|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
42/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày
27 tháng 02 năm 2025
|
LUẬT
GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ
Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 ngày 22
tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, được
sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30 tháng 11
năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Giao dịch điện tử[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Luật này quy định việc thực hiện giao dịch bằng
phương tiện điện tử.
2. Luật này không quy định về nội dung, điều kiện,
hình thức của giao dịch.
3. Trường hợp luật khác quy định hoặc không quy
định giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử thì được áp dụng theo
quy định của Luật này. Trường hợp luật khác quy định không được thực hiện giao
dịch bằng phương tiện điện tử thì thực hiện theo quy định của luật đó.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá
nhân trực tiếp tham gia giao dịch điện tử hoặc có liên quan đến giao dịch điện
tử.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:
1. Giao dịch điện tử
là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.
2. Phương tiện điện tử
là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa
trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền
dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự.
3. Môi trường điện tử
là môi trường mạng viễn thông, mạng Internet, mạng
máy tính, hệ thống thông tin.
4. Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi,
được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
5. Chứng thư điện tử
là giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuận
khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành dưới dạng dữ liệu điện tử.
6. Dữ liệu là ký
hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự khác.
7. Dữ liệu điện tử là
dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
8.[2] (được bãi bỏ)
9. Dữ liệu chủ là
dữ liệu chứa thông tin cơ bản nhất để mô tả một đối tượng cụ thể, làm cơ sở để
tham chiếu, đồng bộ giữa các cơ sở dữ liệu hoặc các tập dữ liệu khác nhau.
10. Cơ sở dữ liệu
là tập hợp các dữ liệu điện tử được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác,
chia sẻ, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử.
11. Chữ ký điện tử
là chữ ký được tạo lập dưới dạng dữ liệu điện tử gắn liền hoặc kết hợp một cách
lô gíc với thông điệp dữ liệu để xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận
của chủ thể đó đối với thông điệp dữ liệu.
12. Chữ ký số là
chữ ký điện tử sử dụng thuật toán khóa không đối xứng, gồm khóa bí mật và khóa
công khai, trong đó khóa bí mật được dùng để ký số và khóa công khai được dùng
để kiểm tra chữ ký số. Chữ ký số bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và tính
chống chối bỏ nhưng không bảo đảm tính bí mật của thông điệp dữ liệu.
13. Chứng thư chữ ký
điện tử là thông điệp dữ liệu nhằm xác nhận
cơ quan, tổ chức, cá nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử. Chứng thư
chữ ký điện tử đối với chữ ký số được gọi là chứng thư chữ ký số.
14. Dịch vụ chứng thực chữ ký số là dịch vụ
do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cung cấp để xác thực chủ thể
ký số trên thông điệp dữ liệu, bảo đảm tính chống chối bỏ của chủ thể ký với
thông điệp dữ liệu và bảo đảm tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu được ký.
15. Dấu thời gian
là dữ liệu điện tử gắn với thông điệp dữ liệu cho phép xác định thời gian của
thông điệp dữ liệu đó tồn tại ở một thời điểm cụ thể.
16. Hợp đồng điện tử
là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu.
17. Người trung gian
là cơ quan, tổ chức, cá nhân đại diện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực
hiện việc gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu hoặc cung cấp dịch vụ khác
liên quan đến thông điệp dữ liệu đó.
Điều 4. Chính sách phát triển
giao dịch điện tử
1. Bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,
cá nhân.
2. Bảo đảm tự nguyện lựa chọn thực hiện giao dịch
điện tử; tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ, phương tiện điện tử, chữ
ký điện tử, hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử để thực hiện giao
dịch điện tử, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Phát triển giao dịch điện tử toàn diện, toàn
trình để thực hiện trọn vẹn từ đầu đến cuối quy trình bằng phương tiện điện tử,
thúc đẩy chuyển đổi số; tối ưu hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý, thuận
tiện hơn so với các phương thức giao dịch khác.
4. Áp dụng đồng bộ cơ chế, biện pháp khuyến
khích, ưu đãi, tạo điều kiện phát triển giao dịch điện tử; ưu tiên đầu tư phát
triển hạ tầng công nghệ, phát triển và ứng dụng công nghệ mới, đào tạo nguồn
nhân lực trong giao dịch điện tử, đặc biệt tại khu
vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn.
Điều 5. Bảo đảm an toàn
thông tin mạng và an ninh mạng trong giao dịch điện tử
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định
của pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về an toàn thông tin mạng, pháp
luật về an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan khi thực hiện
giao dịch điện tử.
2. Thông tin trong thông điệp dữ liệu thuộc phạm
vi bí mật nhà nước phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước
và pháp luật về cơ yếu.
Điều 6. Các hành vi bị
nghiêm cấm trong giao dịch điện tử
1. Lợi dụng giao dịch điện
tử xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
2. Cản trở hoặc ngăn chặn trái pháp luật quá
trình tạo ra, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu hoặc có hành vi khác nhằm
phá hoại hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử.
3. Thu thập, cung cấp, sử dụng, tiết lộ, hiển thị,
phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông điệp dữ liệu.
4. Giả mạo, làm sai lệch hoặc xóa, hủy, sao
chép, di chuyển trái pháp luật một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu.
5. Tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành
vi trái pháp luật.
6. Gian lận, giả mạo, chiếm đoạt hoặc sử dụng
trái pháp luật tài khoản giao dịch điện tử, chứng thư điện tử, chứng thư chữ ký
điện tử, chữ ký điện tử.
7. Cản trở việc lựa chọn thực hiện giao dịch điện
tử.
8. Hành vi khác bị
nghiêm cấm theo quy định của luật.
Chương II
THÔNG ĐIỆP DỮ LIỆU
Mục 1. GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA
THÔNG ĐIỆP DỮ LIỆU
Điều 7. Hình thức thể hiện của
thông điệp dữ liệu
1. Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức
văn bản điện tử, tài liệu điện tử, chứng thư điện tử, chứng từ điện tử, hợp đồng
điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và hình thức trao đổi dữ liệu điện
tử khác theo quy định của pháp luật.
2. Thông điệp dữ liệu được tạo ra, phát sinh
trong quá trình giao dịch hoặc được chuyển đổi từ văn bản giấy.
Điều 8. Giá trị pháp lý của
thông điệp dữ liệu
Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ
nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ
liệu.
Điều 9. Thông điệp dữ liệu
có giá trị như văn bản
1. Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải
được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu nếu
thông tin trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham
chiếu.
2. Trường hợp pháp luật
yêu cầu văn bản phải được công chứng, chứng thực thì thông điệp dữ liệu được
xem là đáp ứng yêu cầu nếu được công chứng theo quy định của pháp luật về công
chứng; chứng thực theo quy định của Luật này và pháp luật về chứng thực.
Điều 10. Thông điệp dữ liệu
có giá trị như bản gốc
Thông điệp dữ liệu được sử dụng và có giá trị
như bản gốc khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
1. Thông tin trong thông điệp dữ liệu được bảo đảm
toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu
hoàn chỉnh.
Thông tin trong thông điệp dữ liệu được xem là
toàn vẹn khi thông tin đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức
phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;
2. Thông tin trong thông điệp dữ liệu có thể
truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh.
Điều 11. Thông điệp dữ liệu
có giá trị dùng làm chứng cứ
1. Thông điệp dữ liệu được dùng làm chứng cứ
theo quy định của Luật này và pháp luật về tố tụng.
2. Giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ
liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc
lưu trữ thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của
thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ
liệu và các yếu tố phù hợp khác.
Điều 12. Chuyển đổi hình thức
giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu
1. Thông điệp dữ liệu được chuyển đổi từ văn bản
giấy phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Thông tin trong thông điệp dữ liệu được bảo đảm
toàn vẹn như văn bản giấy;
b) Thông tin trong thông điệp dữ liệu có thể
truy cập và sử dụng được để tham chiếu;
c) Có ký hiệu
riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu và
thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi;
d) Trường hợp văn bản giấy là giấy phép, giấy chứng
nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuận khác do cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền phát hành thì việc chuyển đổi phải đáp ứng yêu cầu quy định tại
các điểm a, b và c khoản này và phải có chữ ký số của cơ quan, tổ chức thực hiện
chuyển đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Hệ thống thông tin phục
vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ
liệu.
2. Văn bản giấy được chuyển đổi từ thông điệp dữ
liệu phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Thông tin trong văn bản giấy được bảo đảm
toàn vẹn như thông điệp dữ liệu;
b) Có thông tin để xác định được hệ thống thông
tin và chủ quản hệ thống thông tin tạo lập, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu
gốc để tra cứu;
c) Có ký hiệu
riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực
hiện chuyển đổi;
d) Trường hợp thông điệp dữ liệu là chứng thư điện
tử thì việc chuyển đổi phải đáp ứng yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản
này và phải có chữ ký, con dấu (nếu có) của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi
theo quy định của pháp luật. Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính
năng chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy.
3. Giá trị pháp lý của văn bản được chuyển đổi
theo quy định của pháp luật có liên quan.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 13. Hình thức lưu trữ
thông điệp dữ liệu
1. Trường hợp pháp luật yêu cầu văn bản, chứng từ,
hồ sơ, tài liệu hoặc thông tin phải được lưu trữ thì văn bản, chứng từ, hồ sơ,
tài liệu hoặc thông tin đó có thể được lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu khi
đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Thông tin trong thông điệp dữ liệu đó có thể
truy cập và sử dụng được để tham chiếu;
b) Thông tin trong thông điệp dữ liệu đó được
lưu trong chính khuôn dạng được khởi tạo, gửi, nhận hoặc trong khuôn dạng cho
phép thể hiện chính xác thông tin đó;
c) Thông điệp dữ liệu đó được lưu trữ theo một
cách thức nhất định cho phép xác định nguồn gốc khởi tạo, người gửi, người nhận,
thời gian gửi, nhận thông điệp dữ liệu.
2. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, cơ
quan, tổ chức, cá nhân được lựa chọn lưu trữ văn bản, chứng từ, hồ sơ, tài liệu
hoặc thông tin dưới dạng văn bản giấy hoặc lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu
khi thông điệp dữ liệu đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Nội dung, thời hạn lưu trữ đối với thông điệp
dữ liệu được thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ và quy định khác
của pháp luật có liên quan. Việc lưu trữ thông điệp dữ liệu có giá trị như lưu
trữ văn bản giấy.
Mục 2. GỬI, NHẬN THÔNG ĐIỆP
DỮ LIỆU
Điều 14. Người khởi tạo
thông điệp dữ liệu
1. Người khởi tạo thông điệp dữ liệu là cơ quan,
tổ chức, cá nhân tạo hoặc gửi một thông điệp dữ liệu trước khi thông điệp dữ liệu
đó được lưu trữ nhưng không bao gồm người trung gian chuyển thông điệp dữ liệu.
2. Trường hợp các bên tham gia giao dịch không
có thỏa thuận khác thì việc xác định người khởi tạo một thông điệp dữ liệu được
quy định như sau:
a) Thông điệp dữ liệu được xem là của người khởi
tạo nếu được gửi bởi người khởi tạo thông điệp dữ liệu, người đại diện của người
khởi tạo hoặc bởi một hệ thống thông tin được thiết lập để hoạt động tự động do
người khởi tạo chỉ định;
b) Người nhận có thể coi thông điệp dữ liệu là của
người khởi tạo nếu đã áp dụng các phương pháp xác minh được người khởi tạo chấp
thuận và cho kết quả thông điệp dữ liệu đó là của người khởi tạo;
c) Kể từ thời điểm người nhận biết có lỗi kỹ thuật
hoặc nhận được thông báo từ người khởi tạo rằng thông điệp dữ liệu được gửi do
lỗi kỹ thuật và đã sử dụng các phương pháp xác minh lỗi được người khởi tạo chấp
thuận thì không áp dụng quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
3. Trường hợp một bên mắc lỗi nhập thông tin
thông qua hệ thống thông tin tự động mà hệ thống thông tin tự động đó không
cung cấp cho bên đó cơ hội sửa lỗi thì bên mắc lỗi nhập thông tin có quyền rút
lại thông tin đã nhập nếu đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Người khởi tạo mắc lỗi nhập thông tin đã có
thông báo về lỗi nhập thông tin của mình cho các bên liên quan ngay khi nhận ra
lỗi;
b) Người khởi tạo mắc lỗi nhập thông tin chưa sử
dụng hoặc nhận được bất kỳ lợi ích nào (nếu có) từ các bên.
4. Quyền rút thông tin có lỗi quy định tại khoản
3 Điều này không ảnh hưởng đến trách nhiệm giải quyết hậu quả phát sinh do lỗi
trong giao dịch điện tử theo quy định khác của pháp luật có liên quan.
5. Người khởi tạo phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về nội dung thông điệp dữ liệu do mình khởi tạo.
Điều 15. Thời điểm, địa điểm
gửi thông điệp dữ liệu
Trường hợp các bên tham gia giao dịch không có
thỏa thuận khác thì thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu được quy định
như sau:
1. Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời
điểm thông điệp dữ liệu đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của
người khởi tạo hoặc người đại diện của người khởi tạo. Trường hợp hệ thống
thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo hoặc người đại diện của người
khởi tạo, thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu
này nhập vào hệ thống thông tin;
2. Ở bất kỳ địa điểm nào thông điệp dữ liệu được
gửi thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu vẫn được coi là trụ sở của người khởi tạo
nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người khởi tạo nếu
người khởi tạo là cá nhân. Trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ sở thì địa điểm
gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở chính hoặc trụ
sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.
Điều 16. Nhận thông điệp dữ
liệu
1. Người nhận thông điệp dữ liệu là cơ quan, tổ
chức, cá nhân hoặc người đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được chỉ định
nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạo thông điệp dữ liệu nhưng không bao gồm
người trung gian chuyển thông điệp dữ liệu.
2. Trường hợp các bên tham gia giao dịch không
có thỏa thuận khác thì việc nhận thông điệp dữ liệu được quy định như sau:
a) Người nhận được xem là đã nhận được thông điệp
dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ
định và có thể truy cập được;
b) Người nhận có quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu
nhận được là một thông điệp dữ liệu độc lập, trừ trường hợp thông điệp dữ liệu
đó là bản sao của một thông điệp dữ liệu khác mà người nhận biết hoặc buộc phải
biết thông điệp dữ liệu đó là bản sao;
c) Trường hợp trước hoặc trong khi gửi thông điệp
dữ liệu, người khởi tạo có yêu cầu hoặc thỏa thuận với người nhận về việc người
nhận phải gửi cho mình thông báo xác nhận khi nhận được thông điệp dữ liệu thì
người nhận phải thực hiện đúng yêu cầu hoặc thỏa thuận này;
d) Trường hợp trước hoặc trong khi gửi thông điệp
dữ liệu, người khởi tạo đã tuyên bố thông điệp dữ liệu đó chỉ có giá trị khi có
thông báo xác nhận, thông điệp dữ liệu đó được xem là chưa gửi cho đến khi người
khởi tạo nhận được thông báo của người nhận xác nhận đã nhận được thông điệp dữ
liệu đó;
đ) Trường hợp người khởi tạo đã gửi thông điệp dữ
liệu mà không tuyên bố về việc người nhận phải gửi thông báo xác nhận và cũng
chưa nhận được thông báo xác nhận, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản
này, thì người khởi tạo có thể thông báo cho người nhận là chưa nhận được
thông báo xác nhận và ấn định khoảng thời gian hợp lý để người nhận gửi thông
báo xác nhận; nếu người khởi tạo vẫn không nhận được thông báo xác nhận trong
khoảng thời gian đã ấn định thì người khởi tạo có quyền xem là chưa gửi thông
điệp dữ liệu đó.
Điều 17. Thời điểm, địa điểm
nhận thông điệp dữ liệu
Trường hợp các bên tham gia giao dịch không có
thỏa thuận khác thì thời điểm, địa điểm nhận thông điệp dữ liệu được quy định
như sau:
1. Trường hợp người nhận đã chỉ định một hệ thống
thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận là thời điểm thông điệp
dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định và có thể truy cập được; nếu
người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì
thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất
kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận và có thể truy cập được;
2. Ở bất kỳ địa điểm nào thông điệp dữ liệu được
nhận thì địa điểm nhận thông điệp dữ liệu vẫn được coi là trụ sở của người nhận
nếu người nhận là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người nhận nếu người nhận
là cá nhân. Trường hợp người nhận có nhiều trụ sở thì địa điểm nhận thông điệp
dữ liệu là trụ sở chính hoặc trụ sở có mối liên
hệ mật thiết nhất với giao dịch.
Điều 18. Gửi, nhận tự động
thông điệp dữ liệu
Trường hợp người khởi tạo hoặc người nhận chỉ định
một hoặc nhiều hệ thống thông tin tự động gửi hoặc nhận thông điệp dữ liệu thì
việc gửi, nhận thông điệp dữ liệu thực hiện theo quy định tại các điều
14, 15, 16 và 17 của Luật này.
Mục 3. CHỨNG THƯ ĐIỆN TỬ
Điều 19. Giá trị pháp lý của
chứng thư điện tử
1. Thông tin trong chứng thư điện tử có giá trị
pháp lý khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Chứng thư điện tử được ký bằng chữ ký số của
cơ quan, tổ chức phát hành theo quy định của Luật này;
b) Thông tin trong chứng thư điện tử có thể truy
cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh;
c) Trường hợp pháp luật yêu cầu chỉ ra thời gian
liên quan đến chứng thư điện tử thì chứng thư điện tử phải có dấu thời gian.
2. Chứng thư điện tử do cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền của nước ngoài cấp để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam phải được hợp
pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
Điều 20. Chuyển giao chứng
thư điện tử
1. Trường hợp pháp luật cho phép chuyển giao quyền
sở hữu đối với chứng thư điện tử, việc chuyển giao phải đáp ứng đủ các yêu cầu
sau đây:
a) Chứng thư điện tử khẳng định được chủ thể sở
hữu và chỉ chủ thể này đang kiểm soát chứng thư điện tử đó;
b) Yêu cầu quy định tại Điều 10 của
Luật này;
c) Hệ thống thông tin phục vụ việc chuyển giao
chứng thư điện tử phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin mạng tối thiểu
cấp độ 3 theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng;
d) Yêu cầu khác theo quy định của pháp luật có
liên quan.
2. Trường hợp pháp luật yêu cầu hoặc cho phép
chuyển đổi hình thức từ văn bản giấy sang chứng thư điện tử đối với các loại giấy
tờ mà pháp luật cho phép chuyển giao quyền sở hữu và chỉ được tồn tại dưới một
hình thức duy nhất thì văn bản giấy không còn giá trị pháp lý ngay khi việc
chuyển đổi được hoàn thành và đáp ứng yêu cầu quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 12 của Luật này.
3. Trường hợp pháp luật yêu cầu hoặc cho phép
chuyển đổi hình thức từ chứng thư điện tử sang văn bản giấy đối với các loại chứng
thư điện tử mà pháp luật cho phép chuyển giao quyền sở hữu và chỉ được tồn tại
dưới một hình thức duy nhất thì chứng thư điện tử không còn giá trị pháp lý
ngay khi việc chuyển đổi được hoàn thành và đáp ứng yêu cầu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 12 của Luật này.
Điều 21. Yêu cầu đối với
lưu trữ, xử lý chứng thư điện tử
1. Việc lưu trữ chứng thư điện tử phải tuân thủ
quy định về lưu trữ thông điệp dữ liệu tại Điều 13 của Luật này.
2. Hệ thống thông tin phục vụ lưu trữ, xử lý chứng
thư điện tử phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin mạng tối thiểu cấp độ
3 theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng.
Chương III
CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ
TIN CẬY
Mục 1. CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ
Điều 22. Chữ ký điện tử
1. Chữ ký điện tử được phân loại theo phạm vi sử
dụng bao gồm:
a) Chữ ký điện tử chuyên dùng là chữ ký điện tử
do cơ quan, tổ chức tạo lập, sử dụng riêng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức
đó phù hợp với chức năng, nhiệm vụ;
b) Chữ ký số công
cộng là chữ ký số được sử dụng trong hoạt động công cộng và được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số công cộng;
c) Chữ ký số
chuyên dùng công vụ là chữ ký số được sử dụng trong hoạt động công vụ và được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số chuyên
dùng công vụ.
2. Chữ ký điện tử
chuyên dùng phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Xác nhận chủ
thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu;
b) Dữ liệu tạo chữ
ký điện tử chuyên dùng chỉ gắn duy nhất với nội dung của thông điệp dữ liệu được
chấp thuận;
c) Dữ liệu tạo chữ
ký điện tử chuyên dùng chỉ thuộc sự kiểm soát của chủ thể ký tại thời điểm ký;
d) Hiệu lực của
chữ ký điện tử chuyên dùng có thể được kiểm tra theo điều kiện do các bên tham
gia thỏa thuận.
3. Chữ ký số là
chữ ký điện tử đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Xác nhận chủ
thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu;
b) Dữ liệu tạo chữ
ký số chỉ gắn duy nhất với nội dung của thông điệp dữ liệu được chấp thuận;
c) Dữ liệu tạo chữ
ký số chỉ thuộc sự kiểm soát của chủ thể ký tại thời điểm ký;
d) Mọi thay đổi đối
với thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện;
đ) Phải được bảo
đảm bởi chứng thư chữ ký số. Trường hợp chữ ký số chuyên dùng công vụ phải được
bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký
số chuyên dùng công vụ. Trường hợp chữ ký số công cộng phải được bảo đảm bởi chứng
thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;
e) Phương tiện tạo
chữ ký số phải bảo đảm dữ liệu tạo
chữ ký số không bị tiết lộ, thu thập, sử
dụng cho mục đích giả mạo chữ ký; bảo đảm dữ liệu được dùng để tạo chữ ký số chỉ có thể sử dụng một lần duy nhất; không
làm thay đổi dữ liệu cần ký.
4. Việc sử dụng
các hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử để thể hiện sự chấp thuận
của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu mà không phải là chữ ký điện tử thực
hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 23. Giá trị pháp lý của
chữ ký điện tử
1. Chữ ký điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp
lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng chữ ký điện tử.
2. Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp
lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.
3. Trường hợp pháp luật quy định văn bản phải được
cơ quan, tổ chức xác nhận thì yêu cầu đó được xem là đáp ứng đối với một thông
điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số của cơ quan, tổ
chức đó.
Điều 24. Dịch vụ chứng thực
chữ ký số chuyên dùng công vụ
1. Dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công
vụ là dịch vụ chứng thực chữ ký số trong hoạt động công vụ.
2. Chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ được
quản lý, cung cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng
công vụ theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật về cơ yếu.
3. Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số
chuyên dùng công vụ thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Phát hành chứng thư chữ ký số chuyên dùng
công vụ để xác nhận và duy trì trạng thái hiệu lực chứng thư chữ ký số chuyên
dùng công vụ của chủ thể ký thông điệp dữ liệu;
b) Thu hồi chứng thư chữ ký số chuyên dùng công
vụ;
c) Kiểm tra hiệu lực chữ ký số chuyên dùng công
vụ và duy trì trạng thái hiệu lực của chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ;
không sử dụng rào cản kỹ thuật, công nghệ để hạn chế việc kiểm tra hiệu lực chữ
ký số chuyên dùng công vụ;
d) Cung cấp thông tin cần thiết để chứng thực chữ
ký số chuyên dùng công vụ;
đ) Liên thông với tổ
chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia để bảo đảm cho việc kiểm tra hiệu lực chữ ký số
chuyên dùng công vụ;
e) Cấp dấu thời gian trong hoạt động công vụ.
4. Chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ, chữ
ký số chuyên dùng công vụ phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật đối
với chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 25. Sử dụng chữ ký điện
tử chuyên dùng, chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn
1. Cơ quan, tổ chức tạo lập chữ ký điện tử
chuyên dùng không được kinh doanh dịch vụ về chữ ký điện tử chuyên dùng.
2. Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn là
chữ ký điện tử chuyên dùng được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp chứng nhận chữ
ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn.
3. Trường
hợp cơ quan, tổ chức sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng để giao dịch với tổ chức,
cá nhân khác hoặc có nhu cầu công nhận chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an
toàn thì đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông để được cấp chứng nhận chữ ký
điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 26. Công nhận tổ chức
cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước ngoài; công nhận chữ ký điện tử,
chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài
1. Điều kiện công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ chứng
thực chữ ký điện tử nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:
a) Thành lập và hoạt động hợp pháp tại quốc gia
đăng ký hoạt động; có báo cáo kiểm toán kỹ thuật của hệ thống cung cấp dịch vụ
chứng thực chữ ký điện tử từ tổ chức kiểm toán hoạt động hợp pháp tại quốc gia
đăng ký hoạt động;
b) Chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký
điện tử nước ngoài do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước
ngoài cung cấp phải phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chữ ký điện tử,
chứng thư chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn
quốc tế đã được thừa nhận hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên;
c) Chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài do tổ chức
cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước ngoài cung cấp hình thành dựa
trên thông tin định danh đầy đủ đã được xác thực của tổ chức, cá nhân nước
ngoài;
d) Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện
tử nước ngoài phải cập nhật trạng thái của chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài
vào hệ thống chứng thực dịch vụ tin cậy của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam;
đ) Có văn phòng đại diện tại Việt Nam.
2. Điều kiện công nhận chữ ký điện tử nước
ngoài, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:
a) Chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký
điện tử nước ngoài phải phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chữ ký điện
tử, chứng thư chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn
quốc tế đã được thừa nhận hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài hình
thành dựa trên thông tin định danh đầy đủ đã được xác thực của tổ chức, cá nhân
nước ngoài.
3. Đối tượng sử dụng chữ ký điện tử nước ngoài,
chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài được công nhận theo quy định tại khoản 2 Điều
này là tổ chức, cá nhân nước ngoài; tổ chức, cá nhân Việt Nam có nhu cầu giao dịch
điện tử với tổ chức, cá nhân nước ngoài mà chữ ký điện tử, chứng thư chữ ký điện
tử của tổ chức cung cấp dịch vụ trong nước chưa được công nhận tại nước đó.
4. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định
chi tiết việc công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước
ngoài tại Việt Nam; công nhận chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký điện
tử nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 27. Chữ ký điện tử nước
ngoài, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài được chấp nhận trong giao dịch quốc
tế
1. Chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký
điện tử nước ngoài được chấp nhận trong giao dịch quốc tế là chữ ký điện tử nước
ngoài, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài của tổ chức, cá nhân nước ngoài
không hiện diện tại Việt Nam, có hiệu lực trên thông điệp dữ liệu gửi đến tổ chức,
cá nhân Việt Nam.
2. Tổ chức, cá nhân lựa chọn và chịu trách nhiệm
về việc chấp nhận chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký điện tử nước
ngoài trên thông điệp dữ liệu trong giao dịch quốc tế.
Mục 2. DỊCH VỤ TIN CẬY
Điều 28. Dịch vụ tin cậy
1. Dịch vụ tin cậy bao gồm:
a) Dịch vụ cấp dấu thời gian;
b) Dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu;
c) Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng.
2. Dịch vụ tin cậy là ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện.
3. Tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy phải có giấy
phép kinh doanh dịch vụ do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp, trừ dịch vụ chứng
thực hợp đồng điện tử trong thương mại. Tổ chức được quyền đăng ký một hoặc các
dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này. Thời hạn của giấy phép kinh doanh dịch vụ
tin cậy là 10 năm.
Tổ chức cung cấp
dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại phải đáp ứng điều
kiện hoạt động cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử theo quy định của
pháp luật về thương mại điện tử và điều kiện kinh doanh dịch vụ tin cậy theo
quy định tại Điều 29 của Luật này.
4. Chính phủ quy
định chi tiết hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy; quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp, gia hạn, thay đổi,
cấp lại, tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy và các nội
dung khác quy định tại Điều này.
Điều 29. Điều kiện kinh
doanh dịch vụ tin cậy
1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ tin cậy bao gồm:
a) Là doanh nghiệp
được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Đáp ứng điều kiện tài chính, nhân lực quản lý
và kỹ thuật phù hợp với từng loại dịch vụ tin cậy quy định tại khoản
1 Điều 28 của Luật này;
c) Hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ tin cậy
đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin mạng tối thiểu cấp độ 3 theo quy định
của pháp luật về an toàn thông tin mạng;
d) Có phương án kỹ thuật phục vụ hoạt động cung
cấp dịch vụ phù hợp với từng loại dịch vụ tin cậy quy định tại khoản
1 Điều 28 của Luật này;
đ) Có phương án sẵn sàng kết nối kỹ thuật phục vụ
giám sát, kiểm tra, báo cáo số liệu bằng phương tiện điện tử đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước về dịch vụ tin cậy.
2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.
Điều 30. Trách nhiệm của tổ
chức cung cấp dịch vụ tin cậy
1. Công bố công khai quy trình đăng ký sử dụng dịch
vụ, biểu mẫu và chi phí liên quan.
2. Bảo đảm kênh tiếp nhận thông tin và cung cấp
dịch vụ liên tục 24 giờ trong ngày và 07 ngày trong tuần.
3. Thực hiện chế độ lưu trữ hồ sơ, tài liệu và kết
nối, cung cấp thông tin, số liệu báo cáo bằng phương tiện điện tử theo quy định
của pháp luật.
4. Bảo đảm trang thiết bị trong hệ thống thông
tin được cấp mã quản lý, sẵn sàng kết nối kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà
nước về dịch vụ tin cậy.
5. Thực hiện biện pháp nghiệp vụ, tạm dừng, chấm
dứt cung cấp dịch vụ hoặc biện pháp nghiệp vụ khác theo yêu cầu của cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
6. Thực hiện trách nhiệm của chủ quản hệ thống
thông tin phục vụ cung cấp dịch vụ tin cậy đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn
thông tin mạng tối thiểu cấp độ 3 theo quy định của pháp luật về an toàn thông
tin mạng.
7. Định kỳ hằng năm, báo cáo về hoạt động cung cấp
dịch vụ tin cậy theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
8.
Nộp phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư chữ ký số theo
quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Điều 31. Dịch vụ cấp dấu thời
gian
1. Dịch vụ cấp dấu thời gian là dịch vụ để gắn
thông tin về thời gian vào thông điệp dữ liệu.
2. Dấu thời gian được tạo ra dưới dạng chữ ký số.
3. Thời gian được gắn vào thông điệp dữ liệu là
thời gian mà tổ chức cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian nhận được thông điệp dữ
liệu đó và được chứng thực bởi tổ chức cung cấp dịch vụ cấp dấu thời gian.
4. Nguồn thời gian của tổ chức cung cấp dịch vụ
cấp dấu thời gian phải theo quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc
gia.
Điều 32. Dịch vụ chứng thực
thông điệp dữ liệu
Dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu bao gồm:
1. Dịch vụ lưu trữ và xác nhận tính toàn vẹn của
thông điệp dữ liệu;
2. Dịch vụ gửi, nhận thông điệp dữ liệu bảo đảm.
Điều 33. Dịch vụ chứng thực
chữ ký số công cộng
1. Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng là dịch
vụ chứng thực chữ ký số trong hoạt động công cộng.
2. Chứng thư chữ ký số công cộng được cung cấp bởi
tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng theo quy định của Luật
này.
3. Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số
công cộng thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Phát hành chứng thư chữ ký số công cộng để
xác nhận và duy trì trạng thái hiệu lực chứng thư chữ ký số công cộng của chủ
thể ký thông điệp dữ liệu;
b) Thu hồi chứng thư chữ ký số công cộng;
c) Kiểm tra hiệu lực chữ ký số công cộng và duy
trì trạng thái hiệu lực của chứng thư chữ ký số công cộng; không sử dụng rào cản
kỹ thuật, công nghệ để hạn chế việc kiểm tra hiệu lực chữ ký số công cộng;
d) Cung cấp thông tin cần thiết để chứng thực chữ
ký số công cộng;
đ) Liên thông với tổ
chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử quốc gia để bảo đảm cho việc kiểm
tra hiệu lực chữ ký số công cộng.
4. Chứng thư chữ ký số công cộng, chữ ký số công
cộng phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật đối với chữ ký số và dịch
vụ chứng thực chữ ký số theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương IV
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG ĐIỆN TỬ
Điều 34. Hợp đồng điện tử
1. Hợp đồng điện tử được giao kết hoặc thực hiện
từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với người hoặc giữa các hệ
thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không
có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ
thống thông tin tự động thực hiện hay vào hợp đồng.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban
hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về giao kết
và thực hiện hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
được phân công, phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Điều 35. Giao kết hợp đồng
điện tử
1. Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng
thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình
giao kết hợp đồng điện tử.
2. Đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng
điện tử được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác.
Điều 36. Nguyên tắc giao kết
và thực hiện hợp đồng điện tử
1. Các bên có quyền thỏa thuận sử dụng thông điệp
dữ liệu, phương tiện điện tử một phần hoặc toàn bộ trong giao kết và thực hiện
hợp đồng điện tử.
2. Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử,
các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn,
bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.
3. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
phải tuân thủ quy định của Luật này, quy định của pháp luật về hợp đồng và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 37. Việc nhận, gửi, thời
điểm, địa điểm nhận, gửi thông điệp dữ liệu trong giao kết và thực hiện hợp đồng
điện tử
Việc nhận, gửi, thời điểm, địa điểm nhận, gửi
thông điệp dữ liệu trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử được thực hiện
theo quy định tại các điều 15, 16, 17 và 18 của Luật này.
Điều 38. Giá trị pháp lý của
thông báo trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
Trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử,
thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý như thông báo bằng
văn bản giấy.
Chương V
GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ CỦA CƠ
QUAN NHÀ NƯỚC
Điều 39. Các loại hình giao
dịch điện tử của cơ quan nhà nước
1. Giao dịch điện tử trong nội bộ cơ quan nhà nước.
2. Giao dịch điện tử giữa các cơ quan nhà nước với
nhau.
3. Giao dịch điện tử giữa cơ quan nhà nước với
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 40. Quản lý dữ liệu,
cơ sở dữ liệu dùng chung
1. Dữ liệu trong cơ quan nhà nước được tổ chức
thống nhất, được phân cấp quản lý theo trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước
nhằm thúc đẩy giao dịch điện tử; được chia sẻ phục vụ hoạt động của cơ quan nhà
nước, người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
2. Cơ sở dữ liệu dùng chung trong cơ quan nhà nước
bao gồm cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương.
3. Việc quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia được quy
định như sau:
a) Cơ sở dữ liệu quốc gia chứa dữ liệu chủ làm cơ
sở tham chiếu, đồng bộ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa
phương;
b) Dữ liệu chủ trong cơ sở dữ liệu quốc gia có
giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy được cơ quan có thẩm quyền
cung cấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
c) Dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia được
chia sẻ với Bộ, ngành, địa phương phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cải
cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp và
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội;
d) Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục cơ sở
dữ liệu quốc gia. Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia phải thể hiện được các nội
dung cơ bản sau đây: tên cơ sở dữ liệu quốc gia; mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu
quốc gia; phạm vi dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia; thông tin về dữ liệu chủ
của cơ sở dữ liệu quốc gia được lưu trữ và chia sẻ; đối tượng và mục đích sử dụng,
khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia; nguồn thông tin được xây dựng và cập nhật vào
cơ sở dữ liệu quốc gia; phương thức chia sẻ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia;
đ) Chính phủ quy định việc xây dựng, cập nhật,
duy trì và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia; quy định việc chia sẻ cơ
sở dữ liệu quốc gia với cơ sở dữ liệu của cơ quan khác của Nhà nước.
4. Việc quản lý cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa
phương được quy định như sau:
a) Cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương là tập
hợp thông tin dùng chung của Bộ, ngành, địa phương;
b) Dữ liệu chủ trong cơ sở dữ liệu của Bộ,
ngành, địa phương có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy do Bộ,
ngành, địa phương cung cấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
c) Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định danh mục
cơ sở dữ liệu; việc xây dựng, cập nhật, duy trì và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương mình. Danh
mục cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương phải thể hiện được các nội dung cơ
bản sau đây: tên cơ sở dữ liệu; mô tả mục đích, phạm vi, nội dung của từng cơ sở
dữ liệu; cơ chế thu thập, cập nhật, nguồn dữ liệu được thu thập của từng cơ sở
dữ liệu; liệt kê các hạng mục dữ liệu bao gồm dữ liệu mở và dữ liệu được chia sẻ.
5. Nhà nước bảo đảm một phần hoặc toàn bộ kinh
phí xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa
phương, cơ quan khác của Nhà nước.
Điều 42. Kết nối, chia sẻ dữ
liệu
1. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo đảm khả
năng sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, phục vụ
giao dịch điện tử bao gồm:
a) Nhân lực thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu
bao gồm nguồn nhân lực tại chỗ đang thực hiện quản lý, vận hành các hệ thống
thông tin hoặc nhân lực khác có liên quan trong cơ quan nhà nước; trường hợp
nhân lực tại chỗ không đáp ứng được thì được thuê chuyên gia;
b) Dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử
dụng ngân sách nhà nước để xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trong
cơ quan nhà nước phải có hạng mục phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu. Trường hợp
không có hạng mục này, phải có thuyết minh chứng minh về việc không có hoạt động
kết nối, chia sẻ dữ liệu trong quá trình vận hành, khai thác;
c) Ban hành và công bố công khai quy chế khai
thác, sử dụng dữ liệu đối với cơ sở dữ liệu thuộc thẩm quyền quản lý;
d) Áp dụng biện pháp bảo đảm an toàn thông tin mạng,
an ninh mạng, bảo mật dữ liệu trong quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy
định của pháp luật.
2.
Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, cơ quan nhà nước có trách nhiệm kết
nối, chia sẻ dữ liệu với cơ quan, tổ chức khác; không cung cấp thông tin qua
hình thức văn bản giấy đối với thông tin đã được khai thác qua hình thức kết nối,
chia sẻ giữa các hệ thống thông tin; không thu phí việc chia sẻ dữ liệu giữa
các cơ quan nhà nước.
3. Cơ quan nhà nước phải áp dụng phương thức kết
nối, chia sẻ dữ liệu trực tuyến trên môi trường mạng giữa các hệ thống thông
tin của cơ quan cung cấp dữ liệu và cơ quan, tổ chức khai thác dữ liệu, trừ trường
hợp thông tin liên quan đến bí mật nhà nước hoặc yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an
ninh. Trường hợp không áp dụng phương thức kết nối, chia sẻ dữ liệu trực tuyến,
phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
4. Cơ quan nhà nước áp dụng mô hình kết nối,
chia sẻ dữ liệu theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a)[4] Kết nối, chia sẻ qua các hệ thống
trung gian bao gồm: Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm dữ liệu
quốc gia; Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; hạ tầng kết nối, chia sẻ
dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh theo Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số;
b) Kết nối trực tiếp giữa các hệ thống thông tin,
cơ sở dữ liệu khi các hệ thống trung gian chưa sẵn sàng hoặc cơ quan chủ quản hệ
thống trung gian xác định hệ thống trung gian không đáp ứng được yêu cầu về kết
nối, chia sẻ dữ liệu.
5. Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số quy định
tại điểm a khoản 4 Điều này bao gồm Khung kiến trúc Chính phủ điện tử, Chính phủ
số; khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức.
6. Chính phủ quy định chi tiết về kết nối, chia
sẻ dữ liệu; Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
Điều 43. Dữ liệu mở của cơ
quan nhà nước
1. Dữ liệu mở của cơ quan nhà nước là dữ liệu được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố rộng rãi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tự
do sử dụng, tái sử dụng, chia sẻ. Cơ quan nhà nước công bố dữ liệu mở để cơ
quan, tổ chức, cá nhân tự do sử dụng, tái sử dụng, chia sẻ nhằm thúc đẩy giao dịch
điện tử, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số.
2. Dữ liệu mở phải toàn vẹn và phản ánh đầy đủ
thông tin do cơ quan nhà nước cung cấp, được cập nhật mới nhất, có khả năng
truy cập và sử dụng trên mạng Internet, bảo đảm khả năng thiết bị số có thể gửi,
nhận, lưu trữ và xử lý được, tuân thủ định dạng mở và miễn phí.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự do truy cập
sử dụng dữ liệu mở, không yêu cầu khai báo định danh khi khai thác, sử dụng dữ
liệu mở.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép tự do sao
chép, chia sẻ, trao đổi, sử dụng dữ liệu mở hoặc kết hợp dữ liệu mở với dữ liệu
khác; sử dụng dữ liệu mở vào sản phẩm, dịch vụ thương mại hoặc phi thương mại của
mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải trích dẫn, ghi
nhận thông tin sử dụng dữ liệu mở trong sản phẩm, dịch vụ, tài liệu liên quan
có sử dụng dữ liệu mở.
6. Cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm về bất
kỳ thiệt hại nào của cơ quan, tổ chức, cá nhân phát sinh do việc sử dụng dữ liệu
mở gây ra.
7. Chính phủ quy định chi tiết về dữ liệu mở và
điều kiện bảo đảm thực hiện quy định tại Điều này.
Điều 44. Hoạt động của cơ
quan nhà nước trên môi trường điện tử
1. Cơ quan nhà nước phải bảo đảm kết quả giải
quyết thủ tục hành chính hoặc kết quả hoạt động công vụ khác không thuộc phạm
vi bí mật nhà nước đều có văn bản điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy,
có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh. Cơ quan nhà nước phải tiếp
nhận, giải quyết yêu cầu của tổ chức, cá nhân trên môi trường điện tử, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
2. Các lĩnh vực hoạt động của cơ quan nhà nước
ưu tiên thực hiện toàn trình trên môi trường điện tử bao gồm: cung cấp dịch vụ
công; công tác quản trị nội bộ; chỉ đạo, điều hành; giám sát, kiểm tra, thanh
tra.
3. Cơ quan nhà nước phải sẵn sàng phương án
trong tình huống khẩn cấp, trong tình huống xảy ra sự cố gián đoạn hoạt động
trên môi trường mạng trực tuyến và phương án ứng cứu, khắc phục sự cố, duy trì
hoạt động giao dịch bình thường.
4. Cơ quan nhà nước được thuê chuyên gia từ ngân
sách nhà nước hằng năm theo quy định của pháp luật để tư vấn xây dựng cơ sở dữ
liệu; thực hiện các hoạt động chuyên môn kỹ thuật về quản lý, vận hành, bảo đảm
an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử của cơ
quan nhà nước.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương VI
HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC
VỤ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ
Điều 45. Hệ thống thông tin
phục vụ giao dịch điện tử
1. Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện
tử là tập hợp phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu được thiết lập với chức
năng, tính năng chính để phục vụ giao dịch điện tử, bảo đảm xác thực, tin cậy
trong giao dịch điện tử.
Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử được
phân loại theo chủ quản hệ thống thông tin; chức năng, tính năng của hệ thống
thông tin phục vụ giao dịch điện tử; quy mô, số lượng người sử dụng tại Việt
Nam hoặc số lượng truy cập hằng tháng từ người sử dụng tại Việt Nam.
2. Nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử là hệ
thống thông tin quy định tại khoản 1 Điều này tạo môi trường điện tử cho phép
các bên thực hiện giao dịch hoặc cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc sử dụng
để phát triển sản phẩm, dịch vụ.
3. Nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện
tử là nền tảng số quy định tại khoản 2 Điều này mà chủ quản nền tảng số độc lập
với các bên thực hiện giao dịch.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 46. Tài khoản giao dịch
điện tử
1. Tài khoản giao dịch điện tử do chủ quản hệ thống
thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấp và được quản lý, sử dụng theo quy định
của Luật này.
2. Tài khoản giao dịch điện tử được sử dụng để
thực hiện giao dịch điện tử, nhằm lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính
xác trình tự giao dịch của chủ tài khoản, có giá trị chứng minh lịch sử giao dịch
của các bên tham gia theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử
dụng tài khoản giao dịch điện tử phù hợp với nhu cầu, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
4. Lịch sử giao dịch của tài khoản giao dịch điện
tử có giá trị pháp lý để chứng minh giao dịch khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau
đây:
a) Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử
phải bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng;
b) Gắn duy nhất với một cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân là chủ tài khoản giao dịch điện tử;
c) Bảo đảm chính xác thời gian giao dịch từ nguồn
thời gian theo quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc gia.
Điều 47. Trách nhiệm của chủ
quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử
1. Chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch
điện tử có trách nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ quy định của Luật này và pháp luật về
an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, bảo vệ thông tin cá nhân, bảo vệ dữ liệu
cá nhân và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Cung cấp thông tin bằng phương tiện điện tử
theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ công tác đo lường, thống kê, giám sát,
thanh tra, kiểm tra, báo cáo theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về giao
dịch điện tử; chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch điện tử;
c) Giám sát an toàn hệ thống thông tin phục vụ
giao dịch điện tử của mình theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng.
2. Chủ quản nền tảng số trung gian quy mô lớn phục
vụ giao dịch điện tử có trách nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Công bố công khai, phổ biến cơ chế phản ánh
vướng mắc và xử lý vướng mắc phát sinh trong giao dịch điện tử;
c) Công bố công khai, phổ biến cơ chế phản ánh
và xử lý nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam trên nền tảng số trung gian từ nguồn
phản ánh được đánh giá là tin cậy;
d) Định kỳ hằng năm, báo cáo theo hướng dẫn của
Bộ Thông tin và Truyền thông về vụ việc đã xảy ra hoặc vụ việc có dấu hiệu,
nguy cơ lợi dụng hệ thống thông tin để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt
Nam.
3. Chủ quản nền tảng số trung gian quy mô rất lớn
phục vụ giao dịch điện tử có trách nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Công bố công khai nguyên tắc chung, thông số
hoặc tiêu chí được sử dụng để đưa ra khuyến nghị hiển thị nội dung, hiển thị quảng
cáo cho người sử dụng và cho phép người sử dụng lựa chọn phương án không sử dụng
khuyến nghị hiển thị nội dung, hiển thị quảng cáo dựa trên phân tích dữ liệu về
người sử dụng;
c) Cho phép người sử dụng tháo gỡ cài đặt bất kỳ
ứng dụng nào được cài đặt sẵn mà không ảnh hưởng đến các tính năng kỹ thuật cơ
bản để hệ thống vận hành bình thường;
d) Công bố công khai và phổ biến bộ quy tắc ứng
xử áp dụng đối với các bên liên quan tham gia sử dụng hệ thống.
4. Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm của
chủ quản nền tảng số trung gian tại khoản 2 và khoản 3 Điều này phù hợp với quy
mô, số lượng người sử dụng tại Việt Nam hoặc số lượng truy cập từ người sử dụng
tại Việt Nam.
Điều 48. Báo cáo, tổng hợp,
chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch điện tử
1. Cơ quan nhà nước quản lý công tác báo cáo, tổng
hợp, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch điện tử theo quy định
của pháp luật, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông thiết lập, vận
hành hệ thống tiếp nhận, tổng hợp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giao dịch
điện tử của cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này theo quy định của
Chính phủ; chủ trì xây dựng, ban hành hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành quy định về kỹ thuật đối với mô hình tham chiếu kết nối phục vụ chia sẻ
dữ liệu bằng phương tiện điện tử, định danh thiết bị, tiêu chí tín nhiệm mạng của
hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử.
Chương VII
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO
DỊCH ĐIỆN TỬ
Điều 49. Nội dung quản lý
nhà nước về giao dịch điện tử
1. Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chiến
lược, kế hoạch và chính sách phát triển giao dịch điện tử; văn bản quy phạm pháp
luật về giao dịch điện tử; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu kỹ thuật, định
mức kinh tế - kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, dịch vụ trong giao dịch điện tử.
2. Quản lý công tác báo cáo, đo lường, thống kê
hoạt động giao dịch điện tử; quản lý việc giám sát an toàn hệ thống thông tin
phục vụ giao dịch điện tử của chủ quản hệ thống thông tin.
3. Quản lý dịch vụ tin cậy.
4. Quản lý, tổ chức việc xây
dựng, khai thác và phát triển hạ tầng chứng thực điện tử quốc gia; việc phát
hành, thu hồi chứng thư chữ ký số.
5. Quy định việc liên thông giữa các hệ thống
cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng và chữ ký số chuyên dùng công vụ.
6. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật
trong giao dịch điện tử.
7. Quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển
nguồn nhân lực, chuyên gia trong giao dịch điện tử.
8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm pháp luật về giao dịch điện tử.
9. Hợp tác quốc tế về giao dịch điện tử.
Điều 50. Trách nhiệm quản
lý nhà nước về giao dịch điện tử
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giao
dịch điện tử.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan đầu mối
chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ
quan ngang Bộ thực hiện quản lý nhà nước về giao dịch điện tử.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về giao dịch
điện tử trong lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân
công.
4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà
nước về giao dịch điện tử trong lĩnh vực cơ yếu, chữ ký số chuyên dùng công vụ
trên cơ sở tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chữ ký số theo quy định của
pháp luật.
Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[5]
Điều 51. Sửa đổi, bổ sung,
thay thế, bãi bỏ một số điều của các luật có liên quan
1. Sửa đổi, bổ sung mục 119 thuộc Phụ lục IV - Danh mục ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư số
61/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 72/2020/QH14, Luật
số 03/2022/QH15, Luật số 05/2022/QH15, Luật số 08/2022/QH15 và Luật số 09/2022/QH15 như sau:
|
119
|
Kinh doanh dịch vụ tin cậy
|
2. Sửa đổi, bổ
sung mục 7 thuộc Phần VI - Phí thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông trong
Danh mục Phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
09/2017/QH14, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 72/2020/QH14 và Luật số
16/2023/QH15 như sau:
|
7
|
Phí dịch vụ duy
trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư chữ ký số
|
Bộ Tài chính
|
3. Thay thế cụm từ
“hệ thống chứng thực chữ ký số chuyên dùng” bằng cụm từ “hệ thống chứng thực chữ
ký số chuyên dùng công vụ” tại khoản 3 Điều 19 của Luật Tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 47/2019/QH14.
4. Bãi bỏ Điều 58 và Điều 59 của
Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14.
Điều 52. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
2. Luật Giao dịch điện tử số
51/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp quy định tại Điều 53 của Luật này.
Điều 53. Quy định chuyển tiếp
1.
Giao dịch điện tử được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và đến
ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện xong thì được tiếp tục thực
hiện theo quy định của Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 và các văn bản
quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11, trừ
trường hợp các bên thỏa thuận áp dụng quy định của Luật này.
2. Chứng thư số được cấp trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành và đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành vẫn còn hiệu lực
thì được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Giao dịch điện tử số
51/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật Giao dịch
điện tử số 51/2005/QH11 đến hết thời hạn của chứng thư số và có giá trị tương
đương chứng thư chữ ký số theo quy định của Luật này.
3.
Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, Giấy phép sử dụng chứng
thư số nước ngoài tại Việt Nam, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của tổ chức
cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng, Giấy chứng nhận đủ điều kiện
đảm bảo an toàn cho chữ ký số chuyên dùng đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành và đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành vẫn còn hiệu lực thì được
tiếp tục sử dụng đến hết thời hạn của giấy phép, giấy chứng nhận.
Việc cấp chứng thư số theo giấy phép, giấy chứng
nhận quy định tại khoản này được thực hiện theo quy định của Luật Giao dịch điện
tử số 51/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật
Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11.
4. Đối với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép cung cấp
dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, Giấy phép sử dụng chứng thư số nước
ngoài tại Việt Nam, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của tổ chức cung cấp dịch
vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng, Giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an
toàn cho chữ ký số chuyên dùng đã nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng
đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được cấp giấy phép, giấy chứng nhận
thì được tiếp tục áp dụng quy định của Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11
và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật Giao dịch điện tử số
51/2005/QH11.
5. Xác nhận đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ
chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại đã được cấp trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2027.
6. Đối với hồ sơ đăng ký hoạt động cung cấp dịch
vụ chứng thực hợp đồng điện tử trong thương mại đã nộp cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền nhưng đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được xác nhận đăng
ký thì được tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật về thương mại điện tử.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này./.
|
|
XÁC THỰC VĂN
BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1]
Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Dữ liệu.”.
[2]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 44 của Luật Dữ liệu
số 60/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 44 của Luật Dữ liệu
số 60/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 44 của Luật
Dữ liệu số 60/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5]
Điều 45 của Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025 quy định như sau:
“Điều 45. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.