|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 140/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 05
tháng 9 năm 2025
|
LUẬT
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh
số 30/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2014, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 35/2018/QH14 ngày 20
tháng 11 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên
quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019;
2. Luật số 98/2025/QH15 ngày 27
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân
sự, quốc phòng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Giáo
dục quốc phòng và an ninh[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc,
chính sách, nội dung cơ bản, hình thức giáo dục quốc phòng và an ninh; nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan, tổ chức, quyền và trách nhiệm của công dân về giáo dục
quốc phòng và an ninh.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
1. Cơ quan, tổ chức, công dân
Việt Nam.
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài
cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm tuân theo quy định của Luật
này và pháp luật có liên quan về giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Kiến thức quốc phòng và
an ninh bao gồm hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và an ninh; truyền thống dựng nước, giữ nước
của dân tộc và kỹ năng quân sự.
2. Kỹ năng quân sự là khả
năng thực hành những nội dung cơ bản cần thiết về kỹ thuật, chiến thuật quân sự.
Điều 4. Mục
tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh
Giáo dục cho công dân về kiến
thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước
và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Điều 5.
Nguyên tắc giáo dục quốc phòng và an ninh
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
2. Giáo dục quốc phòng và an
ninh là trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo.
3. Kết hợp giáo dục quốc phòng
và an ninh với giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến, giáo dục pháp luật và gắn
với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.
4. Giáo dục toàn diện, có trọng
tâm, trọng điểm bằng các hình thức phù hợp; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,
giữa lý thuyết và thực hành.
5. Chương trình, nội dung giáo
dục quốc phòng và an ninh phải phù hợp với từng đối tượng, đáp ứng kịp thời
tình hình thực tế.
6. Bảo đảm bí mật nhà nước,
tính kế hoạch, kế thừa, phát triển, khoa học, hiện đại, dễ hiểu, thiết thực và
hiệu quả.
Điều 6.
Chính sách của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh
1. Nhà nước bảo đảm nguồn lực
cho hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh, có chính sách ưu tiên đối với khu
vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều
kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp trí tuệ, công sức, tiền, tài sản
cho giáo dục quốc phòng và an ninh.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thành tích trong giáo dục quốc phòng và an ninh được khen thưởng theo quy định
của pháp luật.
Điều 7. Quyền
và trách nhiệm của công dân về giáo dục quốc phòng và an ninh
Công dân có quyền và trách nhiệm
học tập, nghiên cứu để nắm vững kiến thức quốc phòng và an ninh. Người tham gia
giáo dục quốc phòng và an ninh được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của
pháp luật.
Điều 8.
Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh
1. Trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh là cơ sở giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh,
kỹ năng quân sự cho các đối tượng theo quy định của Luật này.
2. Trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh bao gồm:
a) Trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh thuộc nhà trường quân đội;
b) Trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh thuộc cơ sở giáo dục đại học.
3.[2] Quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an
ninh phải phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm,
đáp ứng yêu cầu giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng.
4. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
quy hoạch hệ thống và quy định điều kiện thành lập trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh.
Điều 9. Các
hành vi bị nghiêm cấm
1. Lợi dụng hoạt động giáo dục
quốc phòng và an ninh để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; tiết lộ bí mật nhà nước; tuyên truyền chính
sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Cản trở việc thực hiện giáo
dục quốc phòng và an ninh.
3. Các hành vi khác theo quy định
của pháp luật.
Chương II
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH TRONG NHÀ TRƯỜNG
Điều 10.
Trường tiểu học, trung học cơ sở
1. Giáo dục quốc phòng và an
ninh trong trường tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện lồng ghép thông qua
nội dung các môn học trong chương trình, kết hợp với hoạt động ngoại khoá phù hợp
với lứa tuổi.
2. Bảo đảm cho học sinh hình
thành những cơ sở hiểu biết ban đầu về truyền thống dựng nước và giữ nước của
dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân; ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, yêu Tổ
quốc, yêu đồng bào.
Điều 11.
Trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề
1. Giáo dục quốc phòng và an
ninh trong trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề
là môn học chính khóa.
2. Bảo đảm cho học sinh có những
hiểu biết ban đầu về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về truyền thống
chống ngoại xâm của dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự
Việt Nam; có kiến thức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự;
sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc.
3. Tổ chức dạy và học theo phân
phối chương trình. Trong năm học, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phối hợp với cơ
quan, tổ chức, đơn vị liên quan tổ chức cho học sinh học tập ngoại khóa với nội
dung và hình thức thích hợp.
Điều 12.
Trường cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học
1. Giáo dục quốc phòng và an
ninh trong trường cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học là môn học chính khóa.
2. Bảo đảm cho người học có kiến
thức cơ bản về quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc
phòng và an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng
thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân; bổ sung kiến thức về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự; sẵn
sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc.
3. Tổ chức dạy và học tập trung
tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh hoặc trường cao đẳng nghề, cơ sở
giáo dục đại học. Trong chương trình đào tạo, căn cứ vào điều kiện cụ thể phối
hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan tổ chức cho người học nghiên cứu, học
tập ngoại khóa với nội dung và hình thức thích hợp.
Điều 13.
Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
1. Giáo dục quốc phòng và an
ninh cho người học trong trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội là môn học chính khóa.
2. Bảo đảm cho người học nắm vững
quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và an
ninh; nghệ thuật quân sự Việt Nam; tình hình, nhiệm vụ quốc phòng và an ninh;
khu vực phòng thủ; phòng thủ dân sự; kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh;
kết hợp quốc phòng và an ninh với đối ngoại.
3. Căn cứ chương trình khung của
Bộ Quốc phòng và quy định của cơ quan có thẩm quyền, trường của tổ chức chính
trị xây dựng và thực hiện chương trình, nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh
trong hệ thống trường của tổ chức chính trị.
4. Căn cứ chương trình khung của
Bộ Quốc phòng, trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội xây dựng
và thực hiện chương trình, nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh đối với người
học trong trường.
Chương
III
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC
PHÒNG VÀ AN NINH
Điều 14. Đối
với đối tượng trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội
l. Bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng và an ninh cho đối tượng trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện thống nhất trong phạm vi cả
nước.
2. Đối tượng bồi dưỡng kiến thức
quốc phòng và an ninh bao gồm:
a) Cán bộ, công chức; viên chức
quản lý;
b) Đại biểu dân cử;
c) Người quản lý trong doanh
nghiệp nhà nước;
d)[3] Trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố
(sau đây gọi là thôn); trưởng các đoàn thể ở thôn;
đ) Đảng viên Đảng Cộng sản Việt
Nam.
3. Chương trình, nội dung, hình
thức, thời gian bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng quy
định tại khoản 2 Điều này phù hợp với tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo,
quản lý và yêu cầu nhiệm vụ.
Điều 15. Đối
với người quản lý doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài
công lập
1. Người quản lý doanh nghiệp
ngoài khu vực nhà nước phải tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
bao gồm:
a) Doanh nghiệp có quy mô vừa
trở lên;
b) Doanh nghiệp hoạt động phục
vụ quốc phòng và an ninh;
c) Doanh nghiệp hoạt động ở
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
2. Người quản lý đơn vị sự nghiệp
ngoài công lập phải tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.
3. Nội dung bồi dưỡng kiến thức
quốc phòng và an ninh cho người quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tập
trung vào chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và an ninh.
4. Quy định tại Điều này không
áp dụng cho người nước ngoài.
Điều 16. Đối
với cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư
1. Cá nhân tiêu biểu, người có
uy tín trong cộng đồng dân cư thuộc diện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an
ninh là chức sắc, chức việc tôn giáo, già làng, trưởng họ tộc, nhà hoạt động
văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh) chủ trì, phối hợp với Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng và an ninh cho cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng
đồng dân cư.
3. Căn cứ chương trình khung của
Bộ Quốc phòng, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, nhiệm vụ quốc
phòng và an ninh của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và thực hiện
chương trình, nội dung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh phù hợp với cá
nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư.
Điều 17.
Thẩm quyền triệu tập, quy định cơ sở bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
Chính phủ quy định thẩm quyền triệu
tập, cơ sở bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng quy định tại
các điều 14, 15 và 16 của Luật này.
Điều 18.
Chế độ, quyền lợi đối với đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
1. Đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này khi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng
và an ninh được hưởng nguyên lương, phụ cấp; trường hợp xa nơi cư trú được bố
trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về và
hỗ trợ tiền ăn do ngân sách nhà nước bảo đảm.
2. Đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15 của Luật này khi bồi dưỡng kiến thức
quốc phòng và an ninh được hưởng nguyên lương, phụ cấp, hỗ trợ phương tiện hoặc
thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về và hỗ trợ tiền ăn do doanh nghiệp ngoài
khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập bảo đảm; chi phí bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng và an ninh, nơi nghỉ cho đối tượng xa nơi cư trú do ngân sách
nhà nước bảo đảm.
3. Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 và Điều 16 của Luật này khi bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng và an ninh xa nơi cư trú được bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện
hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về và hỗ trợ tiền ăn do ngân sách nhà
nước bảo đảm.
4. Người hoàn thành chương
trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được cấp giấy chứng nhận.
Chương IV
PHỔ BIẾN KIẾN THỨC QUỐC
PHÒNG VÀ AN NINH CHO TOÀN DÂN
Điều 19. Nội
dung phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh
Những hiểu biết cần thiết về độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; âm mưu, thủ đoạn
hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nhiệm vụ quốc phòng và an ninh
trong từng thời kỳ; phòng thủ dân sự; trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Điều 20.
Hình thức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh
1. Thông qua báo cáo viên,
tuyên truyền viên và các phương tiện thông tin đại chúng.
2. Thông qua các buổi sinh hoạt
cộng đồng dân cư, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đoàn thể, hoạt
động văn hóa nghệ thuật, thể dục, thể thao, hoạt động của thiết chế văn hóa cơ
sở và các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống.
3. Lồng ghép vào các đợt gọi
công dân nhập ngũ, ngày kỷ niệm, ngày truyền thống.
4. Thông qua hoạt động của cơ
quan, tổ chức quản lý di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, khu bảo tồn thiên
nhiên, khu tưởng niệm, đài kỷ niệm, nghĩa trang liệt sỹ, nhà truyền thống, nhà
bảo tàng, cung văn hóa, thể thao thanh niên, thiếu niên, câu lạc bộ thể thao quốc
phòng và an ninh.
5. Các hình thức khác phù hợp với
tình hình thực tế của từng địa phương và cộng đồng dân cư.
Điều 21.
Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người dân ở khu vực biên giới, hải
đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa
1. Phổ biến kiến thức quốc
phòng và an ninh cho người dân ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng
sâu, vùng xa thực hiện theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật
này và bảo đảm yêu cầu sau đây:
a) Gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng
biên giới hòa bình, hữu nghị, đấu tranh phòng, chống tội phạm ở khu vực biên giới,
hải đảo;
b) Căn cứ vào điều kiện cụ thể,
tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người có vai trò và ảnh hưởng
tích cực trong đồng bào dân tộc thiểu số, chủ tàu, thuyền hoạt động dài ngày
trên biển; chủ hộ gia đình, người lao động ở khu vực biên giới, hải đảo.
2. Nhà nước khuyến khích tổ chức,
cá nhân tình nguyện phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh theo quy định của
pháp luật cho người dân khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng
xa; cấp tài liệu giáo dục quốc phòng và an ninh cho đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ
đạo cơ quan quân sự cùng cấp chủ trì, phối hợp với Bộ đội biên phòng, Hải quân,
Cảnh sát biển, Công an địa phương tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an
ninh cho người dân ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Điều 22.
Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh trong doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp
1. Người quản lý doanh nghiệp
ngoài khu vực nhà nước không thuộc diện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an
ninh, người lao động trong doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phổ biến kiến thức
quốc phòng và an ninh theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật
này.
2. Người quản lý doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ
chức công đoàn tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người lao động.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ
đạo cơ quan quân sự, công an, Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật cùng cấp phối
hợp tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng quy định tại
khoản 1 Điều này.
Chương V
GIÁO VIÊN, GIẢNG VIÊN,
BÁO CÁO VIÊN, TUYÊN TRUYỀN VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Điều 23.
Giáo viên, giảng viên
1. Giáo viên, giảng viên giáo dục
quốc phòng và an ninh bao gồm giáo viên, giảng viên chuyên trách, thỉnh giảng
và cán bộ quân đội, công an biệt phái.
2. Giáo viên, giảng viên giáo dục
quốc phòng và an ninh phải có bằng cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh trở
lên; trường hợp có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác thì phải
có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chứng chỉ đào tạo giáo viên, giảng
viên giáo dục quốc phòng và an ninh.
3. Chính phủ quy định cụ thể
trình độ chuẩn giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh phù hợp với
từng đối tượng giáo dục quốc phòng và an ninh; thời gian, lộ trình hoàn thành.
Điều 24.
Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, tuyển dụng giáo viên, giảng viên
1. Việc đào tạo giáo viên, giảng
viên giáo dục quốc phòng và an ninh được quy định như sau:
a) Đào tạo chính quy chuyên
ngành giáo dục quốc phòng và an ninh, tập trung 04 năm với đối tượng tuyển sinh
là những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
b) Đào tạo văn bằng 2, tập
trung 02 năm với đối tượng tuyển sinh là những người đã có bằng tốt nghiệp đại
học chuyên ngành khác;
c) Đào tạo văn bằng 2, tập
trung 18 tháng với đối tượng tuyển sinh là giáo viên, giảng viên đang giảng dạy
tại trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại
học và đã có chứng chỉ đào tạo giáo dục quốc phòng và an ninh thời gian đào tạo
không dưới 06 tháng.
2. Giáo viên, giảng viên giáo dục
quốc phòng và an ninh được bồi dưỡng, tập huấn định kỳ tại trường của lực lượng
vũ trang nhân dân, trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.
3. Chính phủ quy định điều kiện
cơ sở giáo dục đại học, trường của lực lượng vũ trang nhân dân được đào tạo
giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh; Bộ Giáo dục và Đào tạo
quyết định cơ sở giáo dục đại học, trường của lực lượng vũ trang nhân dân có đủ
điều kiện được đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh.
Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ, cơ
quan ngang bộ có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ sở giáo dục trực
thuộc xây dựng kế hoạch tuyển sinh, đào tạo, tuyển dụng đội ngũ giáo viên, giảng
viên giáo dục quốc phòng và an ninh ở cơ sở giáo dục từ trung học phổ thông đến
đại học.
Điều 25.
Trách nhiệm và quyền lợi của giáo viên, giảng viên
1. Giảng dạy đúng nội dung,
chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh quy định cho từng đối tượng, bảo đảm
chất lượng, hiệu quả.
2. Giáo viên, giảng viên giáo dục
quốc phòng và an ninh quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này
được bảo đảm chế độ trang phục, trừ cán bộ quân đội, công an biệt phái; được hưởng
chế độ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 26.
Báo cáo viên
Báo cáo viên giáo dục quốc
phòng và an ninh là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mời tham gia bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, bao gồm:
1. Lãnh đạo bộ, ban, ngành
trung ương;
2. Lãnh đạo tổng cục, quân khu,
quân chủng, binh chủng và tương đương của Bộ Quốc phòng; tổng cục, cục, vụ và
tương đương của Bộ Công an, bộ, ban, ngành liên quan;
3.[4] Lãnh đạo cấp tỉnh, cấp xã.
4.[5] Lãnh đạo sở, ban, ngành cấp tỉnh; phòng thuộc sở, ban,
ngành cấp tỉnh và phòng, ban cấp xã.
5. Chuyên gia, nhà khoa học.
Điều 27.
Tuyên truyền viên
Căn cứ tiêu chuẩn do Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định
công nhận tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 28.
Trách nhiệm và quyền lợi của báo cáo viên, tuyên truyền viên
1. Truyền đạt đúng nội dung
giáo dục quốc phòng và an ninh quy định cho từng đối tượng.
2. Tham dự đầy đủ hoạt động bồi
dưỡng, tập huấn do cấp có thẩm quyền tổ chức để nâng cao kiến thức, kỹ năng làm
việc.
3. Được cung cấp thông tin và
tài liệu cần thiết liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
4. Hưởng chế độ, chính sách
theo quy định của pháp luật.
Chương VI
KINH PHÍ GIÁO DỤC QUỐC
PHÒNG VÀ AN NINH
Điều 29.
Nguồn kinh phí
1. Kinh phí giáo dục quốc phòng
và an ninh do Nhà nước bảo đảm, được bố trí hằng năm theo quy định của pháp luật
về ngân sách nhà nước.
2. Kinh phí do doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp bảo đảm thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định
của Luật này. Khoản kinh phí này được tính vào các khoản chi được trừ khi xác định
thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật.
3. Các khoản thu hợp pháp khác.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 30. Nội
dung chi
1. Chi thường xuyên.
2. Chi đầu tư phát triển.
3. Các khoản chi khác theo quy
định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết
nội dung chi cho giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 31. Lập
dự toán, chấp hành và quyết toán
1. Hằng năm, bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp
có trách nhiệm lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cho nhiệm vụ giáo
dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật.
2. Hằng năm, doanh nghiệp, đơn
vị sự nghiệp có kế hoạch bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc
phòng và an ninh.
Chương
VII
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
CƠ QUAN, TỔ CHỨC VỀ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Điều 32. Nội
dung quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh
1. Ban hành và tổ chức thực hiện
văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.
2. Tuyên truyền, phổ biến văn bản
quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.
3. Quy định chương trình, nội
dung; biên soạn, xuất bản, in, phát hành giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu;
tiêu chuẩn giáo viên, giảng viên, tuyên truyền viên; tiêu chuẩn cơ sở vật chất,
thiết bị dạy học giáo dục quốc phòng và an ninh và cấp chứng nhận bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng và an ninh.
4. Quản lý nguồn lực phát triển
giáo dục quốc phòng và an ninh.
5. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo,
bồi dưỡng, quản lý giáo viên, giảng viên, tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng
và an ninh.
6. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học,
công nghệ trong lĩnh vực giáo dục quốc phòng và an ninh.
7. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
giáo dục quốc phòng và an ninh.
8. Thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo; sơ kết, tổng kết, khen thưởng, xử lý vi phạm việc chấp
hành pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 33.
Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh
1. Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối
hợp với Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về giáo dục quốc phòng và an ninh.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp
với Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh
theo thẩm quyền.
4. Ủy ban nhân dân các cấp
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục
quốc phòng và an ninh tại địa phương.
Điều 34.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc
trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc
phòng và an ninh.
2. Chủ trì, phối hợp với Bộ
Giáo dục và Đào tạo, bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan lập quy hoạch hệ thống
trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi cả nước, trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét, quyết định; quyết định thành lập trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh thuộc nhà trường quân đội.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ
Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở trung
ương có liên quan:
a) Quy định chương trình khung
giáo dục quốc phòng và an ninh cho người học trong trường của cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; chương trình khung bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng và an ninh cho cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng
đồng dân cư; chương trình, nội dung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
cho đối tượng trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài
công lập;
b) Quy định tiêu chuẩn tuyên
truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh;
c) Biên soạn giáo trình, tài liệu
phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh phù hợp với tình hình, nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ.
4. Chủ trì, phối hợp với bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức ở trung ương có liên
quan thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo
quy định của pháp luật; quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho cơ quan, đơn vị thuộc
quyền, ban chỉ huy quân sự bộ, ngành về giáo dục quốc phòng và an ninh.
5. Phối hợp với Bộ Giáo dục và
Đào tạo, bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giáo
viên, giảng viên, tuyên truyền viên, cán bộ quản lý, cán bộ kiêm nhiệm giáo dục
quốc phòng và an ninh; cử cán bộ biệt phái cho trung tâm giáo dục quốc phòng và
an ninh, cơ sở giáo dục đại học, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.
6. Bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ
thuật, thiết bị dạy học quân dụng chuyên dùng phục vụ dạy và học môn giáo dục
quốc phòng và an ninh cho cơ sở giáo dục trong phạm vi cả nước; bảo đảm phương
tiện, vật chất về giáo dục quốc phòng và an ninh cho cơ quan, đơn vị, nhà trường
quân đội được giao nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh.
7. Hướng dẫn, thanh tra, kiểm
tra, sơ kết, tổng kết, thực hiện khen thưởng; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử
lý vi phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.
8. Thực hiện hợp tác quốc tế về
giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 35.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc
trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc
phòng và an ninh.
2. Phối hợp với Bộ Quốc phòng,
Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ
quan, tổ chức ở trung ương có liên quan thực hiện giáo dục quốc phòng và an
ninh theo quy định của Luật này; biên soạn giáo trình, tài liệu giáo dục, bồi
dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh.
3. Cử cán bộ biệt phái cho
trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, cơ sở giáo dục đại học, cơ quan quản
lý nhà nước về giáo dục.
4. Bảo đảm phương tiện, vật chất
cho cơ quan, đơn vị, nhà trường công an được giao nhiệm vụ giáo dục quốc phòng
và an ninh.
Điều 36.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc
trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc
phòng và an ninh.
2.[6] Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hướng dẫn
giáo dục quốc phòng và an ninh trong trường tiểu học, trung học cơ sở; quy định
chương trình, nội dung, tổ chức thực hiện chương trình giáo dục quốc phòng và
an ninh cho người học từ trung học phổ thông đến đại học và trong cơ sở dạy nghề.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức ở trung ương có liên quan
thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh ở cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân.
4.[7] Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ quy định định
mức giáo viên, giáo dục quốc phòng và an ninh trong trường trung học phổ thông,
cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; trường của cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội và trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.
5. Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội
vụ, Bộ Tài chính, bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định chế độ, chính sách
cho cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh.
6. Bảo đảm phương tiện, vật chất
giáo dục quốc phòng và an ninh cho cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục thuộc quyền.
7. Quyết định thành lập trung
tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc cơ sở giáo dục đại học.
Điều 37.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Dân tộc và Tôn giáo[8]
Phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan, tổ chức có liên quan hướng
dẫn thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho chức sắc, chức việc
các tôn giáo, cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư.
Điều 38.[9] (được
bãi bỏ)
Điều 39.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[10]
Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ
chức ở trung ương có liên quan hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng
chương trình, nội dung phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân.
Điều 40.
Nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ
quan, tổ chức ở trung ương
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức ở trung ương có
liên quan thực hiện quản lý về giáo dục quốc phòng và an ninh; ban hành hoặc
trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản để thực hiện giáo dục quốc phòng và an
ninh theo quy định của pháp luật.
2. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện
giáo dục quốc phòng và an ninh gắn với thực hiện nhiệm vụ của mình.
3. Bảo đảm phương tiện, vật chất
giáo dục quốc phòng và an ninh cho cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục thuộc quyền.
4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác về giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật.
Điều 41.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp
1. Quyết định ngân sách bảo đảm
cho giáo dục quốc phòng và an ninh ở địa phương theo quy định của pháp luật.
2. Giám sát Ủy ban nhân dân
cùng cấp và cơ quan nhà nước ở địa phương trong việc thực hiện pháp luật về
giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 42.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, chương trình, kế hoạch, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh theo
thẩm quyền.
2. Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức
thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh tại địa phương.
3. Bồi dưỡng, tập huấn, quản lý
đội ngũ tuyên truyền viên, giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh
trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
4. Phối hợp với Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình về giáo dục quốc phòng và an ninh; tạo điều
kiện để tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và
an ninh ở địa phương.
5. Thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo; sơ kết, tổng kết, khen thưởng việc chấp hành pháp luật
về giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 43.
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
1. Tổ chức phổ biến kiến thức
quốc phòng và an ninh cho đoàn viên, hội viên của tổ chức mình.
2. Phối hợp với cơ quan, tổ chức
có liên quan tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thường xuyên học tập
nâng cao kiến thức quốc phòng và an ninh; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an
ninh cho cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong cộng đồng dân cư theo quy định
của pháp luật.
3. Giám sát việc thực hiện
chính sách, pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.
4. Vận động tổ chức, cá nhân
tham gia, hỗ trợ hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh.
Điều 44. Hội
đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp
1.[11] Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh được thành lập ở
trung ương, quân khu, cấp tỉnh, cấp xã.
2. Hội đồng giáo dục quốc phòng
và an ninh làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, có chức năng phối hợp liên ngành
làm tham mưu, tư vấn cho Đảng, chính quyền các cấp về công tác giáo dục quốc
phòng và an ninh.
3.[12] Cơ quan thường trực Hội đồng giáo dục quốc phòng và an
ninh ở trung ương là Bộ Quốc phòng, ở quân khu là cơ quan quân khu, ở cấp tỉnh
là cơ quan quân sự cùng cấp, ở cấp xã là Ban chỉ huy quân sự cấp xã.
4. Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh trung ương, Hội đồng giáo dục
quốc phòng và an ninh quân khu; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp. Ủy ban nhân dân các cấp quyết định
thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh ở cấp mình.
Điều 45.
Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức
1. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện,
hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra cơ quan, tổ chức thuộc quyền thực hiện quy định của
pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.
2. Thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn
về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh của Ủy ban nhân dân các cấp nơi cơ
quan, tổ chức có trụ sở.
Chương
VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[13]
Điều 46.
Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 2014.
Điều 47.
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền
quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
|
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục Kiểm tra VB và Quản lý XL VPPL, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về
VBPL);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
37 luật có liên quan đến quy hoạch có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều có liên quan đến quy hoạch của Luật Giao thông đường bộ số
23/2008/QH12, Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13, Luật Đường sắt số
06/2017/QH14, Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 48/2014/QH13 và Luật số 97/2015/QH13, Luật Tài
nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
08/2017/QH14, Luật Đất đai số 45/2013/QH13, Luật Bảo vệ môi trường số
55/2014/QH13, Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12, Luật Khí tượng thủy văn số
90/2015/QH13, Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, Luật Tài nguyên, môi trường
biển và hải đảo số 82/2015/QH13, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số
41/2013/QH13, Luật Đê điều số 79/2006/QH11, Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14, Luật
Năng lượng nguyên tử số 18/2008/QH12, Luật Đo lường số 04/2011/QH13, Luật Tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
số 05/2007/QH12, Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13, Luật Xuất bản số
19/2012/QH13, Luật Báo chí số 103/2016/QH13, Luật Giáo dục quốc phòng và an
ninh số 30/2013/QH13, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất,
kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13, Luật Thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí số 44/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
21/2017/QH14, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 71/2014/QH13, Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 62/2010/QH12, Luật Điện ảnh số 62/2006/QH11 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2009/QH12, Luật Quảng cáo số
16/2012/QH13, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 03/2016/QH14, Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 77/2015/QH13, Luật Dầu khí năm 1993 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 19/2000/QH10 và Luật số 10/2008/QH12, Bộ
luật Lao động số 10/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
92/2015/QH13, Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, Luật Bảo hiểm y tế số
25/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật
số 46/2014/QH13 và Luật số 97/2015/QH13, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số
03/2007/QH12, Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 và Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng số 59/2010/QH12.”
Luật số 98/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của 11 luật về quân sự, quốc phòng tại Luật Quốc phòng số 22/2018/QH14 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 18/2023/QH15 và Luật số 38/2024/QH15,
Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam số 16/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 19/2008/QH12, Luật số 72/2014/QH13, Luật số
48/2019/QH14 và Luật số 52/2024/QH15, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
và viên chức quốc phòng số 98/2015/QH13, Luật Nghĩa vụ quân sự số 78/2015/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2019/QH14, Luật Biên phòng
Việt Nam số 66/2020/QH14, Luật Phòng không nhân dân số 49/2024/QH15, Luật Lực
lượng dự bị động viên số 53/2019/QH14, Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15,
Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự số 25/2023/QH15, Luật
Dân quân tự vệ số 48/2019/QH14, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh số
30/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14.”.
[2] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 21 của Luật số 35/2018/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
[3] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 8 Điều 11 của Luật số 98/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10]
Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 11 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Điều 31 của Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2019 quy định như sau:
“Điều 31. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.”
Điều 12 của Luật số
98/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 12. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.”.