật, giảm thời hạn chấp hành kỷ luật lao
động
1. Người
lao động bị khiển trách sau 03 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn
nâng lương sau 06 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức sau 03 năm kể từ ngày bị
xử lý, nếu không tiếp tục vi phạm kỷ luật lao động thì đương nhiên được xóa kỷ
luật.
2. Người
lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau khi chấp hành được một
nửa thời hạn nếu sửa chữa tiến bộ thì có thể được người sử dụng lao động xét giảm
thời hạn.
Điều 127. Các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động
1. Xâm phạm
sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phẩm của người lao động.
2. Phạt
tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.
3. Xử lý
kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định
trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết
hoặc pháp luật về lao động không có quy định.
Điều 128. Tạm đình chỉ công việc
1. Người
sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc
vi phạm có những tình tiết phức tạp nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm
việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người
lao động chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xem xét tạm đình chỉ công việc là
thành viên.
2. Thời hạn
tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt không được
quá 90 ngày. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm
ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.
Hết thời
hạn tạm đình chỉ công việc, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở
lại làm việc.
3. Trường
hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả
lại số tiền lương đã tạm ứng.
4. Trường
hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động thì được người sử dụng lao động
trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Mục 2. TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT
Điều 129. Bồi thường thiệt hại
1. Người
lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản
của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc
nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Trường hợp
người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không
quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người
lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền
lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản
3 Điều 102 của Bộ luật này.
2. Người
lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài
sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho
phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường
hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường
theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh
nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và
không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng
cho phép thì không phải bồi thường.
Điều 130. Xử lý bồi thường thiệt hại
1. Việc
xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt
hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.
2. Chính
phủ quy định trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại.
Điều 131. Khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
Người bị
xử lý kỷ luật lao động, bị tạm đình chỉ công việc hoặc phải bồi thường theo chế
độ trách nhiệm vật chất nếu thấy không thỏa đáng có quyền khiếu nại với người sử
dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu
giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.
Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Chương IX
AN TOÀN, VỆ
SINH LAO ĐỘNG
Điều 132. Tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Người sử dụng
lao động, người lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động,
sản xuất, kinh doanh phải thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh
lao động.
Điều 133. Chương trình an toàn, vệ sinh lao động
1. Chính
phủ quyết định Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động.
2. Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Chương trình an
toàn, vệ sinh lao động của địa phương và đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội.
Điều 134. Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc
1. Người
sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an
toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
2. Người
lao động có trách nhiệm chấp hành quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về an
toàn, vệ sinh lao động; tuân thủ pháp luật và nắm vững kiến thức, kỹ năng về
các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
Chương X
NHỮNG QUY ĐỊNH
RIÊNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI
Điều 135. Chính sách của Nhà nước
1. Bảo đảm
quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm
bình đẳng giới và phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
2. Khuyến
khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc
làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt,
làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà.
3. Có biện
pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp,
chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ
nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài
hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.
4. Có
chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ
theo quy định của pháp luật về thuế.
5. Nhà nước
có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động. Mở
rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và
phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ.
6. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 136. Trách nhiệm của người sử dụng lao động
1. Bảo đảm
thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng,
bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền
lương và các chế độ khác.
2. Tham
khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề
liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ.
3. Bảo đảm
có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc.
4. Giúp đỡ,
hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo
cho người lao động.
Điều 137. Bảo vệ thai sản
1. Người
sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm
giờ và đi công tác xa trong trường hợp sau đây:
a) Mang
thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo;
b) Đang
nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
2. Lao động
nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản
và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì
được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc
giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi
ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
3. Người
sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối
với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12
tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng
lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về
đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại
diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
đại diện theo pháp luật.
Trường hợp
hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con
dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
4. Lao động
nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi
con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời
gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Điều 138. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao
động của lao động nữ mang thai
1. Lao động
nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc
tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Trường hợp
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới
thai nhi.
2. Trường
hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động
thỏa thuận với người sử dụng lao động nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ
định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai
bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Điều 139. Nghỉ thai sản
1.4[4] Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con
là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước
và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02
tháng.
Trường hợp
lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người
mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
2. Trong thời
gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội.
3. Hết thời
gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động
nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người
sử dụng lao động.
4. Trước
khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ
có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động
phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe
của người lao động. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm
việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp
thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
5. Lao động
nam khi vợ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao
động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều 140. Bảo đảm việc làm cho lao động nghỉ thai sản
Lao động
được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo
quy định tại các khoản 1, 3 và 5 Điều 139 của Bộ luật này
mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ thai sản;
trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc
làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.
Điều 141. Trợ cấp trong thời gian chăm sóc con ốm đau, thai
sản và thực hiện các biện pháp tránh thai
Thời gian
nghỉ việc khi chăm sóc con dưới 07 tuổi ốm đau, khám thai, sẩy thai, nạo, hút
thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, triệt
sản, người lao động được hưởng trợ cấp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội.
Điều 142. Nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng
sinh sản và nuôi con
1. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành danh mục nghề, công việc có ảnh hưởng
xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con.
2. Người
sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy
cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện
an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm
công việc thuộc danh mục quy định tại khoản 1 Điều này.
Chương XI
NHỮNG QUY ĐỊNH
RIÊNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ MỘT SỐ LAO ĐỘNG KHÁC
Mục 1. LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
Điều 143. Lao động chưa thành niên
1. Lao động
chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi.
2. Người
từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi
làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.
3. Người
từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ
trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.
4. Người
chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản
3 Điều 145 của Bộ luật này.
Điều 144. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
1. Lao động
chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát
triển thể lực, trí lực, nhân cách.
2. Người
sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm
chăm sóc người lao động về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình
lao động.
3. Khi sử
dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của
cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày
tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ
và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
4. Người
sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa,
giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
Điều 145. Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
1. Khi sử
dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải
tuân theo quy định sau đây:
a) Phải
giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại
diện theo pháp luật của người đó;
b) Bố trí
giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;
c) Phải
có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức
khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe
định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng;
d) Bảo đảm
điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
2. Người
sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ
15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều
143 của Bộ luật này.
3. Người
sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc,
trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự
phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự
đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết Điều này.
Điều 146. Thời giờ làm việc của người chưa thành niên
1. Thời
giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và
20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
2. Thời
giờ làm việc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá
08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Người từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề,
công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban
hành.
Điều 147. Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động
từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
1. Cấm sử
dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc sau
đây:
a) Mang,
vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
b) Sản xuất,
kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây
nghiện khác;
c) Sản xuất,
sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
d) Bảo
trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;
đ) Phá dỡ
các công trình xây dựng;
e) Nấu,
thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
g) Lặn biển,
đánh bắt thủy, hải sản xa bờ;
h) Công
việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người
chưa thành niên.
2. Cấm sử
dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc ở các nơi sau
đây:
a) Dưới
nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
b) Công
trường xây dựng;
c) Cơ sở
giết mổ gia súc;
d) Sòng bạc,
quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm
hơi, cơ sở xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử;
đ) Nơi
làm việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người
chưa thành niên.
3. Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định danh mục tại điểm h khoản 1 và điểm
đ khoản 2 Điều này.
Mục 2. NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI
Điều 148. Người lao động cao tuổi
1. Người
lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật này.
2. Người
lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn
thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
3. Nhà nước
khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe để bảo
đảm quyền lao động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Điều 149. Sử dụng người lao động cao tuổi
1. Khi sử
dụng người lao động cao tuổi, hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp
đồng lao động xác định thời hạn.
2. Khi
người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã
hội mà làm việc theo hợp đồng lao động mới thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo
chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi được hưởng tiền lương và các quyền lợi
khác theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động.
3. Không
được sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức
khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an
toàn.
4. Người
sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe của người lao động
cao tuổi tại nơi làm việc.
Mục 3. NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI,
LAO ĐỘNG CHO CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM, LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI NƯỚC
NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM
Điều 150. Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,
lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
1. Nhà nước
khuyến khích doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tìm kiếm và mở rộng thị
trường lao động để đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải tuân theo quy định của pháp luật Việt
Nam, pháp luật nước sở tại, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Công
dân Việt Nam làm việc cho các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, trong khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao hoặc làm việc cho cá nhân
là công dân nước ngoài tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam và được
pháp luật bảo vệ.
3. Chính
phủ quy định chi tiết việc tuyển dụng, quản lý lao động Việt Nam làm việc cho
các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 151. Điều kiện người lao động nước ngoài làm việc
tại Việt Nam
1. Người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là người có quốc tịch nước ngoài và
phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đủ 18
tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc; có đủ sức khỏe
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
c) Không
phải là người đang trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án
tích hoặc đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật Việt Nam;
d) Có giấy
phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ trường hợp
quy định tại Điều 154 của Bộ luật này.
2. Thời hạn
của hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
không được vượt quá thời hạn của Giấy phép lao động. Khi sử dụng người lao động
nước ngoài làm việc tại Việt Nam, hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần
hợp đồng lao động xác định thời hạn.
3. Người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt
Nam và được pháp luật Việt Nam bảo vệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Điều 152. Điều kiện tuyển dụng, sử dụng người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam
1. Doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu chỉ được tuyển dụng người lao động
nước ngoài vào làm vị trí công việc quản lý, điều hành, chuyên gia và lao động
kỹ thuật mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất,
kinh doanh.
2. Doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân trước khi tuyển dụng người lao động nước
ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được
sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Nhà thầu
trước khi tuyển và sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải kê
khai cụ thể các vị trí công việc, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm
làm việc, thời gian làm việc cần sử dụng lao động nước ngoài để thực hiện gói
thầu và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 153. Trách nhiệm của người sử dụng lao động và người
lao động nước ngoài
1. Người
lao động nước ngoài phải xuất trình giấy phép lao động khi có yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động sẽ bị buộc
xuất cảnh hoặc trục xuất theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất
cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
3. Người
sử dụng lao động sử dụng người lao động nước ngoài làm việc cho mình mà không
có giấy phép lao động thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 154. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
không thuộc diện cấp giấy phép lao động
1. Là chủ
sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có giá trị góp vốn
theo quy định của Chính phủ.
2. Là Chủ
tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần có
giá trị góp vốn theo quy định của Chính phủ.
3. Là Trưởng
văn phòng đại diện, dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức
quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
4. Vào Việt
Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ.
5. Vào Việt
Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ
phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh
doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt
Nam không xử lý được.
6. Là luật
sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định
của Luật Luật sư.
7. Trường
hợp theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.
8. Người
nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
8a.5[5] Nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao theo quy
định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số.
9. Trường
hợp khác theo quy định của Chính phủ.
Điều 155. Thời hạn của giấy phép lao động
Thời hạn
của giấy phép lao động tối đa là 02 năm, trường hợp gia hạn thì chỉ được gia hạn
một lần với thời hạn tối đa là 02 năm.
Điều 156. Các trường hợp giấy phép lao động hết hiệu lực
1. Giấy
phép lao động hết thời hạn.
2. Chấm dứt
hợp đồng lao động.
3. Nội
dung của hợp đồng lao động không đúng với nội dung của giấy phép lao động đã được
cấp.
4. Làm việc
không đúng với nội dung trong giấy phép lao động đã được cấp.
5. Hợp đồng
trong các lĩnh vực là cơ sở phát sinh giấy phép lao động hết thời hạn hoặc chấm
dứt.
6. Có văn
bản thông báo của phía nước ngoài thôi cử lao động là người nước ngoài làm việc
tại Việt Nam.
7. Doanh
nghiệp, tổ chức, đối tác phía Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài tại Việt Nam sử
dụng lao động là người nước ngoài chấm dứt hoạt động.
8. Giấy
phép lao động bị thu hồi.
Điều 157. Cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động,
giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động
Chính phủ
quy định điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép
lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Mục 4. LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Điều 158. Chính sách của Nhà nước đối với lao động là người
khuyết tật
Nhà nước
bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động là người khuyết tật;
có chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp đối với người sử dụng lao động trong
tạo việc làm và nhận người lao động là người khuyết tật vào làm việc theo quy định
của pháp luật về người khuyết tật.
Điều 159. Sử dụng lao động là người khuyết tật
1. Người
sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn,
vệ sinh lao động và tổ chức khám sức khỏe định kỳ phù hợp với người lao động là
người khuyết tật.
2. Người
sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật
khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ.
Điều 160. Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là
người khuyết tật
1. Sử dụng
người lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở
lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào
ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý.
2. Sử dụng
người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo
danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có
sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp
đầy đủ thông tin về công việc đó.
Mục 5. LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
Điều 161. Lao động là người giúp việc gia đình
1. Lao động
là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc
trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình.
Các công
việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc
người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ
gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.
2. Chính
phủ quy định về lao động là người giúp việc gia đình.
Điều 162. Hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp
việc gia đình
1. Người
sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là
người giúp việc gia đình.
2. Thời hạn
của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên
thỏa thuận. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi
nào nhưng phải báo trước ít nhất 15 ngày.
3. Hai
bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả
lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở.
Điều 163. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sử dụng
lao động là người giúp việc gia đình
1. Thực
hiện đầy đủ thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động.
2. Trả
cho người giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy
định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế.
3. Tôn trọng
danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình.
4. Bố trí
chỗ ăn, ở hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình nếu có thỏa thuận.
5. Tạo cơ
hội cho người giúp việc gia đình được tham gia học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp.
6. Trả tiền
tàu xe đi đường khi người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường
hợp người giúp việc gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.
Điều 164. Nghĩa vụ của lao động là người giúp việc gia đình
1. Thực hiện
đầy đủ thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng lao động.
2. Phải bồi
thường theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu làm hỏng, mất tài sản
của người sử dụng lao động.
3. Thông
báo kịp thời với người sử dụng lao động về khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa
an toàn, sức khỏe, tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng lao động và bản
thân.
4. Tố cáo
với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy
rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật.
Điều 165. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng
lao động
1. Ngược
đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người
giúp việc gia đình.
2. Giao
việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động.
3. Giữ giấy
tờ tùy thân của người lao động.
Mục 6. MỘT SỐ LAO ĐỘNG KHÁC
Điều 166. Người lao động làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật,
thể dục, thể thao, hàng hải, hàng không
Người lao
động làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao, hàng hải, hàng
không được áp dụng một số chế độ phù hợp về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề; hợp đồng lao động; tiền lương, tiền thưởng; thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi; an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của Chính phủ.
Điều 167. Người lao động nhận công việc về làm tại nhà
Người lao
động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nhận việc về làm tại nhà.
Chương XII
BẢO HIỂM XÃ
HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Điều 168. Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp
1. Người
sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
Khuyến
khích người sử dụng lao động, người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm
khác đối với người lao động.
2. Trong
thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì người sử dụng
lao động không phải trả lương cho người lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa
thuận khác.
3. Đối với
người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả
thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với
mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Điều 169. Tuổi nghỉ hưu
1. Người
lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.
2. Tuổi
nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh
theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60
tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm
2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là
đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động
nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối
với lao động nữ.
3. Người
lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc
ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi
thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm
nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Người lao
động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể
nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại
khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương XIII
TỔ CHỨC ĐẠI
DIỆN NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CƠ SỞ
Điều 170. Quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của
tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
1. Người lao
động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật
Công đoàn.
2. Người
lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động
của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định tại các điều 172, 173 và 174 của Bộ luật này.
3. Các tổ
chức đại diện người lao động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động.
Điều 171. Công đoàn cơ sở thuộc hệ thống tổ chức Công đoàn
Việt Nam
1. Công
đoàn cơ sở thuộc hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam được thành lập ở các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp.
2. Việc
thành lập, giải thể, tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở được thực hiện
theo quy định của Luật Công đoàn.
Điều 172. Thành lập, gia nhập tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp
1. Tổ chức
của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp sau
khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký.
Tổ chức của
người lao động tại doanh nghiệp tổ chức và hoạt động phải bảo đảm nguyên tắc
tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ; tự nguyện, tự quản, dân chủ, minh bạch.
2. Tổ chức
của người lao động tại doanh nghiệp bị thu hồi đăng ký khi vi phạm về tôn chỉ, mục
đích của tổ chức quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 của Bộ luật
này hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại
trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể hoặc doanh nghiệp giải
thể, phá sản.
3. Trường
hợp tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp gia nhập Công đoàn Việt Nam thì
thực hiện theo quy định của Luật Công đoàn.
4. Chính
phủ quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký; thẩm quyền, thủ tục cấp đăng
ký, thu hồi đăng ký; quản lý nhà nước đối với vấn đề tài chính, tài sản của tổ
chức của người lao động tại doanh nghiệp; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải
thể, quyền liên kết của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Điều 173. Ban lãnh đạo và thành viên tổ chức của người lao
động tại doanh nghiệp
1. Tại thời
điểm đăng ký, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải có số lượng tối
thiểu thành viên là người lao động làm việc tại doanh nghiệp theo quy định của
Chính phủ.
2. Ban
lãnh đạo do thành viên của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu.
Thành viên ban lãnh đạo là người lao động Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp;
không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt
hoặc chưa được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội
xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội
xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Điều 174. Điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
1. Điều lệ
tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau
đây:
a) Tên, địa
chỉ tổ chức; biểu tượng (nếu có);
b) Tôn chỉ,
mục đích và phạm vi hoạt động là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của
thành viên tổ chức mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp; cùng với người
sử dụng lao động giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích
của người lao động và người sử dụng lao động; xây dựng quan hệ lao động tiến bộ,
hài hòa và ổn định;
c) Điều
kiện, thủ tục gia nhập và ra khỏi tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Trong một
tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không đồng thời có thành viên là
người lao động thông thường và thành viên là người lao động trực tiếp tham gia
vào quá trình ra quyết định liên quan đến điều kiện lao động, tuyển dụng lao động,
kỷ luật lao động, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chuyển người lao động làm
công việc khác;
d) Cơ cấu
tổ chức, nhiệm kỳ, người đại diện của tổ chức;
đ) Nguyên
tắc tổ chức, hoạt động;
e) Thể thức
thông qua quyết định của tổ chức.
Những nội
dung phải do thành viên quyết định theo đa số bao gồm thông qua, sửa đổi, bổ
sung điều lệ của tổ chức; bầu cử, miễn nhiệm người đứng đầu và thành viên ban
lãnh đạo của tổ chức; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, đổi tên, giải thể, liên kết
tổ chức; gia nhập Công đoàn Việt Nam;
g) Phí
thành viên, nguồn tài sản, tài chính và việc quản lý, sử dụng tài sản, tài
chính của tổ chức.
Việc thu,
chi tài chính của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải được theo dõi,
lưu trữ và định kỳ hằng năm công khai cho thành viên của tổ chức;
h) Kiến
nghị và giải quyết kiến nghị của thành viên trong nội bộ tổ chức.
2. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 175. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng
lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở
1. Phân
biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở vì lý do thành lập, gia nhập hoặc hoạt động tổ chức đại
diện người lao động, bao gồm:
a) Yêu cầu
tham gia, không tham gia hoặc ra khỏi tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
để được tuyển dụng, giao kết hoặc gia hạn hợp đồng lao động;
b) Sa thải,
kỷ luật, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, không tiếp tục giao kết hoặc
gia hạn hợp đồng lao động, chuyển người lao động làm công việc khác;
c) Phân
biệt đối xử về tiền lương, thời giờ làm việc, các quyền và nghĩa vụ khác trong
quan hệ lao động;
d) Cản trở,
gây khó khăn liên quan đến công việc nhằm làm suy yếu hoạt động của tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở.
2. Can
thiệp, thao túng quá trình thành lập, bầu cử, xây dựng kế hoạch công tác và tổ
chức thực hiện các hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, bao
gồm cả việc hỗ trợ tài chính hoặc các biện pháp kinh tế khác nhằm làm vô hiệu
hóa hoặc suy yếu việc thực hiện chức năng đại diện của tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở hoặc phân biệt đối xử giữa các tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở.
Điều 176. Quyền của thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở
1. Thành
viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền sau
đây:
a) Tiếp cận
người lao động tại nơi làm việc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở. Việc thực hiện quyền này phải bảo đảm
không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người sử dụng lao động;
b) Tiếp cận
người sử dụng lao động để thực hiện các nhiệm vụ đại diện của tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở;
c) Được sử
dụng thời gian làm việc theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này để thực
hiện công việc của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà vẫn được người
sử dụng lao động trả lương;
d) Được
hưởng các bảo đảm khác trong quan hệ lao động và trong việc thực hiện chức năng
đại diện theo quy định của pháp luật.
2. Chính
phủ quy định thời gian tối thiểu mà người sử dụng lao động dành cho toàn bộ
thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để thực
hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện trên cơ sở số lượng thành viên của tổ chức.
3. Tổ chức
đại diện người lao động tại cơ sở và người sử dụng lao động thỏa thuận về thời
gian tăng thêm so với thời gian tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều này và cách
thức sử dụng thời gian làm việc của thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế.
Điều 177. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với
tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
1. Không
được cản trở, gây khó khăn khi người lao động tiến hành các hoạt động hợp pháp
nhằm thành lập, gia nhập và tham gia các hoạt động của tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở.
2. Công
nhận và tôn trọng các quyền của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đã được
thành lập hợp pháp.
3. Phải
thỏa thuận bằng văn bản với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ
luật sa thải đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở. Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải
báo cáo với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau
30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định. Trường hợp không
nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động thì người lao động, ban lãnh
đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu giải quyết
tranh chấp lao động theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
4. Phải
gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là
thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang
trong nhiệm kỳ mà hết hạn hợp đồng lao động.
5. Các
nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 178. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao
động tại cơ sở trong quan hệ lao động
1. Thương
lượng tập thể với người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật này.
2. Đối
thoại tại nơi làm việc theo quy định của Bộ luật này.
3. Được
tham khảo ý kiến xây dựng và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, mức
lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động và những vấn đề
liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động là thành viên của mình.
4. Đại diện
cho người lao động trong quá trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp lao động cá
nhân khi được người lao động ủy quyền.
5. Tổ chức
và lãnh đạo đình công theo quy định của Bộ luật này.
6. Tiếp nhận
hỗ trợ kỹ thuật của cơ quan, tổ chức đăng ký hoạt động hợp pháp tại Việt Nam nhằm
tìm hiểu pháp luật về lao động; về trình tự, thủ tục thành lập tổ chức đại diện
người lao động và việc tiến hành các hoạt động đại diện trong quan hệ lao động
sau khi được cấp đăng ký.
7. Được
người sử dụng lao động bố trí nơi làm việc và được cung cấp thông tin, bảo đảm
các điều kiện cần thiết cho hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở.
8. Các
quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Chương XIV
GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
Mục 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
Điều 179. Tranh chấp lao động
1. Tranh
chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các
bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp
giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan
hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Các loại tranh chấp lao động
bao gồm:
a) Tranh
chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người
lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;
b) Tranh
chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại
diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của
người sử dụng lao động.
2. Tranh
chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện
người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người
sử dụng lao động phát sinh trong trường hợp sau đây:
a) Có sự
khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể,
nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác;
b) Có sự
khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;
c) Khi
người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động,
thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập,
gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng
tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.
3. Tranh
chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Tranh
chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể;
b) Khi một
bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo
quy định của pháp luật.
Điều 180. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động
1. Tôn trọng
quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải
quyết tranh chấp lao động.
2. Coi trọng
giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng
quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội,
không trái pháp luật.
3. Công
khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.
4. Bảo đảm
sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.
5. Việc
giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc
theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh
chấp đồng ý.
Điều 181. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong giải quyết
tranh chấp lao động
1. Cơ
quan quản lý nhà nước về lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức đại diện
người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động hướng dẫn, hỗ trợ và
giúp đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động.
2. Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội tổ chức việc tập huấn, nâng cao năng lực chuyên
môn của hòa giải viên lao động, trọng tài viên lao động trong giải quyết tranh
chấp lao động.
3. Khi có
yêu cầu, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận
yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động và có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn,
hỗ trợ, giúp đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động.
Trong thời
hạn 05 ngày làm việc, cơ quan tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
có trách nhiệm chuyển yêu cầu đến hòa giải viên lao động đối với trường hợp bắt
buộc phải qua thủ tục hòa giải lao động, chuyển đến Hội đồng trọng tài trong
trường hợp yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết hoặc hướng dẫn gửi đến Tòa án
để giải quyết.
Điều 182. Quyền và nghĩa vụ của hai bên trong giải quyết
tranh chấp lao động
1. Trong
giải quyết tranh chấp lao động, các bên có quyền sau đây:
a) Trực
tiếp hoặc thông qua đại diện để tham gia vào quá trình giải quyết;
b) Rút
yêu cầu hoặc thay đổi nội dung yêu cầu;
c) Yêu cầu
thay đổi người tiến hành giải quyết tranh chấp lao động nếu có lý do cho rằng
người đó có thể không vô tư hoặc không khách quan.
2. Trong
giải quyết tranh chấp lao động, các bên có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp
đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình;
b) Chấp
hành thỏa thuận đã đạt được, quyết định của Ban trọng tài lao động, bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 183. Quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp lao động
Cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có quyền yêu cầu các bên tranh chấp, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ, trưng cầu giám định, mời
người làm chứng và người có liên quan.
Điều 184. Hòa giải viên lao động
1. Hòa giải
viên lao động là người do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để hòa giải
tranh chấp lao động, tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề; hỗ trợ phát triển
quan hệ lao động.
2. Chính
phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, chế độ, điều kiện hoạt động
và việc quản lý hòa giải viên lao động; thẩm quyền, trình tự, thủ tục cử hòa giải
viên lao động.
Điều 185. Hội đồng trọng tài lao động
1. Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng trọng tài lao động, bổ
nhiệm Chủ tịch, thư ký và các trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài
lao động. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là 05 năm.
2. Số lượng
trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do
các bên đề cử, cụ thể như sau:
a) Tối
thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh đề cử, trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng
là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Tối
thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;
c) Tối
thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa
bàn tỉnh thống nhất đề cử.
3. Tiêu
chuẩn và chế độ làm việc của trọng tài viên lao động được quy định như sau:
a) Trọng
tài viên lao động là người hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực
quan hệ lao động, có uy tín và công tâm;
b) Khi đề
cử trọng tài viên lao động theo quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan chuyên
môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại
diện của người sử dụng lao động có thể cử người của cơ quan, tổ chức mình hoặc
cử người khác đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đối với trọng tài viên lao động
theo quy định;
c) Thư ký
Hội đồng trọng tài lao động thực hiện nhiệm vụ thường trực của Hội đồng trọng
tài lao động. Trọng tài viên lao động làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc
kiêm nhiệm.
4. Khi có
yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại các điều
189, 193 và 197 của Bộ luật này, Hội đồng trọng tài lao động quyết định
thành lập Ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp như sau:
a) Đại diện
mỗi bên tranh chấp chọn 01 trọng tài viên trong số danh sách trọng tài viên lao
động;
b) Trọng
tài viên lao động do các bên lựa chọn theo quy định tại điểm a khoản này thống
nhất lựa chọn 01 trọng tài viên lao động khác làm Trưởng Ban trọng tài lao động;
c) Trường
hợp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp
lao động thì Ban trọng tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được
lựa chọn.
5. Ban trọng
tài lao động làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường
hợp quy định tại điểm c khoản 4 Điều này.
6. Chính
phủ quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn
nhiệm, chế độ và điều kiện hoạt động của trọng tài viên lao động, Hội đồng trọng
tài lao động; tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động; việc thành
lập và hoạt động của Ban trọng tài lao động quy định tại Điều này.
Điều 186. Cấm hành động đơn phương trong khi tranh chấp lao
động đang được giải quyết
Khi tranh
chấp lao động đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết
trong thời hạn theo quy định của Bộ luật này thì không bên nào được hành động
đơn phương chống lại bên kia.
Mục 2. THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
CÁ NHÂN
Điều 187. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1. Hòa giải
viên lao động;
2. Hội đồng
trọng tài lao động;
3. Tòa án
nhân dân.
Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá
nhân của hòa giải viên lao động
1. Tranh
chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa
giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải
quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa
giải:
a) Về xử
lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi
thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa
người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo
hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy
định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
đ) Về bồi
thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa
người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
2. Trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ
bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản
3 Điều 181 của Bộ luật này, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa
giải.
3. Tại phiên
họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền
cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.
4. Hòa giải
viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết
tranh chấp.
Trường hợp
các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.
Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên
lao động.
Trường hợp
các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải
để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải
viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ
ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.
Trường hợp
phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải
viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành
phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.
5. Bản
sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên
tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
6. Trường
hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải
thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải
quyết.
7. Trường
hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này hoặc
trường hợp hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên
lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy
định tại khoản 4 Điều này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong
các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:
a) Yêu cầu
Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều
189 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Điều 189. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng
trọng tài lao động
1. Trên
cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động
giải quyết tranh chấp trong trường hợp quy định tại khoản 7 Điều
188 của Bộ luật này. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết
tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
2. Trong
thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp
theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập
để giải quyết tranh chấp.
3. Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng
tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các
bên tranh chấp.
4. Trường
hợp hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không
được thành lập hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài
lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết.
5. Trường
hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban
trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 190. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân
1. Thời
hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá
nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền
và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời
hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
3. Thời
hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày
phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của mình bị vi phạm.
4. Trường
hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan
hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn
quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách
quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân.
Mục 3. THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
TẬP THỂ VỀ QUYỀN
Điều 191. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể
về quyền
1. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về
quyền bao gồm:
a) Hòa giải
viên lao động;
b) Hội đồng
trọng tài lao động;
c) Tòa án
nhân dân.
2. Tranh
chấp lao động tập thể về quyền phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải
của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc
Tòa án giải quyết.
Điều 192. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
tập thể về quyền
1. Trình
tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động tập thể về quyền được thực hiện theo
quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 188 của Bộ luật này.
Đối với
tranh chấp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 179 của Bộ
luật này mà xác định có hành vi vi phạm pháp luật thì hòa giải viên lao động
lập biên bản và chuyển hồ sơ, tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý
theo quy định của pháp luật.
2. Trong
trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động
không tiến hành hòa giải thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các
phương thức sau để giải quyết tranh chấp:
a) Yêu cầu
Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều
193 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Điều 193. Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của
Hội đồng trọng tài lao động
1. Trên
cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động
giải quyết tranh chấp trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn
hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này mà
hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực
hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành.
2. Trong
thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp
theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập
để giải quyết tranh chấp.
3. Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập, căn cứ vào quy định của pháp luật về
lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các
quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác, Ban trọng tài phải ra quyết định về việc giải
quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.
Đối với
tranh chấp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 179 của Bộ
luật này mà xác định có hành vi vi phạm pháp luật thì Ban trọng tài lao động
không ra quyết định giải quyết mà lập biên bản và chuyển hồ sơ, tài liệu đến cơ
quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường
hợp các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động
theo quy định tại Điều này thì trong thời gian Hội đồng trọng tài lao động đang
tiến hành giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải
quyết.
5. Khi hết
thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được
thành lập hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài lao
động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết.
6. Trường
hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban
trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 194. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
tập thể về quyền
1. Thời
hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động tập
thể về quyền là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho
rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời
hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể
về quyền là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng
quyền hợp pháp của mình bị vi phạm.
3. Thời
hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 01 năm kể
từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình
bị vi phạm.
Mục 4. THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH
Điều 195. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể
về lợi ích
1. Tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Hòa giải
viên lao động;
b) Hội đồng
trọng tài lao động.
2. Tranh
chấp lao động tập thể về lợi ích phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải
của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải
quyết hoặc tiến hành thủ tục đình công.
Điều 196. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
tập thể về lợi ích
1. Trình
tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được thực hiện theo
quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 188 của Bộ luật này.
2. Trường
hợp hòa giải thành, biên bản hòa giải thành phải bao gồm đầy đủ nội dung các
bên đã đạt được thỏa thuận, có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên
lao động. Biên bản hòa giải thành có giá trị pháp lý như thỏa ước lao động tập
thể của doanh nghiệp.
3. Trường
hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản
2 Điều 188 của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải
hoặc một trong các bên không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành
thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải
quyết tranh chấp:
a) Yêu cầu
Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều
197 của Bộ luật này;
b) Tổ chức
đại diện người lao động có quyền tiến hành thủ tục quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này để đình công.
Điều 197. Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
của Hội đồng trọng tài lao động
1. Trên
cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động
giải quyết tranh chấp trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn
hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này mà
hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực
hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành.
2. Trong
thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp
theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập
để giải quyết tranh chấp.
3. Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập, căn cứ vào quy định của pháp luật về
lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các
quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về
việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.
4. Khi
các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động
theo quy định tại Điều này thì tổ chức đại diện người lao động không được tiến
hành đình công trong thời gian Hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành giải
quyết tranh chấp.
Khi hết
thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được
thành lập hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài
không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên
tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài
lao động thì tổ chức đại diện người lao động là bên tranh chấp có quyền tiến hành
thủ tục quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này
để đình công.
Mục 5. ĐÌNH CÔNG
Điều 198. Đình công
Đình công
là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt
được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại
diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động
tập thể tổ chức và lãnh đạo.
Điều 199. Trường hợp người lao động có quyền đình công
Tổ chức đại
diện người lao động là bên tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có quyền tiến
hành thủ tục quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật
này để đình công trong trường hợp sau đây:
1. Hòa giải
không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều
188 của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;
2. Ban trọng
tài lao động không được thành lập hoặc thành lập nhưng không ra quyết định giải
quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện
quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.
Điều 200. Trình tự đình công
1. Lấy ý
kiến về đình công theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật này.
2. Ra quyết
định đình công và thông báo đình công theo quy định tại Điều
202 của Bộ luật này.
3. Tiến
hành đình công.
Điều 201. Lấy ý kiến về đình công
1. Trước
khi tiến hành đình công, tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và
lãnh đạo đình công quy định tại Điều 198 của Bộ luật này có
trách nhiệm lấy ý kiến của toàn thể người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo
của các tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng.
2. Nội
dung lấy ý kiến bao gồm:
a) Đồng ý
hay không đồng ý đình công;
b) Phương
án của tổ chức đại diện người lao động về nội dung quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 202 của Bộ luật này.
3. Việc lấy
ý kiến được thực hiện trực tiếp bằng hình thức lấy phiếu hoặc chữ ký hoặc hình
thức khác.
4. Thời
gian, địa điểm và cách thức tiến hành lấy ý kiến về đình công do tổ chức đại diện
người lao động quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước
ít nhất 01 ngày. Việc lấy ý kiến không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh bình thường của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động không
được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người
lao động tiến hành lấy ý kiến về đình công.
Điều 202. Quyết định đình công và thông báo thời điểm bắt đầu
đình công
1. Khi có
trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với nội dung lấy ý kiến đình công theo
quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật này thì tổ chức đại
diện người lao động ra quyết định đình công bằng văn bản.
2. Quyết
định đình công phải có các nội dung sau đây:
a) Kết quả
lấy ý kiến đình công;
b) Thời điểm
bắt đầu đình công, địa điểm đình công;
c) Phạm
vi tiến hành đình công;
d) Yêu cầu
của người lao động;
đ) Họ
tên, địa chỉ liên hệ của người đại diện cho tổ chức đại diện người lao động tổ
chức và lãnh đạo đình công.
3. Ít nhất
là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công, tổ chức đại diện người lao động
tổ chức và lãnh đạo đình công phải gửi văn bản về việc quyết định đình công cho
người sử dụng lao động, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn về lao
động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Đến thời
điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động vẫn không chấp nhận giải quyết
yêu cầu của người lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh
đạo đình công.
Điều 203. Quyền của các bên trước và trong quá trình đình
công
1. Tiếp tục
thỏa thuận để giải quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể hoặc cùng đề nghị
hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hòa giải, giải
quyết tranh chấp lao động.
2. Tổ chức
đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định tại
Điều 198 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Rút
quyết định đình công nếu chưa đình công hoặc chấm dứt đình công nếu đang đình
công;
b) Yêu cầu
Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp.
3. Người
sử dụng lao động có quyền sau đây:
a) Chấp
nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho tổ chức đại diện
người lao động đang tổ chức và lãnh đạo đình công;
b) Đóng cửa
tạm thời nơi làm việc trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy
trì hoạt động bình thường hoặc để bảo vệ tài sản;
c) Yêu cầu
Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp.
Điều 204. Trường hợp đình công bất hợp pháp
1. Không
thuộc trường hợp được đình công quy định tại Điều 199 của Bộ
luật này.
2. Không
do tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công.
3. Vi phạm
các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công theo quy định của Bộ luật
này.
4. Khi
tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết theo quy định của Bộ luật này.
5. Tiến
hành đình công trong trường hợp không được đình công quy định tại Điều 209 của Bộ luật này.
6. Khi đã
có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
tại Điều 210 của Bộ luật này.
Điều 205. Thông báo quyết định đóng cửa tạm thời nơi làm việc
Ít nhất
03 ngày làm việc trước ngày đóng cửa tạm thời nơi làm việc, người sử dụng lao động
phải niêm yết công khai quyết định đóng cửa tạm thời nơi làm việc tại nơi làm
việc và thông báo cho các cơ quan, tổ chức sau đây:
1. Tổ chức
đại diện người lao động đang tổ chức và lãnh đạo đình công;
2. Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh có nơi làm việc dự kiến đóng cửa;
3. Ủy ban
nhân dân cấp huyện có nơi làm việc dự kiến đóng cửa.
Điều 206. Trường hợp cấm đóng cửa tạm thời nơi làm việc
1. Trước
12 giờ so với thời điểm bắt đầu đình công ghi trong quyết định đình công.
2. Sau
khi người lao động ngừng đình công.
Điều 207. Tiền lương và các quyền lợi hợp pháp khác của người
lao động trong thời gian đình công
1. Người
lao động không tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì
được trả lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 99 của
Bộ luật này và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật về lao động.
2. Người
lao động tham gia đình công không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy
định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Điều 208. Các hành vi bị nghiêm cấm trước, trong và sau khi
đình công
1. Cản trở
việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động
đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc.
2. Dùng bạo
lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động.
3. Xâm phạm
trật tự, an toàn công cộng.
4. Chấm dứt
hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người
lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang
làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc
tham gia đình công.
5. Trù dập,
trả thù người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công.
6. Lợi dụng
đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Điều 209. Nơi sử dụng lao động không được đình công
1. Không
được đình công ở nơi sử dụng lao động mà việc đình công có thể đe dọa đến quốc
phòng, an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe của con người.
2. Chính
phủ quy định danh mục nơi sử dụng lao động không được đình công và việc giải
quyết tranh chấp lao động tại nơi sử dụng lao động không được đình công quy định
tại khoản 1 Điều này.
Điều 210. Quyết định hoãn, ngừng đình công
1. Khi
xét thấy cuộc đình công có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế
quốc dân, lợi ích công cộng, đe dọa đến quốc phòng, an ninh, trật tự công cộng,
sức khỏe của con người thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoãn hoặc
ngừng đình công.
2. Chính
phủ quy định chi tiết việc hoãn, ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của
người lao động.
Điều 211. Xử lý cuộc đình công không đúng trình tự, thủ tục
Trong thời
hạn 12 giờ kể từ khi nhận được thông báo về cuộc đình công không tuân theo quy
định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì, chỉ đạo cơ quan chuyên môn về lao động phối
hợp với công đoàn cùng cấp, cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp gặp gỡ người
sử dụng lao động và đại diện ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở để nghe ý kiến, hỗ trợ các bên tìm biện pháp giải quyết, đưa hoạt động sản
xuất, kinh doanh trở lại bình thường.
Trường hợp
phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì lập biên bản, tiến hành xử lý hoặc
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật theo quy định của pháp luật.
Đối với
các nội dung tranh chấp lao động thì tùy từng loại tranh chấp, hướng dẫn, hỗ trợ
các bên tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ
luật này.
Chương XV
QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
Điều 212. Nội dung quản lý nhà nước về lao động
1. Ban
hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lao động.
2. Theo
dõi, thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và biến động cung, cầu lao động;
quyết định chính sách tiền lương đối với người lao động; quyết định chính sách,
quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội,
giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề; xây dựng khung trình độ kỹ năng
nghề quốc gia, khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ thuộc giáo
dục nghề nghiệp. Quy định danh mục nghề chỉ được sử dụng lao động đã qua đào tạo
giáo dục nghề nghiệp hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
3. Tổ chức
và tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động; thống kê, thông tin về lao động
và thị trường lao động, về mức sống, tiền lương và thu nhập của người lao động;
quản lý lao động về số lượng, chất lượng và biến động lao động.
4. Xây dựng
các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn
định; thúc đẩy việc áp dụng quy định của Bộ luật này đối với người làm việc
không có quan hệ lao động; thực hiện việc đăng ký và quản lý hoạt động của
tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
5. Kiểm
tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao
động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật.
6. Hợp
tác quốc tế về lao động.
Điều 213. Thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động
1. Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý
nhà nước về lao động.
3. Bộ, cơ
quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực
hiện và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước
về lao động.
4. Ủy ban
nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa
phương mình.
Chương XVI
THANH TRA
LAO ĐỘNG, XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG
Điều 214. Nội dung thanh tra lao động
1. Thanh
tra việc chấp hành quy định của pháp luật về lao động.
2. Điều
tra tai nạn lao động và vi phạm an toàn, vệ sinh lao động.
3. Tham
gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao
động, an toàn, vệ sinh lao động.
4. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật.
5. Xử lý
theo thẩm quyền và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về
lao động.
Điều 215. Thanh tra chuyên ngành về lao động
1. Thẩm
quyền thanh tra chuyên ngành về lao động thực hiện theo quy định của Luật Thanh
tra.
2. Việc
thanh tra an toàn, vệ sinh lao động thực hiện theo quy định của Luật An toàn, vệ
sinh lao động.
Điều 216. Quyền của thanh tra lao động
Thanh tra
lao động có quyền thanh tra, điều tra nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra được
giao theo quyết định thanh tra.
Khi thanh
tra đột xuất theo quyết định của người có thẩm quyền trong trường hợp khẩn cấp
có nguy cơ đe dọa an toàn, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người
lao động tại nơi làm việc thì không cần báo trước.
Điều 217. Xử lý vi phạm
1. Người
nào có hành vi vi phạm quy định của Bộ luật này thì tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Khi đã
có quyết định của Tòa án về cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao động
đang tham gia đình công phải ngừng ngay đình công và trở lại làm việc; nếu người
lao động không ngừng đình công, không trở lại làm việc thì tùy theo mức độ vi
phạm có thể bị xử lý kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Trong trường
hợp cuộc đình công là bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho người sử dụng lao động
thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công phải bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật.
3. Người
lợi dụng đình công gây mất trật tự, an toàn công cộng, làm tổn hại máy, thiết bị,
tài sản của người sử dụng lao động; người có hành vi cản trở thực hiện quyền
đình công, kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; người có hành
vi trù dập, trả thù người tham gia đình công, người lãnh đạo cuộc đình công thì
tùy theo mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương XVII
ĐIỀU KHOẢN
THI HÀNH6[6]
Điều 218. Miễn, giảm thủ tục đối với trường hợp sử dụng dưới
10 lao động
Người sử
dụng lao động sử dụng dưới 10 người lao động thực hiện quy định của Bộ luật này
nhưng được miễn, giảm một số thủ tục theo quy định của Chính phủ.
Điều 219. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên
quan đến lao động
1. Sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ
sung theo Luật số 84/2015/QH13 và Luật số 35/2018/QH14:
a) Sửa đổi,
bổ sung Điều 54 như sau:
“Điều
54. Điều kiện hưởng lương hưu
1. Người
lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo
hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đủ tuổi
theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
b) Đủ tuổi
theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và
có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở
lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;
c) Người
lao động có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của người lao động
quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có đủ
15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò;
d) Người
bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được
giao.
2. Người
lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này nghỉ việc có
đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi
thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản
2 Điều 169 của Bộ luật Lao động, trừ trường hợp Luật Sĩ quan Quân đội nhân
dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Cơ yếu, Luật Quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân và viên chức quốc phòng có quy định khác;
b) Có tuổi
thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản
3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm
việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm
2021;
c) Người
bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được
giao.
3. Lao động
nữ là cán bộ, công chức cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách ở xã,
phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến
dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động thì được hưởng lương
hưu.
4. Điều
kiện về tuổi hưởng lương hưu đối với một số trường hợp đặc biệt theo quy định của
Chính phủ.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều
55. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động
1. Người
lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật
này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương
hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại các
điểm a, b và c khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi
thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản
2 Điều 169 của Bộ luật Lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến
dưới 81%;
b) Có tuổi
thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản
2 Điều 169 của Bộ luật Lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở
lên;
c) Có đủ
15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc
danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành và bị suy giảm khả
năng lao động từ 61% trở lên.
2. Người
lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc
có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61%
trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng
lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 của
Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi
thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản
2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
b) Có đủ
15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc
danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.”;
c) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 Điều 73 như sau:
“1. Người
lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đủ tuổi
nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
b) Đủ 20
năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.”.
2. Sửa đổi,
bổ sung Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung tên điều, khoản 1; bổ sung các khoản 1a, 1b và 1c vào sau khoản 1 như
sau:
“Điều
32. Những tranh chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh
chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông
qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn
hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động
không tiến hành hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải
qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử
lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi
thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa
người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo
hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy
định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
đ) Về bồi
thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa
người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
1a. Tranh
chấp lao động cá nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động
giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng
tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định
giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban
trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1b. Tranh
chấp lao động tập thể về quyền theo quy định của pháp luật về lao động đã qua
thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải không thành, hết thời hạn
hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động
không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải
thành thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1c. Tranh
chấp lao động tập thể về quyền mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng
tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động
mà Ban trọng tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra
quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định
của Ban trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”;
b) Bãi bỏ
khoản 2 Điều 32.
Điều 220. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
Bộ luật Lao
động số 10/2012/QH13 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
2. Kể từ
ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập
thể, các thỏa thuận hợp pháp đã giao kết có nội dung không trái hoặc bảo đảm
cho người lao động có quyền và điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của Bộ
luật này được tiếp tục thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc
sửa đổi, bổ sung để phù hợp và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
3. Chế độ
lao động đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội
nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức xã hội, xã viên hợp tác xã, người làm việc
không có quan hệ lao động do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng
đối tượng mà được áp dụng một số quy định trong Bộ luật này.
|
|
XÁC
THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Công
nghiệp công nghệ số.”.
Luật Dân số số 113/2025/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Dân số.”.
Luật Giáo dục nghề nghiệp số
124/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Giáo dục nghề nghiệp.”.
2 Điểm này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 43 của Luật Giáo dục nghề nghiệp số
124/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
3[3] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật Giáo dục
nghề nghiệp số 124/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[4]4 Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Dân số số 113/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[5]5 Khoản này được bổ sung theo
quy định tại khoản 4 Điều 49 của Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[6]6 Điều 50 của Luật Công nghiệp
công nghệ số số 71/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định
như sau:
“Điều 50. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các điều 11, 28 và 29 của
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
3. Trường hợp có quy định
khác nhau về cùng một vấn đề giữa Luật này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội
thì áp dụng quy định của Luật này. Trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật
khác có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Luật này thì đối
tượng được ưu đãi được áp dụng mức ưu đãi có lợi nhất.”.
Khoản 1 Điều 30 của Luật Dân
số số 113/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như
sau:
“Điều 30. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
3. Pháp lệnh Dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật
này có hiệu lực thi hành.”.
Khoản 1 Điều 44 của Luật Giáo dục nghề nghiệp số
124/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 44. Hiệu
lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2026. Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 97/2015/QH13, Luật số 21/2017/QH14, Luật số
43/2019/QH14 và Luật số 84/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Giáo dục nghề nghiệp
số 74/2014/QH13) hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này và các nội dung liên quan trong Điều 45 Luật này.”.