|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 119/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
PHÁ SẢN
Luật
Phá sản số 51/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật
số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật
Phá sản[1].
Chương I
NHỮNG QUY
ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật
này quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác
định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải
quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi
hành quyết định tuyên bố phá sản.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật
này áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây
gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật.
Điều 3. Áp dụng Luật Phá sản
1.
Luật Phá sản được áp dụng khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước
quốc tế đó.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong
Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày
đến hạn thanh toán.
2. Phá
sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và
bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.
3. Chủ
nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã
thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ
có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm.
4. Chủ
nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo
đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.
5. Chủ
nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp,
hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.
6. Chủ
nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài
sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.
7. Quản
tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản.
8. Doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh
lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình
giải quyết phá sản.
9. Người
tiến hành thủ tục phá sản là Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán; Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên; Quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản; Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
trong quá trình giải quyết phá sản.
10. Người
tham gia thủ tục phá sản là chủ nợ; người lao động; doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán; cổ đông, nhóm cổ đông; thành viên hợp tác xã hoặc
hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã; người mắc nợ của doanh nghiệp,
hợp tác xã và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình
giải quyết phá sản.
11. Lệ
phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (sau đây gọi là lệ phí phá sản) là
khoản tiền mà người yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp để Tòa án nhân dân thụ
lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
12. Chi
phí phá sản là khoản tiền phải chi trả cho việc giải quyết phá sản, bao gồm
chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, chi phí kiểm
toán, chi phí đăng báo và các chi phí khác theo quy định của pháp luật.
13. Chi
phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là khoản tiền
phải chi trả cho việc giải quyết phá sản của Quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản.
14. Tạm
ứng chi phí phá sản là khoản tiền do Tòa án nhân dân quyết định để đăng báo,
tạm ứng chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Điều 5. Người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản
1.
Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh
nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
2.
Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi
chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi
hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản
nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực
hiện nghĩa vụ thanh toán.
3.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán.
4.
Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ
tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên,
chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của
công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán.
5. Cổ
đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời
gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi
công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới
20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán
trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.
6.
Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành
viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
Điều 6. Thông báo doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán
1. Cá
nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho những người có quyền,
nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 5
của Luật này.
2. Cá
nhân, cơ quan, tổ chức thông báo phải bảo đảm tính chính xác của thông báo.
Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức cố ý thông báo sai mà gây thiệt hại cho
doanh nghiệp, hợp tác xã thì phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm
trước pháp luật.
Điều 7. Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan
1. Cá
nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có liên quan
đến vụ việc phá sản có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ
liên quan đến vụ việc phá sản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu
cầu của chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
2. Cá
nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo quy định tại
khoản 1 Điều này phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do, nếu cố ý không cung
cấp tài liệu, chứng cứ mà không có lý do chính đáng thì bị xử lý theo quy định
của pháp luật.
Điều 8. Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân[2]
1.
Tòa Phá sản Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
của Tòa Phá sản Tòa án nhân dân khu vực đó.
2.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 9. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục
phá sản
1.
Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết yêu cầu mở
thủ tục phá sản trong trường hợp cần thiết.
2.
Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
3.
Quyết định chỉ định hoặc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản.
4. Giám
sát hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
5.
Quyết định việc thực hiện kiểm toán doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán trong trường hợp cần thiết.
6.
Quyết định việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán sau khi mở thủ tục phá sản để bảo đảm chi phí phá sản.
7.
Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
8. Áp
dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền dẫn giải
đại diện của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán theo quy định của
pháp luật.
9. Tổ
chức Hội nghị chủ nợ.
10.
Quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh.
11.
Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản.
12. Quyết
định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
13.
Áp dụng biện pháp xử phạt hành chính, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý về
hình sự theo quy định của pháp luật.
14.
Tham khảo quyết định giải quyết phá sản trước đó trong vụ việc phá sản tương tự
theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
15.
Phải từ chối giải quyết phá sản nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 10 của Luật này.
16.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Điều 10. Từ chối hoặc thay đổi Thẩm phán trong quá trình
giải quyết phá sản
1.
Thẩm phán phải từ chối tham gia giải quyết phá sản hoặc bị thay đổi trong những
trường hợp sau:
a)
Đồng thời là người tham gia thủ tục phá sản; người đại diện, người thân thích
của người tham gia thủ tục phá sản trong vụ việc phá sản đó;
b) Đã
tham gia với tư cách Kiểm sát viên, Quản tài viên, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người tham gia thủ tục phá sản, người giám định, thẩm định
giá, định giá, người phiên dịch trong vụ việc phá sản đó;
c)
Cùng trong một Tổ Thẩm phán giải quyết phá sản đó và là người thân thích với
nhau;
d) Đã
tham gia ra quyết định tuyên bố phá sản đối với vụ việc phá sản đó;
đ) Có
căn cứ rõ ràng cho rằng Thẩm phán có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
2.
Việc thay đổi Thẩm phán do Chánh án Tòa án nhân dân quyết định. Trường hợp Thẩm
phán phụ trách việc phá sản là Chánh án thì việc thay đổi Thẩm phán do Tòa án
nhân dân cấp trên trực tiếp quyết định. Quyết định thay đổi Thẩm phán của Chánh
án là quyết định cuối cùng.
Điều 11. Cá nhân, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý
tài sản
Cá
nhân, doanh nghiệp được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình
giải quyết phá sản gồm:
1.
Quản tài viên;
2.
Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Điều 12. Điều kiện hành nghề Quản tài viên
1.
Những người sau đây được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên:
a)
Luật sư;
b)
Kiểm toán viên;
c)
Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có
kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo.
2.
Điều kiện được hành nghề Quản tài viên:
a) Có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có
phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách
quan;
c) Có
chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
3.
Chính phủ quy định chi tiết việc cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên và việc
quản lý nhà nước đối với Quản tài viên.
Điều 13. Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
1.
Các loại doanh nghiệp sau đây được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong
quá trình giải quyết phá sản:
a) Công
ty hợp danh;
b)
Doanh nghiệp tư nhân.
2.
Điều kiện để doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản:
a)
Công ty hợp danh có tối thiểu hai thành viên hợp danh là Quản tài viên, Tổng
giám đốc hoặc Giám đốc của công ty hợp danh là Quản tài viên;
b)
Doanh nghiệp tư nhân có chủ doanh nghiệp là Quản tài viên, đồng thời là Giám
đốc.
3.
Chính phủ quy định chi tiết việc hành nghề quản lý, thanh lý tài sản và việc
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Điều 14. Cá nhân không được hành nghề quản lý, thanh lý tài
sản
1.
Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
2.
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được
xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3.
Người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Điều 15. Thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên
1.
Người đã được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên mà thuộc một trong các
trường hợp sau đây thì bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên:
a) Là
cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
b) Bị
kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật;
c) Bị
thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, kiểm toán viên;
d) Bị
thay đổi theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 46 của
Luật này trong hai vụ việc phá sản trở lên.
2.
Chính phủ quy định chi tiết việc thu hồi chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.
Điều 16. Quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên, doanh nghiệp
quản lý, thanh lý tài sản
1.
Quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, gồm:
a)
Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp, hợp tác xã;
b)
Lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ;
c)
Bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép
của Thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã khi bán, thanh lý tài sản;
d)
Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của
pháp luật;
đ)
Được thuê cá nhân, tổ chức thực hiện công việc theo quy định của pháp luật;
e) Đề
xuất với Thẩm phán về việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm
chi phí phá sản;
g)
Bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán để bảo đảm chi phí phá sản;
h) Tổ
chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của Luật này; báo cáo cơ
quan thi hành án dân sự, thông báo đến người tham gia thủ tục phá sản có liên
quan về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản;
i)
Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng.
2.
Đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã
không có người đại diện theo pháp luật.
3.
Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác
xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
4. Đề
nghị Thẩm phán tiến hành các công việc sau:
a)
Thu thập tài liệu, chứng cứ;
b)
Tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã bị bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp;
c) Áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển
hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật.
5.
Được hưởng thù lao và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định
của pháp luật.
6.
Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của Thẩm phán,
cơ quan thi hành án dân sự; chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, cơ quan thi hành
án dân sự và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự
1.
Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định tuyên bố
giao dịch vô hiệu, quyết định tuyên bố phá sản và các quyết định khác theo quy
định của Luật này.
2.
Yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức thực hiện
việc định giá, thanh lý tài sản; thực hiện việc thanh lý tài sản trong trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này.
3.
Giám sát hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
khi thực hiện thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; yêu cầu
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo việc thanh lý tài
sản.
4. Đề
xuất Tòa án nhân dân thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản trong quá trình thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã phá sản theo quy định tại Điều 46 của Luật này.
5.
Phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quyết định của Tòa án nhân
dân.
6.
Quyết định kết thúc việc thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
phá sản.
7.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về thi hành án
dân sự.
Điều 18. Quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản
1.
Thực hiện yêu cầu của Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản và cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về phá sản.
2.
Cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết phá sản.
3.
Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung
cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình để giao
nộp cho Tòa án nhân dân.
4. Đề
nghị Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản xác minh,
thu thập tài liệu, chứng cứ mà tự mình không thể thực hiện được hoặc trưng cầu
giám định, định giá, thẩm định giá tài sản; đề nghị Thẩm phán quyết định kiểm
toán doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; đề nghị Thẩm phán triệu
tập người làm chứng.
5.
Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do người tham gia thủ tục
phá sản khác xuất trình hoặc do Thẩm phán thu thập.
6. Đề
nghị áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
7.
Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
8. Tự
bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
9.
Tham gia Hội nghị chủ nợ.
10.
Đề nghị thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo quy
định tại Điều 46 của Luật này.
11.
Đề nghị Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bổ sung chủ nợ,
người mắc nợ vào danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ.
12.
Đề xuất với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản về việc thu
hồi các khoản tiền, tài sản của người mắc nợ.
13.
Phải có mặt theo yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản, giấy triệu tập của Tòa án nhân dân và chấp hành các quyết định của Tòa án
nhân dân trong quá trình giải quyết phá sản.
14.
Tham gia vào việc quản lý, thanh lý tài sản theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan
thi hành án dân sự, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
15.
Đề nghị xem xét lại quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của Luật này.
16.
Trường hợp cá nhân tham gia thủ tục phá sản chết thì người thừa kế hợp pháp của
họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.
Điều 19. Quyền, nghĩa vụ của người nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản
1.
Quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 18 của Luật này.
2. Đề
xuất với Tòa án nhân dân tên Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản trước khi mở thủ tục phá sản.
3.
Nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ
phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản.
4.
Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải trung thực.
Điều 20. Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán
1.
Quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 18 của Luật này.
2.
Được đưa ra ý kiến về việc chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3.
Phải thông báo công khai về quyết định mở thủ tục phá sản ngay sau khi nhận
được quyết định mở thủ tục phá sản.
Điều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình
giải quyết phá sản
1.
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải
quyết phá sản, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định
của Luật này.
2.
Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp xem xét kiến nghị, kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát các quyết định giải quyết phá sản của Tòa án
nhân dân.
Điều 22. Lệ phí phá sản
Người
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp lệ phí phá sản theo quy định của
pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án nhân dân. Trường hợp người nộp đơn quy định
tại khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 1 Điều 105 của Luật này
không phải nộp lệ phí phá sản.
Điều 23. Chi phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản
1.
Chi phí phá sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán.
2.
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tạm ứng chi phí phá sản, trừ
trường hợp người nộp đơn quy định tại khoản 2 Điều 5 và điểm a
khoản 1 Điều 105 của Luật này.
3.
Tòa án nhân dân giao cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
bán một số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán để bảo
đảm chi phí phá sản. Việc định giá, định giá lại và bán tài sản được thực hiện
theo quy định tại các điều 122, 123 và 124 của Luật này.
4.
Tòa án nhân dân quyết định mức tạm ứng chi phí phá sản, mức chi phí phá sản
trong từng trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật và quyết định việc
hoàn trả tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này.
Điều 24. Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh
lý tài sản
1.
Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được tính dựa
trên thời gian, công sức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
2.
Chính phủ quy định chi tiết về chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản.
Điều 25. Việc yêu cầu, cấp, thông báo văn bản trong giải
quyết phá sản
Tòa
án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, Quản tài viên,
doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có nghĩa vụ thực hiện việc yêu cầu, cấp,
thông báo văn bản cho người tham gia thủ tục phá sản theo quy định của Luật này
và pháp luật về tố tụng dân sự.
Chương II
ĐƠN VÀ THỤ
LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
Điều 26. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ
1.
Khi yêu cầu Tòa án nhân dân mở thủ tục phá sản, chủ nợ quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này phải làm đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản.
2.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết phá sản;
c)
Tên, địa chỉ của người làm đơn;
d)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản;
đ)
Khoản nợ đến hạn.
Kèm
theo đơn phải có chứng cứ để chứng minh khoản nợ đến hạn.
3.
Trường hợp có đề xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản thì đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ của Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Điều 27. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động,
đại diện công đoàn
1.
Khi yêu cầu Tòa án nhân dân mở thủ tục phá sản, người lao động, đại diện công
đoàn quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này phải làm đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết phá sản;
c)
Tên, địa chỉ của người làm đơn;
d)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản;
đ)
Tổng số tiền lương và các khoản nợ khác đã đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã
không trả cho người lao động.
Kèm
theo đơn phải có chứng cứ để chứng minh lương và các khoản nợ khác đến hạn.
3.
Trường hợp có đề xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản thì đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ của Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
4. Kể
từ ngày nộp đơn, người lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ
nợ theo quy định của Luật này.
Điều 28. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã mất khả năng thanh toán
1.
Doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại khoản 3 và khoản 4
Điều 5 của Luật này phải làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết phá sản;
c)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d)
Tên, địa chỉ của người làm đơn;
đ)
Căn cứ yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau:
a)
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong 03 năm gần nhất. Trường hợp
doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm
theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong toàn bộ thời gian
hoạt động;
b)
Bản giải trình nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán; báo cáo
kết quả thực hiện các biện pháp khôi phục doanh nghiệp, hợp tác xã mà vẫn không
khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán;
c)
Bảng kê chi tiết tài sản, địa điểm có tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d)
Danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, trong đó phải ghi rõ tên, địa chỉ của
chủ nợ, người mắc nợ, khoản nợ, khoản cho vay có bảo đảm, không có bảo đảm, có
bảo đảm một phần đến hạn hoặc chưa đến hạn;
đ)
Giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã;
e)
Kết quả thẩm định giá, định giá giá trị tài sản còn lại (nếu có).
4.
Trường hợp có đề xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản thì đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ của Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
5.
Những người theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của
Luật này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường
hợp có thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thì phải bồi
thường.
Điều 29. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của cổ đông hoặc
nhóm cổ đông của công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã hoặc hợp tác xã thành
viên của liên hiệp hợp tác xã
1.
Khi yêu cầu Tòa án nhân dân mở thủ tục phá sản, cổ đông hoặc nhóm cổ đông của
công ty cổ phần, thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của
hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã quy định tại khoản
5 và khoản 6 Điều 5 của Luật này phải làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này và gửi kèm các tài liệu (nếu có)
theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 28 của Luật này.
Điều 30. Phương thức nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
1.
Người có yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo
đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền bằng một trong các phương thức sau:
a)
Nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân;
b) Gửi
đến Tòa án nhân dân qua bưu điện.
2.
Ngày nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được tính từ ngày Tòa án nhân dân nhận
đơn hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
Điều 31. Phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản, Chánh án Tòa án nhân dân phân công một Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán gồm 03
Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về quy chế làm việc của Tổ Thẩm phán
quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 32. Xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem
xét đơn yêu cầu và xử lý như sau:
a)
Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, Thẩm phán thông báo cho người
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí
phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản;
b)
Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không đủ các nội dung quy định tại Điều 26, Điều 27, Điều 28 hoặc Điều 29 của Luật này thì Thẩm
phán thông báo cho người nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn;
c)
Chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền nếu
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khác;
d)
Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2.
Thông báo việc xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải bằng văn bản và gửi
cho người nộp đơn và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán biết.
Điều 33. Chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Tòa án
nhân dân có thẩm quyền và giải quyết đề nghị xem xét lại việc chuyển đơn
1.
Tòa án nhân dân xử lý đơn theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều
32 của Luật này có trách nhiệm chuyển đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền và thông báo cho
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết.
2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định chuyển đơn thì
người nộp đơn hoặc Tòa án nhân dân được chuyển đơn có quyền đề nghị Chánh án
Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp xem xét lại việc chuyển đơn.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, Chánh án Tòa
án nhân dân cấp trên trực tiếp giải quyết đề nghị xem xét lại việc chuyển đơn.
Quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp là quyết định cuối
cùng.
Điều 34. Thông báo sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản
Đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản không đủ nội dung quy định tại Điều
26, Điều 27, Điều 28 hoặc Điều 29 của Luật này thì Tòa án nhân dân thông báo
cho người nộp đơn biết để sửa đổi, bổ sung. Thời hạn sửa đổi, bổ sung do Tòa án
nhân dân ấn định, nhưng không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày người nộp đơn
nhận được thông báo; trường hợp đặc biệt, Tòa án nhân dân có thể gia hạn nhưng
không quá 15 ngày.
Điều 35. Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
1.
Tòa án nhân dân quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong các
trường hợp sau:
a)
Người nộp đơn không đúng theo quy định tại Điều 5 của Luật này;
b)
Người nộp đơn không thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản theo quy định tại Điều 34 của Luật này;
c)
Tòa án nhân dân khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán;
d)
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật này;
đ)
Người nộp đơn không nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp
không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản.
2.
Quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải nêu
rõ lý do trả lại đơn. Tòa án nhân dân có trách nhiệm gửi quyết định này cho
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Điều 36. Đề nghị xem xét lại, kiến nghị việc trả lại đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định trả lại đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân, người yêu cầu mở thủ tục phá sản có
quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị
với Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu.
2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại,
kiến nghị đối với quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án
Tòa án nhân dân đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu phải ra một trong các
quyết định sau:
a)
Giữ nguyên quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
b)
Huỷ quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và thụ lý đơn theo quy
định của Luật này.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết đơn
đề nghị xem xét lại, kiến nghị đối với quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản, người yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại,
Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp trên
trực tiếp xem xét, giải quyết.
4.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xem xét lại,
kiến nghị về việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án Tòa án nhân
dân cấp trên trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau:
a)
Giữ nguyên quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
b)
Huỷ quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và yêu cầu Tòa án nhân
dân thụ lý đơn theo quy định của Luật này.
5.
Quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng. Quyết định này phải được gửi
cho người yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân đã
kiến nghị và Tòa án nhân dân đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu.
Điều 37. Thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản hợp lệ, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và chủ
nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị bằng văn bản gửi Tòa án
nhân dân để các bên thương lượng việc rút đơn.
Tòa
án nhân dân ấn định thời gian thương lượng nhưng không quá 20 ngày kể từ ngày
nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ.
2.
Trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản thì Tòa án nhân dân trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3.
Trường hợp thương lượng không thành hoặc hết thời hạn thương lượng mà các bên
không tiến hành thương lượng thì Tòa án nhân dân thông báo cho người nộp đơn
nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản theo quy định của Luật này.
4.
Việc thương lượng của các bên theo quy định tại Điều này không được trái với
quy định của pháp luật về phá sản.
Điều 38. Thủ tục nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá
sản
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản hợp lệ, Tòa án nhân dân dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản và thông
báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí
phá sản.
Trường
hợp có đề nghị thương lượng thì việc thông báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá
sản để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật này.
2.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc nộp lệ phí phá
sản, tạm ứng chi phí phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải
thực hiện việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản như sau:
a)
Nộp lệ phí phá sản cho cơ quan thi hành án dân sự;
b)
Nộp tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do Tòa án nhân dân mở tại ngân hàng.
Điều 39. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Tòa
án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận được biên lai nộp lệ
phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản. Trường hợp không phải nộp lệ
phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì thời điểm thụ lý được tính từ ngày Tòa
án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ.
Điều 40. Thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án nhân dân phải
thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, các cơ quan, tổ chức đang giải
quyết vụ việc liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán do
các bên cung cấp và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về việc thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản.
Trường
hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là người đại diện theo pháp luật
của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân phải
thông báo cho các chủ nợ do doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp.
2.
Trường hợp người nộp đơn không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án
nhân dân, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải xuất trình cho
Tòa án nhân dân các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 3
Điều 28 của Luật này.
Điều 41. Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp
tác xã mất khả năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản
Trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản,
việc tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán được thực hiện như sau:
1. Cơ
quan thi hành án dân sự phải tạm đình chỉ thi hành án dân sự về tài sản mà
doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án, trừ bản án, quyết định buộc
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bồi thường về tính mạng, sức
khỏe, danh dự hoặc trả lương cho người lao động. Việc tạm đình chỉ được thực
hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
2.
Tòa án nhân dân, Trọng tài phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự,
kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự. Thủ tục tạm đình chỉ được thực hiện
theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về trọng tài thương
mại.
Tòa
án nhân dân phải tách và tạm đình chỉ giải quyết phần dân sự trong vụ án hình
sự, hành chính liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là
một bên đương sự. Thủ tục tách và tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của
pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính;
3. Cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh
nghiệp, hợp tác xã đối với các chủ nợ có bảo đảm.
Trường
hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì
xử lý theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 53 của Luật này.
Chương III
MỞ THỦ TỤC
PHÁ SẢN
Điều 42. Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
1.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thẩm
phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, trừ trường hợp quy
định tại Điều 105 của Luật này.
2.
Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán.
3.
Trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có
thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã
bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm
tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
4.
Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên của Tòa án nhân dân; họ và tên Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản;
c)
Ngày và số thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; tên, địa chỉ của người làm
đơn yêu cầu;
d)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán;
đ)
Thời gian, địa điểm khai báo của các chủ nợ và hậu quả pháp lý của việc không
khai báo.
5.
Tòa án nhân dân ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanh
nghiệp, hợp tác xã không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Trong
trường hợp này, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được trả lại tiền tạm
ứng chi phí phá sản; yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
thực hiện nghĩa vụ về tài sản đã bị tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 41 của Luật này được tiếp tục giải quyết.
6.
Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra
quyết định.
Điều 43. Thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá
sản
1.
Quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người nộp
đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký
kinh doanh nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính và đăng trên Cổng thông
tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân
và 02 số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán có trụ sở chính.
2.
Quyết định không mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người
nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản và Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp.
3.
Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là 03
ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định.
Điều 44. Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết
định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
1.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mở hoặc không
mở thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét
lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định mở hoặc
không mở thủ tục phá sản.
2.
Ngay sau khi nhận được đơn đề nghị xem xét lại, kháng nghị, Tòa án nhân dân đã
ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản gửi hồ sơ vụ việc phá sản cho
Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp giải quyết.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản kèm
theo đơn đề nghị xem xét lại, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp
chỉ định Tổ Thẩm phán gồm 03 Thẩm phán xem xét, giải quyết đề nghị xem xét lại,
kháng nghị và gửi hồ sơ vụ việc phá sản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản do
Tòa án nhân dân chuyển đến, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải trả lại hồ sơ
cho Tòa án nhân dân.
5.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản do
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trả lại, Tổ Thẩm phán phải tổ chức phiên họp để
xem xét, giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị.
6.
Phiên họp của Tổ Thẩm phán có Viện kiểm sát nhân dân tham gia và có Thư ký Tòa
án nhân dân ghi biên bản phiên họp. Trong trường hợp cần thiết có thể triệu tập
người khác để hỏi thêm về những vấn đề chưa rõ.
7. Tổ
Thẩm phán có quyền ra một trong các quyết định sau:
a)
Giữ nguyên quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản;
b)
Hủy quyết định không mở thủ tục phá sản và giao cho Tòa án nhân dân đã ra quyết
định không mở thủ tục phá sản xem xét ra quyết định mở thủ tục phá sản;
c)
Hủy quyết định mở thủ tục phá sản và thông báo cho Tòa án nhân dân đã ra quyết
định mở thủ tục phá sản và những người tham gia thủ tục phá sản.
8.
Quyết định của Tổ Thẩm phán là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.
9.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về Quy chế làm việc của Tổ Thẩm phán
giải quyết đơn đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ
tục phá sản.
Điều 45. Chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản,
Thẩm phán có trách nhiệm chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản.
2.
Căn cứ chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản:
a) Cá
nhân có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản;
b) Đề
xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản của người
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
c)
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không có lợi ích liên
quan đến vụ việc phá sản;
d)
Tính chất của việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
đ)
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không phải là người thân
thích của người tham gia thủ tục phá sản.
3.
Văn bản chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải có
nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên, địa chỉ của chủ nợ; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán;
c)
Tên, địa chỉ của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;
d)
Tóm tắt nội dung yêu cầu mở thủ tục phá sản;
đ)
Căn cứ để chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;
e)
Tạm ứng chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;
g)
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản;
h)
Thẩm phán ký tên và đóng dấu của Tòa án nhân dân.
Điều 46. Thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản
1.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có thể bị Thẩm phán quyết
định thay đổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vi
phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật này;
b) Có
căn cứ chứng minh Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không
khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ;
c)
Trường hợp bất khả kháng mà Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản không thực hiện được nhiệm vụ.
2.
Quyết định thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải
bằng văn bản, trong đó phải ghi rõ việc xử lý tạm ứng chi phí của Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bị thay đổi và gửi ngay cho Quản
tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ tục phá
sản.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi Quản
tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ tục phá
sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền làm đơn đề
nghị Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét lại quyết định.
4.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại
quyết định thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản,
Chánh án Tòa án nhân dân xem xét, ban hành một trong các quyết định sau:
a)
Không chấp nhận đề nghị xem xét lại quyết định thay đổi Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;
b)
Hủy bỏ quyết định thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản.
5.
Quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân quy định tại khoản 4 Điều này là quyết
định cuối cùng.
6.
Trường hợp thay đổi theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải trả lại toàn bộ tiền
tạm ứng chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Trường
hợp thay đổi theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán chi phí tương ứng với phần
công việc đã thực hiện.
7.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thay đổi, Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bị thay đổi phải thực hiện bàn
giao toàn bộ công việc đã thực hiện cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản mới.
8.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bị thay đổi trong trường
hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này hoặc không thực hiện bàn
giao theo quy định tại khoản 7 Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm
mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 47. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
1.
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn tiếp tục
hoạt động kinh doanh, nhưng phải chịu sự giám sát của Thẩm phán và Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
2.
Trường hợp xét thấy người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã
không có khả năng điều hành, doanh nghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu vi phạm khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán ra quyết định thay
đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã đó theo đề nghị
của Hội nghị chủ nợ hoặc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
Điều 48. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm sau
khi có quyết định mở thủ tục phá sản
1.
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực
hiện các hoạt động sau:
a)
Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản;
b)
Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh
sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp,
hợp tác xã quy định tại điểm c khoản 1 Điều 49 của Luật này;
c) Từ
bỏ quyền đòi nợ;
d)
Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
2.
Giao dịch quy định tại khoản 1 Điều này là vô hiệu và xử lý theo quy định tại Điều 60 của Luật này.
Điều 49. Giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã
sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
1.
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phải báo cáo
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trước khi thực hiện các
hoạt động sau:
a)
Hoạt động liên quan đến việc vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, mua bán, chuyển
nhượng, cho thuê tài sản; bán, chuyển đổi cổ phần; chuyển quyền sở hữu tài sản;
b) Chấm
dứt thực hiện hợp đồng có hiệu lực;
c)
Thanh toán khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản; trả lương cho người
lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.
2.
Hình thức báo cáo gồm báo cáo trực tiếp, thư bảo đảm, thư thường, thư điện tử,
fax, telex.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của doanh nghiệp,
hợp tác xã thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách
nhiệm trả lời cho doanh nghiệp, hợp tác xã việc được thực hiện hoặc không được
thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này và phải chịu trách nhiệm
về việc trả lời của mình. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
phải báo cáo Thẩm phán về nội dung trả lời của mình.
4.
Các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện mà không có sự đồng
ý của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thì bị đình chỉ
thực hiện, khôi phục lại tình trạng ban đầu và giải quyết hậu quả theo quy định
của pháp luật.
Điều 50. Ủy thác tư pháp trong việc giải quyết phá sản
1.
Trong quá trình giải quyết phá sản, Tòa án nhân dân có thể ra quyết định ủy
thác để Tòa án nhân dân khác thu hồi tài sản, lấy lời khai của những người tham
gia thủ tục phá sản, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc biện pháp khác để
thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc phá sản.
2.
Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của người tham gia thủ tục
phá sản liên quan đến việc ủy thác và công việc ủy thác cụ thể.
3.
Tòa án nhân dân nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc
cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy
thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án nhân dân đã ra quyết định ủy
thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn
bản nêu rõ lý do của việc không thực hiện được việc ủy thác cho Toà án nhân dân
đã ra quyết định ủy thác.
Chương IV
NGHĨA VỤ VỀ
TÀI SẢN
Điều 51. Xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản
1.
Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập trước khi Tòa án
nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết
định mở thủ tục phá sản.
2.
Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập sau khi Tòa án
nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định
tuyên bố phá sản.
3.
Trường hợp nghĩa vụ về tài sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không
phải là tiền thì Tòa án nhân dân xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản đó bằng
tiền.
Điều 52. Xác định tiền lãi đối với khoản nợ
1. Kể
từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tính lãi
theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi.
Trường
hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định
tại Điều 86 của Luật này, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt
động kinh doanh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 của
Luật này thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện
việc trả lãi theo thỏa thuận.
2.
Đối với khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên
bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của khoản nợ đó được xác định
theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật.
3. Kể
từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì khoản nợ
không được tiếp tục tính lãi.
Điều 53. Xử lý khoản nợ có bảo đảm
1.
Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản đề xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ
theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này, Thẩm phán
xem xét và xử lý cụ thể như sau:
a)
Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh
doanh thì việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ
nợ;
b)
Trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm
không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì xử lý theo
thời hạn quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối
với hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp
tác xã phá sản, Tòa án nhân dân đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo
đảm. Việc xử lý khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại khoản 3 Điều này.
2.
Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá
trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán
cho xử lý ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3.
Việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều này
được thực hiện như sau:
a)
Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b)
Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn
lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã; nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập
vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 54. Thứ tự phân chia tài sản
1.
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
a)
Chi phí phá sản;
b)
Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người
lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã
ký kết;
c)
Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d)
Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ
nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
2.
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán
đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này
thuộc về:
a)
Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
b)
Chủ doanh nghiệp tư nhân;
c)
Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
d)
Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của
công ty cổ phần;
đ)
Thành viên của Công ty hợp danh.
3.
Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này
thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm
tương ứng với số nợ.
Điều 55. Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên
đới hoặc bảo lãnh
1.
Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ
mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó mất khả năng thanh toán thì
chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh
nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp
luật.
2.
Trường hợp người bảo lãnh mất khả năng thanh toán thì việc bảo lãnh được giải
quyết như sau:
a)
Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh. Trường hợp bên bảo lãnh không thanh toán đầy đủ trong phạm vi bảo lãnh
thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thanh toán phần còn
thiếu;
b)
Nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh thì bên được bảo lãnh phải thay thế biện
pháp bảo đảm khác, trừ trường hợp người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh có
thỏa thuận khác.
3.
Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh
đều mất khả năng thanh toán thì người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm thay cho
người được bảo lãnh theo quy định của pháp luật.
Điều 56. Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp,
hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
1.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố phá
sản, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê hoặc mượn để dùng vào
hoạt động kinh doanh phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng
cho thuê hoặc cho mượn với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của
mình.
2.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã trả trước tiền thuê
nhưng chưa hết thời hạn thuê thì người cho thuê chỉ được nhận lại tài sản sau
khi đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thời gian thuê còn lại để cơ quan
thi hành án dân sự nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
3.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã chuyển nhượng tài
sản thuê hoặc mượn cho người khác mà không đòi lại được thì người cho thuê hoặc
cho mượn có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ không có
bảo đảm.
Điều 57. Trả lại tài sản nhận bảo đảm
Doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán chỉ trả lại tài sản nhận bảo đảm cho
cá nhân, tổ chức đã giao tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trước khi Tòa án nhân
dân mở thủ tục phá sản trong trường hợp cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện nghĩa
vụ đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều 58. Nhận lại hàng hoá đã bán
Người
bán đã gửi hàng hóa cho người mua là doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán nhưng chưa được thanh toán và người mua cũng chưa nhận được hàng hóa
thì người bán được nhận lại hàng hoá đó. Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán đã nhận hàng hóa đó và không thể trả lại được thì người bán trở
thành chủ nợ không có bảo đảm.
Chương V
CÁC BIỆN
PHÁP BẢO TOÀN TÀI SẢN
Điều 59. Giao dịch bị coi là vô hiệu
1.
Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được thực hiện
trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục
phá sản bị coi là vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a)
Giao dịch liên quan đến chuyển nhượng tài sản không theo giá thị trường;
b)
Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c)
Thanh toán hoặc bù trừ có lợi cho một chủ nợ đối với khoản nợ chưa đến hạn hoặc
với số tiền lớn hơn khoản nợ đến hạn;
d)
Tặng cho tài sản;
đ)
Giao dịch ngoài mục đích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
e)
Giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
2.
Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán quy định tại
khoản 1 Điều này được thực hiện với những người liên quan trong thời gian 18
tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản thì bị coi là
vô hiệu.
3.
Những người liên quan quy định tại khoản 2 Điều này bao gồm:
a)
Công ty mẹ, người quản lý công ty mẹ và người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản
lý đối với công ty con;
b)
Công ty con đối với công ty mẹ; doanh nghiệp do hợp tác xã thành lập đối với
hợp tác xã;
c)
Người hoặc nhóm người có khả năng chi phối việc ra quyết định của cơ quan quản
lý doanh nghiệp, hợp tác xã đối với hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
d)
Người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã đối với doanh nghiệp, hợp tác xã;
đ)
Vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em
ruột của người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của thành viên, cổ đông sở
hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối;
e) Cá
nhân được uỷ quyền đại diện cho những người quy định tại các điểm a, b, c, d và
đ khoản này;
g)
Doanh nghiệp trong đó những người quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và h
khoản này có sở hữu đến mức chi phối việc ra quyết định của cơ quan quản lý ở
doanh nghiệp đó;
h)
Nhóm người thoả thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc lợi
ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty.
4.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm xem xét
giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, nếu phát hiện
giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì đề nghị Tòa án nhân dân
xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Điều 60. Tuyên bố giao dịch vô hiệu
1.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản, người tham gia thủ tục phá sản yêu cầu tuyên bố giao dịch vô
hiệu hoặc Tòa án nhân dân phát hiện giao dịch quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 59 của Luật này thì Tòa án nhân dân ra một trong các
quyết định sau:
a)
Không chấp nhận yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản, người tham gia thủ tục phá sản;
b)
Tuyên bố giao dịch vô hiệu, hủy bỏ các biện pháp bảo đảm và giải quyết hậu quả
của giao dịch vô hiệu theo quy định của pháp luật.
2.
Quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra quyết
định.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố giao
dịch vô hiệu, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, bên giao kết
với doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền làm đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân
xem xét lại quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu.
4.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại
quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu, Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết
định tuyên bố giao dịch vô hiệu phải ra một trong các quyết định sau:
a) Không
chấp nhận đề nghị xem xét lại quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu;
b)
Hủy bỏ quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trường hợp có tranh chấp thì được
giải quyết theo quy định tại Chương X của Luật này.
5.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động tổ
chức thi hành quyết định theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Điều 61. Tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có
hiệu lực
1.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, nếu xét thấy việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và
đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có khả năng gây bất lợi cho
doanh nghiệp, hợp tác xã thì chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân ra quyết định tạm đình chỉ thực
hiện hợp đồng, trừ trường hợp xử lý các khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại Điều 53 của Luật này.
2.
Văn bản yêu cầu Tòa án nhân dân ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng
quy định tại khoản 1 Điều này phải có nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên, địa chỉ của người có yêu cầu;
c)
Số, tên hợp đồng; ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng;
d)
Bên giao kết với doanh nghiệp, hợp tác xã trong hợp đồng;
đ)
Nội dung cụ thể của hợp đồng;
e)
Căn cứ của việc yêu cầu tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, nếu chấp
nhận thì Tòa án nhân dân ra quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng; nếu
không chấp nhận thì thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết.
4.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ
tục phá sản, Tòa án nhân dân phải xem xét các hợp đồng bị tạm đình chỉ quy định
tại khoản 1 Điều này để ra một trong các quyết định sau:
a)
Tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và
đang được thực hiện hoặc nếu được thực hiện sẽ không gây bất lợi cho doanh
nghiệp, hợp tác xã;
b)
Đình chỉ thực hiện hợp đồng và giải quyết hậu quả theo quy định tại Điều 62 của Luật này.
5.
Trường hợp Tòa án nhân dân quyết định không mở thủ tục phá sản thì Tòa án nhân
dân đã quyết định tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 1
Điều này quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.
Điều 62. Thanh toán, bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị
đình chỉ thực hiện
1.
Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện, nếu tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán nhận được từ hợp đồng vẫn còn tồn tại trong khối tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã thì bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp, hợp
tác xã có quyền đòi lại tài sản và thanh toán số tiền đã nhận của doanh nghiệp,
hợp tác xã; nếu tài sản đó không còn thì bên giao kết có quyền như một chủ nợ
không có bảo đảm đối với phần chưa được thanh toán.
2.
Trường hợp việc đình chỉ thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho bên giao kết hợp
đồng với doanh nghiệp, hợp tác xã thì bên giao kết có quyền như một chủ nợ
không có bảo đảm đối với khoản thiệt hại.
Điều 63. Bù trừ nghĩa vụ
1.
Sau khi Tòa án nhân dân có quyết định mở thủ tục phá sản, chủ nợ và doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ
đối với hợp đồng được xác lập trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
2.
Việc thực hiện bù trừ nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự
đồng ý của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo Thẩm phán về việc thực
hiện bù trừ nghĩa vụ.
3.
Phương pháp bù trừ nghĩa vụ:
a)
Trường hợp các bên có nghĩa vụ về tài sản tương đương với nhau thì không phải
thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác;
b)
Trường hợp các bên có nghĩa vụ về tài sản không tương đương với nhau mà phần
chênh lệch giá trị tài sản lớn hơn thuộc về doanh nghiệp, hợp tác xã thì bên
giao kết hợp đồng với doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh toán phần giá trị tài
sản chênh lệch để gộp vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Trường
hợp các bên có nghĩa vụ về tài sản không tương đương với nhau mà phần chênh
lệch giá trị tài sản lớn hơn thuộc về bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp,
hợp tác xã thì bên giao kết hợp đồng với doanh nghiệp, hợp tác xã trở thành chủ
nợ không có bảo đảm đối với phần giá trị tài sản chênh lệch.
Điều 64. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán
1.
Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán gồm:
a)
Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa án
nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản;
b)
Tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ
tục phá sản;
c)
Giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp
tác xã phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm;
d)
Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy
định của pháp luật về đất đai;
đ)
Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã;
e)
Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu;
g)
Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2.
Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh mất khả năng thanh toán gồm:
a)
Tài sản quy định tại khoản 1 Điều này;
b)
Tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng
vào hoạt động kinh doanh; trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp
danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư
nhân, thành viên hợp danh đó được chia theo quy định của pháp luật về dân sự và
quy định của pháp luật có liên quan.
3.
Trường hợp hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì việc xử lý tài sản không chia
được thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp tác xã.
Điều 65. Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán
1.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản,
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải tiến hành kiểm kê tài sản
và xác định giá trị tài sản đó; trong trường hợp cần thiết thì phải có văn bản
đề nghị Thẩm phán gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày.
Việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được thực hiện
theo quy định của pháp luật.
2.
Trường hợp đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã vắng mặt thì người
được Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chỉ định làm đại
diện của doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện công việc kiểm kê và xác định giá
trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
3.
Bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị phải gửi ngay cho Tòa án nhân dân
tiến hành thủ tục phá sản.
4.
Trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều này là không chính xác thì Tòa án nhân dân
yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức kiểm kê,
xác định lại giá trị một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã. Giá trị tài sản được xác định, định giá theo giá thị trường tại thời điểm
kiểm kê.
5.
Trường hợp đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã và những người khác không hợp tác
về việc kiểm kê tài sản hoặc cố tình làm sai lệch việc kiểm kê tài sản thì bị
xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 66. Gửi giấy đòi nợ
1.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá
sản, chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh
lý tài sản.
2.
Giấy đòi nợ phải có các nội dung sau:
a)
Tên, địa chỉ, quốc tịch, căn cước của chủ nợ hoặc đại diện chủ nợ;
b)
Tổng số nợ phải trả, bao gồm khoản nợ, số nợ đến hạn và khoản tiền lãi đến hạn
nhưng chưa thanh toán; số nợ chưa đến hạn; số nợ có bảo đảm và phương thức bảo
đảm; số nợ không có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải trả; khoản tiền
bồi thường theo hợp đồng (nếu có).
3.
Kèm theo giấy đòi nợ là tài liệu, chứng cứ chứng minh về khoản nợ đó. Giấy đòi
nợ phải do chủ nợ hoặc người đại diện hợp pháp của chủ nợ ký tên.
4.
Trường hợp bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện
bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan không tính vào thời hạn quy định tại
khoản 1 Điều này.
Điều 67. Lập danh sách chủ nợ
1.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi nợ, Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải lập danh sách chủ nợ, thu thập tài liệu
liên quan đến khoản nợ và niêm yết công khai danh sách chủ nợ. Danh sách chủ nợ
phải ghi rõ tên, địa chỉ, quốc tịch, căn cước của chủ nợ hoặc đại diện chủ nợ,
số nợ của mỗi chủ nợ, trong đó phân định rõ khoản nợ có bảo đảm, nợ không có
bảo đảm, nợ đến hạn, nợ chưa đến hạn.
2.
Danh sách chủ nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân tiến
hành thủ tục phá sản, trụ sở chính của doanh nghiệp, hợp tác xã và đăng trên
Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân
và phải gửi cho chủ nợ đã gửi giấy đòi nợ trong 10 ngày làm việc kể từ ngày
niêm yết.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn niêm yết, chủ nợ
và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có quyền đề nghị Thẩm phán
xem xét lại danh sách chủ nợ. Trường hợp bất khả kháng hoặc có trở ngại khách
quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính
vào thời hạn quy định tại khoản này.
4.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại,
Thẩm phán phải xem xét, giải quyết đề nghị, nếu thấy đề nghị có căn cứ thì sửa
đổi, bổ sung vào danh sách chủ nợ.
Điều 68. Lập danh sách người mắc nợ
1.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải lập danh sách những
người mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Danh sách người
mắc nợ phải ghi rõ tên, địa chỉ, quốc tịch, căn cước của người mắc nợ hoặc đại
diện người mắc nợ, số nợ của mỗi người mắc nợ, trong đó phân định rõ khoản nợ
có bảo đảm, nợ không có bảo đảm, nợ đến hạn, nợ chưa đến hạn.
2.
Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, danh sách
người mắc nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân tiến hành
thủ tục phá sản, trụ sở chính của doanh nghiệp, hợp tác xã và phải gửi cho
người mắc nợ trong 10 ngày làm việc kể từ ngày niêm yết.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn niêm yết, người
mắc nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có quyền đề nghị
Thẩm phán xem xét lại danh sách người mắc nợ.
4.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại, Thẩm
phán phải xem xét, giải quyết đề nghị, nếu thấy đề nghị có căn cứ thì sửa đổi,
bổ sung vào danh sách người mắc nợ.
Điều 69. Đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp
tác xã mất khả năng thanh toán
Doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cho người khác vay tài sản mà theo
quy định của pháp luật phải đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng chưa đăng ký thì
doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện ngay việc đăng ký; trường hợp doanh
nghiệp, hợp tác xã không thực hiện thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản phải thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm.
Điều 70. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.
Trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, người có quyền, nghĩa vụ
nộp đơn theo quy định tại Điều 5 của Luật này, Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân
có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản ra quyết định áp dụng một hoặc một số
biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động sau
đây:
a)
Cho bán hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng hoá sắp hết thời hạn sử dụng, hàng hoá
không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả năng tiêu thụ; cho thu hoạch, cho bán hoa
màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác;
b) Kê
biên, niêm phong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c)
Phong toả tài khoản của doanh nghiệp, hợp tác xã tại ngân hàng; phong tỏa tài
sản ở nơi gửi giữ;
d)
Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quan của
doanh nghiệp, hợp tác xã;
đ)
Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán;
e)
Cấm thay đổi hiện trạng đối với tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán;
g)
Cấm hoặc buộc doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân, tổ chức khác có liên quan thực
hiện một số hành vi nhất định;
h)
Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ
cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
i) Các
biện pháp khẩn cấp tạm thời khác theo quy định của pháp luật.
2.
Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có văn bản yêu cầu gửi
đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Văn bản yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phải có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên, địa chỉ của người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c)
Tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Lý
do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
đ)
Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể. Tùy theo
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho
Tòa án nhân dân chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời đó.
3.
Thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết đề
nghị xem xét lại việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và
thi hành quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thực
hiện theo quy định của Luật này, pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về
thi hành án dân sự.
4.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 71. Xử lý việc tạm đình chỉ thi hành án dân sự, giải
quyết vụ việc
1.
Trường hợp Tòa án nhân dân ra quyết định không mở thủ tục phá sản, Tòa án nhân
dân, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định tạm đình chỉ theo
quy định tại Điều 41 của Luật này ban hành quyết định hủy
bỏ quyết định tạm đình chỉ.
2.
Trường hợp Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án nhân dân,
Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định tạm đình chỉ theo quy
định tại Điều 41 của Luật này phải ra quyết định đình chỉ
và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân đang tiến hành thủ tục phá sản để
giải quyết.
3.
Trường hợp Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản
theo quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật này và đình chỉ
thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh quy định tại điểm a khoản
1 Điều 95 của Luật này thì Tòa án nhân dân, Trọng tài, cơ quan thi hành án
dân sự ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ quy định tại khoản 2 Điều này
và giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 72. Giải quyết việc đình chỉ thi hành án dân sự, giải
quyết vụ việc
1.
Trường hợp đình chỉ thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều
71 của Luật này thì tùy từng trường hợp, Tòa án nhân dân đang tiến hành thủ
tục phá sản xử lý như sau:
a)
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và
không có quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thi
hành án thì người được thi hành án được thanh toán như một chủ nợ không có bảo
đảm;
b)
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và
có quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thi hành
án thì người được thi hành án được thanh toán như một chủ nợ có bảo đảm.
2.
Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định tại khoản
2 Điều 71 của Luật này thì ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ việc do Tòa án
nhân dân ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc chuyển đến, Tòa án nhân
dân đang tiến hành thủ tục phá sản phải xem xét, quyết định nghĩa vụ tài sản mà
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải thực hiện hoặc nghĩa vụ
tài sản mà đương sự khác phải thực hiện đối với doanh nghiệp, hợp tác xã như
sau:
a)
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải thực hiện
nghĩa vụ về tài sản thì người được doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ
về tài sản có quyền yêu cầu được thanh toán trong khối tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã như một chủ nợ;
b)
Trường hợp bên đương sự phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì phải thanh toán cho doanh
nghiệp, hợp tác xã giá trị tương ứng với nghĩa vụ tài sản đó.
Điều 73. Nghĩa vụ của ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác
xã có tài khoản
Kể từ
ngày Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản,
nghiêm cấm ngân hàng mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản có tài
khoản thực hiện việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị
tuyên bố phá sản, trừ trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của Tòa án nhân dân
hoặc cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 74. Nghĩa vụ của người lao động
Kể từ
ngày Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản, người lao động có nghĩa vụ
bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; không được thực hiện hành vi nhằm
che giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Chương VI
HỘI NGHỊ CHỦ
NỢ
Điều 75. Triệu tập và gửi thông báo triệu tập Hội nghị chủ
nợ
1.
Thời hạn Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ là 20 ngày kể từ ngày kết thúc
việc kiểm kê tài sản trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc sau việc
lập danh sách chủ nợ hoặc kể từ ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ trong
trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc trước việc lập danh sách chủ nợ, trừ
trường hợp không phải tổ chức Hội nghị chủ nợ theo quy định tại Điều
105 của Luật này.
2.
Thông báo triệu tập Hội nghị chủ nợ và tài liệu khác có liên quan phải được gửi
cho người có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và người có nghĩa vụ tham gia Hội
nghị chủ nợ quy định tại Điều 77 và Điều 78 của Luật này,
chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc Hội nghị. Giấy triệu tập Hội nghị chủ
nợ phải ghi rõ thời gian và địa điểm tổ chức Hội nghị chủ nợ, chương trình, nội
dung Hội nghị chủ nợ.
3.
Thông báo triệu tập Hội nghị chủ nợ, tài liệu gửi bằng phương thức giao trực
tiếp, thư bảo đảm, thư thường, fax, telex, thư điện tử hoặc bằng phương thức
khác có ghi nhận việc gửi này.
Điều 76. Nguyên tắc tiến hành Hội nghị chủ nợ
1.
Tôn trọng thoả thuận của người tham gia thủ tục phá sản nếu thỏa thuận đó không
vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
2.
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản.
3.
Công khai trong việc tiến hành Hội nghị chủ nợ.
Điều 77. Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ
Những
người sau đây có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ:
1.
Chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ. Chủ nợ có thể uỷ quyền bằng văn bản cho
người khác tham gia Hội nghị chủ nợ và người được uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ
như chủ nợ;
2.
Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động uỷ quyền;
trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa
vụ như chủ nợ;
3.
Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán; trường hợp này người bảo lãnh trở thành chủ nợ không có bảo đảm.
Điều 78. Nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ
1.
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 5
của Luật này, chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ
nợ; trường hợp không tham gia được thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người
khác tham gia Hội nghị chủ nợ và người được uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ như
người uỷ quyền.
2. Trường
hợp người đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cố ý vắng
mặt không có lý do chính đáng thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 79. Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ
1. Có
số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm. Chủ nợ
không tham gia Hội nghị chủ nợ nhưng có ý kiến bằng văn bản gửi cho Thẩm phán
trước ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ, trong đó ghi rõ ý kiến về những nội dung
quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật này thì được coi như
chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ.
2.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được phân công giải quyết
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải tham gia Hội nghị chủ nợ.
Điều 80. Hoãn Hội nghị chủ nợ
1.
Hội nghị chủ nợ được hoãn nếu không đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 79 của Luật này; trường hợp hoãn Hội nghị chủ nợ thì Thẩm
phán lập biên bản và ghi ý kiến của người tham gia Hội nghị chủ nợ. Thẩm phán
phải thông báo ngay trong ngày hoãn Hội nghị chủ nợ cho người tham gia thủ tục
phá sản về việc hoãn Hội nghị chủ nợ.
2.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hoãn Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán phải triệu
tập lại Hội nghị chủ nợ.
3.
Trường hợp triệu tập lại Hội nghị chủ nợ theo quy định tại khoản 2 Điều này mà
vẫn không đáp ứng quy định tại Điều 79 của Luật này thì
Thẩm phán lập biên bản và quyết định tuyên bố phá sản.
Điều 81. Nội dung và trình tự Hội nghị chủ nợ
1.
Hội nghị chủ nợ được tiến hành như sau:
a)
Thẩm phán được phân công phụ trách khai mạc Hội nghị chủ nợ;
b)
Hội nghị chủ nợ biểu quyết thông qua việc cử Thư ký Hội nghị chủ nợ theo đề
xuất của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để ghi biên bản
Hội nghị chủ nợ;
c)
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo về sự có mặt,
vắng mặt của người tham gia Hội nghị chủ nợ theo thông báo triệu tập của Tòa án
nhân dân, lý do vắng mặt và kiểm tra căn cước của người tham gia Hội nghị chủ
nợ;
d)
Thẩm phán thông báo với Hội nghị chủ nợ về những người tham gia Hội nghị chủ nợ
và nội dung việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
đ)
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông báo cho Hội nghị
chủ nợ về tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán; kết quả kiểm kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh
sách người mắc nợ và các nội dung khác nếu xét thấy cần thiết;
e)
Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã
trình bày ý kiến về nội dung do Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản đã thông báo cho Hội nghị, đề xuất phương án, giải pháp tổ chức lại
hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn thanh toán nợ;
g)
Chủ nợ hoặc người đại diện hợp pháp của chủ nợ trình bày về những vấn đề cụ thể
yêu cầu giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu giải quyết phá
sản;
h)
Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến của
mình về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ trong việc giải
quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản;
i)
Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định, đại diện cơ quan thẩm định
giá trình bày kết luận giám định, kết quả định giá; người thực hiện biện pháp
bổ trợ tư pháp khác giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn;
k)
Trường hợp có người vắng mặt thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản cho công bố ý kiến bằng văn bản, tài liệu, chứng cứ do người đó cung
cấp;
l)
Hội nghị chủ nợ thảo luận về các nội dung do Quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản đã thông báo và ý kiến của những người tham gia Hội nghị
chủ nợ;
m)
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia Hội nghị
chủ nợ có quyền đề nghị Thẩm phán ra quyết định thay người đại diện hợp pháp
của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán;
n)
Các chủ nợ có quyền thành lập Ban đại diện chủ nợ.
2.
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ
không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở
lên biểu quyết tán thành. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc
đối với tất cả các chủ nợ.
Điều 82. Ban đại diện chủ nợ
1.
Ban đại diện chủ nợ có từ 03 đến 05 thành viên do các chủ nợ bầu tại Hội nghị
chủ nợ, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên.
2.
Ban đại diện chủ nợ thay mặt cho các chủ nợ thực hiện giám sát việc thực hiện
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, đề xuất với Quản tài viên, doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản về việc thực hiện Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ. Trường
hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không thực hiện đề
xuất thì Ban đại diện chủ nợ có quyền thông báo bằng văn bản với Thẩm phán phụ
trách giải quyết phá sản.
Điều 83. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
1.
Hội nghị chủ nợ có quyền đưa ra Nghị quyết trong đó có một trong các kết luận
sau:
a) Đề
nghị đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thuộc trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều 86 của Luật này;
b) Đề
nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã;
c) Đề
nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
2.
Nghị quyết Hội nghị chủ nợ phải có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;
c)
Tên, địa chỉ của người yêu cầu mở thủ tục phá sản;
d)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản;
đ)
Tên, địa chỉ của người có liên quan;
e) Ý
kiến của người tham gia Hội nghị chủ nợ;
g) Ý
kiến của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản về yêu cầu của
người tham gia Hội nghị chủ nợ;
h) Kết
luận Hội nghị chủ nợ, kết quả biểu quyết.
3.
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có chữ ký của Thẩm phán, Quản tài viên, đại diện
doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và thông báo trước Hội nghị chủ nợ.
4.
Trường hợp Hội nghị chủ nợ không thông qua được Nghị quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật này thì Tòa án nhân dân tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Điều 84. Gửi Nghị quyết Hội nghị chủ nợ
Trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ, Tòa án nhân dân
gửi Nghị quyết Hội nghị chủ nợ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và người có
quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 77
và Điều 78 của Luật này.
Điều 85. Đề nghị, kiến nghị xem xét lại và giải quyết đề
nghị, kiến nghị xem xét lại Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
1.
Trường hợp không đồng ý với Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, người có
quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 77
và Điều 78 của Luật này có quyền gửi đơn đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết phá
sản xem xét lại Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ.
2.
Văn bản đề nghị, kiến nghị có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b) Tên,
địa chỉ của người đề nghị, Viện kiểm sát kiến nghị;
c)
Nội dung đề nghị, kiến nghị.
3.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, kiến
nghị, Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết phá sản xem xét và ra một trong
các quyết định sau:
a)
Không chấp nhận đề nghị, kiến nghị;
b) Tổ
chức lại Hội nghị chủ nợ.
4.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, quyết định giải quyết
đề nghị, kiến nghị được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và người có
quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 77,
Điều 78 của Luật này.
5.
Quyết định giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều này là quyết định cuối
cùng.
Điều 86. Đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản
1. Kể
từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra
quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác
xã không mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ
tiến hành thủ tục phá sản.
Doanh
nghiệp, hợp tác xã phải hoàn trả tạm ứng chi phí phá sản cho người nộp đơn, trừ
trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này.
2.
Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản phải được gửi cho những người
được thông báo quyết định mở thủ tục phá sản quy định tại khoản
1 Điều 43 của Luật này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết
định.
Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người tham gia thủ tục phá
sản có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến
nghị với Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết thủ tục phá sản về quyết định
đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản.
3.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại, kiến
nghị quy định tại khoản 2 Điều này, Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết
thủ tục phá sản phải xem xét, giải quyết kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết
định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản và ra một trong các quyết định sau:
a)
Giữ nguyên quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản;
b)
Hủy quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản và giao cho Thẩm phán tiến
hành giải quyết phá sản.
4.
Quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định đình chỉ tiến
hành thủ tục phá sản phải gửi cho những người được thông báo quyết định
mở thủ tục phá sản quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật
này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Chương VII
THỦ TỤC PHỤC
HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Điều 87. Xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
1.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội
dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp, hợp tác xã
mất khả năng thanh toán phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
và gửi cho Thẩm phán, chủ nợ, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản cho ý kiến.
2.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã thì chủ nợ, Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản gửi ý kiến cho doanh nghiệp, hợp tác xã để
hoàn thiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh báo cáo Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, chủ nợ, Ban đại diện chủ nợ (nếu có).
3.
Ngay sau khi nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại
khoản 2 Điều này, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có
nhiệm vụ báo cáo Thẩm phán.
4.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán xem
xét trước khi đưa phương án ra Hội nghị chủ nợ xem xét thông qua.
Điều 88. Nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
1.
Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán phải nêu rõ các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các
điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ.
2.
Các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh gồm:
a)
Huy động vốn;
b)
Giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ;
c)
Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh;
d)
Đổi mới công nghệ sản xuất;
đ) Tổ
chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất;
e)
Bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác;
g)
Bán hoặc cho thuê tài sản;
h)
Các biện pháp khác không trái quy định của pháp luật.
Điều 89. Thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh
1.
Thời hạn để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
hợp tác xã mất khả năng thanh toán theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông
qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
2.
Trường hợp Hội nghị chủ nợ không xác định được thời hạn thực hiện phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán thì thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh là không
quá 03 năm kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh.
Điều 90. Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ thông qua
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
1. Có
số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm. Chủ nợ không
tham gia Hội nghị chủ nợ nhưng có ý kiến bằng văn bản gửi cho Thẩm phán trước
ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ, trong đó ghi rõ ý kiến cụ thể về việc thông qua
hoặc không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
hợp tác xã thì coi như chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ.
2.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được phân công giải quyết
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải tham gia Hội nghị chủ nợ.
Điều 91. Nội dung và trình tự Hội nghị chủ nợ thông qua
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
1.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày quyết định đưa phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ra
Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét, thông qua
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
2.
Hội nghị chủ nợ được tiến hành như sau:
a)
Thẩm phán được phân công phụ trách khai mạc Hội nghị chủ nợ;
b)
Hội nghị chủ nợ biểu quyết thông qua việc cử Thư ký Hội nghị chủ nợ theo đề
xuất của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để ghi biên bản
Hội nghị chủ nợ;
c)
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo về sự có mặt,
vắng mặt của người tham gia Hội nghị chủ nợ theo thông báo triệu tập của Tòa án
nhân dân, lý do vắng mặt và kiểm tra căn cước của người tham gia Hội nghị chủ
nợ;
d)
Thẩm phán thông báo với Hội nghị chủ nợ về những người tham gia Hội nghị chủ
nợ;
đ)
Đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã trình bày phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh;
e)
Người tham gia Hội nghị chủ nợ trình bày ý kiến của mình về phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh;
g)
Hội nghị chủ nợ thảo luận và biểu quyết thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh.
3.
Hội nghị chủ nợ được hoãn một lần trong trường hợp không đáp ứng điều kiện hợp
lệ. Việc tổ chức lại Hội nghị chủ nợ được thực hiện theo quy định tại Điều 90 và Điều 91 của Luật này.
4.
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh khi được quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho
từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành.
Trường
hợp phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có sử dụng tài sản bảo đảm thì phải
quy định rõ thời gian sử dụng tài sản có bảo đảm, phương án xử lý tài sản bảo
đảm và phải được chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản đó đồng ý.
5.
Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ.
6.
Trường hợp không tổ chức lại được Hội nghị chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ không
thông qua được Nghị quyết theo khoản 5 Điều này thì Tòa án nhân dân tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Điều 92. Công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
1.
Thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán. Nghị quyết này có hiệu lực đối với tất cả người tham gia thủ tục
phá sản có liên quan.
Kể từ
ngày nghị quyết này có hiệu lực thì những điều cấm, chịu sự giám sát đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại Điều
48 và Điều 49 của Luật này chấm dứt.
2.
Tòa án nhân dân gửi quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông
qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 07
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Điều 93. Giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh
1.
Sau khi Thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông
qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, chủ
nợ giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.
2.
Sáu tháng một lần, doanh nghiệp, hợp tác xã phải lập báo cáo về tình hình thực
hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã cho
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm báo cáo Thẩm phán và thông báo
cho chủ nợ.
Điều 94. Sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh
1.
Trong quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, các chủ nợ
và doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền thoả thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh.
2.
Thoả thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã được chấp nhận khi được quá nửa tổng số chủ nợ không
có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên
biểu quyết tán thành.
3.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản gửi văn bản đề nghị Thẩm
phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận về sửa đổi, bổ sung phương án phục
hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Quyết
định công nhận sự thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã được gửi cho doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán và chủ nợ trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày
ra quyết định.
Điều 95. Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
1.
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nếu thuộc một trong các trường
hợp sau:
a)
Doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh;
b)
Doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh;
c)
Hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng doanh nghiệp,
hợp tác xã vẫn mất khả năng thanh toán.
2.
Tòa án nhân dân thông báo công khai quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại khoản
1 Điều 43 của Luật này.
Điều 96. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh
1.
Trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 của Luật này
thì doanh nghiệp, hợp tác xã được coi là không còn mất khả năng thanh toán.
Thẩm phán phụ trách giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản có trách nhiệm ra
thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của Quản tài viên,
doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
2.
Trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 95 của
Luật này, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản.
Chương VIII
THỦ TỤC PHÁ
SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Điều 97. Áp dụng quy định về thủ tục phá sản tổ chức tín
dụng
Thủ
tục phá sản đối với tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định tại Chương này.
Những nội dung không quy định tại Chương này thì áp dụng theo quy định tương
ứng của Luật này, trừ quy định tại Chương VI và Chương VII của Luật này.
Điều 98. Quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Sau
khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn
bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán
mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán thì những người sau đây có
quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
1.
Người quy định tại các khoản 1, 2, 5 và 6 Điều 5 của Luật này;
2. Tổ
chức tín dụng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; trường hợp tổ
chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng đó.
Điều 99. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ
chức tín dụng
Tòa
án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng khi đã có
văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp
dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà
tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán.
Điều 100. Hoàn trả khoản vay đặc biệt
Tổ
chức tín dụng được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín
dụng khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng mà bị tuyên bố phá sản
thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ
chức tín dụng khác trước khi thực hiện việc phân chia tài sản theo quy định tại
Điều 101 của Luật này.
Điều 101. Thứ tự phân chia tài sản
1.
Việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự như
sau:
a)
Chi phí phá sản;
b)
Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người
lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã
ký kết;
c)
Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi
tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
d)
Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ
nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
2.
Trường hợp giá trị tài sản của tổ chức tín dụng sau khi đã thanh toán đủ khoản
nợ quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
a)
Thành viên của tổ chức tín dụng là hợp tác xã;
b)
Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
c)
Thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên; cổ đông của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần.
3.
Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1
Điều này thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo
tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
Điều 102. Trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ khi tổ
chức tín dụng bị tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản phá sản
Trong
thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố tổ chức tín
dụng phá sản, chủ sở hữu tài sản ủy thác cho tổ chức tín dụng, gửi tổ chức tín
dụng giữ hộ, giao tổ chức tín dụng quản lý thông qua hợp đồng ủy thác, giữ hộ,
quản lý tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và hồ sơ, giấy
tờ liên quan với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.
Điều 103. Giao dịch của tổ chức tín dụng trong giai đoạn
kiểm soát đặc biệt
Giao
dịch của tổ chức tín dụng thực hiện trong giai đoạn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng
thanh toán dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ không áp dụng
quy định về giao dịch vô hiệu quy định tại Điều 59 của Luật này.
Điều 104. Quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản
Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản lập xong danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của tổ
chức tín dụng, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản.
Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Chương IX
TUYÊN BỐ
DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ PHÁ SẢN
Điều 105. Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo
thủ tục rút gọn
1 Tòa
án nhân dân giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn đối với các trường hợp sau:
a)
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại khoản
3, khoản 4 Điều 5 của Luật này mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí
phá sản;
b)
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất
khả năng thanh toán không còn tài sản để thanh toán chi phí phá sản.
2.
Trường hợp Tòa án nhân dân xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân thông báo cho người tham gia thủ
tục phá sản biết về việc Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
3.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân thông báo theo quy định tại
khoản 2 Điều này, Tòa án nhân dân xem xét, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
phá sản đối với những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tiếp tục
giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục
phá sản biết.
4.
Trường hợp Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì người nộp đơn không được hoàn
lại lệ phí phá sản, tiền tạm ứng chi phí phá sản đã nộp.
Điều 106. Quyết định tuyên bố phá sản khi Hội nghị chủ nợ
không thành
Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả họp Hội nghị chủ nợ, Tòa
án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong các
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 80, khoản 4 Điều 83 và
khoản 6 Điều 91 của Luật này.
Điều 107. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
1.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết của Hội nghị chủ nợ đề
nghị tuyên bố phá sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 83
của Luật này thì Tòa án nhân dân xem xét quyết định tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã phá sản.
2.
Sau khi Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục
hồi hoạt động kinh doanh nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Tòa
án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản:
a)
Doanh nghiệp, hợp tác xã không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này;
b)
Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã;
c)
Doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh.
Điều 108. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản
1.
Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản phải có các nội dung chủ
yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên của Tòa án nhân dân; họ và tên Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá
sản;
c)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản;
d)
Căn cứ của việc tuyên bố phá sản;
đ)
Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; đình chỉ giao dịch
liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã; chấm dứt thực hiện nghĩa vụ tính lãi
đối với doanh nghiệp, hợp tác xã; giải quyết hậu quả của giao dịch bị đình chỉ;
tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu; chấm
dứt hợp đồng lao động với người lao động, giải quyết quyền lợi của người lao động;
e)
Chấm dứt quyền hạn của đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã;
g)
Thanh lý tài sản và bán đấu giá tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã;
h)
Phương án phân chia giá trị tài sản trước và sau khi tuyên bố phá sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã theo thứ tự phân chia tài sản quy định tại Điều
54 của Luật này;
i)
Chuyển yêu cầu giải quyết tranh chấp cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền;
k)
Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo
quy định tại Điều 130 của Luật này;
l)
Giải quyết vấn đề khác theo quy định pháp luật.
2.
Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản có hiệu lực thi hành kể từ
ngày ra quyết định.
Điều 109. Gửi và thông báo quyết định tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã phá sản, Tòa án nhân dân phải thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này; đồng thời gửi trích lục tuyên bố
phá sản trong trường hợp quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
có nội dung cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp
tác xã cho Sở Tư pháp nơi Tòa án nhân dân có trụ sở.
2.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã phá sản, Tòa án nhân dân phải gửi quyết định cho cơ quan đăng ký
kinh doanh để xoá tên doanh nghiệp, hợp tác xã trong sổ đăng ký kinh doanh;
trong trường hợp Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giải quyết đề nghị xem
xét lại, kiến nghị theo quy định tại Điều 113 của Luật này
thì thời hạn có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định.
Điều 110. Nghĩa vụ về tài sản sau khi có quyết định tuyên
bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản quy định tại các điều 105, 106 và 107 của Luật này không miễn trừ nghĩa vụ về
tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp người tham gia thủ tục
phá sản có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2.
Nghĩa vụ về tài sản phát sinh sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp
tác xã phá sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thi hành án dân
sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 111. Đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định tuyên
bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Những người được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 109 của
Luật này có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có
quyền kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
2.
Thời hạn đề nghị xem xét lại, kháng nghị là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định hoặc được thông báo hợp lệ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
phá sản.
Trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại, kháng nghị,
Tòa án nhân dân đã ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản phải
gửi hồ sơ vụ việc phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị cho Tòa án nhân dân
cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết.
Điều 112. Giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Ngay sau khi nhận được hồ sơ về phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị, Tòa
án nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định một tổ gồm 03 Thẩm phán xem xét, giải
quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản và gửi hồ sơ vụ việc phá sản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
2.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản do
Tòa án nhân dân chuyển đến, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải trả lại hồ sơ
cho Tòa án nhân dân.
3.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản kèm theo đơn
đề nghị, kháng nghị, Tổ Thẩm phán phải tổ chức phiên họp và ra một trong các
quyết định sau:
a)
Không chấp nhận đơn đề nghị, kháng nghị và giữ nguyên quyết định tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã phá sản;
b)
Sửa quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;
c)
Huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và giao hồ sơ cho Tòa
án nhân dân cấp dưới có thẩm quyền giải quyết lại.
4.
Phiên họp của Tổ Thẩm phán có Viện kiểm sát nhân dân tham gia và có Thư ký Tòa
án nhân dân ghi biên bản phiên họp; trường hợp cần thiết, Tòa án nhân dân triệu
tập người đề nghị, người khác có liên quan tham gia phiên họp để trình bày ý
kiến.
5.
Quyết định giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị của Tòa án nhân dân cấp trên trực
tiếp có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 113. Xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc
biệt
1.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết
định giải quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của Luật này
mà có đơn đề nghị xem xét lại của người tham gia thủ tục phá sản, kiến nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kiến nghị của Tòa án nhân dân thì Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó khi có một trong các căn cứ
sau:
a) Có
vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản;
b)
Phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên bố
phá sản mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản không thể biết được
khi Tòa án nhân dân ra quyết định.
2.
Trường hợp có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân tối cao yêu
cầu Tòa án nhân dân đã ra quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của Luật này chuyển hồ sơ vụ việc phá sản cho Tòa án
nhân dân tối cao để xem xét giải quyết.
3.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, kiến nghị, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao có quyền ra một trong các quyết định sau:
a)
Không chấp nhận đề nghị xem xét lại, kiến nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa
án nhân dân cấp dưới;
b)
Huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân
cấp dưới, quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của Tòa án nhân
dân cấp trên trực tiếp và giao hồ sơ về phá sản cho Tòa án nhân dân cấp dưới
giải quyết lại.
4.
Quyết định giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Chương X
XỬ LÝ TÀI
SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ CÓ TRANH CHẤP
Điều 114. Xử lý tranh chấp tài sản trước khi có quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Trong quá trình giải quyết phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mà phát sinh
tranh chấp về tài sản trước khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
phá sản, Tòa án nhân dân đang giải quyết vụ việc phá sản phải xem xét tách phần
tài sản đang tranh chấp để giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự.
2.
Sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân giải quyết tranh
chấp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án nhân dân giải quyết
phá sản xử lý tài sản như sau:
a)
Trước khi có quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản có được từ bản án, quyết
định có hiệu lực được nhập vào tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
b)
Sau khi có quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản có được từ bản án, quyết
định có hiệu lực được phân chia theo quyết định tuyên bố phá sản trước đó.
3.
Việc tách tài sản đang tranh chấp thành vụ án khác theo quy định tại khoản 1
Điều này được thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 43 của
Luật này.
4.
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia
giải quyết tranh chấp về tài sản.
Điều 115. Xử lý trường hợp có tranh chấp tài sản trong quá
trình thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Quá trình thực hiện việc thanh lý tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã phá sản mà có tranh chấp hoặc không thể thi hành được thì Chấp hành
viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ
tục phá sản đề nghị Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ việc phá sản xem xét.
2.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Chấp hành
viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ
tục phá sản, Tòa án nhân dân phải xem xét ra một trong các văn bản sau:
a)
Văn bản trả lời không chấp nhận đề nghị của Chấp hành viên, Quản tài viên,
doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ tục phá sản;
b)
Chuyển đơn đề nghị đến người có thẩm quyền để xem xét kháng nghị quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo quy định của pháp luật.
3.
Trường hợp Chấp hành viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản, người tham gia thủ tục phá sản không đồng ý với văn bản trả lời quy định
tại điểm a khoản 2 Điều này thì có quyền đề nghị người có thẩm quyền xem xét
kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo quy định
của pháp luật.
4.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đại diện cho doanh
nghiệp, hợp tác xã tham gia giải quyết tranh chấp về tài sản.
Chương XI
THỦ TỤC PHÁ
SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Điều 116. Người tham gia thủ tục phá sản là người nước
ngoài
Người
tham gia thủ tục phá sản là người nước ngoài phải thực hiện theo quy định của
pháp luật về phá sản của Việt Nam.
Điều 117. Ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân Việt Nam đối
với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
1.
Trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân
dân thực hiện uỷ thác tư pháp theo hiệp định tương trợ tư pháp mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
2.
Thủ tục ủy thác tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự, pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 118. Thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định giải
quyết phá sản của Tòa án nước ngoài
Việc
công nhận và cho thi hành quyết định giải quyết phá sản của Tòa án nước ngoài
được thực hiện theo quy định của hiệp định tương trợ tư pháp mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và quy định khác của pháp luật về tương trợ tư
pháp.
Chương XII
THI HÀNH
QUYẾT ĐỊNH TUYÊN BỐ DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ PHÁ SẢN
Điều 119. Thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Thẩm
quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản được thực hiện theo quy định của
Luật này, pháp luật về thi hành án dân sự và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Điều 120. Thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản
1.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, cơ
quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành, phân
công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản.
2.
Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự, Chấp hành viên thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Mở
một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồi được của
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;
b)
Giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện thanh
lý tài sản;
c)
Thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản
trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
d)
Sau khi nhận được báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản về kết quả thanh lý tài sản, Chấp hành viên thực hiện phương án phân chia
tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Điều 121. Yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản tổ chức thực hiện thanh lý tài sản
1.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định phân công của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Quản
tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài
sản.
2.
Văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức
thực hiện thanh lý tài sản có các nội dung chủ yếu sau:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên của Chấp hành viên yêu cầu;
c)
Tên của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc
thanh lý tài sản;
d)
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;
đ)
Phương thức thanh lý tài sản cụ thể theo quy định tại các điều
122, 123 và 124 của Luật này.
3.
Văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện
việc thanh lý tài sản phải được gửi cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, người tham gia thủ tục phá sản.
4.
Tài sản mà Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không thực
hiện được việc thanh lý sau 02 năm kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của
Chấp hành viên theo quy định tại khoản 2 Điều này thì Quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải chấm dứt việc thanh lý tài sản và bàn
giao toàn bộ giấy tờ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản cho cơ quan
thi hành án dân sự xử lý, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật.
Điều 122. Định giá tài sản
1.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, Quản
tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức định giá tài sản
theo quy định của pháp luật.
Khi
ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá thì Quản tài viên, doanh nghiệp
quản lý, thanh lý tài sản không được ký hợp đồng thẩm định giá với cá nhân, tổ
chức mà mình có quyền, lợi ích liên quan.
2.
Trường hợp tài sản thanh lý có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá
trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản xác định giá trị
tài sản và thanh lý theo quy định của pháp luật.
Điều 123. Định giá lại tài sản
1.
Việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định
tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá
tài sản.
2.
Thẩm phán quyết định định giá lại đối với trường hợp bán tài sản theo quy định
tại khoản 3 Điều 23 của Luật này. Chấp hành viên quyết định
định giá lại đối với trường hợp thanh lý tài sản.
Điều 124. Bán tài sản
1.
Tài sản được bán theo các hình thức sau:
a)
Bán đấu giá;
b)
Bán không qua thủ tục đấu giá.
2.
Việc bán đấu giá đối với tài sản là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng
và bất động sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài
sản.
Quản
tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền thoả thuận với tổ
chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày định giá.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản ký hợp đồng dịch vụ bán
đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá.
Trường
hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không thoả thuận được
thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu
giá tài sản.
Việc
ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày thẩm định giá.
Việc
bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối
với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
3.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán đấu giá tài sản thanh
lý trong các trường hợp sau:
a)
Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán
đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu
giá tài sản;
b)
Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc
bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối
với bất động sản là 45 ngày kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản
của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.
4.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán không qua thủ tục bán
đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản quy định
tại khoản 2 Điều 122 của Luật này.
Việc
bán tài sản phải được thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ
ngày ban hành quyết định thi hành quyết định tuyên bố phá sản hoặc quyết định
bán tài sản.
5.
Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá
tài sản.
Điều 125. Thu hồi lại tài sản trong trường hợp có vi phạm
1.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Chấp hành viên đề nghị
Tòa án nhân dân ra quyết định thu hồi lại tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
do thực hiện giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 59
của Luật này. Việc thu hồi tài sản được thực hiện theo quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự.
2.
Trường hợp có tranh chấp về thu hồi lại tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã thì được xử lý theo quy định tại Điều 115 của Luật này.
Điều 126. Đình chỉ thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự quyết định đình chỉ thi hành quyết định tuyên
bố phá sản trong các trường hợp sau:
1.
Doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không có tài sản để thanh lý, phân
chia;
2.
Hoàn thành việc phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá
sản;
3.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Tòa án nhân dân đã giải quyết phá
sản và thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan về việc đình chỉ
thi hành quyết định tuyên bố phá sản.
Điều 127. Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phát
sinh sau khi quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
1.
Sau khi quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản mà phát hiện giao
dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 59 của Luật này
thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Tòa
án nhân dân tuyên bố giao dịch vô hiệu, xử lý hậu quả của giao dịch vô hiệu và
phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại Điều
54 của Luật này.
2.
Sau khi quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản mà phát hiện tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã chưa chia thì Tòa án nhân dân đã tuyên bố phá
sản xem xét và quyết định phân chia tài sản theo quy định tại Điều
54 của Luật này.
3. Cơ
quan thi hành án dân sự tổ chức thực hiện quyết định phân chia tài sản theo quy
định tại khoản 2 Điều này.
Điều 128. Giải quyết khiếu nại việc thi hành Quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
Việc
khiếu nại, giải quyết khiếu nại về việc thi hành quyết định tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã phá sản được thực hiện theo pháp luật về thi hành án dân sự.
Chương XIII
XỬ LÝ VI
PHẠM
Điều 129. Trách nhiệm do vi phạm pháp luật về phá sản
1. Cá
nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết
vụ việc phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử
phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử phạt hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật. Trường hợp Quản tài viên, cá nhân của doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản vi phạm pháp luật hình sự thì có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 130. Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp
tác xã bị tuyên bố phá sản
1.
Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản
trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm đương
các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp 100%
vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản.
2.
Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước mà
doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở
bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.
3.
Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà cố
ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản
1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được
quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp
tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố
phá sản.
4.
Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không áp dụng trong trường hợp doanh
nghiệp, hợp tác xã phá sản với lý do bất khả kháng.
Chương XIV
ĐIỀU KHOẢN
THI HÀNH[3]
Điều 131. Điều khoản chuyển tiếp
1. Kể
từ ngày Luật này có hiệu lực, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phát
hiện sau khi có quyết định tuyên bố phá sản theo Luật phá sản số 21/2004/QH11
thì xử lý theo quy định tại Điều 127 của Luật này.
2.
Đối với quyết định tuyên bố phá sản được ban hành theo quy định của Luật phá
sản số 21/2004/QH11 trước ngày Luật này có hiệu lực mà có khiếu nại, kháng
nghị, đến ngày Luật này có hiệu lực chưa được giải quyết thì giải quyết theo
thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 111, Điều 112 và Điều 113 của
Luật này.
3.
Đối với yêu cầu mở thủ tục phá sản đã được Tòa án nhân dân thụ lý trước ngày
Luật này có hiệu lực mà chưa ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
phá sản thì áp dụng quy định của Luật này để tiếp tục giải quyết.
4.
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn
thi hành Điều này.
Điều 132. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
2.
Luật Phá sản số 21/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 133. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN
BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Bộ luật số 45/2019/QH14, Luật số
59/2020/QH14, Luật số 13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15
và Luật số 46/2024/QH15; Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 55/2019/QH14 và Luật số 34/2024/QH15;
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15; Luật Phá sản số
51/2014/QH13 và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14.”.
[2] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 4 của
Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và
Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[3] Điều 6 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định
như sau:
“Điều
6. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, trừ trường hợp Luật Tư
pháp người chưa thành niên có quy định khác.”.
Việc thi hành Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án được thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày
27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên
quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.