|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 106/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2026
|
LUẬT
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc
hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Phòng, chống mua bán người số 53/2024/QH15 ngày 28 tháng 11 năm
2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
2. Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11
năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
3. Luật số 05/2026/QH16 ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2027.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Trợ giúp pháp lý[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về người được trợ giúp pháp lý; tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý; người thực hiện trợ giúp pháp lý; hoạt động trợ giúp pháp lý;
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động trợ giúp pháp lý.
Điều 2. Trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn
phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định
của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận
công lý và bình đẳng trước pháp luật.
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp
lý
1. Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp
pháp lý.
2. Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật
khách quan.
3. Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được
trợ giúp pháp lý.
4. Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ
người được trợ giúp pháp lý.
Điều 4. Chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý
1. Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của
Nhà nước.
2. Nhà nước có chính sách để bảo đảm quyền được trợ giúp pháp
lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
3. Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, thu hút
các nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý.
Điều 5. Nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý
1. Nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý bao gồm
nguồn ngân
sách nhà nước; đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và
các nguồn hợp pháp khác.
2.[2] Kinh
phí ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của
cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp
luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ số và pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Đối với địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, ưu
tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hằng năm để hỗ trợ cho việc
thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình.
3. Kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý của tổ chức
tự nguyện thực hiện do tổ chức đó tự bảo đảm.
Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp
pháp lý
1. Nghiêm cấm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người
thực hiện trợ giúp pháp lý có hành vi sau đây:
a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp
pháp của người được trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp
lý;
b) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất
hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ
giúp pháp lý;
c) Tiết lộ thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý, về
người được trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý
bằng văn bản hoặc luật có quy định khác;
d) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp
lý, trừ trường hợp quy định tại Luật này và quy định của pháp luật về tố tụng;
đ) Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi, xâm
phạm quốc phòng, an ninh quốc gia, gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu
đến đạo đức xã hội;
e) Xúi giục, kích động người được trợ giúp pháp lý cung
cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật.
2. Nghiêm cấm người được trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý có hành vi sau đây:
a) Xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của
người thực hiện trợ giúp pháp lý và uy tín của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp
lý;
b) Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về
vụ việc trợ giúp pháp lý;
c) Đe dọa, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động
trợ giúp pháp lý; gây rối, làm mất trật tự, vi phạm nghiêm trọng nội quy nơi
thực hiện trợ giúp pháp lý.
Chương II
NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP
LÝ, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 7. Người được trợ giúp pháp lý[3]
1. Người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt
sĩ và người có công nuôi liệt sĩ.
2. Người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo.
3. Người nhiễm chất độc da cam.
4. Người khuyết tật.
5. Trẻ em.
6. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người.
7. Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị
bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.
8. Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại.
9. Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ
giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với
họ bởi sự kiện này.
10. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị
hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân
theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
11. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành
vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống
mua bán người.
12. Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
13. Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
14. Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.
Điều 8. Quyền của người được trợ giúp pháp lý
1. Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi
ích khác.
2. Tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, cơ quan, người tiến hành tố tụng[4]
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.
3. Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ
giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước
có liên quan.
4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý.
5. Lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ
giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người
thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật này.
6. Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.
7. Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
8. Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 9. Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý
1. Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
2. Hợp tác, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ có
liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của
thông tin, tài liệu, chứng cứ đó.
3. Tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ
giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ
giúp pháp lý.
4. Không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp
lý cho mình về cùng một vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp
lý thụ lý, giải quyết.
5. Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ
giúp pháp lý.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRỢ
GIÚP PHÁP LÝ, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 10. Tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Sở Tư pháp công bố danh sách các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tại
địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư
pháp để tổng hợp đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia[5].
Điều 11. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực
thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân,
có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.
2.[6] Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước có thể có Chi nhánh.
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của
Chi nhánh. Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa
phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
3.[7] Chính phủ quy định về tổ chức,
hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước; trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, sáp nhập Chi nhánh của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
Điều 12. Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức ký hợp đồng thực hiện
trợ giúp pháp lý và tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức hành
nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp
lý với Sở Tư pháp theo quy định của Luật này.
3. Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức hành nghề
luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định
của Luật này.
Điều 13. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện trợ giúp pháp lý;
b) Đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp, cung cấp thông tin,
tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý;
c) Bồi thường thiệt hại do lỗi của người thuộc tổ chức mình gây ra trong
khi thực hiện trợ giúp pháp lý;
d) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo, truyền thông về trợ giúp pháp lý;
đ) Giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 2 Điều 45
của Luật này;
e) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến
giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý.
2. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Thực hiện các nhiệm vụ khác do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ủy
quyền hoặc yêu cầu.
3. Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ
sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Được nhận thù lao và chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo
quy định của Chính phủ;
c) Quyền và nghĩa vụ khác theo hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý.
4. Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ
sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Thực hiện trợ giúp pháp lý theo nội dung đăng ký.
Điều 14. Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý được ký kết giữa Sở Tư pháp với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật và
giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước với luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp
lý về việc thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về dân sự.
2. Căn cứ yêu cầu trợ giúp pháp lý và thực tiễn tại địa
phương, Sở Tư pháp lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với tổ
chức có nguyện vọng và có đủ điều kiện sau đây:
a) Có lĩnh vực đăng ký hoạt động phù hợp với lĩnh vực trợ giúp pháp lý
theo quy định của Luật này;
b) Là tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật có ít nhất 01
tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên hoặc 01 luật
sư làm việc thường xuyên tại tổ chức;
c) Có cơ sở vật chất phù hợp với hoạt động trợ giúp pháp lý;
d) Không đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật.
3. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp
lý, nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương lựa chọn, ký kết hợp đồng
thực hiện trợ giúp pháp lý với luật sư có đủ điều kiện sau đây:
a) Không đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư;
b) Không bị cấm hành nghề hoặc bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp theo quyết
định của cơ quan có thẩm quyền;
c) Không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
d) Được sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức hành nghề luật
sư nơi luật sư đang làm việc hoặc cơ quan, tổ chức mà luật sư ký kết hợp đồng
lao động.
4. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước lựa chọn, ký kết hợp
đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với cộng tác viên trợ giúp pháp lý theo quy định
tại Điều 24 của Luật này.
5. Tổ chức, cá nhân đã thực hiện hành vi bị
nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này
thì không được lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời
gian ít nhất là 02 năm kể từ ngày có kết luận vi phạm.
6. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này.
Điều 15. Đăng ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tự nguyện thực hiện
trợ giúp pháp lý bằng nguồn lực của mình được đăng ký tham gia thực hiện trợ
giúp pháp lý như sau:
a) Tổ chức hành nghề luật sư có đủ điều kiện quy định tại các điểm a, c và d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
b) Tổ chức tư vấn pháp luật có đủ điều kiện quy định tại các điểm a, c và d khoản 2 Điều 14 của Luật này và có ít nhất 01 tư
vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên hoặc 01 luật
sư làm việc thường xuyên tại tổ chức.
2. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp
pháp lý đăng ký về phạm vi, hình thức, lĩnh vực, đối tượng trợ giúp pháp lý với
Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định trình tự, thủ tục đăng ký tham gia thực
hiện trợ giúp pháp lý.
Điều 16. Chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức
tham gia trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý chấm dứt thực hiện trợ
giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đáp ứng một trong các điều kiện ký kết hợp đồng thực hiện
trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này;
b) Chấm dứt theo hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Thực hiện trợ giúp pháp lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý chấm dứt thực hiện trợ giúp
pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đáp ứng một trong các điều kiện đăng ký tham gia trợ giúp
pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này;
b) Tự chấm dứt tham gia trợ giúp pháp lý sau khi đã thông báo bằng văn bản
với Sở Tư pháp nơi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý;
c) Không thực hiện trợ giúp pháp lý trong thời gian 02 năm liên tục, trừ
trường hợp do nguyên nhân khách quan;
d) Thực hiện trợ giúp pháp lý gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
3. Khi chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức tham gia trợ giúp
pháp lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp về việc chấm dứt thực hiện trợ giúp pháp lý và
chuyển hồ sơ vụ việc chưa hoàn thành đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được
Sở Tư pháp giao để tiếp tục thực hiện.
Chương IV
NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ, QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 17. Người thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:
a) Trợ giúp viên pháp lý;
b) Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ
chức tham gia trợ giúp pháp lý;
c) Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên
làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
d) Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
2. Sở Tư pháp công bố danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa
phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp
để tổng hợp đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia[8].
Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp
pháp lý
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện trợ giúp pháp lý;
b) Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản
trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;
c) Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25, khoản 1 Điều 37 của
Luật này và theo quy định của pháp luật về tố tụng;
d) Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp
lý;
đ) Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;
e) Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;
g) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;
h) Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện
trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.
2. Trợ giúp viên pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về
chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;
c) Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công;
d) Được hưởng chế độ, chính sách, ưu đãi[9]
theo quy định.
3. Luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý ký kết hợp đồng thực hiện trợ
giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được hưởng thù lao và chi
phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định.
4. Chính phủ quy định chi tiết điểm d khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 19. Tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý[10]
Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:
1. Có phẩm chất đạo đức tốt;
2. Có trình độ cử nhân luật trở lên;
3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư;
4. Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp
lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý;
5. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.
Điều 20. Tập sự trợ giúp pháp lý
1. Viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có Giấy
chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư
theo quy định của Luật Luật sư được tập sự trợ giúp pháp lý tại Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước.
Thời gian tập sự trợ giúp pháp lý là 12 tháng. Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước phân công trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn người tập sự trợ
giúp pháp lý và xác nhận việc tập sự trợ giúp pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý hướng
dẫn tập sự phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm trợ giúp viên pháp lý. Tại
cùng một thời điểm, 01 trợ giúp viên pháp lý không được hướng dẫn tập sự quá 02
người.
2. Người tập sự trợ giúp pháp lý được giúp trợ giúp viên
pháp lý hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý tại phiên tòa;
không được ký văn bản tư vấn pháp luật.
Người tập sự trợ giúp pháp lý được cùng với trợ giúp viên
pháp lý hướng dẫn gặp gỡ người được trợ giúp pháp lý và đương sự khác trong vụ
việc trợ giúp pháp lý khi được người đó đồng ý; giúp trợ giúp viên pháp lý nghiên
cứu hồ sơ vụ việc, thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ việc
và các hoạt động nghề nghiệp khác. Trợ giúp viên pháp lý hướng dẫn tập sự giám
sát và chịu trách nhiệm về các hoạt động của người tập sự trợ giúp pháp lý quy
định tại khoản này.
3. Người thuộc trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật
sư theo quy định của Luật Luật sư thì được miễn, giảm thời gian tập sự trợ giúp
pháp lý.
4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết việc tập sự, kiểm tra kết quả
tập sự trợ giúp pháp lý và mẫu Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự trợ giúp
pháp lý.
Điều 21. Bổ nhiệm, cấp thẻ, cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp
lý[11]
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ
giúp viên pháp lý cho người đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này mà không thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm
trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
do cố ý, kể cả đối với trường hợp đã được xóa án tích; đã bị kết án mà chưa được
xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ
giúp viên pháp lý cho người đã bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý
thuộc trường hợp quy định tại điểm a, đ hoặc g khoản 1 Điều 22
của Luật này khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này và lý do miễn nhiệm, thu hồi thẻ không
còn.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý
trong trường hợp thẻ bị mất, bị hư hỏng.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục bổ
nhiệm, cấp thẻ, cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Điều 22. Miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý[12]
1. Trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp
lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 của Luật này;
b) Không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 12 tháng
liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan;
c) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;
d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi
quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này;
đ) Đang trong thời gian bị cấm hành nghề trợ giúp pháp lý theo quyết định
của cơ quan có thẩm quyền;
e) Bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật;
g) Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc.
2. Trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên
pháp lý đương nhiên không còn giá trị trong các trường hợp sau đây:
a) Chuyển công tác khác; thôi việc hoặc cho thôi việc;
b) Nghỉ hưu.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định miễn nhiệm, thu hồi thẻ
trợ giúp viên pháp lý.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục miễn
nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Điều 23.[13] (được
bãi bỏ)
Điều 24. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý[14]
1. Những người sau đây có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý:
a) Người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng hoặc thôi việc
vì lý do khách quan, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt,
đủ sức khỏe và có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý, bao gồm người đã từng
là: trợ giúp viên pháp lý, Thẩm phán, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Điều tra viên, Chấp hành viên, Thẩm tra
viên thi hành án dân sự, người giữ hạng, ngạch chuyên viên chính và tương đương
trở lên làm công tác pháp luật; người giữ hạng, ngạch chuyên viên và tương
đương có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của Mặt trận; người đã từng là cộng tác viên trợ giúp pháp lý;
b) Viên chức giữ hạng III và tương đương làm công tác pháp luật từ 05
năm trở lên hoặc viên chức giữ hạng I, hạng II và tương đương làm công tác pháp
luật và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc.
2. Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý
cho người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và không
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm
trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
do cố ý, kể cả đối với trường hợp đã được xóa án tích; đã bị kết án mà chưa được
xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý;
b) Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật.
3. Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ký kết hợp đồng thực hiện
trợ giúp pháp lý với người được cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý để thực
hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.
4. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý bị thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp
pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Không thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong thời gian 02 năm liên
tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan;
c) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật
này hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý
nhưng chưa đến mức bị thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý mà tiếp tục có
hành vi vi phạm;
d) Hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý bị chấm dứt hoặc cộng tác viên trợ
giúp pháp lý không ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị ký kết
hợp đồng của Trung tâm mà không có lý do chính đáng;
đ) Cộng tác viên trợ giúp pháp lý là viên chức bị xử lý kỷ luật bằng
hình thức buộc thôi việc;
e) Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc;
g) Bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật.
5. Giám đốc Sở Tư pháp quyết định thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp
pháp lý; cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý trong trường hợp thẻ bị mất,
bị hư hỏng.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục cấp,
cấp lại, thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Điều 25. Các trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc
phải từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý không được tiếp tục thực hiện trợ
giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1
Điều 6 của Luật này, trừ trường hợp đã chấp hành xong hình thức xử lý vi phạm
và được thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này;
b) Bị thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp
lý, Chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ tư vấn viên pháp luật;
c) Các trường hợp không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật
về tố tụng.
2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thực hiện vụ việc trợ
giúp pháp lý khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã hoặc đang thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp
lý là các bên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận khác đối với vụ việc tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố
tụng trong lĩnh vực dân sự;
b) Có căn cứ cho rằng người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể không
khách quan trong thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Có lý do cho thấy không thể thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý một
cách hiệu quả, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp
pháp lý.
3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo bằng văn bản và nêu
rõ lý do cho người được trợ giúp pháp lý và cử người khác thực hiện trợ giúp
pháp lý trong trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Chương V
PHẠM VI, LĨNH VỰC, HÌNH
THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 26. Phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý
1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương;
b) Vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương;
c) Vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ở Trung ương yêu cầu;
d)[15] Vụ
việc được chuyển theo quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật này.
2. Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp
pháp lý trong phạm vi hợp đồng.
3. Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý
trong phạm vi đăng ký.
Điều 27. Lĩnh vực, hình thức trợ
giúp pháp lý
1. Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ
lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
2. Các hình thức trợ giúp pháp lý bao gồm:
a) Tham gia tố tụng;
b) Tư vấn pháp luật;
c) Đại diện ngoài tố tụng.
Điều 28. Địa điểm tiếp người được trợ giúp pháp lý
1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí nơi tiếp người được trợ
giúp pháp lý tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc tại địa điểm
khác ngoài trụ sở của tổ chức bảo đảm điều kiện để việc trình bày yêu cầu được
dễ dàng, thuận lợi.
2. Tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải niêm yết lịch
tiếp, nội quy tiếp người được trợ giúp pháp lý.
Điều 29.[16] (được
bãi bỏ)
Điều 30. Yêu cầu, thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý[17]
1. Khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Yêu cầu trợ giúp pháp lý chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên
quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và
phù hợp với quy định của Luật này.
3. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải từ chối thụ lý và thông báo
rõ lý do bằng văn bản cho người yêu cầu khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Yêu cầu trợ giúp pháp lý không đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Yêu cầu trợ giúp pháp lý có nội dung trái pháp luật;
c) Người được trợ giúp pháp lý đã chết;
d) Vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác thụ lý,
giải quyết;
đ) Yêu cầu trợ giúp pháp lý đã được giải quyết và không phát sinh nội
dung mới.
4. Trường hợp người yêu cầu chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ nhưng cần thực
hiện trợ giúp pháp lý ngay do vụ việc sắp hết thời hiệu khởi kiện, sắp đến ngày
xét xử, vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố
tụng chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc
để tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp
pháp lý thì người tiếp nhận yêu cầu báo cáo người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý và thụ lý ngay, đồng thời hướng dẫn người yêu cầu trợ giúp pháp lý
bổ sung các giấy tờ, tài liệu cần thiết.
5. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự,
thủ tục thụ lý, thụ lý ngay, từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 31. Tham gia tố tụng
1. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố
tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và pháp luật về tố tụng.
2. Khi người được trợ giúp pháp lý yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp
pháp lý tham gia tố tụng, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ
việc, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ
giúp pháp lý.
Trường hợp người được trợ giúp pháp lý là người bị bắt, người bị tạm giữ
yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp pháp lý, trong thời hạn 12 giờ kể từ thời
điểm thụ lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện
trợ giúp pháp lý.
3. Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp
lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm
nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được
trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước tại địa phương. Ngay sau khi nhận được thông báo của cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có trách nhiệm
thụ lý theo quy định tại khoản 4 Điều 30 của Luật này và cử
người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
4. Việc cử người tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản và gửi cho
người được trợ giúp pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan.
Điều 32. Tư vấn pháp luật[18]
1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn pháp luật cho người được trợ
giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên
quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn giúp các bên hòa
giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự,
thủ tục thực hiện vụ việc tư vấn pháp luật.
Điều 33. Đại diện ngoài tố tụng[19]
1. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên
trợ giúp pháp lý đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý trước
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự,
thủ tục thực hiện vụ việc đại diện ngoài tố tụng.
Điều 34. Phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý[20]
1. Trường hợp cần xác minh các tình tiết, sự kiện có liên quan đến vụ việc
trợ giúp pháp lý ở địa phương khác thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã thụ
lý vụ việc yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý nơi cần xác minh phối hợp
thực hiện. Yêu cầu xác minh phải bằng văn bản, nêu rõ nội dung cần xác minh và
thời hạn trả lời.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự,
thủ tục phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý.
Điều 35. Chuyển yêu cầu, vụ việc trợ giúp pháp lý[21]
1. Trường hợp yêu cầu trợ giúp pháp lý không đáp ứng điều kiện quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 26 của Luật này, Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước có thẩm quyền và thông báo cho người có yêu cầu biết.
2. Trường hợp không đủ nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức
tham gia trợ giúp pháp lý chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước tại địa phương và thông báo cho người có yêu cầu biết.
3.[22] Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước đang giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý có thể chuyển vụ việc đó cho Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương khác khi vụ việc trợ giúp pháp lý đã
được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng
tại địa phương đó giải quyết và thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.
Điều 36. Kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý[23]
1. Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn
đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý. Cơ quan nhận được kiến
nghị, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm trả lời bằng
văn bản theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp cơ quan nhận được kiến nghị không trả lời theo quy định tại
khoản 1 Điều này thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền kiến nghị cơ
quan cấp trên trực tiếp của cơ quan đó xem xét, giải quyết.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục kiến
nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
Điều 37. Không tiếp tục thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Vụ việc trợ giúp pháp lý không được tiếp tục thực hiện khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp phải từ chối theo quy định tại khoản 3 Điều
30 của Luật này;
b) Người được trợ giúp pháp lý thực hiện một trong các hành vi bị nghiêm
cấm quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật này;
c) Người được trợ giúp pháp lý rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.
2. Trường hợp không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thông báo bằng văn
bản và nêu rõ lý do cho người được trợ giúp pháp lý.
3. Trường hợp vụ việc trợ giúp pháp lý đang được thực hiện mà người được
trợ giúp pháp lý không còn đáp ứng quy định tại Điều 7 của Luật
này thì vụ việc được tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc.
Điều 38. Hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý[24]
Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người
thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Điều 39. Lưu trữ hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc vụ việc, người thực
hiện trợ giúp pháp lý phải bàn giao hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý cho tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý phải được
thống kê, đánh số thứ tự, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm và được lưu trữ
theo quy định của pháp luật.
3. Hồ sơ điện tử của từng vụ việc trợ giúp pháp lý được số hóa, cập nhật
vào hệ thống quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý và lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về
trợ giúp pháp lý.
Chương VI
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Điều 40. Trách nhiệm quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước
về trợ giúp pháp lý và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý;
b) Xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chiến lược,
kế hoạch phát triển trợ giúp pháp lý và tổ chức triển khai thực hiện;
c)[25] Ban hành các quy định hướng dẫn
về chuyên môn, nghiệp vụ, đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp
lý; mẫu giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý; tiêu chí xác định vụ việc trợ
giúp pháp lý phức tạp, điển hình, chất lượng, thành công; thực hiện chế độ báo
cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý;
d) Hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về trợ giúp pháp lý;
đ) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ
cho người thực hiện trợ giúp pháp lý;
e) Tổ chức công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý[26];
g) [27] Kiểm
tra việc thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý; khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi
phạm trong hoạt động trợ giúp pháp lý;
h) Tiếp nhận hỗ trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân cho công tác trợ giúp
pháp lý;
i) Thực hiện hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý;
k)[28] Ứng dụng công nghệ thông tin,
công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý; xây
dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin và cơ sở dữ
liệu trợ giúp pháp lý; thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu trợ giúp
pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
3.[29] Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong
việc quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; tạo lập, tích hợp,
chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ
liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
4.[30] Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp
lý tại địa phương, bảo đảm các điều kiện làm việc của Trung tâm trợ giúp pháp
lý nhà nước; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ,
khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ
giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
5.[31] Ủy
ban nhân dân cấp xã phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong việc
triển khai thực hiện công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn.
6.[32] Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 41. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt
động trợ giúp pháp lý trong tố tụng[33]
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối
hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và
trong điều tra hình sự; tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý được hưởng
quyền trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham
gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an,
Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về
trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh.
3. Các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng
có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ,
khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ
giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Điều 42. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan nhà nước có liên quan[34]
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận,
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện chính sách,
pháp luật về trợ giúp pháp lý; phối hợp với các cơ quan nhà nước, tổ chức có
liên quan trong công tác trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.
2. Trong quá trình xử lý, giải quyết vụ việc liên quan đến công dân, nếu
công dân thuộc diện người được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm
giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý.
Điều 43. Trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của
luật sư
1. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp
trong quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề
luật sư, luật sư theo quy định của Luật này.
2. Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối
hợp với Sở Tư pháp trong quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của
tổ chức hành nghề luật sư, luật sư theo quy định của Luật này.
Điều 44. Trách nhiệm của tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn
pháp luật
Tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý
trong quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức tư vấn pháp
luật, tư vấn viên pháp luật theo quy định của Luật này.
Chương VII
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO VÀ TRANH CHẤP
Điều 45. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Người được trợ giúp pháp lý có quyền khiếu nại đối với hành vi sau
đây của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý
khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình:
a) Từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý;
b) Không thực hiện trợ giúp pháp lý;
c) Thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật;
d) Thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật.
2.[35] Người đứng đầu tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với hành vi quy định tại
khoản 1 Điều này. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại của người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc quá
thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên Giám đốc
Sở Tư pháp.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại của Giám đốc Sở Tư pháp hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết
thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này; quy định trình tự, thủ tục giải
quyết khiếu nại trong trợ giúp pháp lý.
3.[36] Việc khiếu nại, khởi kiện
trong trợ giúp pháp lý không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thực
hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
4. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi
vi phạm quy định của Luật này. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo thực hiện theo
quy định của pháp luật về tố cáo.
Điều 46. Giải quyết tranh chấp
1. Trường hợp có tranh chấp giữa người được trợ giúp pháp lý với trợ
giúp viên pháp lý, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên trợ giúp pháp lý, Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tổ chức tư vấn pháp luật liên quan đến việc thực
hiện trợ giúp pháp lý thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định
của pháp luật về dân sự.
2. Trường hợp có tranh chấp giữa người được trợ giúp pháp lý với luật
sư, tổ chức hành nghề luật sư liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý thì
việc giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về luật
sư và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[37]
Điều 47. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.
2. Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 48. Quy định chuyển tiếp
1. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, người đã được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý theo
quy định của Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 được tiếp tục hoạt động theo
quy định của Luật này; sau 05 năm kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành, người được bổ
nhiệm trợ giúp viên pháp lý không có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo
nghề luật sư thì bị thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
2. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, người tham gia trợ giúp pháp lý
theo Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 phải đáp ứng yêu cầu của Luật này;
trường hợp không đáp ứng yêu cầu của Luật này thì chấm dứt tham gia trợ giúp
pháp lý và chuyển hồ sơ vụ việc đang thực hiện cho Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước nơi đăng ký tham gia để tiếp tục thực hiện.
3. Vụ việc trợ giúp pháp lý đang được thực hiện theo Luật Trợ giúp pháp lý số
69/2006/QH11 nhưng đến ngày Luật này có hiệu lực
thi hành mà chưa kết thúc thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật
Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 cho đến khi kết
thúc vụ việc.
4. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước đã được thành lập tại địa phương và căn cứ vào nhu cầu trợ
giúp pháp lý, nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý và hiệu quả hoạt động báo
cáo Bộ Tư pháp để thống nhất việc duy trì, sáp nhập hoặc giải thể Chi nhánh của
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật Phòng, chống mua bán người số
53/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống mua bán người.”.
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Tư pháp người chưa thành niên.”.
Luật số 05/2026/QH16 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 53/2024/QH15 và Luật số
59/2024/QH15.”.
[2] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[3] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[4] Cụm từ “, cơ quan, người tiến hành tố tụng” được bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 20 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[5] Cụm từ “Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp” được thay
thế bằng cụm từ “Cổng Pháp luật quốc gia” theo quy định tại điểm c khoản 20 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[6] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[7] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[8] Cụm từ “Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp” được thay
thế bằng cụm từ “Cổng Pháp luật quốc gia” theo quy định tại điểm c khoản 20 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[9] Cụm từ “, ưu đãi” được bổ sung theo quy định tại điểm b
khoản 20 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[10] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[11] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[12] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[13] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 20 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[14] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[15] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của
Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[16] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 20 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[17] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[18] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[19] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[20] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[21] Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm
a khoản 13 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[22] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[23] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[24] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[25] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a
khoản 16 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[26] Cụm từ “và việc thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc trợ
giúp pháp lý” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 16 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2027.
[27] Cụm từ “Thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản
16 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ
giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[28] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 16 Điều
1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp
lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[29] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c
khoản 16 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[30] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c
khoản 16 Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[31] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 16
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[32] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 16
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[33] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[34] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[35] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[36] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19
Điều 1 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp
pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
[37] Điều 62 của Luật Phòng, chống mua bán người số 53/2024/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 62. Hiệu lực thi hành
1. Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Luật Phòng, chống mua bán người số 66/2011/QH12 hết hiệu
lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều
63 của Luật này.”.
Điều 178 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 178. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại Điều 139, khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.”.
Điều 3 của Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định
như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.”.