|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 125/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27
tháng 8 năm 2025
|
BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG
Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14
ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2021, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật Công nghiệp công nghệ số số
71/2025/QH15 ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật
Lao động[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Bộ luật Lao động quy định tiêu
chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng
lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử
dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến
quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
1. Người lao động, người học
nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao động.
2. Người sử dụng lao động.
3. Người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Bộ luật này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:
1. Người lao động là người
làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự
quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
Độ tuổi lao động tối thiểu của
người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ
luật này.
2. Người sử dụng lao động là
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn,
sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng
lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
3. Tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người
lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương
lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động.
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của
người lao động tại doanh nghiệp.
4. Tổ chức đại diện người sử
dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
5. Quan hệ lao động là
quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa
người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân
và quan hệ lao động tập thể.
6. Người làm việc không có
quan hệ lao động là người làm việc không trên cơ sở thuê mướn bằng hợp đồng
lao động.
7. Cưỡng bức lao động là
việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người
lao động phải làm việc trái ý muốn của họ.
8. Phân biệt đối xử trong
lao động là hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc,
màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, giới tính, độ tuổi,
tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến,
khuyết tật, trách nhiệm gia đình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV hoặc vì
lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc
nghề nghiệp.
Việc phân biệt, loại trừ hoặc
ưu tiên xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo
vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương thì không bị xem là phân biệt đối
xử.
9. Quấy rối tình dục tại nơi
làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người
khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm
việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc
phân công của người sử dụng lao động.
Điều 4. Chính
sách của Nhà nước về lao động
1. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người lao động, người làm việc không có quan hệ lao động;
khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi
hơn so với quy định của pháp luật về lao động.
2. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng lao động, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công
bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội.
3. Tạo điều kiện thuận lợi đối
với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc
làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động; áp dụng một số quy
định của Bộ luật này đối với người làm việc không có quan hệ lao động.
4. Có chính sách phát triển,
phân bố nguồn nhân lực; nâng cao năng suất lao động; đào tạo, bồi dưỡng và nâng
cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; hỗ trợ duy trì, chuyển đổi nghề
nghiệp, việc làm cho người lao động; ưu đãi đối với người lao động có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp, sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5. Có chính sách phát triển thị
trường lao động, đa dạng các hình thức kết nối cung, cầu lao động.
6. Thúc đẩy người lao động và
người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động
tiến bộ, hài hòa và ổn định.
7. Bảo đảm bình đẳng giới; quy
định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là
người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên.
Điều 5. Quyền
và nghĩa vụ của người lao động
1. Người lao động có các quyền
sau đây:
a) Làm việc; tự do lựa chọn việc
làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; không
bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
b) Hưởng lương phù hợp với
trình độ, kỹ năng nghề trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động; được bảo
hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn, vệ sinh lao động; nghỉ
theo chế độ, nghỉ hằng năm có hưởng lương và được hưởng phúc lợi tập thể;
c) Thành lập, gia nhập, hoạt động
trong tổ chức đại diện người lao động, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo
quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại, thực hiện quy chế dân chủ,
thương lượng tập thể với người sử dụng lao động và được tham vấn tại nơi làm việc
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình; tham gia quản lý theo
nội quy của người sử dụng lao động;
d) Từ chối làm việc nếu có nguy
cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe trong quá trình thực hiện công
việc;
đ) Đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động;
e) Đình công;
g) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
2. Người lao động có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Thực hiện hợp đồng lao động,
thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;
b) Chấp hành kỷ luật lao động,
nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng
lao động;
c) Thực hiện quy định của pháp
luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 6. Quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có
các quyền sau đây:
a) Tuyển dụng, bố trí, quản lý,
điều hành, giám sát lao động; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động;
b) Thành lập, gia nhập, hoạt động
trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức
khác theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu tổ chức đại diện người
lao động thương lượng với mục đích ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia
giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đối thoại, trao đổi với tổ chức đại
diện người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của người lao động;
d) Đóng cửa tạm thời nơi làm việc;
đ) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
2. Người sử dụng lao động có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện hợp đồng lao động,
thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác; tôn trọng danh dự, nhân
phẩm của người lao động;
b) Thiết lập cơ chế và thực hiện
đối thoại, trao đổi với người lao động và tổ chức đại diện người lao động; thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;
c) Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng
nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nhằm duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm
cho người lao động;
d) Thực hiện quy định của pháp
luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng và thực hiện các giải
pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Tham gia phát triển tiêu chuẩn
kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho người lao động.
Điều 7. Xây
dựng quan hệ lao động
1. Quan hệ lao động được xác lập
qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí,
bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.
2. Người sử dụng lao động, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động và người lao động, tổ chức đại diện người
lao động xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định với sự hỗ trợ của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Công đoàn tham gia cùng với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài
hòa và ổn định; giám sát việc thi hành quy định của pháp luật về lao động; bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
4. Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức đại diện của người
sử dụng lao động khác được thành lập theo quy định của pháp luật có vai trò đại
diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tham gia xây
dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Điều 8. Các
hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động
1. Phân biệt đối xử trong lao động.
2. Ngược đãi người lao động, cưỡng
bức lao động.
3. Quấy rối tình dục tại nơi
làm việc.
4. Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề,
tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người học
nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật.
5. Sử dụng lao động chưa qua
đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải
sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
6. Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng
cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng
người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc lợi
dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật.
7. Sử dụng lao động chưa thành
niên trái pháp luật.
Chương II
VIỆC LÀM, TUYỂN DỤNG VÀ
QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
Điều 9. Việc
làm, giải quyết việc làm
1. Việc làm là hoạt động lao động
tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm.
2. Nhà nước, người sử dụng lao
động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người
có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.
Điều 10.
Quyền làm việc của người lao động
1. Được tự do lựa chọn việc
làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp
luật không cấm.
2. Trực tiếp liên hệ với người
sử dụng lao động hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm kiếm việc làm
theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình.
Điều 11.
Tuyển dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có
quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động
cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động theo nhu cầu của người sử dụng lao
động.
2. Người lao động không phải trả
chi phí cho việc tuyển dụng lao động.
Điều 12.
Trách nhiệm quản lý lao động của người sử dụng lao động
1. Lập, cập nhật, quản lý, sử dụng
sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử và xuất trình khi cơ quan
nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
2. Khai trình việc sử dụng lao
động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động, định kỳ báo cáo tình
hình thay đổi về lao động trong quá trình hoạt động với cơ quan chuyên môn về
lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Chương
III
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Mục 1.
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Điều 13. Hợp
đồng lao động
1. Hợp đồng lao động là sự thỏa
thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền
lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng
tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và
sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
2. Trước khi nhận người lao động
vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người
lao động.
Điều 14.
Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được
giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người
sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Hợp đồng lao động được giao kết
thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của
pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
2. Hai bên có thể giao kết hợp
đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản
1 Điều 162 của Bộ luật này.
Điều 15.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện
chí, hợp tác và trung thực.
2. Tự do giao kết hợp đồng lao
động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Điều 16.
Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động
1. Người sử dụng lao động phải
cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc,
điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao
động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn
đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động
yêu cầu.
2. Người lao động phải cung cấp
thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh,
giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình
trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng
lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
Điều 17.
Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp
đồng lao động
1. Giữ bản chính giấy tờ tùy
thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
2. Yêu cầu người lao động phải
thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp
đồng lao động.
3. Buộc người lao động thực hiện
hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động.
Điều 18.
Thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động
1. Người lao động trực tiếp
giao kết hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với công việc theo mùa vụ,
công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18
tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp
đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng
văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động.
Hợp đồng lao động do người được
ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới
tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
3. Người giao kết hợp đồng lao
động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
b) Người đứng đầu cơ quan, tổ
chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền
theo quy định của pháp luật;
c) Người đại diện của hộ gia
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy
quyền theo quy định của pháp luật;
d) Cá nhân trực tiếp sử dụng
lao động.
4. Người giao kết hợp đồng lao
động bên phía người lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người lao động từ đủ 18 tuổi
trở lên;
b) Người lao động từ đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp
luật của người đó;
c) Người chưa đủ 15 tuổi và người
đại diện theo pháp luật của người đó;
d) Người lao động được những
người lao động trong nhóm ủy quyền hợp pháp giao kết hợp đồng lao động.
5. Người được ủy quyền giao kết
hợp đồng lao động không được ủy quyền lại cho người khác giao kết hợp đồng lao
động.
Điều 19.
Giao kết nhiều hợp đồng lao động
1. Người lao động có thể giao kết
nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nhưng phải bảo đảm thực
hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.
2. Người lao động đồng thời
giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì việc tham
gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
và an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 20.
Loại hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được
giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác
định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm
chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
b) Hợp đồng lao động xác định thời
hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu
lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực
của hợp đồng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì
thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới;
trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi
ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;
b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể
từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới
thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp
đồng lao động không xác định thời hạn;
c) Trường hợp hai bên ký kết hợp
đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký
thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp
đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được
thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật
này.
Điều 21. Nội
dung hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải có những
nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người sử dụng
lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người
sử dụng lao động;
b) Họ tên, ngày tháng năm sinh,
giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ
chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động;
c) Công việc và địa điểm làm việc;
d) Thời hạn của hợp đồng lao động;
đ) Mức lương theo công việc hoặc
chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản
bổ sung khác;
e) Chế độ nâng bậc, nâng lương;
g) Thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi;
h) Trang bị bảo hộ lao động cho
người lao động;
i) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế và bảo hiểm thất nghiệp;
k) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
trình độ, kỹ năng nghề.
2. Khi người lao động làm việc
có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của
pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người
lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ,
quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm.
3. Đối với người lao động làm
việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì tùy
theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của hợp đồng
lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường
hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hỏa hoạn, thời tiết.
4. Chính phủ quy định nội dung
của hợp đồng lao động đối với người lao động được thuê làm giám đốc trong doanh
nghiệp có vốn nhà nước.
5. Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định chi tiết các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Điều 22.
Phụ lục hợp đồng lao động
1. Phụ lục hợp đồng lao động là
bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động.
2. Phụ lục hợp đồng lao động
quy định chi tiết, sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của hợp đồng lao động
nhưng không được sửa đổi thời hạn của hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao
động quy định chi tiết một số điều, khoản của hợp đồng lao động mà dẫn đến cách
hiểu khác với hợp đồng lao động thì thực hiện theo nội dung của hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao
động sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của hợp đồng lao động thì phải ghi rõ
nội dung điều, khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực.
Điều 23.
Hiệu lực của hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động có hiệu lực kể
từ ngày hai bên giao kết, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định khác.
Điều 24.
Thử việc
1. Người sử dụng lao động và
người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động
hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng
thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm
a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng thử việc đối với
người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.
Điều 25.
Thời gian thử việc
Thời gian thử việc do hai bên
thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được
thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:
1. Không quá 180 ngày đối với
công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp,
Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh
nghiệp;
2. Không quá 60 ngày đối với
công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng
trở lên;
3. Không quá 30 ngày đối với
công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp,
công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
4. Không quá 06 ngày làm việc đối
với công việc khác.
Điều 26.
Tiền lương thử việc
Tiền lương của người lao động
trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức
lương của công việc đó.
Điều 27. Kết
thúc thời gian thử việc
1. Khi kết thúc thời gian thử
việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Trường hợp thử việc đạt yêu cầu
thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối
với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp
đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.
Trường hợp thử việc không đạt
yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.
2. Trong thời gian thử việc, mỗi
bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà
không cần báo trước và không phải bồi thường.
Mục 2. THỰC
HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Điều 28. Thực
hiện công việc theo hợp đồng lao động
Công việc theo hợp đồng lao động
phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện. Địa điểm làm việc được
thực hiện theo hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.
Điều 29.
Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động
1. Khi gặp khó khăn đột xuất do
thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất,
kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động
làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc
cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với
hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực
hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.
Người sử dụng lao động quy định
cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh
mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc
khác so với hợp đồng lao động.
2. Khi tạm thời chuyển người
lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều
này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03
ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với
sức khỏe, giới tính của người lao động.
3. Người lao động chuyển sang
làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới.
Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được
giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền
lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ
nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.
4. Người lao động không đồng ý
tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng
dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương
ngừng việc theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật này.
Điều 30. Tạm
hoãn thực hiện hợp đồng lao động
1. Các trường hợp tạm hoãn thực
hiện hợp đồng lao động bao gồm:
a) Người lao động thực hiện
nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ;
b) Người lao động bị tạm giữ, tạm
giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;
c) Người lao động phải chấp
hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt
buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
d) Lao động nữ mang thai theo
quy định tại Điều 138 của Bộ luật này;
đ) Người lao động được bổ nhiệm
làm người quản lý doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
e) Người lao động được ủy quyền
để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn
nhà nước tại doanh nghiệp;
g) Người lao động được ủy quyền
để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh
nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác;
h) Trường hợp khác do hai bên
thỏa thuận.
2. Trong thời gian tạm hoãn thực
hiện hợp đồng lao động, người lao động không được hưởng lương và quyền, lợi ích
đã giao kết trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc
pháp luật có quy định khác.
Điều 31.
Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có
mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại
làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời
hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 32.
Làm việc không trọn thời gian
1. Người lao động làm việc
không trọn thời gian là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời
gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần hoặc theo tháng được quy định
trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
2. Người lao động thỏa thuận với
người sử dụng lao động làm việc không trọn thời gian khi giao kết hợp đồng lao
động.
3. Người lao động làm việc
không trọn thời gian được hưởng lương; bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa
vụ với người lao động làm việc trọn thời gian; bình đẳng về cơ hội, không bị
phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 33. Sửa
đổi, bổ sung hợp đồng lao động
1. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động
thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 03 ngày làm việc về nội dung cần sửa
đổi, bổ sung.
2. Trường hợp hai bên thỏa thuận
được thì việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động được tiến hành bằng
việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.
3. Trường hợp hai bên không thỏa
thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực
hiện hợp đồng lao động đã giao kết.
Mục 3. CHẤM
DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Điều 34.
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
1. Hết hạn hợp đồng lao động,
trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.
2. Đã hoàn thành công việc theo
hợp đồng lao động.
3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt
hợp đồng lao động.
4. Người lao động bị kết án phạt
tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do
theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị
cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật.
5. Người lao động là người nước
ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
6. Người lao động chết; bị Tòa
án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
7. Người sử dụng lao động là cá
nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan
chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo
không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và
nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
8. Người lao động bị xử lý kỷ
luật sa thải.
9. Người lao động đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.
10. Người sử dụng lao động đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của
Bộ luật này.
11. Người sử dụng lao động cho
người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của
Bộ luật này.
12. Giấy phép lao động hết hiệu
lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định
tại Điều 156 của Bộ luật này.
13. Trường hợp thỏa thuận nội
dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một
bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc.
Điều 35.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động
như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc
theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc
theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu
làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với một số ngành, nghề,
công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính
phủ.
2. Người lao động có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng
công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa
thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc
trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản
4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động
ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi
làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải
nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định
tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung
cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều
16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Điều 36.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên
không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí
đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động.
Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành
nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với
nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người lao động bị ốm đau,
tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao
động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người
làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến
36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp
đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động
chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động
bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao
động với người lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch
bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện
pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt
tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật
này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ
hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc
mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
g) Người lao động cung cấp
không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của
Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng
người lao động.
2. Khi đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều
này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp
đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp
đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối
với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với
trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d) Đối với một số ngành, nghề,
công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính
phủ.
3. Khi đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng
lao động không phải báo trước cho người lao động.
Điều 37.
Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động
1. Người lao động ốm đau hoặc bị
tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Người lao động đang nghỉ hằng
năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng
ý.
3. Người lao động nữ mang thai;
người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Điều 38. Hủy
bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Mỗi bên đều có quyền hủy bỏ việc
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải
thông báo bằng văn bản và phải được bên kia đồng ý.
Điều 39.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy
định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này.
Điều 40.
Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp
luật
1. Không được trợ cấp thôi việc.
2. Phải bồi thường cho người sử
dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền
tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng
lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.
Điều 41.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật
1. Phải nhận người lao động trở
lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động
không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất
bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc,
người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi
việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí,
công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc
thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về
thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này
thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động
trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động
không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1
Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao
động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản
tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ
cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này,
hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất
bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Điều 42.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ
hoặc vì lý do kinh tế
1. Những trường hợp sau đây được
coi là thay đổi cơ cấu, công nghệ:
a) Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ
chức lại lao động;
b) Thay đổi quy trình, công nghệ,
máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh
của người sử dụng lao động;
c) Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu
sản phẩm.
2. Những trường hợp sau đây được
coi là vì lý do kinh tế: Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;
Thực hiện chính sách, pháp luật
của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.
3. Trường hợp thay đổi cơ cấu,
công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động thì người sử dụng
lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại
Điều 44 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì
ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.
4. Trong trường hợp vì lý do
kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc thì người
sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy
định tại Điều 44 của Bộ luật này.
5. Trong trường hợp người sử dụng
lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc
thì phải trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 của
Bộ luật này.
6. Việc cho thôi việc đối với
người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi
ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên và thông báo trước
30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cho người lao động.
Điều 43.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán,
cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền
sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
1. Trong trường hợp chia, tách,
hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển
nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mà ảnh
hưởng đến việc làm của nhiều người lao động thì người sử dụng lao động phải xây
dựng phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 44 của Bộ
luật này.
2. Người sử dụng lao động hiện
tại và người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm thực hiện phương án sử dụng
lao động đã được thông qua.
3. Người lao động bị thôi việc
thì được nhận trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 của
Bộ luật này.
Điều 44.
Phương án sử dụng lao động
1. Phương án sử dụng lao động
phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Số lượng và danh sách người
lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động được đào tạo lại để tiếp tục sử
dụng, người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian;
b) Số lượng và danh sách người
lao động nghỉ hưu;
c) Số lượng và danh sách người
lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;
d) Quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng lao động, người lao động và các bên liên quan trong việc thực hiện phương
án sử dụng lao động;
đ) Biện pháp và nguồn tài chính
bảo đảm thực hiện phương án.
2. Khi xây dựng phương án sử dụng
lao động, người sử dụng lao động phải trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người
lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Phương án sử dụng lao động phải được thông báo công khai cho người lao động biết
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông qua.
Điều 45.
Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động
1. Người sử dụng lao động phải
thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động
khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp
quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 34 của Bộ luật này.
2. Trường hợp người sử dụng lao
động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động thì thời điểm chấm dứt hợp đồng
lao động tính từ thời điểm có thông báo chấm dứt hoạt động.
Trường hợp người sử dụng lao động
không phải là cá nhân bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được
ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật theo quy
định tại khoản 7 Điều 34 của Bộ luật này thì thời điểm chấm
dứt hợp đồng lao động tính từ ngày ra thông báo.
Điều 46.
Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt
theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của
Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc
cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi
năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện
hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp
quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Thời gian làm việc để tính
trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người
sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được
người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp
thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động
trước khi người lao động thôi việc.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 47.
Trợ cấp mất việc làm
1. Người sử dụng lao động trả
trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ
12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11
Điều 34 của Bộ luật này, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng
ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính
trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho
người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất
nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc
đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp mất
việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động
trước khi người lao động mất việc làm.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 48.
Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động
1. Trong thời hạn 14 ngày làm
việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy
đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau
đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:
a) Người sử dụng lao động không
phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
b) Người sử dụng lao động thay
đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập;
bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu,
quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch
họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của
người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên
thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị
giải thể, phá sản.
3. Người sử dụng lao động có
trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn thành thủ tục xác nhận
thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản
chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;
b) Cung cấp bản sao các tài liệu
liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu.
Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.
Mục 4. HỢP
ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU
Điều 49. Hợp
đồng lao động vô hiệu
1. Hợp đồng lao động vô hiệu
toàn bộ trong trường hợp sau đây:
a) Toàn bộ nội dung của hợp đồng
lao động vi phạm pháp luật;
b) Người giao kết hợp đồng lao
động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này;
c) Công việc đã giao kết trong
hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm.
2. Hợp đồng lao động vô hiệu từng
phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các
phần còn lại của hợp đồng.
Điều 50.
Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Tòa án nhân dân có quyền tuyên
bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Điều 51. Xử
lý hợp đồng lao động vô hiệu
1. Khi hợp đồng lao động bị
tuyên bố vô hiệu từng phần thì xử lý như sau:
a) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của
hai bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng; trường hợp
không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật;
b) Hai bên tiến hành sửa đổi, bổ
sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao
động tập thể hoặc pháp luật về lao động.
2. Khi hợp đồng lao động bị
tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được
giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký sai thẩm quyền thì hai
bên ký lại.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Mục 5. CHO
THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
Điều 52.
Cho thuê lại lao động
1. Cho thuê lại lao động là việc
người lao động giao kết hợp đồng lao động với một người sử dụng lao động là
doanh nghiệp cho thuê lại lao động, sau đó người lao động được chuyển sang làm
việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác mà vẫn duy trì quan hệ
lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động.
2. Hoạt động cho thuê lại lao động
là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp
có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và áp dụng đối với một số công việc
nhất định.
Điều 53.
Nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động
1. Thời hạn cho thuê lại lao động
đối với người lao động tối đa là 12 tháng.
2. Bên thuê lại lao động được sử
dụng lao động thuê lại trong trường hợp sau đây:
a) Đáp ứng tạm thời sự gia tăng
đột ngột về nhu cầu sử dụng lao động trong khoảng thời gian nhất định;
b) Thay thế người lao động
trong thời gian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc phải
thực hiện các nghĩa vụ công dân;
c) Có nhu cầu sử dụng lao động
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.
3. Bên thuê lại lao động không
được sử dụng lao động thuê lại trong trường hợp sau đây:
a) Để thay thế người lao động
đang trong thời gian thực hiện quyền đình công, giải quyết tranh chấp lao động;
b) Không có thỏa thuận cụ thể về
trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động thuê
lại với doanh nghiệp cho thuê lại lao động;
c) Thay thế người lao động bị
cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc chia, tách,
hợp nhất, sáp nhập.
4. Bên thuê lại lao động không
được chuyển người lao động thuê lại cho người sử dụng lao động khác; không được
sử dụng người lao động thuê lại được cung cấp bởi doanh nghiệp không có Giấy
phép hoạt động cho thuê lại lao động.
Điều 54.
Doanh nghiệp cho thuê lại lao động
1. Doanh nghiệp cho thuê lại
lao động phải ký quỹ và được cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.
2. Chính phủ quy định việc ký
quỹ, điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt
động cho thuê lại lao động và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại
lao động.
Điều 55. Hợp
đồng cho thuê lại lao động
1. Doanh nghiệp cho thuê lại
lao động và bên thuê lại lao động phải ký kết hợp đồng cho thuê lại lao động bằng
văn bản và được làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.
2. Hợp đồng cho thuê lại lao động
gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Địa điểm làm việc, vị trí việc
làm cần sử dụng lao động thuê lại, nội dung cụ thể của công việc, yêu cầu cụ thể
đối với người lao động thuê lại;
b) Thời hạn thuê lại lao động;
thời gian bắt đầu làm việc của người lao động thuê lại;
c) Thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi, điều kiện an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc;
d) Trách nhiệm bồi thường tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp;
đ) Nghĩa vụ của mỗi bên đối với
người lao động.
3. Hợp đồng cho thuê lại lao động
không được có những thỏa thuận về quyền, lợi ích của người lao động thấp hơn so
với hợp đồng lao động mà doanh nghiệp cho thuê lại lao động đã ký với người lao
động.
Điều 56.
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động
Ngoài các quyền và nghĩa vụ quy
định tại Điều 6 của Bộ luật này, doanh nghiệp cho thuê lại
lao động có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Bảo đảm đưa người lao động
có trình độ phù hợp với những yêu cầu của bên thuê lại lao động và nội dung của
hợp đồng lao động đã ký với người lao động;
2. Thông báo cho người lao động
biết nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động;
3. Thông báo cho bên thuê lại
lao động biết sơ yếu lý lịch của người lao động, yêu cầu của người lao động;
4. Bảo đảm trả lương cho người
lao động thuê lại không thấp hơn tiền lương của người lao động của bên thuê lại
lao động có cùng trình độ, làm cùng công việc hoặc công việc có giá trị như
nhau;
5. Lập hồ sơ ghi rõ số lao động
đã cho thuê lại, bên thuê lại lao động và định kỳ báo cáo cơ quan chuyên môn về
lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
6. Xử lý kỷ luật lao động đối với
người lao động vi phạm kỷ luật lao động khi bên thuê lại lao động trả lại người
lao động do vi phạm kỷ luật lao động.
Điều 57.
Quyền và nghĩa vụ của bên thuê lại lao động
1. Thông báo, hướng dẫn cho người
lao động thuê lại biết nội quy lao động và các quy chế khác của mình.
2. Không được phân biệt đối xử
về điều kiện lao động đối với người lao động thuê lại so với người lao động của
mình.
3. Thỏa thuận với người lao động
thuê lại về làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật này.
4. Thỏa thuận với người lao động
thuê lại và doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển dụng chính thức người
lao động thuê lại làm việc cho mình trong trường hợp hợp đồng lao động của người
lao động thuê lại với doanh nghiệp cho thuê lại lao động chưa chấm dứt.
5. Trả lại người lao động thuê
lại không đáp ứng yêu cầu như đã thỏa thuận hoặc vi phạm kỷ luật lao động cho
doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
6. Cung cấp cho doanh nghiệp cho
thuê lại lao động chứng cứ về hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động
thuê lại để xem xét xử lý kỷ luật lao động.
Điều 58.
Quyền và nghĩa vụ của người lao động thuê lại
Ngoài các quyền và nghĩa vụ
theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật này, người lao động
thuê lại có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Thực hiện công việc theo hợp
đồng lao động đã ký với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động;
2. Chấp hành kỷ luật lao động,
nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát hợp pháp của bên
thuê lại lao động;
3. Được trả lương không thấp
hơn tiền lương của người lao động của bên thuê lại lao động có cùng trình độ,
làm cùng công việc hoặc công việc có giá trị như nhau;
4. Khiếu nại với doanh nghiệp
cho thuê lại lao động trong trường hợp bị bên thuê lại lao động vi phạm các thỏa
thuận trong hợp đồng cho thuê lại lao động;
5. Thỏa thuận chấm dứt hợp đồng
lao động với doanh nghiệp cho thuê lại lao động để giao kết hợp đồng lao động với
bên thuê lại lao động.
Chương IV
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHỀ
Điều 59.
Đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
1. Người lao động được tự do lựa
chọn đào tạo nghề nghiệp, tham gia đánh giá, công nhận kỹ năng nghề quốc gia,
phát triển năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu việc làm và khả năng của
mình.
2. Nhà nước có chính sách khuyến
khích người sử dụng lao động có đủ điều kiện đào tạo nghề nghiệp và phát triển
kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình và người lao động khác
trong xã hội thông qua hoạt động sau đây:
a) Thành lập cơ sở giáo dục nghề
nghiệp hoặc mở lớp đào tạo nghề tại nơi làm việc để đào tạo, đào tạo lại, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; phối hợp với cơ sở
giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các
chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định;
b) Tổ chức thi kỹ năng nghề cho
người lao động; tham gia hội đồng kỹ năng nghề; dự báo nhu cầu và xây dựng tiêu
chuẩn kỹ năng nghề; tổ chức đánh giá và công nhận kỹ năng nghề; phát triển năng
lực nghề nghiệp cho người lao động.
Điều 60.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ,
kỹ năng nghề
1. Người sử dụng lao động xây dựng
kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho
mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình.
2. Hằng năm, người sử dụng lao
động thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho
cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 61. Học
nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động
1. Học nghề để làm việc cho người
sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề
nghiệp tại nơi làm việc. Thời gian học nghề theo chương trình đào tạo của từng
trình độ theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.
2. Tập nghề để làm việc cho người
sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để hướng dẫn thực
hành công việc, tập làm nghề theo vị trí việc làm tại nơi làm việc. Thời hạn tập
nghề không quá 03 tháng.
3. Người sử dụng lao động tuyển
người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không phải đăng ký hoạt động
giáo dục nghề nghiệp; không được thu học phí; phải ký hợp đồng đào tạo theo quy
định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.
4. Người học nghề, người tập
nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề,
tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh
vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.
5. Trong thời gian học nghề, tập
nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì
được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận.
6. Hết thời hạn học nghề, tập
nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện theo quy định
của Bộ luật này.
Điều 62. Hợp
đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo
nghề
1. Hai bên phải ký kết hợp đồng
đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ
năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng
lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
Hợp đồng đào tạo nghề phải làm
thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.
2. Hợp đồng đào tạo nghề phải
có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Nghề đào tạo;
b) Địa điểm, thời gian và tiền
lương trong thời gian đào tạo;
c) Thời hạn cam kết phải làm việc
sau khi được đào tạo;
d) Chi phí đào tạo và trách nhiệm
hoàn trả chi phí đào tạo;
đ) Trách nhiệm của người sử dụng
lao động;
e) Trách nhiệm của người lao động.
3. Chi phí đào tạo bao gồm các
khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập,
trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người
học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào
tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh
hoạt trong thời gian đào tạo.
Chương V
ĐỐI THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC,
THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
Mục 1. ĐỐI
THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC
Điều 63. Tổ
chức đối thoại tại nơi làm việc
1. Đối thoại tại nơi làm việc
là việc chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến giữa người sử
dụng lao động với người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động về những
vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của các bên tại nơi làm việc
nhằm tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, cùng nỗ lực hướng tới giải pháp các bên
cùng có lợi.
2. Người sử dụng lao động phải
tổ chức đối thoại tại nơi làm việc trong trường hợp sau đây:
a) Định kỳ ít nhất 01 năm một lần;
b) Khi có yêu cầu của một hoặc
các bên;
c) Khi có vụ việc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36, các điều 42, 44, 93,
104, 118 và khoản 1 Điều 128 của Bộ luật này.
3. Khuyến khích người sử dụng
lao động và người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động tiến hành đối
thoại ngoài những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Chính phủ quy định việc tổ
chức đối thoại và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.
Điều 64. Nội
dung đối thoại tại nơi làm việc
1. Nội dung đối thoại bắt buộc
theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 63 của Bộ luật này.
2. Ngoài nội dung quy định tại
khoản 1 Điều này, các bên lựa chọn một hoặc một số nội dung sau đây để tiến
hành đối thoại:
a) Tình hình sản xuất, kinh
doanh của người sử dụng lao động;
b) Việc thực hiện hợp đồng lao
động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và cam kết, thỏa thuận
khác tại nơi làm việc;
c) Điều kiện làm việc;
d) Yêu cầu của người lao động,
tổ chức đại diện người lao động đối với người sử dụng lao động;
đ) Yêu cầu của người sử dụng
lao động đối với người lao động, tổ chức đại
diện người lao động;
e) Nội dung khác mà một hoặc
các bên quan tâm.
Mục 2.
THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ
Điều 65.
Thương lượng tập thể
Thương lượng tập thể là việc
đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao
động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện
người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ
giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Điều 66.
Nguyên tắc thương lượng tập thể
Thương lượng tập thể được tiến
hành theo nguyên tắc tự nguyện, hợp tác, thiện chí, bình đẳng, công khai và
minh bạch.
Điều 67. Nội
dung thương lượng tập thể
Các bên thương lượng lựa chọn một
hoặc một số nội dung sau để tiến hành thương lượng tập thể:
1. Tiền lương, trợ cấp, nâng
lương, thưởng, bữa ăn và các chế độ khác;
2. Mức lao động và thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca;
3. Bảo đảm việc làm đối với người
lao động;
4. Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao
động; thực hiện nội quy lao động;
5. Điều kiện, phương tiện hoạt
động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động
và tổ chức đại diện người lao động;
6. Cơ chế, phương thức phòng ngừa,
giải quyết tranh chấp lao động;
7. Bảo đảm bình đẳng giới, bảo
vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi
làm việc;
8. Nội dung khác mà một hoặc
các bên quan tâm.
Điều 68.
Quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong
doanh nghiệp
1. Tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể khi đạt tỷ lệ thành viên tối
thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
2. Trường hợp doanh nghiệp có
nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều
này thì tổ chức có quyền yêu cầu thương lượng là tổ chức có số thành viên nhiều
nhất trong doanh nghiệp. Các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khác có
thể tham gia thương lượng tập thể khi được tổ chức đại diện người lao động có
quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý.
3. Trường hợp doanh nghiệp có
nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng
quy định tại khoản 1 Điều này thì các tổ chức có quyền tự nguyện kết hợp với
nhau để yêu cầu thương lượng tập thể nhưng tổng số thành viên của các tổ chức
này phải đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Chính phủ quy định việc giải
quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến quyền thương lượng tập thể.
Điều 69. Đại
diện thương lượng tập thể tại doanh nghiệp
1. Số lượng người tham gia
thương lượng tập thể của mỗi bên do các bên thỏa thuận.
2. Thành phần tham gia thương
lượng tập thể của mỗi bên do bên đó quyết định. Trường hợp bên người lao động
có nhiều tổ chức đại diện tham gia thương lượng tập thể theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì tổ chức đại diện có quyền
yêu cầu thương lượng quyết định số lượng đại diện của mỗi tổ chức tham gia
thương lượng.
Trường hợp bên người lao động
có nhiều tổ chức đại diện tham gia thương lượng tập thể theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Bộ luật này thì số lượng đại diện của mỗi
tổ chức do các tổ chức đó thỏa thuận. Trường hợp không thỏa thuận được thì từng
tổ chức xác định số lượng đại diện tham gia tương ứng theo số lượng thành viên
của tổ chức mình trên tổng số thành viên của các tổ chức.
3. Mỗi bên thương lượng tập thể
có quyền mời tổ chức đại diện cấp trên của mình cử người tham gia là đại diện
thương lượng và bên kia không được từ chối. Đại diện thương lượng tập thể của mỗi
bên không được vượt quá số lượng quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp
được bên kia đồng ý.
Điều 70.
Quy trình thương lượng tập thể tại doanh nghiệp
1. Khi có yêu cầu thương lượng
tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương
lượng tập thể theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật này hoặc
yêu cầu của người sử dụng lao động thì bên nhận được yêu cầu không được từ chối
việc thương lượng.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng, các bên thỏa thuận về địa
điểm, thời gian bắt đầu thương lượng.
Người sử dụng lao động có trách
nhiệm bố trí thời gian, địa điểm và các điều kiện cần thiết để tổ chức các
phiên họp thương lượng tập thể.
Thời gian bắt đầu thương lượng
không được quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể.
2. Thời gian thương lượng tập
thể không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác.
Thời gian tham gia các phiên họp
thương lượng tập thể của đại diện bên người lao động được tính là thời gian làm
việc có hưởng lương. Trường hợp người lao động là thành viên của tổ chức đại diện
người lao động tham gia các phiên họp thương lượng tập thể thì thời gian tham
gia các phiên họp không tính vào thời gian quy định tại khoản 2
Điều 176 của Bộ luật này.
3. Trong quá trình thương lượng
tập thể, nếu có yêu cầu của bên đại diện người lao động thì trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, bên người sử dụng lao động có trách nhiệm
cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh và nội dung khác
liên quan trực tiếp đến nội dung thương lượng trong phạm vi doanh nghiệp nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho thương lượng tập thể, trừ thông tin về bí mật kinh
doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động.
4. Tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở có quyền tổ chức thảo luận, lấy ý kiến người lao động về nội dung,
cách thức tiến hành và kết quả của quá trình thương lượng tập thể.
Tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở quyết định về thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành thảo luận, lấy
ý kiến người lao động nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.
Người sử dụng lao động không được
gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động
thảo luận, lấy ý kiến người lao động.
5. Việc thương lượng tập thể phải
được lập biên bản, trong đó ghi rõ nội dung đã được các bên thống nhất, nội
dung còn ý kiến khác nhau. Biên bản thương lượng tập thể phải có chữ ký của đại
diện các bên thương lượng và của người ghi biên bản. Tổ chức đại diện người lao
động tại cơ sở công bố rộng rãi, công khai biên bản thương lượng tập thể đến
toàn bộ người lao động.
Điều 71.
Thương lượng tập thể không thành
1. Thương lượng tập thể không
thành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Một bên từ chối thương lượng
hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định tại khoản
1 Điều 70 của Bộ luật này;
b) Đã hết thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này mà các bên không đạt được
thỏa thuận;
c) Chưa hết thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này nhưng các bên cùng xác định
và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận.
2. Khi thương lượng không
thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
theo quy định của Bộ luật này. Trong khi đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ
chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công.
Điều 72.
Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia
1. Nguyên tắc, nội dung thương
lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thực
hiện theo quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.
2. Quy trình tiến hành thương
lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do các
bên thỏa thuận quyết định, bao gồm cả việc thỏa thuận tiến hành thương lượng tập
thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể quy định tại Điều
73 của Bộ luật này.
3. Trường hợp thương lượng tập
thể ngành thì đại diện thương lượng là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại
diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định.
Trường hợp thương lượng tập thể
có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng do các bên thương lượng
quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận.
Điều 73.
Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng
tập thể
1. Trên cơ sở đồng thuận, các
bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia có thể yêu cầu Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng
hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia thương
lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập
Hội đồng thương lượng tập thể để tiến hành thương lượng tập thể.
2. Khi nhận được yêu cầu của
các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tổ chức việc thương
lượng tập thể. Thành phần Hội đồng thương lượng tập thể bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng do các bên
quyết định và có trách nhiệm điều phối hoạt động của Hội đồng thương lượng tập
thể, hỗ trợ cho việc thương lượng tập thể của các bên;
b) Đại diện các bên thương lượng
tập thể do mỗi bên cử. Số lượng đại diện mỗi bên thương lượng tham gia Hội đồng
do các bên thỏa thuận;
c) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
3. Hội đồng thương lượng tập thể
tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên và tự chấm dứt hoạt động khi thỏa
ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa
thuận của các bên.
4. Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Hội đồng
thương lượng tập thể.
Điều 74.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thương lượng tập thể
1. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ
năng thương lượng tập thể cho các bên thương lượng tập thể.
2. Xây dựng và cung cấp các
thông tin, dữ liệu về kinh tế - xã hội, thị trường lao động, quan hệ lao động
nhằm hỗ trợ, thúc đẩy thương lượng tập thể.
3. Chủ động hoặc khi có yêu cầu
của cả hai bên thương lượng tập thể, hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận trong quá
trình thương lượng tập thể; trường hợp không có yêu cầu, việc chủ động hỗ trợ của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ được tiến hành nếu được các bên đồng ý.
4. Thành lập Hội đồng thương lượng
tập thể khi có yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp
theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật này.
Mục 3. THỎA
ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
Điều 75.
Thỏa ước lao động tập thể
1. Thỏa ước lao động tập thể là
thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng
văn bản.
Thỏa ước lao động tập thể bao gồm
thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước
lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp và các thỏa ước lao động tập thể khác.
2. Nội dung thỏa ước lao động tập
thể không được trái với quy định của pháp luật; khuyến khích có lợi hơn cho người
lao động so với quy định của pháp luật.
Điều 76. Lấy
ý kiến và ký kết thỏa ước lao động tập thể
1. Đối với thỏa ước lao động tập
thể doanh nghiệp, trước khi ký kết, dự thảo thỏa ước lao động tập thể đã được
các bên đàm phán phải được lấy ý kiến của toàn bộ người lao động trong doanh
nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp chỉ được ký kết khi có trên 50%
người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán thành.
2. Đối với thỏa ước lao động tập
thể ngành, đối tượng lấy ý kiến bao gồm toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các
tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng. Thỏa
ước lao động tập thể ngành chỉ được ký kết khi có trên 50% tổng số người được lấy
ý kiến biểu quyết tán thành.
Đối với thỏa ước lao động tập
thể có nhiều doanh nghiệp, đối tượng lấy ý kiến bao gồm toàn bộ người lao động
tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc toàn bộ thành viên ban lãnh đạo
của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng.
Chỉ những doanh nghiệp có trên 50% số người được lấy ý kiến biểu quyết tán
thành mới tham gia ký kết thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp.
3. Thời gian, địa điểm và cách
thức lấy ý kiến biểu quyết đối với dự thảo thỏa ước lao động tập thể do tổ chức
đại diện người lao động quyết định nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tham gia thương lượng. Người
sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình
tổ chức đại diện người lao động lấy ý kiến biểu quyết về dự thảo thỏa ước.
4. Thỏa ước lao động tập thể được
ký kết bởi đại diện hợp pháp của các bên thương lượng.
Trường hợp thỏa ước lao động tập
thể có nhiều doanh nghiệp được tiến hành thông qua Hội đồng thương lượng tập thể
thì được ký kết bởi Chủ tịch Hội đồng thương lượng tập thể và đại diện hợp pháp
của các bên thương lượng.
5. Thỏa ước lao động tập thể phải
được gửi cho mỗi bên ký kết và cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 77 của Bộ luật này.
Đối với thỏa ước lao động tập
thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp thì từng người sử
dụng lao động và từng tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham
gia thỏa ước phải được nhận 01 bản.
6. Sau khi thỏa ước lao động tập
thể được ký kết, người sử dụng lao động phải công bố cho người lao động của
mình biết.
7. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 77. Gửi
thỏa ước lao động tập thể
Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động tham gia thỏa
ước phải gửi 01 bản thỏa ước lao động tập thể đến cơ quan chuyên môn về lao động
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính.
Điều 78.
Hiệu lực và thời hạn của thỏa ước lao động tập thể
1. Ngày có hiệu lực của thỏa ước
lao động tập thể do các bên thỏa thuận và được ghi trong thỏa ước. Trường hợp
các bên không thỏa thuận ngày có hiệu lực thì thỏa ước lao động tập thể có hiệu
lực kể từ ngày ký kết.
Thỏa ước lao động tập thể sau khi
có hiệu lực phải được các bên tôn trọng thực hiện.
2. Thỏa ước lao động tập thể
doanh nghiệp có hiệu lực áp dụng đối với người sử dụng lao động và toàn bộ người
lao động của doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể ngành và thỏa ước lao động
tập thể có nhiều doanh nghiệp có hiệu lực áp dụng đối với toàn bộ người sử dụng
lao động và người lao động của các doanh nghiệp tham gia thỏa ước lao động tập
thể.
3. Thỏa ước lao động tập thể có
thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Thời hạn cụ thể do các bên thỏa thuận và ghi
trong thỏa ước lao động tập thể. Các bên có quyền thỏa thuận thời hạn khác nhau
đối với các nội dung của thỏa ước lao động tập thể.
Điều 79.
Thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp
1. Người sử dụng lao động, người
lao động, bao gồm cả người lao động vào làm việc sau ngày thỏa ước lao động tập
thể có hiệu lực, có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ thỏa ước lao động tập thể đang có
hiệu lực.
2. Trường hợp quyền, nghĩa vụ
và lợi ích của các bên trong hợp đồng lao động đã giao kết trước ngày thỏa ước
lao động tập thể có hiệu lực thấp hơn quy định tương ứng của thỏa ước lao động
tập thể thì phải thực hiện theo thỏa ước lao động tập thể. Quy định của
người sử dụng lao động chưa phù hợp với thỏa ước lao động tập thể thì phải được
sửa đổi cho phù hợp; trong thời gian chưa sửa đổi thì thực hiện theo nội dung
tương ứng của thỏa ước lao động tập thể.
3. Khi một bên cho rằng bên kia
thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm thỏa ước lao động tập thể thì có quyền yêu
cầu thi hành đúng thỏa ước lao động tập thể và các bên có trách nhiệm cùng xem
xét giải quyết; nếu không giải quyết được, mỗi bên đều có quyền yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động tập thể theo quy định của pháp luật.
Điều 80.
Thực hiện thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp trong trường hợp chia, tách, hợp
nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1. Trường hợp chia, tách, hợp
nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động
kế tiếp và tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng theo quy định
tại Điều 68 của Bộ luật này căn cứ vào phương án sử dụng
lao động để xem xét lựa chọn việc tiếp tục thực hiện, sửa đổi, bổ sung thỏa ước
lao động tập thể doanh nghiệp cũ hoặc thương lượng để ký kết thỏa ước lao động
tập thể mới.
2. Trường hợp thỏa ước lao động
tập thể doanh nghiệp hết hiệu lực do người sử dụng lao động chấm dứt hoạt động
thì quyền lợi của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 81.
Quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể
ngành và thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp
1. Trường hợp thỏa ước lao động
tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp, thỏa ước
lao động tập thể ngành quy định về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động
khác nhau thì thực hiện theo nội dung có lợi nhất cho người lao động.
2. Doanh nghiệp thuộc đối tượng
áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có
nhiều doanh nghiệp nhưng chưa có thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp thì có
thể xây dựng thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp với những nội dung có lợi
hơn cho người lao động so với thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao
động tập thể có nhiều doanh nghiệp.
3. Khuyến khích doanh nghiệp
chưa tham gia thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có
nhiều doanh nghiệp thực hiện nội dung có lợi hơn cho người lao động của thỏa ước
lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp.
Điều 82. Sửa
đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể
1. Thỏa ước lao động tập thể chỉ
được sửa đổi, bổ sung theo thỏa thuận tự nguyện của các bên, thông qua thương
lượng tập thể.
Việc sửa đổi, bổ sung thỏa ước
lao động tập thể được thực hiện như việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động
tập thể.
2. Trường hợp quy định của pháp
luật thay đổi dẫn đến thỏa ước lao động tập thể không còn phù hợp với quy định
của pháp luật thì các bên phải tiến hành sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập
thể cho phù hợp với quy định của pháp luật. Trong thời gian tiến hành sửa đổi,
bổ sung thỏa ước lao động tập thể thì quyền lợi của người lao động được thực hiện
theo quy định của pháp luật.
Điều 83.
Thỏa ước lao động tập thể hết hạn
Trong thời hạn 90 ngày trước
ngày thỏa ước lao động tập thể hết hạn, các bên có thể thương lượng để kéo dài
thời hạn của thỏa ước lao động tập thể hoặc ký kết thỏa ước lao động tập thể mới.
Trường hợp các bên thỏa thuận kéo dài thời hạn của thỏa ước lao động tập thể
thì phải lấy ý kiến theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.
Khi thỏa ước lao động tập thể hết
hạn mà các bên vẫn tiếp tục thương lượng thì thỏa ước lao động tập thể cũ vẫn
được tiếp tục thực hiện trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày thỏa ước
lao động tập thể hết hạn, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Điều 84. Mở
rộng phạm vi áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động
tập thể có nhiều doanh nghiệp
1. Khi một thỏa ước lao động tập
thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp có phạm vi áp dụng
chiếm trên 75% người lao động hoặc trên 75% doanh nghiệp cùng ngành, nghề, lĩnh
vực trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao thì người
sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của người lao động tại đó đề nghị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định mở rộng phạm vi áp dụng một phần hoặc
toàn bộ thỏa ước đó đối với các doanh nghiệp cùng ngành, nghề, lĩnh vực trong
khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
2. Chính phủ quy định chi tiết
khoản 1 Điều này; quy định trình tự, thủ tục và thẩm quyền quyết định mở rộng
phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 85.
Gia nhập và rút khỏi thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập
thể có nhiều doanh nghiệp
1. Doanh nghiệp có thể gia nhập
thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp
khi có sự đồng thuận của tất cả người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người
lao động tại doanh nghiệp là thành viên của thỏa ước, trừ trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 84 của Bộ luật này.
2. Doanh nghiệp thành viên của
thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp
được rút khỏi thỏa ước lao động tập thể khi có sự đồng thuận của tất cả người sử
dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp là thành viên
của thỏa ước, trừ trường hợp có khó khăn đặc biệt trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 86.
Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1. Thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu từng phần khi một hoặc một số nội dung trong thỏa ước lao động tập thể vi
phạm pháp luật.
2. Thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu toàn bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Toàn bộ nội dung thỏa ước
lao động tập thể vi phạm pháp luật;
b) Người ký kết không đúng thẩm
quyền;
c) Không tuân thủ đúng quy
trình thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Điều 87.
Thẩm quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu Tòa án
nhân dân có quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Điều 88. Xử
lý thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Khi thỏa ước lao động tập thể bị
tuyên bố vô hiệu thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên ghi trong thỏa ước
lao động tập thể tương ứng với toàn bộ hoặc phần bị tuyên bố vô hiệu được giải
quyết theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận hợp pháp trong hợp đồng lao
động.
Điều 89.
Chi phí thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể
Mọi chi phí cho việc thương lượng,
ký kết, sửa đổi, bổ sung, gửi và công bố thỏa ước lao động tập thể do phía người
sử dụng lao động chi trả.
Chương VI
TIỀN LƯƠNG
Điều 90.
Tiền lương
1. Tiền lương là số tiền mà người
sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc,
bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ
sung khác.
2. Mức lương theo công việc hoặc
chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
3. Người sử dụng lao động phải
bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động
làm công việc có giá trị như nhau.
Điều 91. Mức
lương tối thiểu
1. Mức lương tối thiểu là mức
lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong
điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động
và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
2. Mức lương tối thiểu được xác
lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ.
3. Mức lương tối thiểu được điều
chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; tương quan
giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường; chỉ số giá tiêu dùng, tốc
độ tăng trưởng kinh tế; quan hệ cung, cầu lao động; việc làm và thất nghiệp;
năng suất lao động; khả năng chi trả của doanh nghiệp.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này; quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở khuyến nghị của
Hội đồng tiền lương quốc gia.
Điều 92. Hội
đồng tiền lương quốc gia
1. Hội đồng tiền lương quốc gia
là cơ quan tư vấn cho Chính phủ về mức lương tối thiểu và chính sách tiền lương
đối với người lao động.
2. Thủ tướng Chính phủ thành lập
Hội đồng tiền lương quốc gia bao gồm các thành viên là đại diện của Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, một số tổ chức đại
diện người sử dụng lao động ở trung ương và chuyên gia độc lập.
3. Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng tiền lương quốc gia.
Điều 93. Xây
dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động
1. Người sử dụng lao động phải
xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng,
sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong
hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động.
2. Mức lao động phải là mức
trung bình bảo đảm số đông người lao động thực hiện được mà không phải kéo dài
thời giờ làm việc bình thường và phải được áp dụng thử trước khi ban hành chính
thức.
3. Người sử dụng lao động phải
tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương và
định mức lao động.
Thang lương, bảng lương và mức
lao động phải được công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện.
Điều 94.
Nguyên tắc trả lương
1. Người sử dụng lao động phải
trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao
động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương
cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
2. Người sử dụng lao động không
được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động;
không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng
dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động
chỉ định.
Điều 95.
Trả lương
1. Người sử dụng lao động trả
lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động
và chất lượng thực hiện công việc.
2. Tiền lương ghi trong hợp đồng
lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp
người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể bằng ngoại tệ.
3. Mỗi lần trả lương, người sử
dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi
rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội
dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có).
Điều 96.
Hình thức trả lương
1. Người sử dụng lao động và
người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc
khoán.
2. Lương được trả bằng tiền mặt
hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.
Trường hợp trả lương qua tài
khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động
phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 97. Kỳ
hạn trả lương
1. Người lao động hưởng lương
theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được
trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
2. Người lao động hưởng lương
theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả
lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
3. Người lao động hưởng lương
theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công
việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối
lượng công việc đã làm trong tháng.
4. Trường hợp vì lý do bất khả
kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể
trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15
ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản
tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động
tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản
trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Điều 98.
Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
1. Người lao động làm thêm giờ
được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công
việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, ít nhất bằng
150%;
b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít
nhất bằng 200%;
c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày
nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày
nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
2. Người lao động làm việc vào
ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền
lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
3. Người lao động làm thêm giờ
vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền
lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình
thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 99.
Tiền lương ngừng việc
Trường hợp phải ngừng việc, người
lao động được trả lương như sau:
1. Nếu do lỗi của người sử dụng
lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;
2. Nếu do lỗi của người lao động
thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị
phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không
được thấp hơn mức lương tối thiểu;
3. Nếu vì sự cố về điện, nước
mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh
nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng
việc như sau:
a) Trường hợp ngừng việc từ 14
ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp
hơn mức lương tối thiểu;
b) Trường hợp phải ngừng việc
trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải
bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối
thiểu.
Điều 100.
Trả lương thông qua người cai thầu
1. Nơi nào sử dụng người cai thầu
hoặc người có vai trò trung gian tương tự thì người sử dụng lao động là chủ
chính phải có danh sách và địa chỉ của những người này kèm theo danh sách những
người lao động làm việc với họ và phải bảo đảm việc họ tuân thủ quy định của
pháp luật về trả lương, an toàn, vệ sinh lao động.
2. Trường hợp người cai thầu hoặc
người có vai trò trung gian tương tự không trả lương hoặc trả lương không đầy đủ
và không bảo đảm các quyền lợi khác cho người lao động thì người sử dụng lao động
là chủ chính phải chịu trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi cho người
lao động.
Trong trường hợp này, người sử
dụng lao động là chủ chính có quyền yêu cầu người cai thầu hoặc người có vai
trò trung gian tương tự đền bù hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Điều 101.
Tạm ứng tiền lương
1. Người lao động được tạm ứng
tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi.
2. Người sử dụng lao động phải
cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm
thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa
không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và người lao động phải
hoàn trả số tiền đã tạm ứng.
Người lao động nhập ngũ theo
quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng tiền lương.
3. Khi nghỉ hằng năm, người lao
động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Điều 102.
Khấu trừ tiền lương
1. Người sử dụng lao động chỉ
được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng
dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật này.
2. Người lao động có quyền được
biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.
3. Mức khấu trừ tiền lương hằng
tháng không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau
khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
Điều 103.
Chế độ nâng lương, nâng bậc, phụ cấp, trợ cấp
Chế độ nâng lương, nâng bậc, phụ
cấp, trợ cấp và các chế độ khuyến khích đối với người lao động được thỏa thuận
trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy định của người sử dụng
lao động.
Điều 104.
Thưởng
1. Thưởng là số tiền hoặc tài sản
hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động
căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người
lao động.
2. Quy chế thưởng do người sử dụng
lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý
kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở.
Chương
VII
THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ
NGHỈ NGƠI
Mục 1. THỜI
GIỜ LÀM VIỆC
Điều 105.
Thời giờ làm việc bình thường
1. Thời giờ làm việc bình thường
không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.
2. Người sử dụng lao động có
quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho
người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường
không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.
Nhà nước khuyến khích người sử
dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.
3. Người sử dụng lao động có
trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm,
yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.
Điều 106.
Giờ làm việc ban đêm
Giờ làm việc ban đêm được tính
từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
Điều 107.
Làm thêm giờ
1. Thời gian làm thêm giờ là
khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của
pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
2. Người sử dụng lao động được
sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:
a) Phải được sự đồng ý của người
lao động;
b) Bảo đảm số giờ làm thêm của
người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường
hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ
làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không
quá 40 giờ trong 01 tháng;
c) Bảo đảm số giờ làm thêm của
người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản
3 Điều này.
3. Người sử dụng lao động được
sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số
ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
a) Sản xuất, gia công xuất khẩu
sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp,
thủy sản;
b) Sản xuất, cung cấp điện, viễn
thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
c) Trường hợp giải quyết công
việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động
không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
d) Trường hợp phải giải quyết
công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của
nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách
quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa,
thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;
đ) Trường hợp khác do Chính phủ
quy định.
4. Khi tổ chức làm thêm giờ
theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng lao động phải thông báo bằng
văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 108.
Làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt
Người sử dụng lao động có quyền
yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về
số giờ làm thêm theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật này
và người lao động không được từ chối trong trường hợp sau đây:
1. Thực hiện lệnh động viên,
huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;
2. Thực hiện các công việc nhằm
bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng
ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa,
trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động
theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Mục 2. THỜI
GIỜ NGHỈ NGƠI
Điều 109.
Nghỉ trong giờ làm việc
1. Người lao động làm việc theo
thời giờ làm việc quy định tại Điều 105 của Bộ luật này từ
06 giờ trở lên trong một ngày thì được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút liên tục,
làm việc ban đêm thì được nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút liên tục.
Trường hợp người lao động làm
việc theo ca liên tục từ 06 giờ trở lên thì thời gian nghỉ giữa giờ được tính
vào giờ làm việc.
2. Ngoài thời gian nghỉ quy định
tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động bố trí cho người lao động các đợt
nghỉ giải lao và ghi vào nội quy lao động.
Điều 110.
Nghỉ chuyển ca
Người lao động làm việc theo ca
được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca làm việc khác.
Điều 111.
Nghỉ hằng tuần
1. Mỗi tuần, người lao động được
nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động
không thể nghỉ hằng tuần thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho
người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày.
2. Người sử dụng lao động có
quyền quyết định sắp xếp ngày nghỉ hằng tuần vào ngày Chủ nhật hoặc ngày xác định
khác trong tuần nhưng phải ghi vào nội quy lao động.
3. Nếu ngày nghỉ hằng tuần
trùng với ngày nghỉ lễ, tết quy định tại khoản 1 Điều 112 của Bộ
luật này thì người lao động được nghỉ bù ngày nghỉ hằng tuần vào ngày làm
việc kế tiếp.
Điều 112.
Nghỉ lễ, tết
1. Người lao động được nghỉ làm
việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:
a) Tết Dương lịch: 01 ngày
(ngày 01 tháng 01 dương lịch);
b) Tết Âm lịch: 05 ngày;
c) Ngày Chiến thắng: 01 ngày
(ngày 30 tháng 4 dương lịch);
d) Ngày Quốc tế lao động: 01
ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);
đ) Quốc khánh: 02 ngày (ngày 02
tháng 9 dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc sau);
e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01
ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).
2. Lao động là người nước ngoài
làm việc tại Việt Nam ngoài các ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này
còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước
họ.
3. Hằng năm, căn cứ vào điều kiện
thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể ngày nghỉ quy định tại điểm b và
điểm đ khoản 1 Điều này.
Điều 113.
Nghỉ hằng năm
1. Người lao động làm việc đủ
12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên
lương theo hợp đồng lao động như sau:
a) 12 ngày làm việc đối với người
làm công việc trong điều kiện bình thường;
b) 14 ngày làm việc đối với người
lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
c) 16 ngày làm việc đối với người
làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
2. Người lao động làm việc chưa
đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ
tương ứng với số tháng làm việc.
3. Trường hợp do thôi việc, bị
mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì
được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
4. Người sử dụng lao động có trách
nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động
và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận
với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối
đa 03 năm một lần.
5. Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến
kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.
6. Khi nghỉ hằng năm, nếu người
lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường
cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi
đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
7. Chính phủ quy định chi tiết
điều này.
Điều 114.
Ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc
Cứ đủ 05 năm làm việc cho một
người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động theo quy định
tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này được tăng thêm tương ứng
01 ngày.
Điều 115.
Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương
1. Người lao động được nghỉ việc
riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo với người sử dụng lao động
trong trường hợp sau đây:
a) Kết hôn: nghỉ 03 ngày;
b) Con đẻ, con nuôi kết hôn:
nghỉ 01 ngày;
c) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ,
con nuôi chết: nghỉ 03 ngày.
2. Người lao động được nghỉ
không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; cha hoặc mẹ kết hôn;
anh, chị, em ruột kết hôn.
3. Ngoài quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động
để nghỉ không hưởng lương.
Mục 3. THỜI
GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM CÔNG VIỆC CÓ TÍNH CHẤT ĐẶC
BIỆT
Điều 116.
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người làm công việc có tính chất
đặc biệt
Đối với các công việc có tính
chất đặc biệt trong lĩnh vực vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường
hàng không; thăm dò, khai thác dầu khí trên biển; làm việc trên biển; trong
lĩnh vực nghệ thuật; sử dụng kỹ thuật bức xạ và hạt nhân; ứng dụng kỹ thuật
sóng cao tần; tin học, công nghệ tin học; nghiên cứu ứng dụng khoa học, công
nghệ tiên tiến; thiết kế công nghiệp; công việc của thợ lặn; công việc trong hầm
lò; công việc sản xuất có tính thời vụ, công việc gia công theo đơn đặt hàng;
công việc phải thường trực 24/24 giờ; các công việc có tính chất đặc biệt khác
do Chính phủ quy định thì các Bộ, ngành quản lý quy định cụ thể thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
và phải tuân thủ quy định tại Điều 109 của Bộ luật này.
Chương
VIII
KỶ LUẬT LAO ĐỘNG, TRÁCH
NHIỆM VẬT CHẤT
Mục 1. KỶ
LUẬT LAO ĐỘNG
Điều 117.
Kỷ luật lao động
Kỷ luật lao động là những quy định
về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người
sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định.
Điều 118.
Nội quy lao động
1. Người sử dụng lao động phải
ban hành nội quy lao động, nếu sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì nội quy
lao động phải bằng văn bản.
2. Nội dung nội quy lao động
không được trái với pháp luật về lao động và quy định của pháp luật có liên
quan. Nội quy lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi;
b) Trật tự tại nơi làm việc;
c) An toàn, vệ sinh lao động;
d) Phòng, chống quấy rối tình dục
tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm
việc;
đ) Việc bảo vệ tài sản và bí mật
kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động;
e) Trường hợp được tạm thời
chuyển người lao động làm việc khác so với hợp đồng lao động;
g) Các hành vi vi phạm kỷ luật
lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động;
h) Trách nhiệm vật chất;
i) Người có thẩm quyền xử lý kỷ
luật lao động.
3. Trước khi ban hành nội quy
lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, người sử dụng lao động phải
tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở.
4. Nội quy lao động phải được
thông báo đến người lao động và những nội dung chính phải được niêm yết ở những
nơi cần thiết tại nơi làm việc.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 119.
Đăng ký nội quy lao động
1. Người sử dụng lao động sử dụng
từ 10 người lao động trở lên phải đăng ký nội quy lao động tại cơ quan chuyên
môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người sử dụng lao động đăng
ký kinh doanh.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ đăng ký nội
quy lao động.
3. Trong thời hạn 07 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký nội quy lao động, nếu nội dung nội quy
lao động có quy định trái với pháp luật thì cơ quan chuyên môn về lao động thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo, hướng dẫn người sử dụng lao động sửa đổi, bổ
sung và đăng ký lại.
4. Người sử dụng lao động có
các chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh đặt ở nhiều địa bàn khác nhau
thì gửi nội quy lao động đã được đăng ký đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh.
5. Căn cứ điều kiện cụ thể, cơ
quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho
cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc
đăng ký nội quy lao động theo quy định tại Điều này.
Điều 120.
Hồ sơ đăng ký nội quy lao động
Hồ sơ đăng ký nội quy lao động
bao gồm:
1. Văn bản đề nghị đăng ký nội
quy lao động;
2. Nội quy lao động;
3. Văn bản góp ý của tổ chức đại
diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở;
4. Các văn bản của người sử dụng
lao động có quy định liên quan đến kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất (nếu
có).
Điều 121.
Hiệu lực của nội quy lao động
Nội quy lao động có hiệu lực
sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 119 của Bộ luật này nhận được đầy đủ hồ sơ đăng ký nội
quy lao động.
Trường hợp người sử dụng lao động
sử dụng dưới 10 người lao động ban hành nội quy lao động bằng văn bản thì hiệu
lực do người sử dụng lao động quyết định trong nội quy lao động.
Điều 122.
Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động
1. Việc xử lý kỷ luật lao động
được quy định như sau:
a) Người sử dụng lao động phải
chứng minh được lỗi của người lao động;
b) Phải có sự tham gia của tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật
là thành viên;
c) Người lao động phải có mặt và
có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa;
trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện
theo pháp luật;
d) Việc xử lý kỷ luật lao động
phải được ghi thành biên bản.
2. Không được áp dụng nhiều
hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
3. Khi một người lao động đồng
thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật
cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
4. Không được xử lý kỷ luật lao
động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:
a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ
việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;
c) Đang chờ kết quả của cơ quan
có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;
d) Người lao động nữ mang thai;
người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
5. Không xử lý kỷ luật lao động
đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc
một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình.
6. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục xử lý kỷ luật lao động.
Điều 123.
Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động
1. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao
động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm
liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật
kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là
12 tháng.
2. Khi hết thời gian quy định tại
khoản 4 Điều 122 của Bộ luật này, nếu hết thời hiệu hoặc
còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật
lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
3. Người sử dụng lao động phải
ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này.
Điều 124.
Hình thức xử lý kỷ luật lao động
1. Khiển trách.
2. Kéo dài thời hạn nâng lương
không quá 06 tháng.
3. Cách chức.
4. Sa thải.
Điều 125.
Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải
Hình thức xử lý kỷ luật sa thải
được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Người lao động có hành vi trộm
cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết
lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người
sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại
đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy
rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ
luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian
chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm
đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều
126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc
05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngàyhoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365
ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do
chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong
nội quy lao động.
Điều 126.
Xóa kỷ luật, giảm thời hạn chấp hành kỷ luật lao động
1. Người lao động bị khiển
trách sau 03 tháng hoặc bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau 06
tháng hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức sau 03 năm kể từ ngày bị xử lý, nếu không
tiếp tục vi phạm kỷ luật lao động thì đương nhiên được xóa kỷ luật.
2. Người lao động bị xử lý kỷ
luật kéo dài thời hạn nâng lương sau khi chấp hành được một nửa thời hạn nếu sửa
chữa tiến bộ thì có thể được người sử dụng lao động xét giảm thời hạn.
Điều 127.
Các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động
1. Xâm phạm sức khỏe, danh dự,
tính mạng, uy tín, nhân phẩm của người lao động.
2. Phạt tiền, cắt lương thay việc
xử lý kỷ luật lao động.
3. Xử lý kỷ luật lao động đối với
người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc
không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động
không có quy định.
Điều 128.
Tạm đình chỉ công việc
1. Người sử dụng lao động có
quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những
tình tiết phức tạp nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó
khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được
thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
mà người lao động đang bị xem xét tạm đình chỉ công việc là thành viên.
2. Thời hạn tạm đình chỉ công
việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt không được quá 90 ngày. Trong
thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương
trước khi bị đình chỉ công việc.
Hết thời hạn tạm đình chỉ công
việc, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc.
3. Trường hợp người lao động bị
xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã
tạm ứng.
4. Trường hợp người lao động
không bị xử lý kỷ luật lao động thì được người sử dụng lao động trả đủ tiền
lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Mục 2.
TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT
Điều 129.
Bồi thường thiệt hại
1. Người lao động làm hư hỏng dụng
cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động
thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người
sử dụng lao động.
Trường hợp người lao động gây
thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối
thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc
thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu
trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của
Bộ luật này.
2. Người lao động làm mất dụng
cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử
dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường
thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động;
trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm;
trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự
kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc
dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi
thường.
Điều 130.
Xử lý bồi thường thiệt hại
1. Việc xem xét, quyết định mức
bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh
thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.
2. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại.
Điều 131.
Khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
Người bị xử lý kỷ luật lao động,
bị tạm đình chỉ công việc hoặc phải bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất
nếu thấy không thỏa đáng có quyền khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ
quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp
lao động theo trình tự do pháp luật quy định.
Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Chương IX
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
Điều 132.
Tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Người sử dụng lao động, người lao
động và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh
doanh phải thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Điều 133.
Chương trình an toàn, vệ sinh lao động
1. Chính phủ quyết định Chương
trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Chương trình an toàn, vệ sinh lao động
của địa phương và đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Điều 134.
Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc
1. Người sử dụng lao động có
trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động
tại nơi làm việc.
2. Người lao động có trách nhiệm
chấp hành quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động;
tuân thủ pháp luật và nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an
toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
Chương X
NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI
VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI
Điều 135.
Chính sách của Nhà nước
1. Bảo đảm quyền bình đẳng của
lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và
phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
2. Khuyến khích người sử dụng
lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc làm thường xuyên,
áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không
trọn thời gian, giao việc làm tại nhà.
3. Có biện pháp tạo việc làm, cải
thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe,
tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động
nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động
và cuộc sống gia đình.
4. Có chính sách giảm thuế đối
với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp
luật về thuế.
5. Nhà nước có kế hoạch, biện
pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động. Mở rộng nhiều loại
hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc
điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ.
6. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 136.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động
1. Bảo đảm thực hiện bình đẳng
giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp
việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế
độ khác.
2. Tham khảo ý kiến của lao động
nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi
ích của phụ nữ.
3. Bảo đảm có đủ buồng tắm và
buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc.
4. Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà
trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động.
Điều 137.
Bảo vệ thai sản
1. Người sử dụng lao động không
được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa
trong trường hợp sau đây:
a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc
từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
b) Đang nuôi con dưới 12 tháng
tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
2. Lao động nữ làm nghề, công
việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con
khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử
dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ
làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết
thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
3. Người sử dụng lao động không
được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động
vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ
trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng
lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải
là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp
luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo
pháp luật.
Trường hợp hợp đồng lao động hết
hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì
được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.
4. Lao động nữ trong thời gian
hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi
được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng
đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Điều 138.
Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai
1. Lao động nữ mang thai nếu có
xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc
sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Trường hợp đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo
cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có
thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
2. Trường hợp tạm hoãn thực hiện
hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử
dụng lao động nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời
gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Điều 139.
Nghỉ thai sản
1. Lao động nữ được nghỉ thai sản
trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá
02 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi
trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01
tháng.
2. Trong thời gian nghỉ thai sản,
lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội.
3. Hết thời gian nghỉ thai sản
theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ
thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.
4. Trước khi hết thời gian nghỉ
thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ có thể trở lại làm việc
khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người
sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động. Trong
trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động
trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội.
5. Lao động nam khi vợ sinh
con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang
thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều 140.
Bảo đảm việc làm cho lao động nghỉ thai sản
Lao động được bảo đảm việc làm
cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại các khoản 1, 3 và 5 Điều 139 của Bộ luật này mà không bị cắt giảm
tiền lương và quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ thai sản; trường hợp việc
làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với
mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.
Điều 141.
Trợ cấp trong thời gian chăm sóc con ốm đau, thai sản và thực hiện các biện
pháp tránh thai
Thời gian nghỉ việc khi chăm
sóc con dưới 07 tuổi ốm đau, khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu,
phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, triệt sản, người lao động
được hưởng trợ cấp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều 142.
Nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con
1. Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội ban hành danh mục nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức
năng sinh sản và nuôi con.
2. Người sử dụng lao động phải
cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc
để người lao động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động
cho người lao động theo quy định khi sử dụng họ làm công việc thuộc danh mục
quy định tại khoản 1 Điều này.
Chương
XI
NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI
VỚI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ MỘT SỐ LAO ĐỘNG KHÁC
Mục 1.
LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
Điều 143.
Lao động chưa thành niên
1. Lao động chưa thành niên là
người lao động chưa đủ 18 tuổi.
2. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.
3. Người từ đủ 13 tuổi đến chưa
đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội ban hành.
4. Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được
làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật
này.
Điều 144.
Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
1. Lao động chưa thành niên chỉ
được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực,
nhân cách.
2. Người sử dụng lao động khi sử
dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động về
các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động.
3. Khi sử dụng lao động chưa
thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người
giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc
đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan
nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
4. Người sử dụng lao động phải
tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp,
đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
Điều 145.
Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
1. Khi sử dụng người chưa đủ 15
tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:
a) Phải giao kết hợp đồng lao động
bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người
đó;
b) Bố trí giờ làm việc không ảnh
hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;
c) Phải có giấy khám sức khỏe của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15
tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần
trong 06 tháng;
d) Bảo đảm điều kiện làm việc,
an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
2. Người sử dụng lao động chỉ
được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các
công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật
này.
3. Người sử dụng lao động không
được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc
nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực,
trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan
chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định chi tiết Điều này.
Điều 146.
Thời giờ làm việc của người chưa thành niên
1. Thời giờ làm việc của người
chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần;
không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
2. Thời giờ làm việc của người
từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ
trong 01 tuần. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ,
làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
Điều 147.
Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi
1. Cấm sử dụng người lao động từ
đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc sau đây:
a) Mang, vác, nâng các vật nặng
vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
b) Sản xuất, kinh doanh cồn, rượu,
bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây nghiện khác;
c) Sản xuất, sử dụng hoặc vận
chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
d) Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị,
máy móc;
đ) Phá dỡ các công trình xây dựng;
e) Nấu, thổi, đúc, cán, dập,
hàn kim loại;
g) Lặn biển, đánh bắt thủy, hải
sản xa bờ;
h) Công việc khác gây tổn hại đến
sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên.
2. Cấm sử dụng người lao động từ
đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc ở các nơi sau đây:
a) Dưới nước, dưới lòng đất,
trong hang động, trong đường hầm;
b) Công trường xây dựng;
c) Cơ sở giết mổ gia súc;
d) Sòng bạc, quán bar, vũ trường,
phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm hơi, cơ sở xoa bóp; điểm kinh
doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử;
đ) Nơi làm việc khác gây tổn hại
đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên.
3. Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định danh mục tại điểm h khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều
này.
Mục 2.
NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI
Điều 148.
Người lao động cao tuổi
1. Người lao động cao tuổi là
người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2
Điều 169 của Bộ luật này.
2. Người lao động cao tuổi có
quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc
hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
3. Nhà nước khuyến khích sử dụng
người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm quyền lao động
và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Điều 149.
Sử dụng người lao động cao tuổi
1. Khi sử dụng người lao động
cao tuổi, hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định
thời hạn.
2. Khi người lao động cao tuổi
đang hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội mà làm việc theo hợp
đồng lao động mới thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí, người lao
động cao tuổi được hưởng tiền lương và các quyền lợi khác theo quy định của
pháp luật, hợp đồng lao động.
3. Không được sử dụng người lao
động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi,
trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn.
4. Người sử dụng lao động có
trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe của người lao động cao tuổi tại nơi làm
việc.
Mục 3.
NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI, LAO ĐỘNG CHO CÁC TỔ CHỨC, CÁ
NHÂN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM, LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT
NAM
Điều 150.
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ chức, cá
nhân nước ngoài tại Việt Nam
1. Nhà nước khuyến khích doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động để
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước
sở tại, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có quy định khác.
2. Công dân Việt Nam làm việc
cho các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, trong khu công nghiệp, khu kinh tế,
khu chế xuất, khu công nghệ cao hoặc làm việc cho cá nhân là công dân nước
ngoài tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam và được pháp luật bảo vệ.
3. Chính phủ quy định chi tiết
việc tuyển dụng, quản lý lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước
ngoài tại Việt Nam.
Điều 151.
Điều kiện người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
1. Người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam là người có quốc tịch nước ngoài và phải đáp ứng các điều
kiện sau đây:
a) Đủ 18 tuổi trở lên và có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc; có đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Y tế;
c) Không phải là người đang
trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích hoặc đang trong
thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước
ngoài hoặc pháp luật Việt Nam;
d) Có giấy phép lao động do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ trường hợp quy định tại Điều 154 của Bộ luật này.
2. Thời hạn của hợp đồng lao động
đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không được vượt quá thời
hạn của Giấy phép lao động. Khi sử dụng người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam, hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định
thời hạn.
3. Người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam và được pháp
luật Việt Nam bảo vệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Điều 152.
Điều kiện tuyển dụng, sử dụng người lao động nước ngoài làm việc tại Việt
Nam
1. Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,
cá nhân, nhà thầu chỉ được tuyển dụng người lao động nước ngoài vào làm vị trí
công việc quản lý, điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà người lao động
Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
2. Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,
cá nhân trước khi tuyển dụng người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt
Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được sự chấp thuận bằng văn bản
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Nhà thầu trước khi tuyển và
sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải kê khai cụ thể các vị
trí công việc, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc, thời gian
làm việc cần sử dụng lao động nước ngoài để thực hiện gói thầu và được sự chấp
thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 153.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài
1. Người lao động nước ngoài phải
xuất trình giấy phép lao động khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động sẽ bị buộc xuất cảnh hoặc trục
xuất theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của
người nước ngoài tại Việt Nam.
3. Người sử dụng lao động sử dụng
người lao động nước ngoài làm việc cho mình mà không có giấy phép lao động thì
bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 154.
Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép
lao động
1. Là chủ sở hữu hoặc thành
viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có giá trị góp vốn theo quy định của
Chính phủ.
2. Là Chủ tịch Hội đồng quản trị
hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần có giá trị góp vốn theo
quy định của Chính phủ.
3. Là Trưởng văn phòng đại diện,
dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức quốc tế, tổ chức phi
chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
4. Vào Việt Nam với thời hạn dưới
03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ.
5. Vào Việt Nam với thời hạn dưới
03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh
hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt
Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được.
6. Là luật sư nước ngoài đã được
cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư.
7. Trường hợp theo quy định của
điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
8. Người nước ngoài kết hôn với
người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
8a.[2] Nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao theo quy
định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số.
9. Trường hợp khác theo quy định
của Chính phủ.
Điều 155.
Thời hạn của giấy phép lao động
Thời hạn của giấy phép lao động
tối đa là 02 năm, trường hợp gia hạn thì chỉ được gia hạn một lần với thời hạn
tối đa là 02 năm.
Điều 156.
Các trường hợp giấy phép lao động hết hiệu lực
1. Giấy phép lao động hết thời
hạn.
2. Chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Nội dung của hợp đồng lao động
không đúng với nội dung của giấy phép lao động đã được cấp.
4. Làm việc không đúng với nội dung
trong giấy phép lao động đã được cấp.
5. Hợp đồng trong các lĩnh vực
là cơ sở phát sinh giấy phép lao động hết thời hạn hoặc chấm dứt.
6. Có văn bản thông báo của
phía nước ngoài thôi cử lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
7. Doanh nghiệp, tổ chức, đối
tác phía Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài tại Việt Nam sử dụng lao động là người
nước ngoài chấm dứt hoạt động.
8. Giấy phép lao động bị thu hồi.
Điều 157.
Cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động, giấy xác nhận không thuộc diện
cấp giấy phép lao động
Chính phủ quy định điều kiện,
trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác
nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam.
Mục 4.
LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Điều 158.
Chính sách của Nhà nước đối với lao động là người khuyết tật
Nhà nước bảo trợ quyền lao động,
tự tạo việc làm của người lao động là người khuyết tật; có chính sách khuyến
khích, ưu đãi phù hợp đối với người sử dụng lao động trong tạo việc làm và nhận
người lao động là người khuyết tật vào làm việc theo quy định của pháp luật về
người khuyết tật.
Điều 159.
Sử dụng lao động là người khuyết tật
1. Người sử dụng lao động phải
bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động và tổ
chức khám sức khỏe định kỳ phù hợp với người lao động là người khuyết tật.
2. Người sử dụng lao động phải
tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn
đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ.
Điều 160.
Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật
1. Sử dụng người lao động là
người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng
hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp
người lao động là người khuyết tật đồng ý.
2. Sử dụng người lao động là
người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ
trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của
người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông
tin về công việc đó.
Mục 5.
LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
Điều 161.
Lao động là người giúp việc gia đình
1. Lao động là người giúp việc
gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một
hoặc nhiều hộ gia đình.
Các công việc trong gia đình
bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm
sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng
không liên quan đến hoạt động thương mại.
2. Chính phủ quy định về lao động
là người giúp việc gia đình.
Điều 162.
Hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình
1. Người sử dụng lao động phải
giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia
đình.
2. Thời hạn của hợp đồng lao động
đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thỏa thuận. Một bên có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước
ít nhất 15 ngày.
3. Hai bên thỏa thuận trong hợp
đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng
ngày, chỗ ở.
Điều 163.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sử dụng lao động là người giúp việc gia
đình
1. Thực hiện đầy đủ thỏa thuận
đã giao kết trong hợp đồng lao động.
2. Trả cho người giúp việc gia
đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để
người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
3. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm
của người giúp việc gia đình.
4. Bố trí chỗ ăn, ở hợp vệ sinh
cho người giúp việc gia đình nếu có thỏa thuận.
5. Tạo cơ hội cho người giúp việc
gia đình được tham gia học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp.
6. Trả tiền tàu xe đi đường khi
người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường hợp người giúp việc
gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.
Điều 164.
Nghĩa vụ của lao động là người giúp việc gia đình
1. Thực hiện đầy đủ thỏa thuận
đã giao kết trong hợp đồng lao động.
2. Phải bồi thường theo thỏa
thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu làm hỏng, mất tài sản của người sử dụng
lao động.
3. Thông báo kịp thời với người
sử dụng lao động về khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn, sức khỏe,
tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng lao động và bản thân.
4. Tố cáo với cơ quan có thẩm
quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng
bức lao động hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật.
Điều 165.
Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động
1. Ngược đãi, quấy rối tình dục,
cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình.
2. Giao việc cho người giúp việc
gia đình không theo hợp đồng lao động.
3. Giữ giấy tờ tùy thân của người
lao động.
Mục 6. MỘT
SỐ LAO ĐỘNG KHÁC
Điều 166.
Người lao động làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao,
hàng hải, hàng không
Người lao động làm việc trong
lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao, hàng hải, hàng không được áp dụng một số
chế độ phù hợp về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; hợp đồng
lao động; tiền lương, tiền thưởng; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; an
toàn, vệ sinh lao động theo quy định của Chính phủ.
Điều 167.
Người lao động nhận công việc về làm tại nhà
Người lao động có thể thỏa thuận
với người sử dụng lao động để nhận việc về làm tại nhà.
Chương
XII
BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM
Y TẾ, BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Điều 168.
Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
1. Người sử dụng lao động, người
lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
Khuyến khích người sử dụng lao
động, người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm khác đối với người lao động.
2. Trong thời gian người lao động
nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động không phải trả
lương cho người lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.
3. Đối với người lao động không
thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ
trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức người sử dụng
lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho
người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp.
Điều 169.
Tuổi nghỉ hưu
1. Người lao động bảo đảm điều
kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã
hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.
2. Tuổi nghỉ hưu của người lao
động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến
khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động
nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của
người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối
với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm
tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
3. Người lao động bị suy giảm
khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không
quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Người lao động có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi
cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời
điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Chương
XIII
TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN NGƯỜI
LAO ĐỘNG TẠI CƠ SỞ
Điều 170.
Quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức đại diện người lao
động tại cơ sở
1. Người lao động có quyền
thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn.
2. Người lao động trong doanh
nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người
lao động tại doanh nghiệp theo quy định tại các điều 172, 173
và 174 của Bộ luật này.
3. Các tổ chức đại diện người
lao động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao
động trong quan hệ lao động.
Điều 171.
Công đoàn cơ sở thuộc hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam
1. Công đoàn cơ sở thuộc hệ thống
tổ chức Công đoàn Việt Nam được thành lập ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh
nghiệp.
2. Việc thành lập, giải thể, tổ
chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở được thực hiện theo quy định của Luật
Công đoàn.
Điều 172.
Thành lập, gia nhập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
1. Tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp sau khi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp đăng ký.
Tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp tổ chức và hoạt động phải bảo đảm nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp,
pháp luật và điều lệ; tự nguyện, tự quản, dân chủ, minh bạch.
2. Tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp bị thu hồi đăng ký khi vi phạm về tôn chỉ, mục đích của tổ chức
quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 của Bộ luật này hoặc tổ
chức của người lao động tại doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại trong trường hợp
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể hoặc doanh nghiệp giải thể, phá sản.
3. Trường hợp tổ chức của người
lao động tại doanh nghiệp gia nhập Công đoàn Việt Nam thì thực hiện theo quy định
của Luật Công đoàn.
4. Chính phủ quy định về hồ sơ,
trình tự, thủ tục đăng ký; thẩm quyền, thủ tục cấp đăng ký, thu hồi đăng ký; quản
lý nhà nước đối với vấn đề tài chính, tài sản của tổ chức của người lao động tại
doanh nghiệp; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, quyền liên kết của tổ
chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Điều 173.
Ban lãnh đạo và thành viên tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
1. Tại thời điểm đăng ký, tổ chức
của người lao động tại doanh nghiệp phải có số lượng tối thiểu thành viên là
người lao động làm việc tại doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
2. Ban lãnh đạo do thành viên của
tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bầu. Thành viên ban lãnh đạo là người
lao động Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp; không đang trong thời gian bị
truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích do
phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con
người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định
của Bộ luật Hình sự.
Điều 174.
Điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
1. Điều lệ tổ chức của người
lao động tại doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ tổ chức; biểu
tượng (nếu có);
b) Tôn chỉ, mục đích và phạm vi
hoạt động là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên tổ chức
mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp; cùng với người sử dụng lao động
giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động
và người sử dụng lao động; xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định;
c) Điều kiện, thủ tục gia nhập
và ra khỏi tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Trong một tổ chức của
người lao động tại doanh nghiệp không đồng thời có thành viên là người lao động
thông thường và thành viên là người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình
ra quyết định liên quan đến điều kiện lao động, tuyển dụng lao động, kỷ luật
lao động, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chuyển người lao động làm công việc
khác;
d) Cơ cấu tổ chức, nhiệm kỳ,
người đại diện của tổ chức;
đ) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động;
e) Thể thức thông qua quyết định
của tổ chức.
Những nội dung phải do thành
viên quyết định theo đa số bao gồm thông qua, sửa đổi, bổ sung điều lệ của tổ
chức; bầu cử, miễn nhiệm người đứng đầu và thành viên ban lãnh đạo của tổ chức;
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, đổi tên, giải thể, liên kết tổ chức; gia nhập
Công đoàn Việt Nam;
g) Phí thành viên, nguồn tài sản,
tài chính và việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của tổ chức.
Việc thu, chi tài chính của tổ
chức của người lao động tại doanh nghiệp phải được theo dõi, lưu trữ và định kỳ
hằng năm công khai cho thành viên của tổ chức;
h) Kiến nghị và giải quyết kiến
nghị của thành viên trong nội bộ tổ chức.
2. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 175.
Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập,
gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
1. Phân biệt đối xử đối với người
lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
vì lý do thành lập, gia nhập hoặc hoạt động tổ chức đại diện người lao động,
bao gồm:
a) Yêu cầu tham gia, không tham
gia hoặc ra khỏi tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để được tuyển dụng,
giao kết hoặc gia hạn hợp đồng lao động;
b) Sa thải, kỷ luật, đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động, không tiếp tục giao kết hoặc gia hạn hợp đồng lao động,
chuyển người lao động làm công việc khác;
c) Phân biệt đối xử về tiền
lương, thời giờ làm việc, các quyền và nghĩa vụ khác trong quan hệ lao động;
d) Cản trở, gây khó khăn liên
quan đến công việc nhằm làm suy yếu hoạt động của tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở.
2. Can thiệp, thao túng quá
trình thành lập, bầu cử, xây dựng kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện các hoạt
động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, bao gồm cả việc hỗ trợ tài
chính hoặc các biện pháp kinh tế khác nhằm làm vô hiệu hóa hoặc suy yếu việc thực
hiện chức năng đại diện của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở hoặc phân
biệt đối xử giữa các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Điều 176.
Quyền của thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
1. Thành viên ban lãnh đạo của
tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền sau đây:
a) Tiếp cận người lao động tại nơi
làm việc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao
động tại cơ sở. Việc thực hiện quyền này phải bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt
động bình thường của người sử dụng lao động;
b) Tiếp cận người sử dụng lao động
để thực hiện các nhiệm vụ đại diện của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
c) Được sử dụng thời gian làm
việc theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này để thực hiện công việc của tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở mà vẫn được người sử dụng lao động trả
lương;
d) Được hưởng các bảo đảm khác
trong quan hệ lao động và trong việc thực hiện chức năng đại diện theo quy định
của pháp luật.
2. Chính phủ quy định thời gian
tối thiểu mà người sử dụng lao động dành cho toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của
tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại
diện trên cơ sở số lượng thành viên của tổ chức.
3. Tổ chức đại diện người lao động
tại cơ sở và người sử dụng lao động thỏa thuận về thời gian tăng thêm so với thời
gian tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều này và cách thức sử dụng thời gian làm
việc của thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
phù hợp với điều kiện thực tế.
Điều 177.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở
1. Không được cản trở, gây khó
khăn khi người lao động tiến hành các hoạt động hợp pháp nhằm thành lập, gia nhập
và tham gia các hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
2. Công nhận và tôn trọng các
quyền của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đã được thành lập hợp pháp.
3. Phải thỏa thuận bằng văn bản
với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật sa thải đối với
người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở. Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan
chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau 30 ngày kể từ ngày
báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biết, người
sử dụng lao động mới có quyền quyết định. Trường hợp không nhất trí với quyết định
của người sử dụng lao động thì người lao động, ban lãnh đạo của tổ chức đại diện
người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
4. Phải gia hạn hợp đồng lao động
đã giao kết đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ
chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn hợp đồng
lao động.
5. Các nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 178.
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong quan hệ
lao động
1. Thương lượng tập thể với người
sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật này.
2. Đối thoại tại nơi làm việc
theo quy định của Bộ luật này.
3. Được tham khảo ý kiến xây dựng
và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, mức lao động, quy chế trả
lương, quy chế thưởng, nội quy lao động và những vấn đề liên quan đến quyền, lợi
ích của người lao động là thành viên của mình.
4. Đại diện cho người lao động
trong quá trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp lao động cá nhân khi được người
lao động ủy quyền.
5. Tổ chức và lãnh đạo đình
công theo quy định của Bộ luật này.
6. Tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật của
cơ quan, tổ chức đăng ký hoạt động hợp pháp tại Việt Nam nhằm tìm hiểu pháp luật
về lao động; về trình tự, thủ tục thành lập tổ chức đại diện người lao động và
việc tiến hành các hoạt động đại diện trong quan hệ lao động sau khi được cấp
đăng ký.
7. Được người sử dụng lao động
bố trí nơi làm việc và được cung cấp thông tin, bảo đảm các điều kiện cần thiết
cho hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
8. Các quyền và nghĩa vụ khác
theo quy định của pháp luật.
Chương
XIV
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG
Mục 1. NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
Điều 179.
Tranh chấp lao động
1. Tranh chấp lao động là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập,
thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện
người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp
đến quan hệ lao động. Các loại tranh chấp lao động bao gồm:
a) Tranh chấp lao động cá nhân
giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh
nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa
người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;
b) Tranh chấp lao động tập thể
về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với
người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.
2. Tranh chấp lao động tập thể
về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với
người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động
phát sinh trong trường hợp sau đây:
a) Có sự khác nhau trong việc
hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy
chế và thỏa thuận hợp pháp khác;
b) Có sự khác nhau trong việc
hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;
c) Khi người sử dụng lao động
có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của
tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ
chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động;
vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.
3. Tranh chấp lao động tập thể
về lợi ích bao gồm:
a) Tranh chấp lao động phát
sinh trong quá trình thương lượng tập thể;
b) Khi một bên từ chối thương
lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp
luật.
Điều 180.
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động
1. Tôn trọng quyền tự định đoạt
thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp
lao động.
2. Coi trọng giải quyết tranh
chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích
của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.
3. Công khai, minh bạch, khách
quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.
4. Bảo đảm sự tham gia của đại
diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.
5. Việc giải quyết tranh chấp
lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý.
Điều 181.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong giải quyết tranh chấp lao động
1. Cơ quan quản lý nhà nước về
lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức đại diện người lao động, tổ chức đại
diện người sử dụng lao động hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ các bên trong giải quyết
tranh chấp lao động.
2. Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội tổ chức việc tập huấn, nâng cao năng lực chuyên môn của hòa giải viên
lao động, trọng tài viên lao động trong giải quyết tranh chấp lao động.
3. Khi có yêu cầu, cơ quan
chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải
quyết tranh chấp lao động và có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp
đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
cơ quan tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động có trách nhiệm chuyển
yêu cầu đến hòa giải viên lao động đối với trường hợp bắt buộc phải qua thủ tục
hòa giải lao động, chuyển đến Hội đồng trọng tài trong trường hợp yêu cầu Hội đồng
trọng tài giải quyết hoặc hướng dẫn gửi đến Tòa án để giải quyết.
Điều 182.
Quyền và nghĩa vụ của hai bên trong giải quyết tranh chấp lao động
1. Trong giải quyết tranh chấp
lao động, các bên có quyền sau đây:
a) Trực tiếp hoặc thông qua đại
diện để tham gia vào quá trình giải quyết;
b) Rút yêu cầu hoặc thay đổi nội
dung yêu cầu;
c) Yêu cầu thay đổi người tiến
hành giải quyết tranh chấp lao động nếu có lý do cho rằng người đó có thể không
vô tư hoặc không khách quan.
2. Trong giải quyết tranh chấp
lao động, các bên có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp đầy đủ, kịp thời
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình;
b) Chấp hành thỏa thuận đã đạt
được, quyết định của Ban trọng tài lao động, bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật.
Điều 183.
Quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp lao động, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có quyền yêu cầu các bên tranh chấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan cung cấp tài liệu, chứng cứ, trưng cầu giám định, mời người làm chứng và
người có liên quan.
Điều 184.
Hòa giải viên lao động
1. Hòa giải viên lao động là
người do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để hòa giải tranh chấp lao
động, tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề; hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.
2. Chính phủ quy định tiêu chuẩn,
trình tự, thủ tục bổ nhiệm, chế độ, điều kiện hoạt động và việc quản lý hòa giải
viên lao động; thẩm quyền, trình tự, thủ tục cử hòa giải viên lao động.
Điều 185.
Hội đồng trọng tài lao động
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định thành lập Hội đồng trọng tài lao động, bổ nhiệm Chủ tịch, thư
ký và các trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động. Nhiệm kỳ của
Hội đồng trọng tài lao động là 05 năm.
2. Số lượng trọng tài viên lao
động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, cụ thể
như sau:
a) Tối thiểu 05 thành viên do
cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử, trong đó
có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của
cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Tối thiểu 05 thành viên do
công đoàn cấp tỉnh đề cử;
c) Tối thiểu 05 thành viên do
các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề
cử.
3. Tiêu chuẩn và chế độ làm việc
của trọng tài viên lao động được quy định như sau:
a) Trọng tài viên lao động là người
hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động, có uy tín
và công tâm;
b) Khi đề cử trọng tài viên lao
động theo quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại diện của người sử dụng
lao động có thể cử người của cơ quan, tổ chức mình hoặc cử người khác đáp ứng đầy
đủ các tiêu chuẩn đối với trọng tài viên lao động theo quy định;
c) Thư ký Hội đồng trọng tài
lao động thực hiện nhiệm vụ thường trực của Hội đồng trọng tài lao động. Trọng
tài viên lao động làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
4. Khi có yêu cầu giải quyết
tranh chấp lao động theo quy định tại các điều 89, 193 và 197 của
Bộ luật này, Hội đồng trọng tài lao động quyết định thành lập Ban trọng tài
lao động để giải quyết tranh chấp như sau:
a) Đại diện mỗi bên tranh chấp
chọn 01 trọng tài viên trong số danh sách trọng tài viên lao động;
b) Trọng tài viên lao động do
các bên lựa chọn theo quy định tại điểm a khoản này thống nhất lựa chọn 01 trọng
tài viên lao động khác làm Trưởng Ban trọng tài lao động;
c) Trường hợp các bên tranh chấp
cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp lao động thì Ban trọng
tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được lựa chọn.
5. Ban trọng tài lao động làm
việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp quy định
tại điểm c khoản 4 Điều này.
6. Chính phủ quy định chi tiết
về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ và điều
kiện hoạt động của trọng tài viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động; tổ chức
và hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động; việc thành lập và hoạt động của
Ban trọng tài lao động quy định tại Điều này.
Điều 186.
Cấm hành động đơn phương trong khi tranh chấp lao động đang được giải quyết
Khi tranh chấp lao động đang được
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn theo quy định
của Bộ luật này thì không bên nào được hành động đơn phương chống lại bên kia.
Mục 2. THẨM
QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN
Điều 187.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1. Hòa giải viên lao động;
2. Hội đồng trọng tài lao động;
3. Tòa án nhân dân.
Điều 188.
Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên
lao động
1. Tranh chấp lao động cá nhân
phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước
khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh
chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động
theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ
cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia
đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp
luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về
việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp
luật về an toàn, vệ sinh lao động;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa
người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa người lao động thuê lại
với người sử dụng lao động thuê lại.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải
quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181
của Bộ luật này, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
3. Tại phiên họp hòa giải phải
có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác
tham gia phiên họp hòa giải.
4. Hòa giải viên lao động có
trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.
Trường hợp các bên thỏa thuận
được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải
thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.
Trường hợp các bên không thỏa
thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem
xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động
lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên
tranh chấp và hòa giải viên lao động.
Trường hợp phương án hòa giải
không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập
biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của
bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.
5. Bản sao biên bản hòa giải
thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời
hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
6. Trường hợp một trong các bên
không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền
yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.
7. Trường hợp không bắt buộc phải
qua thủ tục hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trường hợp hết thời hạn
hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên lao động không tiến
hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định tại khoản 4 Điều
này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để
giải quyết tranh chấp:
a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài
lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 189.
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động
1. Trên cơ sở đồng thuận, các
bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp
trong trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 188 của Bộ luật này.
Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được
đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này.
2. Trong thời hạn 07 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản
1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải ra quyết
định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.
4. Trường hợp hết thời hạn quy
định tại khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết
thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài lao động không ra quyết
định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Trường hợp một trong các bên
không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì
các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 190.
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải
viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ
ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp
của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Hội đồng
trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày
phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
mình bị vi phạm.
3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà
bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
4. Trường hợp người yêu cầu chứng
minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo
quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này
thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không
tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Mục 3. THẨM
QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ QUYỀN
Điều 191.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền bao gồm:
a) Hòa giải viên lao động;
b) Hội đồng trọng tài lao động;
c) Tòa án nhân dân.
2. Tranh chấp lao động tập thể
về quyền phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao
động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.
Điều 192.
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền
1. Trình tự, thủ tục hòa giải
tranh chấp lao động tập thể về quyền được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 188 của Bộ luật này.
Đối với tranh chấp quy định tại
điểm b và điểm c khoản 2 Điều 179 của Bộ luật này mà xác định
có hành vi vi phạm pháp luật thì hòa giải viên lao động lập biên bản và chuyển
hồ sơ, tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp
luật.
2. Trong trường hợp hòa giải
không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều
188 của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì
các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết
tranh chấp:
a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài
lao động giải quyết theo quy định tại Điều 193 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 193.
Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Hội đồng trọng tài lao động
1. Trên cơ sở đồng thuận, các
bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp
trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động
không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện thỏa thuận
trong biên bản hòa giải thành.
2. Trong thời hạn 07 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản
1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày được thành lập, căn cứ vào quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước
lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp
pháp khác, Ban trọng tài phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi
cho các bên tranh chấp.
Đối với tranh chấp quy định tại
điểm b và điểm c khoản 2 Điều 179 của Bộ luật này mà xác định
có hành vi vi phạm pháp luật thì Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải
quyết mà lập biên bản và chuyển hồ sơ, tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền xem
xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp các bên lựa chọn
giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động theo quy định tại
Điều này thì trong thời gian Hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành giải
quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Khi hết thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn
quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải
quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
6. Trường hợp một trong các bên
không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì
các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 194.
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền
1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải
viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động tập thể về quyền là 06
tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp
của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Hội đồng
trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 09 tháng
kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của
mình bị vi phạm.
3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải
quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra
hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm.
Mục 4. THẨM
QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH
Điều 195.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
1. Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Hòa giải viên lao động;
b) Hội đồng trọng tài lao động.
2. Tranh chấp lao động tập thể
về lợi ích phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên
lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc tiến
hành thủ tục đình công.
Điều 196.
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
1. Trình tự, thủ tục hòa giải
tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 188 của Bộ luật này.
2. Trường hợp hòa giải thành,
biên bản hòa giải thành phải bao gồm đầy đủ nội dung các bên đã đạt được thỏa
thuận, có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động. Biên bản hòa
giải thành có giá trị pháp lý như thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp.
3. Trường hợp hòa giải không
thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188
của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một
trong các bên không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì các
bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết
tranh chấp:
a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài
lao động giải quyết theo quy định tại Điều 197 của Bộ luật này;
b) Tổ chức đại diện người lao động
có quyền tiến hành thủ tục quy định tại các điều 200, 201 và 202
của Bộ luật này để đình công.
Điều 197.
Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài
lao động
1. Trên cơ sở đồng thuận, các
bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp
trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này mà hòa giải viên lao động
không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện thỏa thuận
trong biên bản hòa giải thành.
2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều
này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày được thành lập, căn cứ vào quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước
lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp
pháp khác, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh
chấp và gửi cho các bên tranh chấp.
4. Khi các bên lựa chọn giải
quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động theo quy định tại Điều
này thì tổ chức đại diện người lao động không được tiến hành đình công trong thời
gian Hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành giải quyết tranh chấp.
Khi hết thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn
quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài không ra quyết định giải quyết
tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết
định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì tổ chức đại diện người
lao động là bên tranh chấp có quyền tiến hành thủ tục quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này để đình công.
Mục 5.
ĐÌNH CÔNG
Điều 198.
Đình công
Đình công là sự ngừng việc tạm
thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong
quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động
có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và
lãnh đạo.
Điều 199.
Trường hợp người lao động có quyền đình công
Tổ chức đại diện người lao động
là bên tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có quyền tiến hành thủ tục quy định
tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này để đình công
trong trường hợp sau đây:
1. Hòa giải không thành hoặc hết
thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này
mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;
2. Ban trọng tài lao động không
được thành lập hoặc thành lập nhưng không ra quyết định giải quyết tranh chấp
hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải
quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.
Điều 200.
Trình tự đình công
1. Lấy ý kiến về đình công theo
quy định tại Điều 201 của Bộ luật này.
2. Ra quyết định đình công và
thông báo đình công theo quy định tại Điều 202 của Bộ luật này.
3. Tiến hành đình công.
Điều 201.
Lấy ý kiến về đình công
1. Trước khi tiến hành đình
công, tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công
quy định tại Điều 198 của Bộ luật này có trách nhiệm lấy ý
kiến của toàn thể người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại
diện người lao động tham gia thương lượng.
2. Nội dung lấy ý kiến bao gồm:
a) Đồng ý hay không đồng ý đình
công;
b) Phương án của tổ chức đại diện
người lao động về nội dung quy định tại các điểm b, c và d khoản
2 Điều 202 của Bộ luật này.
3. Việc lấy ý kiến được thực hiện
trực tiếp bằng hình thức lấy phiếu hoặc chữ ký hoặc hình thức khác.
4. Thời gian, địa điểm và cách
thức tiến hành lấy ý kiến về đình công do tổ chức đại diện người lao động quyết
định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày.
Việc lấy ý kiến không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
bình thường của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động không được gây
khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động
tiến hành lấy ý kiến về đình công.
Điều 202.
Quyết định đình công và thông báo thời điểm bắt đầu đình công
1. Khi có trên 50% số người được
lấy ý kiến đồng ý với nội dung lấy ý kiến đình công theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật này thì tổ chức đại diện người
lao động ra quyết định đình công bằng văn bản.
2. Quyết định đình công phải có
các nội dung sau đây:
a) Kết quả lấy ý kiến đình
công;
b) Thời điểm bắt đầu đình công,
địa điểm đình công;
c) Phạm vi tiến hành đình công;
d) Yêu cầu của người lao động;
đ) Họ tên, địa chỉ liên hệ của
người đại diện cho tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình
công.
3. Ít nhất là 05 ngày làm việc
trước ngày bắt đầu đình công, tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo
đình công phải gửi văn bản về việc quyết định đình công cho người sử dụng lao động,
Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh.
4. Đến thời điểm bắt đầu đình
công, nếu người sử dụng lao động vẫn không chấp nhận giải quyết yêu cầu của người
lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.
Điều 203.
Quyền của các bên trước và trong quá trình đình công
1. Tiếp tục thỏa thuận để giải
quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể hoặc cùng đề nghị hòa giải viên lao
động, Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hòa giải, giải quyết tranh chấp lao
động.
2. Tổ chức đại diện người lao động
có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định tại Điều
198 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Rút quyết định đình công nếu
chưa đình công hoặc chấm dứt đình công nếu đang đình công;
b) Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc
đình công là hợp pháp.
3. Người sử dụng lao động có
quyền sau đây:
a) Chấp nhận toàn bộ hoặc một
phần yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho tổ chức đại diện người lao động đang
tổ chức và lãnh đạo đình công;
b) Đóng cửa tạm thời nơi làm việc
trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường
hoặc để bảo vệ tài sản;
c) Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc
đình công là bất hợp pháp.
Điều 204.
Trường hợp đình công bất hợp pháp
1. Không thuộc trường hợp được
đình công quy định tại Điều 199 của Bộ luật này.
2. Không do tổ chức đại diện
người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công.
3. Vi phạm các quy định về
trình tự, thủ tục tiến hành đình công theo quy định của Bộ luật này.
4. Khi tranh chấp lao động tập
thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định
của Bộ luật này.
5. Tiến hành đình công trong
trường hợp không được đình công quy định tại Điều 209 của Bộ
luật này.
6. Khi đã có quyết định hoãn hoặc
ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều
210 của Bộ luật này.
Điều 205.
Thông báo quyết định đóng cửa tạm thời nơi làm việc
Ít nhất 03 ngày làm việc trước
ngày đóng cửa tạm thời nơi làm việc, người sử dụng lao động phải niêm yết công
khai quyết định đóng cửa tạm thời nơi làm việc tại nơi làm việc và thông báo
cho các cơ quan, tổ chức sau đây:
1. Tổ chức đại diện người lao động
đang tổ chức và lãnh đạo đình công;
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
nơi làm việc dự kiến đóng cửa;
3. Ủy ban nhân dân cấp huyện có
nơi làm việc dự kiến đóng cửa.
Điều 206.
Trường hợp cấm đóng cửa tạm thời nơi làm việc
1. Trước 12 giờ so với thời điểm
bắt đầu đình công ghi trong quyết định đình công.
2. Sau khi người lao động ngừng
đình công.
Điều 207.
Tiền lương và các quyền lợi hợp pháp khác của người lao động trong thời gian
đình công
1. Người lao động không tham
gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì được trả lương ngừng
việc theo quy định tại khoản 2 Điều 99 của Bộ luật này và
các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật về lao động.
2. Người lao động tham gia đình
công không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Điều 208.
Các hành vi bị nghiêm cấm trước, trong và sau khi đình công
1. Cản trở việc thực hiện quyền
đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở
người lao động không tham gia đình công đi làm việc.
2. Dùng bạo lực; hủy hoại máy,
thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động.
3. Xâm phạm trật tự, an toàn
công cộng.
4. Chấm dứt hợp đồng lao động
hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc
điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi
làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công.
5. Trù dập, trả thù người lao động
tham gia đình công, người lãnh đạo đình công.
6. Lợi dụng đình công để thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Điều 209.
Nơi sử dụng lao động không được đình công
1. Không được đình công ở nơi sử
dụng lao động mà việc đình công có thể đe dọa đến quốc phòng, an ninh, trật tự
công cộng, sức khỏe của con người.
2. Chính phủ quy định danh mục
nơi sử dụng lao động không được đình công và việc giải quyết tranh chấp lao động
tại nơi sử dụng lao động không được đình công quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 210.
Quyết định hoãn, ngừng đình công
1. Khi xét thấy cuộc đình công
có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, lợi ích công cộng,
đe dọa đến quốc phòng, an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe của con người thì
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.
2. Chính phủ quy định chi tiết
việc hoãn, ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của người lao động.
Điều 211.
Xử lý cuộc đình công không đúng trình tự, thủ tục
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi
nhận được thông báo về cuộc đình công không tuân theo quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện chủ trì, chỉ đạo cơ quan chuyên môn về lao động phối hợp với công
đoàn cùng cấp, cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp gặp gỡ người sử dụng lao
động và đại diện ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để nghe
ý kiến, hỗ trợ các bên tìm biện pháp giải quyết, đưa hoạt động sản xuất, kinh
doanh trở lại bình thường.
Trường hợp phát hiện có hành vi
vi phạm pháp luật thì lập biên bản, tiến hành xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có
thẩm quyền xử lý cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật theo
quy định của pháp luật.
Đối với các nội dung tranh chấp
lao động thì tùy từng loại tranh chấp, hướng dẫn, hỗ trợ các bên tiến hành các
thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này.
Chương
XV
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO
ĐỘNG
Điều 212.
Nội dung quản lý nhà nước về lao động
1. Ban hành và tổ chức thực hiện
văn bản quy phạm pháp luật về lao động.
2. Theo dõi, thống kê, cung cấp
thông tin về cung cầu và biến động cung, cầu lao động; quyết định chính sách tiền
lương đối với người lao động; quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn
nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội, giáo dục nghề nghiệp, phát
triển kỹ năng nghề; xây dựng khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, khung trình
độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ thuộc giáo dục nghề nghiệp. Quy định
danh mục nghề chỉ được sử dụng lao động đã qua đào tạo giáo dục nghề nghiệp hoặc
có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
3. Tổ chức và tiến hành nghiên
cứu khoa học về lao động; thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động,
về mức sống, tiền lương và thu nhập của người lao động; quản lý lao động về số
lượng, chất lượng và biến động lao động.
4. Xây dựng các cơ chế, thiết
chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định; thúc đẩy việc
áp dụng quy định của Bộ luật này đối với người làm việc không có quan hệ lao động;
thực hiện việc đăng ký và quản lý hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh
nghiệp.
5. Kiểm tra, thanh tra, xử lý
vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động; giải quyết tranh
chấp lao động theo quy định của pháp luật.
6. Hợp tác quốc tế về lao động.
Điều 213.
Thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động
1. Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước về lao động.
4. Ủy ban nhân dân các cấp thực
hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình.
Chương
XVI
THANH TRA LAO ĐỘNG, XỬ
LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG
Điều 214.
Nội dung thanh tra lao động
1. Thanh tra việc chấp hành quy
định của pháp luật về lao động.
2. Điều tra tai nạn lao động và
vi phạm an toàn, vệ sinh lao động.
3. Tham gia hướng dẫn áp dụng hệ
thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao động, an toàn, vệ sinh
lao động.
4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
về lao động theo quy định của pháp luật.
5. Xử lý theo thẩm quyền và kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về lao động.
Điều 215.
Thanh tra chuyên ngành về lao động
1. Thẩm quyền thanh tra chuyên
ngành về lao động thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra.
2. Việc thanh tra an toàn, vệ
sinh lao động thực hiện theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Điều 216.
Quyền của thanh tra lao động
Thanh tra lao động có quyền
thanh tra, điều tra nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra được giao theo quyết
định thanh tra.
Khi thanh tra đột xuất theo quyết
định của người có thẩm quyền trong trường hợp khẩn cấp có nguy cơ đe dọa an
toàn, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người lao động tại nơi làm việc
thì không cần báo trước.
Điều 217.
Xử lý vi phạm
1. Người nào có hành vi vi phạm
quy định của Bộ luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Khi đã có quyết định của Tòa
án về cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao động đang tham gia đình công
phải ngừng ngay đình công và trở lại làm việc; nếu người lao động không ngừng
đình công, không trở lại làm việc thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ
luật lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Trong trường hợp cuộc đình công
là bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì tổ chức đại diện
người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công phải bồi thường thiệt hại theo quy
định của pháp luật.
3. Người lợi dụng đình công gây
mất trật tự, an toàn công cộng, làm tổn hại máy, thiết bị, tài sản của người sử
dụng lao động; người có hành vi cản trở thực hiện quyền đình công, kích động,
lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; người có hành vi trù dập, trả thù
người tham gia đình công, người lãnh đạo cuộc đình công thì tùy theo mức độ vi
phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương
XVII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[3]
Điều 218.
Miễn, giảm thủ tục đối với trường hợp sử dụng dưới 10 lao động
Người sử dụng lao động sử dụng
dưới 10 người lao động thực hiện quy định của Bộ luật này nhưng được miễn, giảm
một số thủ tục theo quy định của Chính phủ.
Điều 219.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan đến lao động
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số
84/2015/QH13 và Luật số 35/2018/QH14:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 54 như
sau:
“ Điều 54. Điều kiện
hưởng lương hưu
1. Người lao động quy định tại
các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này, trừ trường hợp quy
định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở
lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đủ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
b) Đủ tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có đủ 15 năm làm nghề,
công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc có đủ
15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm
cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01
tháng 01 năm 2021;
c) Người lao động có tuổi thấp
hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của người lao động quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có đủ 15 năm làm
công việc khai thác than trong hầm lò;
d) Người bị nhiễm HIV do tai nạn
rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
2. Người lao động quy định tại
điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm
xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 05
tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ
luật Lao động, trừ trường hợp Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật
Công an nhân dân, Luật Cơ yếu, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên
chức quốc phòng có quy định khác;
b) Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi
so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật
Lao động và có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp
khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;
c) Người bị nhiễm HIV do tai nạn
rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
3. Lao động nữ là cán bộ, công
chức cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng
bảo hiểm xã hội và đủ tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều
169 của Bộ luật Lao động thì được hưởng lương hưu.
4. Điều kiện về tuổi hưởng
lương hưu đối với một số trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.”;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều 55 như
sau:
“Điều 55. Điều kiện hưởng
lương hưu khi suy giảm khả năng lao động
1. Người lao động quy định tại
các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ
20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với
người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại các điểm
a, b và c khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 05
tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ
luật Lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%;
b) Có tuổi thấp hơn tối đa 10
tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ
luật Lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
c) Có đủ 15 năm trở lên làm nghề,
công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội ban hành và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở
lên.
2. Người lao động quy định tại
điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo
hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng
lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại
điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này khi thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 10
tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ
luật Lao động;
b) Có đủ 15 năm trở lên làm nghề,
công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội ban hành.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều
73 như sau:
“1. Người lao động hưởng
lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định
tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
b) Đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội
trở lên.”.
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 của
Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung tên điều,
khoản 1; bổ sung các khoản 1a, 1b và 1c vào sau khoản 1 như sau:
“Điều 32. Những tranh
chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án
1. Tranh chấp lao động cá nhân
giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải
của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy
định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải,
trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động
theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ
cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia
đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp
luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về
việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp
luật về an toàn, vệ sinh lao động;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa
người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa người lao động thuê lại
với người sử dụng lao động thuê lại.
1a. Tranh chấp lao động cá nhân
mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết
thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao động
không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết
tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài
lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1b. Tranh chấp lao động tập thể về quyền theo quy định
của pháp luật về lao động đã qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà
hòa giải không thành, hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao
động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên
không thực hiện biên bản hòa giải thành thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1c. Tranh chấp lao động tập thể về quyền mà hai bên
thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn
theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao động không được
thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc
một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”;
b) Bãi bỏ khoản 2 Điều 32.
Điều 220. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2021.
Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 hết hiệu lực thi
hành kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
2. Kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành, hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, các thỏa thuận hợp pháp đã giao kết
có nội dung không trái hoặc bảo đảm cho người lao động có quyền và điều kiện
thuận lợi hơn so với quy định của Bộ luật này được tiếp tục thực hiện, trừ trường
hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung để phù hợp và để áp dụng quy
định của Bộ luật này.
3. Chế độ lao động đối với cán
bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân
dân, tổ chức xã hội, xã viên hợp tác xã, người làm việc không có quan hệ lao động
do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng
một số quy định trong Bộ luật này.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDLQG về PL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của QH);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15 có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Công nghiệp công nghệ số.”.
[2] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 49 của Luật Công nghiệp công
nghệ số số 71/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[3] Điều 50 của Luật Công nghiệp công nghệ số số
71/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau: “Điều
50. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các điều 11, 28 và 29 của
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
3. Trường hợp có quy định khác nhau về cùng một
vấn đề giữa Luật này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội thì áp dụng quy định
của Luật này. Trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định cơ chế,
chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Luật này thì đối tượng được ưu đãi được áp
dụng mức ưu đãi có lợi nhất.”.