|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 05VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 05 tháng 02
năm 2026
|
LUẬT
KHOA
HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15
ngày 27 tháng
6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025, được sửa
đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm
2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
2. Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 ngày 11
tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo.[1]
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
chính sách, biện pháp bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới
sáng tạo.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp
tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo quy định
của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và
phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
2. Công nghệ là tập hợp các giải pháp kỹ thuật, quy trình, công cụ,
bao gồm cả bí quyết, được tạo ra bởi ứng dụng tri thức khoa học, kinh nghiệm để
biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
3. Đổi mới sáng tạo là hoạt động tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới,
quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với sản phẩm, dịch
vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có.
4. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm:
a) Nghiên cứu cơ bản;
b) Nghiên cứu ứng dụng;
c) Phát triển công nghệ; phát triển giải pháp xã hội;
d) Sản xuất thử nghiệm;
đ) Ứng dụng, chuyển giao công nghệ;
e) Đổi mới sáng tạo dựa trên đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng
cao hiệu suất công nghệ;
g) Khởi nghiệp sáng tạo;
h) Cung cấp dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
i) Hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, sáng tạo tri thức và hoạt động
liên quan khác.
5. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là hình thức
tổ chức công việc để giải quyết các vấn đề về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
6. Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
7. Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu khoa học sử dụng
tri thức khoa học để tạo ra giải pháp phục vụ nhu cầu thực tiễn trong sản xuất,
kinh doanh, đời sống kinh tế - xã hội.
8. Phát triển công nghệ là quá trình vận dụng kết quả nghiên cứu
khoa học và kinh nghiệm để thiết kế, thử nghiệm, hoàn thiện và chuẩn hóa quy
trình kỹ thuật nhằm tạo ra công nghệ mới hoặc cải tiến công nghệ, phù hợp với
điều kiện ứng dụng thực tiễn.
9. Phát triển giải pháp xã hội là việc phát triển, triển khai
sáng kiến hoặc giải pháp mới nhằm giải quyết hiệu quả và bền vững vấn đề xã hội,
cộng đồng và môi trường góp phần tạo ra giá trị xã hội.
10. Sản xuất thử nghiệm là việc sản xuất thử sản phẩm mới trong
điều kiện sản xuất thực tế nhằm kiểm tra chất lượng, chi phí và khả năng thương
mại hóa trước khi triển khai sản xuất thương mại.
11. Khởi nghiệp sáng tạo là quá trình hình thành, phát triển mô
hình kinh doanh sáng tạo dựa trên công nghệ, ý tưởng đột phá hoặc mô hình kinh
doanh mới, do cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, nhằm tạo ra giá trị
mới, giải quyết vấn đề thị trường hoặc kinh tế - xã hội.
12. Dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là hoạt
động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động đổi
mới sáng tạo, hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.
13. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo là hoạt động cung cấp nguồn lực, dịch vụ cho đổi mới sáng tạo,
bao gồm: sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hạ tầng kỹ thuật,
không gian làm việc, pháp lý, thông tin thị trường, tài chính, thương mại, truyền
thông, kết nối đầu tư và hỗ trợ cần thiết khác.
14. Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo là hoạt động quy định tại khoản
13 Điều này để cung cấp nguồn lực, dịch vụ cho khởi nghiệp sáng tạo.
15. Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức được thành lập theo
quy định của pháp luật để thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
hoặc cung cấp dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
16. Trung tâm nghiên cứu và phát triển là tổ chức chuyên thực hiện
hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được công nhận theo tiêu
chí năng lực và kết quả hoạt động.
17. Trung tâm đổi mới sáng tạo là tổ chức thực hiện, hỗ trợ hoạt
động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, được công nhận theo tiêu chí năng
lực và kết quả hoạt động.
18. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp triển khai
mô hình kinh doanh sáng tạo, có khả năng tăng trưởng nhanh và mở rộng quy mô thị
trường dựa trên khai thác hiệu quả công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, ý tưởng đột
phá hoặc mô hình kinh doanh mới.
19. Nền tảng số quản lý khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia là hệ
thống số hóa phục vụ quản lý nhà nước, theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu
quả triển khai hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên phạm vi
toàn quốc.
20. Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo là hạ tầng số phục vụ lưu trữ, chia sẻ, phổ biến, khai thác và sử
dụng công khai kết quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho tổ
chức, cá nhân trong xã hội.
21. Hệ thống đổi mới sáng tạo là tổng thể các chủ thể và mối liên
kết giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu, tổ chức trung gian, cơ
quan nhà nước, cộng đồng và hệ thống thiết chế để thúc đẩy việc tạo ra hoặc cải
tiến sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu suất, giá trị gia
tăng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống.
Điều 4. Áp dụng Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Trường hợp Luật này có quy định khác với luật, nghị quyết khác của Quốc
hội về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì áp dụng quy định của Luật này,
trừ trường hợp luật, nghị quyết khác của Quốc hội có quy định cơ chế, chính
sách ưu tiên, ưu đãi hoặc thuận lợi hơn thì Chính phủ quyết định việc áp dụng
cơ chế, chính sách đó.
Điều 5. Nguyên tắc trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo
1. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và dự báo xu hướng phát triển; phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao chất lượng
cuộc sống, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; lấy con người làm trung
tâm, tôn trọng quyền con người.
2. Nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo
và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến con người phải bảo đảm tuân thủ quy định
của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và bảo đảm việc phát triển,
ứng dụng công nghệ luôn đặt dưới sự giám sát, kiểm soát của con người.
3. Bảo đảm quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo; đề cao, tuân thủ đạo đức
nghề nghiệp, yêu cầu chuyên môn, tính trung thực, khách quan và tinh thần trách
nhiệm trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4. Phát triển hệ thống tiêu chuẩn làm nền tảng thiết lập chuẩn mực trình
độ công nghệ, định hướng nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ, tạo cơ sở
cho việc ngăn chặn, loại bỏ công nghệ lạc hậu, công nghệ ảnh hưởng xấu đến kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường, sức khỏe con người; hỗ trợ đăng
ký, bảo hộ, quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ;
thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo.
5. Nhà nước quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chủ
yếu theo nguyên tắc hậu kiểm, tập trung đánh giá kết quả thực hiện, không can
thiệp vào phương pháp, quy trình thực hiện; bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm
giải trình của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Trường hợp cần thiết, được áp dụng
nguyên tắc tiền kiểm nhưng bảo đảm không gây cản trở hoạt động khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điều 6. Định hướng chiến lược và chính sách phát triển khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Định hướng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo bao gồm:
a) Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải gắn với mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng
suất lao động,
phát triển bền vững và bao trùm; ưu tiên giải pháp khoa học và công nghệ góp phần bảo vệ môi
trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh, thích ứng với biến đổi khí
hậu; bảo đảm công bằng trong tiếp cận công nghệ;
b) Gắn kết hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo với nhu cầu của thị trường; xác định doanh nghiệp là trung tâm của
hệ thống đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ và thương mại
hóa công nghệ trong nước; thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu, khuyến khích
tăng tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân, đặc biệt từ doanh nghiệp cho nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Nhà nước kiến tạo phát triển, xây dựng thể chế, thúc đẩy đầu tư, phát
triển đồng bộ, hiện đại hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thúc đẩy
hệ thống đổi mới sáng tạo mở, minh bạch, hiệu quả;
d) Tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ có tiềm năng tạo đột phá, công nghệ chiến
lược trên cơ sở bám sát xu thế công nghệ toàn cầu, năng lực nội tại và lợi thế
cạnh tranh của quốc gia; phát triển đội ngũ
nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chất lượng cao; thu hút, trọng
dụng nhân tài trong nước, nước ngoài;
đ) Khuyến khích hoạt động
mạo hiểm trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chính sách chia sẻ rủi ro, đầu tư mạo
hiểm và các cơ chế tài chính đặc thù khác;
e) Khơi dậy và kết nối mọi nguồn lực trong xã hội cho đổi mới sáng tạo;
bảo đảm các nguồn lực được sử dụng để phát huy tối đa năng lực sáng tạo, khả
năng kiến tạo giá trị, phát triển nội lực và phối
hợp hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế và chủ động tham gia chuỗi giá trị công
nghệ toàn cầu.
2. Để cụ thể hóa các định hướng chiến lược quy định tại khoản 1 Điều
này, Nhà nước thực hiện các chính sách sau đây:
a) Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, đồng bộ, gắn
với xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội; phát huy vai trò trung
tâm của doanh nghiệp và người dân, vai trò tri thức của cơ sở giáo dục đại học
và viện nghiên cứu, vai trò kiến tạo và dẫn dắt của Nhà nước; phát triển đồng bộ
các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học lý luận
chính trị, khoa học xã hội và nhân văn;
b) Tăng cường đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thực
hiện cơ chế tài chính linh hoạt; áp dụng chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ lãi
suất vay đối với doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;
thành lập các quỹ chuyên biệt có sự tham gia góp vốn của Nhà nước;
c) Phát triển và hoàn thiện thị trường khoa học và công nghệ; khuyến
khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới
sáng tạo; khuyến khích và hỗ trợ chuyển giao công nghệ;
d) Áp dụng cơ chế ưu đãi và cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân
tài, chuyên gia,
nhà khoa học trong nước, nước ngoài; đào tạo, phát triển và trọng
dụng nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao để
thực hiện các nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu
nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia;
đ) Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng các
phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; phát triển kết nối hạ tầng giữa viện
nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp; đầu tư phát triển cơ sở
giáo dục đại học thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
và đổi mới sáng tạo; từng bước hình thành các trung tâm nghiên cứu trình độ cao
gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao, bảo đảm
phối hợp hiệu quả với mạng lưới viện nghiên cứu chuyên ngành;
e) Tăng cường hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; thúc đẩy
phát triển công nghệ, chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn;
hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, làm chủ và sáng tạo công nghệ; gắn kết chặt chẽ giữa
nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng, phát huy tiềm năng nội sinh kết hợp với tiếp
thu có chọn lọc các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; nâng cao năng lực
cạnh tranh công nghệ quốc gia trong các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế;
g) Mở rộng hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo; tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến phù
hợp với điều kiện Việt Nam;
h) Ưu tiên phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn thông qua đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và chuyển
giao công nghệ phù hợp với điều kiện địa phương; khuyến khích mô hình đổi mới
sáng tạo gắn với phát triển nông nghiệp, bảo tồn tri thức bản địa và phát triển
bền vững;
i) Tăng cường sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác và cộng đồng trong công tác
tuyên truyền, tư vấn, phản biện xã hội đối với chính sách khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với
hoạt động sản xuất, kinh doanh, giáo dục, đào tạo và phát triển cộng đồng.
Điều 7. Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt
Nam
Ngày 18 tháng 5 hằng năm là ngày Khoa học, Công nghệ và
Đổi mới sáng tạo Việt Nam.
Điều 8. Liêm chính khoa học, đạo đức nghề nghiệp trong
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm tuân thủ liêm chính
khoa học và đạo đức nghề nghiệp trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ.
Hành vi ngụy tạo dữ liệu, đạo văn, che giấu xung đột lợi ích hoặc hành vi làm
sai lệch bản chất nghiên cứu là hành vi vi phạm nghiêm trọng liêm chính khoa học.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
có trách nhiệm hướng dẫn áp dụng việc tuân thủ liêm chính khoa học và đạo đức
nghề nghiệp trong phạm vi quản lý.
3. Tổ chức khoa học và công nghệ có trách nhiệm xây dựng, ban hành quy tắc
về liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với hướng dẫn của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trường hợp cập nhật
thông tin về hành vi vi phạm liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp trên Nền
tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Điều 9. Chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
1. Rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được
chấp nhận theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan; bảo đảm có biện pháp quản trị rủi ro phù hợp.
2. Rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm:
a) Rủi ro trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới
sáng tạo thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Rủi ro trong thử nghiệm có kiểm soát thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Luật này;
c) Rủi ro trong đầu tư mạo hiểm thực hiện theo quy định tại Điều 40 của Luật này;
d) Rủi ro khác theo quy định của Chính phủ.
3. Việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
và đổi mới sáng tạo được quy định như sau:
a) Tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
và đổi mới sáng tạo được loại trừ trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân
sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy
định trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo và không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật,
không sử dụng sai mục tiêu, phạm vi kinh phí;
b) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử
dụng ngân sách nhà nước, kinh phí hợp pháp khác của đơn vị sự nghiệp công lập,
kinh phí của doanh nghiệp nhà nước không phải hoàn trả kinh phí đã sử dụng đúng
mục tiêu, phạm vi nếu đã tuân thủ đầy đủ quy định quản lý nhiệm vụ, quy trình thực
hiện, nội dung nghiên cứu, biện pháp phòng ngừa rủi ro nhưng kết quả của nhiệm
vụ không đạt được mục tiêu đề ra;
c) Tổ chức, cá nhân phê duyệt và quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, kinh phí hợp pháp khác của đơn
vị sự nghiệp công lập hoặc kinh phí của doanh nghiệp nhà nước được loại trừ
trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân sự nếu đã tuân thủ đầy đủ quy định,
quy trình về phê duyệt, quản lý nhiệm vụ và không có hành vi vi phạm pháp luật
nhưng kết quả của nhiệm vụ không đạt được mục tiêu đề ra;
d) Loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với
rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công
nghệ.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định tiêu chí xác định rủi
ro được chấp nhận, quy trình đánh giá việc tuân thủ quy trình, quy định trong
phê duyệt, quản lý, thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi
mới sáng tạo.
Điều 10. Trách nhiệm phổ biến, lan tỏa tri thức khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước hoặc được hưởng ưu đãi, hỗ trợ, tài trợ từ Nhà nước có trách nhiệm phổ biến, lan tỏa tri thức, công bố kết quả hoạt động khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bằng hình thức phù hợp, bao gồm cả việc cập nhật thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khác không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phổ biến, lan tỏa tri thức, công bố thông tin hoạt động khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc theo các hình thức khác phù hợp
với quy định của pháp luật.
3. Nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước hoặc ảnh hưởng đến khả năng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của kết quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không thuộc phạm vi phổ biến, cập nhật quy định tại Điều này.
Điều 11. Khuyến khích sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý
hóa sản xuất và truyền thông, phổ biến tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo
1. Nhà nước hỗ trợ tài chính cho hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hóa sản xuất, truyền thông khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phổ
biến tri thức thông qua việc tài trợ, hỗ trợ hoạt động theo cơ chế phù hợp.
2. Kinh phí doanh nghiệp chi cho hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hóa sản xuất, truyền thông khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phổ
biến tri thức được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo quy định của
pháp luật về thuế và pháp luật về kế toán.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định tiêu chí, hình thức,
trình tự, thủ tục và mức tài trợ, hỗ trợ cho hoạt động quy định tại khoản 1 Điều
này.
Điều 12. Tạp chí khoa học
1. Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ được hình thành một hoặc một số tạp chí khoa học. Tổ chức nghiên cứu
khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thành lập hội đồng
biên tập tạp chí khoa học cho mỗi tạp chí khoa học. Hội đồng biên tập tạp chí
khoa học bao gồm Chủ tịch hội đồng biên tập tạp chí khoa học và các thành viên
là các chuyên gia, nhà khoa học hoạt động chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Hội đồng
biên tập tạp chí khoa học có trách nhiệm xét chọn các bài báo khoa học đăng
trên tạp chí khoa học, hình thành nội dung tạp chí khoa học bảo đảm chất lượng
khoa học.
2. Việc xuất bản tạp chí khoa học được thực hiện thông qua cơ quan tạp
chí khoa học theo quy định của pháp luật về báo chí.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định tiêu chí khoa học đối
với tạp chí khoa học, hội đồng biên tập tạp chí khoa học, quy trình xét chọn
bài báo khoa học, xếp loại tạp chí khoa học.
Điều 13. Trách nhiệm quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
1. Trách nhiệm của Chính phủ được quy định như sau:
a) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo trong phạm vi cả nước;
b) Hằng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc thực hiện chính sách, biện
pháp để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; việc sử dụng ngân sách
nhà nước đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; kết quả hoạt động
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc
thực hiện quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên phạm
vi cả nước.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo trong ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo tại địa phương.
Điều 14. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân.
2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào việc đặt
hàng, tài trợ, hỗ trợ, đánh giá hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
hoặc hành vi khác can thiệp trái pháp luật vào hoạt động khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân.
3. Lợi dụng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để thực hiện
một trong các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân;
b) Truyền bá thông tin sai sự thật, xuyên tạc kết quả nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Chiếm đoạt, sử dụng trái phép kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân khác hoặc hành vi khác xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ.
4. Cố ý không tuân thủ quy định trong hoạt động nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo hoặc cố ý che giấu rủi ro khi thực hiện
nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
nguyên, môi trường, đa dạng sinh học, sức khỏe cộng đồng.
5. Tiết lộ hoặc sử dụng trái phép dữ liệu nhạy cảm thu thập trong quá
trình nghiên cứu và phát triển, gây ảnh hưởng đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật
gia đình hoặc
an ninh quốc gia.
Chương II
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Mục 1. CHIẾN LƯỢC, KẾ HOẠCH, NHIỆM VỤ VÀ CHƯƠNG TRÌNH
Điều 15. Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo; kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở
trung ương xây dựng, ban hành kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo 05 năm phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
trong đó xác định cơ cấu chi ngân sách nhà nước về chi đầu tư, chi thường xuyên
cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tổ
chức kiểm tra, đánh giá hằng năm việc thực hiện kế hoạch của Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm là một
trong các căn cứ để hình thành nội dung đầu tư phát triển khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.
3. Căn cứ kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
05 năm, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, ban hành kế hoạch về khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc phạm vi quản lý của mình; quản lý và sử dụng
ngân sách hiệu quả, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh; chịu trách nhiệm giải trình về hiệu quả thực hiện.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 16. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử
dụng ngân sách nhà nước
1. Nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm:
a) Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do tổ chức, doanh
nghiệp đề xuất theo định hướng ưu tiên hoặc yêu cầu cụ thể của Nhà nước để được
xem xét tài trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí;
b) Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực hiện theo đặt
hàng của Nhà nước do Nhà nước cấp toàn bộ hoặc một phần kinh phí cho tổ chức,
doanh nghiệp thực hiện;
c) Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cơ sở do tổ chức
khoa học và công nghệ công lập chủ động xây dựng, thực hiện từ nguồn kinh phí
được giao theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 của Luật này
hoặc nguồn kinh phí tự chủ khác.
2. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước đặt hàng
được tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho tổ chức, doanh nghiệp thực hiện. Cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ quyết định việc giao trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ trong các trường hợp sau đây:
a) Triển khai nhiệm vụ cần bảo đảm yêu cầu bí mật nhà nước;
b) Triển khai nhiệm vụ cấp bách để phục vụ mục tiêu bảo vệ chủ quyền, an
ninh quốc gia; khắc phục hoặc xử lý kịp thời hậu quả gây ra do thiên tai, thảm
họa, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, sự cố hoặc sự kiện bất khả kháng
khác; phòng, chống thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; bảo vệ tính mạng của người
dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích của cộng đồng;
c) Nhiệm vụ chỉ có 01 tổ chức, doanh nghiệp có đủ điều kiện về nhân lực,
chuyên môn, trang thiết bị để thực hiện nhiệm vụ đó;
d) Tổ chức, doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ huy động được nhân tài hoặc
có cơ sở vật chất, hạ tầng đặc biệt phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xét tài trợ,
tuyển chọn, giao trực tiếp theo từng nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ. Việc
xét tài trợ, tuyển chọn, giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo được thực hiện định kỳ, đột xuất hoặc trong khuôn khổ chương trình
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, chương trình khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt, chương trình khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 17. Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
quốc gia
1. Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia là tập
hợp các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có mục tiêu chung để
giải quyết các vấn đề có tính liên ngành, liên vùng, phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội trung hạn hoặc dài hạn.
2. Việc xây dựng chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc
gia đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Phù hợp với Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo trong từng giai đoạn cụ thể;
b) Tập trung, trọng điểm, không trùng lặp giữa các chương trình;
c) Dự kiến được tổng mức kinh phí và nguồn kinh phí thực hiện.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
ương xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chương trình khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia sau khi có ý kiến thẩm định của cơ
quan có thẩm quyền, tổ chức thực hiện chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo quốc gia.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 18. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc
biệt; chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt
1. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt và chương trình
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt là nhiệm vụ, chương
trình có quy mô lớn do Thủ tướng Chính phủ quyết định nhằm thực hiện một trong
các mục tiêu sau đây:
a) Phục vụ phát triển công nghệ chiến lược;
b) Phục vụ nghiên cứu chiến lược, chính sách mang lại giá trị to lớn
trong khoa học lý luận chính trị, xã hội và nhân văn;
c) Phục vụ dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia;
d) Tạo tác động mạnh đến năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản
phẩm, dịch vụ, hàng hóa trong nước;
đ) Phục vụ quốc phòng, an ninh.
2. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt và chương
trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt được áp dụng cơ
chế đầu tư, tài chính và quản lý đặc thù theo quy định của Chính phủ.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 19. Đánh giá hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo
1. Việc đánh giá kết quả, hiệu quả, tác động của hoạt động khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm các nội dung sau đây:
a) Đánh giá kết quả, hiệu quả, tác động của triển khai Chiến lược phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, kế hoạch tổng thể về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm, kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo;
b) Đánh giá kết quả, hiệu quả, tác động của việc thực hiện chương trình
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; chương trình khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt; nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo đặc biệt; nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng
ngân sách nhà nước;
c) Đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động của tổ chức có hoạt động trong
lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
d) Đánh giá hiệu quả, tác động triển khai chính sách ưu đãi, khuyến
khích tổ chức, doanh nghiệp chi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo.
2. Việc đánh giá chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm các nội dung sau đây:
a) Mức độ hoàn thành mục tiêu, kết quả đã được phê duyệt hoặc được cam kết
trong hợp đồng. Việc đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu có tính đến trường hợp
kết quả không thành công nhưng có giá trị học thuật, dữ liệu nền hoặc cơ sở cho
nghiên cứu tiếp theo;
b) Tiến độ thực hiện so với kế hoạch, việc theo dõi thực hiện nhiệm vụ
theo các mốc thời gian, báo cáo định kỳ và khả năng hoàn thành đúng tiến độ,
cho phép điều chỉnh linh hoạt nếu có lý do chính đáng và được cơ quan quản lý
chấp thuận;
c) Hiệu quả đầu ra của chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo thông qua việc xác định mức độ tương xứng giữa kết quả đạt được với
nguồn lực ngân sách đã sử dụng, số lượng sản phẩm, giá trị khoa học, khả năng ứng
dụng thực tiễn và đóng góp cho đổi mới sáng tạo;
d) Tác động của kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ, đổi mới
sáng tạo đối với phát triển kinh tế - xã hội sau một khoảng thời gian nhất định
kể từ thời điểm kết thúc chương trình, nhiệm vụ.
3. Việc đánh giá kết quả, hiệu quả, tác động của hoạt động khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo thực hiện theo nguyên tắc độc lập, trung thực,
khách quan, công khai, minh bạch, đúng pháp luật và được triển khai trên cơ sở
sau đây:
a) Bộ tiêu chí thống kê, đo lường, đánh giá kết quả, hiệu quả và mức độ
đóng góp của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho phát triển
kinh tế - xã hội, năng suất lao động, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
b) Dữ liệu thống kê, báo cáo, tổng hợp, đặc biệt là thông tin, dữ liệu
trên môi trường số thông qua Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo quốc gia và Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo;
c) Tiêu chí riêng đối với chương trình, nhiệm vụ thuộc Danh mục bí mật
nhà nước.
4. Kết quả đánh giá hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là
căn cứ để điều chỉnh kế hoạch, nội dung, phương án phân bổ và bố trí ngân sách
nhà nước cho Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
trung ương và địa phương, tổ chức liên quan để thực hiện chiến lược, kế hoạch,
chương trình, nhiệm vụ; điều chỉnh số lượng người làm việc, sắp xếp đơn vị sự
nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; điều chỉnh
chính sách ưu đãi về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
5. Kinh phí thực hiện đánh giá được bố trí trong dự toán ngân sách nhà
nước cho hoạt động quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 20. Chuyển đổi số trong hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
1. Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua việc phát triển đồng bộ hạ tầng số,
cung cấp dịch vụ công trực tuyến, số hóa dữ liệu và tự động hóa quy trình nghiệp
vụ nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch.
2. Nhà nước khuyến khích ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để
nâng cao hiệu quả của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; sử dụng
trí tuệ nhân tạo trong việc đổi mới lực lượng khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo.
3. Nhà nước đầu tư xây dựng, vận hành và duy trì Nền tảng số quản lý
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia tập trung, thống nhất, kết nối
các cơ quan, tổ chức trên môi trường mạng để quản lý các nội dung sau đây:
a) Quá trình hình thành, thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, trừ trường hợp thuộc Danh mục bí mật
nhà nước;
b) Việc đánh giá kết quả và hiệu quả triển khai hoạt động khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Việc khai thác và sử dụng cơ sở vật chất dùng chung cho khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4. Nhà nước đầu tư xây dựng, vận hành và duy trì Hệ thống thông tin quốc
gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tập trung, thống nhất; bảo đảm
yêu cầu bảo mật, kết nối các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên môi trường mạng
để lưu trữ, chia sẻ, phổ biến công khai kết quả hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo cho tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng; bảo đảm kết nối
Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với Nền
tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia để cung cấp dữ
liệu đầu vào chính xác, thống nhất.
5. Cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, bao gồm cả tổ chức
khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp
sáng tạo và doanh nghiệp khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, thụ
hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo có trách nhiệm cung cấp thông tin phục vụ quản lý nhà nước về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo quốc gia.
6. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin và công
khai kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
không sử dụng ngân sách nhà nước trên Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 2. THỬ NGHIỆM CÓ KIỂM SOÁT CÔNG NGHỆ, QUY TRÌNH, GIẢI
PHÁP, SẢN PHẨM, DỊCH VỤ, MÔ HÌNH KINH DOANH MỚI
Điều 21. Yêu cầu chung đối với thử nghiệm có kiểm soát công
nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới
1. Thử nghiệm có kiểm soát là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho
phép tổ chức, doanh nghiệp triển khai thử nghiệm đối với công nghệ, quy trình,
giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới mà pháp luật chưa có quy định
hoặc khác với quy định của pháp luật hiện hành, trong điều kiện thực tế có giới
hạn về phạm vi, thời gian, không gian.
2. Việc cho phép thử nghiệm có kiểm soát phải bảo đảm các nguyên tắc sau
đây:
a) Công khai, minh bạch về tiêu chí, điều kiện, quy trình đánh giá lựa
chọn;
b) Bình đẳng giữa các tổ chức, doanh nghiệp trong việc đề xuất, đăng ký
và thực hiện quyền, trách nhiệm trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát;
c) Đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
lợi ích công cộng, bảo vệ quyền lợi người tham gia thử nghiệm;
d) Lựa chọn phạm vi, thời gian, không gian để hạn chế nguy cơ ảnh hưởng
tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội.
3. Nội dung thử nghiệm có kiểm soát bao gồm:
a) Mục tiêu của thử nghiệm có kiểm soát;
b) Đối tượng tham gia thử nghiệm có kiểm soát;
c) Điều kiện, tiêu chí đối với công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm,
dịch vụ, mô hình kinh doanh mới thử nghiệm có kiểm soát;
d) Cơ quan có thẩm quyền cho phép thử nghiệm có kiểm soát;
đ) Nguyên tắc xét duyệt tổ chức, doanh nghiệp đăng ký thử nghiệm có kiểm
soát;
e) Trình tự, thủ tục cho phép, điều chỉnh, gia hạn, tạm dừng, kết thúc
thử nghiệm có kiểm soát;
g) Thời gian, không gian, phạm vi thử nghiệm có kiểm soát;
h) Việc kiểm soát quá trình thử nghiệm có kiểm soát bao gồm: cơ chế giám
sát, yêu cầu báo cáo định kỳ, cơ chế ghi nhận phản hồi từ người tham gia thử
nghiệm có kiểm soát và phương pháp đánh giá kết quả thử nghiệm có kiểm soát;
i) Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát;
k) Biện pháp bảo vệ quyền lợi người tham gia thử nghiệm có kiểm soát;
l) Yêu cầu, hướng dẫn khác cần tuân thủ trong quá trình thử nghiệm có kiểm
soát.
4. Thời hạn cho phép thử nghiệm có kiểm soát được xác định trên cơ sở đề
xuất của tổ chức, doanh nghiệp nhưng không quá 03 năm và có thể được gia hạn 01
lần không quá 03 năm.
5. Việc thực hiện thử nghiệm có kiểm soát phải được sơ kết, tổng kết để
cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng thử nghiệm có kiểm
soát hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.
6. Căn cứ vào yêu cầu quản lý thực tiễn của từng ngành, lĩnh vực, Chính
phủ được ban hành văn bản quy định chi tiết khoản 3 Điều này và các nội dung cần
thiết để xử lý các vấn đề phát sinh khác với luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, báo cáo Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Quốc hội tại phiên họp, kỳ họp gần nhất.
Điều 22. Miễn, loại trừ trách nhiệm trong hoạt động thử
nghiệm có kiểm soát
Trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát, trường hợp xảy ra thiệt hại, rủi
ro, việc miễn, loại trừ trách nhiệm trong hoạt động thử nghiệm có kiểm soát được
thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
1. Cơ quan có thẩm quyền cho phép thử nghiệm có kiểm soát; tổ chức, cá
nhân trực tiếp, tham gia thẩm định, cấp phép, đánh giá thử nghiệm có kiểm soát
được miễn, loại trừ các trách nhiệm khi đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định
về thử nghiệm có kiểm soát tại Luật này và quy định của pháp luật về thử nghiệm
có kiểm soát, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung, trừ trường hợp đã biết
hoặc buộc phải biết về nguy cơ rủi ro đối với quá trình thử nghiệm có kiểm soát
nhưng không áp dụng đầy đủ biện pháp phù hợp để ngăn ngừa, hạn chế mức độ thiệt
hại có thể xảy ra. Các trách nhiệm được miễn, loại trừ bao gồm:
a) Miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước, tổ chức,
cá nhân khác trong quá trình thẩm định, cấp phép, kiểm soát, đánh giá thử nghiệm
có kiểm soát;
b) Loại trừ trách nhiệm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính;
c) Loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình
sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ;
2. Tổ chức, doanh nghiệp được cấp phép tiến hành thử nghiệm có kiểm
soát, cá nhân thực hiện thử nghiệm có kiểm soát được miễn, loại trừ trách nhiệm
khi đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan, trừ trường hợp đã biết hoặc buộc phải biết về nguy cơ rủi
ro nhưng không kịp thời thông tin, báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
nguy cơ rủi ro phát sinh trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát và thực hiện
các biện pháp phòng ngừa, hạn chế mức độ thiệt hại có thể xảy ra. Các trách nhiệm
được miễn, loại trừ bao gồm:
a) Miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nhưng
phải chịu trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho tổ chức, cá nhân khác
trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát;
b) Loại trừ trách nhiệm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính;
c) Loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với
rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công
nghệ.
Điều 23. Bảo vệ người tham gia thử nghiệm có kiểm soát
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia trong quá trình thử
nghiệm có kiểm soát và sau khi kết thúc thử nghiệm
có kiểm soát, tổ chức, doanh nghiệp được cấp
phép thử nghiệm có kiểm soát có trách nhiệm sau đây:
1. Khuyến cáo rủi ro khi tham gia thử nghiệm có kiểm soát trong thời gian thử nghiệm có kiểm soát; bảo đảm cung
cấp thông tin chính xác, đầy đủ, trung thực về công nghệ, quy trình, giải pháp,
sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới, chi phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ,
chi phí khác (nếu có), quyền, nghĩa vụ của người tham gia thử nghiệm có kiểm soát;
2. Có cơ chế quản lý dữ liệu thử nghiệm có kiểm soát; xây dựng và bảo đảm
tuân thủ quy trình nội bộ, biện pháp kiểm soát rủi ro của việc truy cập hoặc sử
dụng trái phép dữ liệu cá nhân, gian lận và đánh cắp thông tin cá nhân của người
tham gia thử nghiệm có kiểm soát;
3. Định kỳ đánh giá rủi ro, bảo đảm thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi
ro, khắc phục hậu quả trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát và sau khi kết
thúc thử nghiệm có kiểm soát; kịp thời thông báo cho người tham gia thử nghiệm có kiểm soát trong trường hợp
có sự thay đổi về mức độ rủi ro của công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm,
dịch vụ, mô hình kinh doanh mới;
4. Công bố đầu mối giải quyết khiếu nại của người tham gia thử nghiệm có
kiểm soát. Trường hợp phát sinh tranh chấp, khiếu nại, tổ chức, doanh nghiệp được
cấp phép thử nghiệm có kiểm soát có trách nhiệm tiếp nhận và có biện pháp xử lý
mọi yêu cầu tra soát, khiếu nại của người tham gia thử nghiệm có kiểm soát. Thời
gian thực hiện giải quyết yêu cầu tra soát, khiếu nại thực hiện theo phương án
tại hồ sơ đề nghị thử nghiệm có kiểm soát đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
5. Thực hiện bồi thường thiệt hại và thực hiện nghĩa vụ dân sự khác theo
quy định của pháp luật về dân sự trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát và sau
khi kết thúc thử nghiệm có kiểm soát, trừ các trường hợp được miễn,
loại trừ trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này;
6. Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Mục 3. XỬ LÝ TÀI SẢN, QUẢN LÝ VÀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NHIỆM
VỤ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Điều 24. Xử lý tài sản trang bị thực hiện nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Đối với tài sản
trang bị từ nguồn ngân sách nhà nước, Nhà nước giao tự động quyền quản lý, sử dụng,
quyền sở hữu tài sản trang bị cho tổ chức chủ trì nhiệm vụ ngay sau khi trang bị
tài sản; không phải thực hiện thủ tục giao quyền quản lý, sử dụng, giao quyền sở
hữu; không phải bồi hoàn giá trị tài sản; không ghi tăng vốn đầu tư của Nhà nước
vào doanh nghiệp.
2. Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực
hiện quản lý, theo dõi riêng tài sản quy định tại khoản 1 Điều này theo
quy định của pháp luật tương ứng với loại hình hoạt động của tổ chức ngay khi
hình thành tài sản; có trách nhiệm sử dụng hiệu quả tài sản để thực hiện nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đối với tài sản sau khi đã hoàn
thành mục đích sử dụng trong nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo,
tổ chức chủ trì được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động sau đây:
a) Quản lý, sử dụng tài sản bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch;
b) Xử lý tài sản trong trường hợp tài sản hư hỏng, lạc hậu, không còn
nhu cầu sử dụng theo hình thức bán, thanh lý, tiêu hủy hoặc hình thức khác theo
quy định của pháp luật;
c) Tự quyết định việc quản lý, sử dụng, xử lý nguyên vật liệu, vật tiêu
hao chưa sử dụng hết khi kết thúc nhiệm vụ;
d) Quản lý, sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản (nếu có).
3. Việc xử lý tài sản trang bị từ nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước
được thực hiện theo thỏa thuận của các bên đóng góp nguồn kinh phí khi thực hiện
nhiệm vụ.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 25. Quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tổ chức, cá nhân
đóng góp tài sản, tài chính để thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo tương ứng với tỷ lệ đóng góp theo thỏa thuận, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc kết quả thuộc phạm vi bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ của người khác.
2. Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo được Nhà nước tự động giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu phần
kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tương ứng với kinh phí
từ ngân sách nhà nước, không phải thực hiện thủ tục giao quyền quản lý, sử dụng,
quyền sở hữu và không phải bồi hoàn chi phí cho Nhà nước, trừ các trường hợp
sau đây:
a) Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực quốc
phòng, an ninh mà tổ chức chủ trì không phải là cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
b) Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mà tổ chức chủ trì
là pháp nhân nước ngoài, tổ chức có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn
điều lệ hoặc phần vốn góp hoặc tổ chức có trụ sở chính đặt ở nước ngoài;
c) Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước đặt hàng
và khi đặt hàng nhiệm vụ đã nêu rõ yêu cầu Nhà nước sẽ nắm giữ quyền quản lý, sử
dụng, quyền sở hữu kết quả nhiệm vụ để phục vụ lợi ích của Nhà nước, phổ biến rộng
rãi phục vụ cộng đồng, phòng bệnh, chữa bệnh, bảo đảm dinh dưỡng cho Nhân dân
hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Cơ quan đặt hàng nhiệm vụ có
trách nhiệm tiếp nhận, quyết định việc quản lý, sử dụng kết quả của nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Đối với kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
sử dụng toàn bộ hoặc một phần ngân sách nhà nước có kết quả là tài sản gắn liền
với đất thuộc quyền sử dụng hoặc gắn liền với tài sản thuộc quyền sở hữu của tổ
chức, cá nhân tham gia nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nhà nước
giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu tài sản tương ứng với phần ngân sách
nhà nước gắn liền với đất hoặc gắn liền với tài sản của tổ chức, cá nhân cho tổ
chức, cá nhân có quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản một cách tự động, không phải
thực hiện thủ tục giao quyền và không phải bồi hoàn chi phí cho Nhà nước.
Trường hợp không nhận quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu
tài sản quy định tại khoản này thì tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất hoặc
quyền sở hữu tài sản gắn liền với kết quả đó có trách nhiệm phối hợp với tổ chức
chủ trì thực hiện nhiệm vụ để xử lý.
4. Tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo dõi riêng kết quả, không phải hạch
toán chung vào tài sản, giá trị tài sản và vốn nhà nước tại tổ chức; không phải
xác định nguyên giá, giá trị còn lại, khấu hao, hao mòn tài sản; được tự quyết
định tiếp tục đầu tư nghiên cứu, phát triển, triển khai ứng dụng, thương mại
hóa kết quả nghiên cứu và thực hiện quyền, trách nhiệm khác theo quy định của
Chính phủ.
Đối với kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng
ngân sách nhà nước là vật mẫu, sản phẩm mẫu, tổ chức chủ trì được tự quyết định
việc theo dõi riêng, bán, hủy hoặc tái sử dụng.
5. Nhà nước thu hồi kết quả hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng
kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng toàn bộ ngân
sách nhà nước trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp cần thiết để phổ biến rộng rãi phục vụ cộng đồng, phòng bệnh,
chữa bệnh, bảo đảm dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác
của xã hội;
b) Trường hợp sau 03 năm kể từ ngày kết thúc nhiệm vụ khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo, tổ chức chủ trì không thực hiện triển khai ứng dụng kết quả
nhiệm vụ mà có tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu để tiếp tục phát triển, ứng dụng.
6. Kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mà có lưu trữ, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng,
dữ liệu chuyển xuyên biên giới thực hiện theo quy định của Luật Dữ liệu.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 26. Kiểm soát chuyển giao kết quả nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài
1. Tổ chức, cá nhân được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết
quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền chuyển giao quyền
sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng kết quả đó theo quy định của pháp luật. Đối
với việc chuyển giao kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
cho tổ chức, cá nhân nước ngoài còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về
chuyển giao công nghệ.
2. Kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân
sách nhà nước thuộc Danh mục công nghệ cao được
ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao phải được công bố
công khai trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc
gia và dành quyền tiếp cận ưu tiên cho tổ chức, cá nhân trong nước trong thời hạn
tối thiểu 12 tháng trước khi chuyển giao ra nước ngoài.
3. Việc chuyển giao kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo mà có lưu trữ, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng, dữ liệu chuyển
xuyên biên giới thực hiện theo quy định của Luật Dữ liệu.
4. Tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển giao có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 27. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Chủ sở hữu kết
quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo tự quyết định
việc thương mại hóa kết quả.
2. Tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được tự chủ, tự quyết định lựa chọn
hình thức, phương án, giá, phân chia lợi nhuận thu được trong việc thương mại
hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các
hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi
mới sáng tạo bao gồm: cho thuê, bán, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng;
kinh doanh dịch vụ; hợp tác, liên doanh, liên kết, thành lập doanh nghiệp; tự
khai thác, sử dụng.
Trường hợp có hoạt động góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ và đổi mới sáng tạo thì được tự quyết định phương án góp vốn,
xác định giá để góp vốn và tỷ lệ vốn góp, phân chia kết quả từ hoạt động hợp
tác, liên doanh, liên kết.
3. Trường hợp kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
sử dụng một phần ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ được
giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu phần tương ứng với kinh phí sử dụng
ngân sách nhà nước được tự chủ, tự quyết định trong việc thỏa thuận thống nhất
với các chủ sở hữu khác để thực hiện tổ chức thương mại hóa theo quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo chịu trách nhiệm áp dụng các biện pháp để phòng, chống thất thoát,
lãng phí, tiêu cực; công khai, minh bạch thông tin thương mại hóa kết quả nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; báo cáo kết quả, hiệu quả thương mại
hóa kết quả theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
5. Cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tổ chức chủ trì
trong việc sử dụng kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử
dụng ngân sách nhà nước nhằm phòng, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 28. Phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tổ chức trung gian,
môi giới được hưởng một phần lợi nhuận thu được từ hoạt động thương mại hóa kết
quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo dựa trên giá
trị của hợp đồng thương mại hóa hoặc theo thỏa thuận của các bên.
2. Đối với phần lợi nhuận thu được tương ứng với kết quả nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo không sử dụng ngân sách nhà
nước trong quá trình thương mại hóa, chủ sở hữu kết quả được tự quyết định việc
xử lý lợi nhuận, bao gồm thưởng cho tác giả của kết quả nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo (nếu có).
3. Đối với phần lợi nhuận thu được tương ứng với phần kết quả nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước trong quá
trình thương mại hóa, tổ chức chủ trì nhiệm vụ sử dụng lợi nhuận sau thuế cho
các mục đích sau đây:
a) Thưởng cho tác giả kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo tối thiểu 30% lợi nhuận thu được từ việc cho thuê, bán, chuyển nhượng,
chuyển giao quyền sử dụng, tự khai thác, sử dụng kết quả; tối thiểu 30% giá
trị của kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác
định khi góp vốn, hợp tác, liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ hoặc
thành lập doanh nghiệp;
b) Thưởng cho cá nhân có đóng góp trực tiếp vào hoạt động tổ
chức thương mại hóa;
c) Tái đầu tư cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
d) Mục đích khác.
4. Trường hợp kết quả nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước là sáng chế, thiết kế bố
trí, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng được bảo hộ theo quy định của Luật
Sở hữu trí tuệ, tác giả được hưởng các quyền lợi theo quy định tại khoản 3 Điều
này và còn được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
5. Tác giả của kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
là người trực tiếp tạo ra kết quả; trường hợp có 02 người trở lên cùng trực tiếp
tạo ra kết quả thì là đồng tác giả. Trường hợp có đồng tác giả, phần lợi nhuận
thưởng cho tác giả là mức dành cho các đồng tác giả. Các đồng tác giả tự thỏa
thuận việc phân chia số lợi nhuận nhận được.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
Điều 29. Nghiên cứu khoa học
1. Chính sách của Nhà nước về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu cơ bản bao gồm:
a) Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu cơ bản nhằm xây dựng nền tảng cho hệ
thống khoa học và công nghệ quốc gia, giữ vai trò dẫn dắt cho phát triển tri thức,
tạo cơ sở cho nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo,
nâng cao tiềm lực, vị thế khoa học quốc gia và góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia trong dài hạn;
b) Nhà nước phát triển nghiên cứu cơ bản theo định hướng có trọng tâm,
trọng điểm, ưu tiên tập trung cho một số lĩnh vực khoa học có thế mạnh để đạt
trình độ khu vực và quốc tế hoặc lĩnh vực công ích có tầm quan trọng chiến lược;
thúc đẩy nghiên cứu cơ bản hình thành từ nhu cầu trong quá trình triển khai
nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ chiến lược;
c) Nhà nước phân bổ nguồn lực cho nghiên cứu cơ bản tại viện nghiên cứu,
cơ sở giáo dục đại học theo nguyên tắc phù hợp với chức năng, thế mạnh của từng
tổ chức và dựa trên kết quả đánh giá hiệu quả hoạt động.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ
thuật, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao, thu hút nhân tài, hợp tác quốc tế, bảo đảm kinh phí cho hoạt động nghiên cứu
và hoạt động hỗ trợ nâng cao tiềm lực khác. Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách nhà nước
cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tập huấn, thực tập, trao đổi học thuật, tài
trợ hoạt động nghiên cứu, hỗ trợ tham gia hội nghị, công bố khoa học, phát triển
tạp chí khoa học và các hoạt động liên quan khác.
2. Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động nghiên cứu ứng dụng bao gồm:
a) Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn lực để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu ứng
dụng nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm quốc phòng, an ninh;
b) Nhà nước tập trung đầu tư cho nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh
vực có nhu cầu cấp thiết, tiềm năng phát triển và khả năng áp dụng vào sản xuất,
đời sống;
c) Nhà nước khuyến khích viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức
khoa học và công nghệ khác phối hợp với doanh nghiệp trong việc đề xuất, triển
khai, ứng dụng kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn.
3. Chính sách của Nhà nước đối với nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học lý
luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn bao gồm:
a) Nhà nước chú trọng phát triển nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học lý
luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là nghiên cứu cung cấp luận
cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, con người và xã hội
Việt Nam; góp phần tạo nền tảng phát triển kinh tế, văn hóa, con người;
b) Nhà nước thúc đẩy kết nối khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội
và nhân văn với lĩnh vực khác; ưu tiên cấp kinh phí ngân sách nhà nước cho nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có nội dung liên ngành, kết hợp giữa
khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật với khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt
trong lĩnh vực công nghệ mới;
c) Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân thực hiện
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ tích hợp khoa học lý luận chính trị,
khoa học xã hội và nhân văn nhằm đánh giá tác động xã hội, đạo đức, văn hóa và
tâm lý của công nghệ mới đối với con người, cộng đồng;
d) Nhà nước khuyến khích thực hiện nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu thử
nghiệm trong khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn nhằm đánh
giá hiệu quả, tính khả thi và tác động thực tiễn của mô hình, giải pháp, chính
sách trước khi áp dụng trên diện rộng;
đ) Nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí và hỗ trợ kỹ thuật cho dự án nghiên
cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân
văn có định hướng giải quyết các vấn đề xã hội.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 30. Phát triển công nghệ
1. Nhà nước xác định phát triển công nghệ là cầu nối giữa nghiên cứu
khoa học và đổi mới sáng tạo, đóng vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa tri
thức thành sản phẩm, dịch vụ, giá trị kinh tế - xã hội.
2. Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ phát triển công nghệ từ kết quả nghiên
cứu khoa học, sáng chế, sáng kiến, giải pháp hữu ích và nguồn tri thức khác nhằm
tạo ra, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ; nâng cao năng lực công nghệ nội
sinh, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm, hàng hóa trong nước và khả năng ứng
dụng trong sản xuất, đời sống.
3. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công
nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ tạo ra sản phẩm lưỡng dụng, công nghệ có khả năng tạo đột phá về năng suất, chất
lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
4. Nhà nước hỗ trợ phát triển công nghệ thông
qua hình thức sau đây:
a) Tài trợ, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công
nghệ;
b) Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nghiên cứu và phát triển công
nghệ, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ
trong một số lĩnh vực trọng điểm.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Cơ chế đặc biệt trong giải mã công nghệ, mua bí
quyết công nghệ
1. Trường hợp sử dụng
ngân sách nhà nước triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
cho mục tiêu giải mã công nghệ để phát triển công nghệ chiến lược, mua bí quyết
công nghệ, tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được
áp dụng cơ chế đặc biệt sau đây:
a) Sử dụng kinh phí cấp cho nhiệm vụ để chỉ định việc thuê chuyên gia
trong nước, nước ngoài và chi trả theo mức kinh phí thỏa thuận;
b) Sử dụng kinh phí cấp cho nhiệm vụ để mua trực tiếp công nghệ, sản phẩm,
thiết bị nước ngoài cần thiết cho việc giải mã với giá thỏa thuận; mua trực tiếp
bí quyết công nghệ với giá thỏa thuận;
c) Sản phẩm, thiết bị sau khi giải mã được coi là vật tư tiêu hao và
không tính trong giá trị tài sản của tổ chức chủ trì nhiệm vụ;
d) Cơ chế đặc biệt khác.
2. Doanh nghiệp được sử dụng kinh phí từ quỹ phát triển khoa học và công
nghệ hoặc chi trực tiếp ngoài quỹ phát triển
khoa học và công nghệ để giải mã công nghệ, mua
bí quyết công nghệ.
Đối với dự án trọng điểm, dự án phát triển công nghệ chiến lược, doanh
nghiệp nhà nước được áp dụng cơ chế đặc biệt, bao gồm:
a) Chỉ định việc thuê chuyên gia trong nước, nước ngoài và chi trả theo
mức kinh phí thỏa thuận;
b) Được thực hiện chỉ định nhà cung cấp và áp dụng hình thức đàm phán
giá để thực hiện các việc sau: mua trực tiếp công nghệ, sản phẩm, thiết bị nước
ngoài nhằm giải mã công nghệ, phát triển công nghệ chiến lược; mua trực tiếp bí
quyết công nghệ. Sản phẩm, thiết bị sau khi giải mã được coi là vật tư tiêu hao
và không tính trong giá trị tài sản của doanh nghiệp;
c) Triển khai nhiệm vụ, dự án hợp tác nghiên cứu với nước ngoài để tiếp
cận, làm chủ công nghệ;
d) Mua lại doanh nghiệp, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát
triển; sáp nhập doanh nghiệp để sở hữu bí quyết công nghệ;
đ) Chi phí cần thiết khác phục vụ nghiên cứu, tiếp cận, mua bí quyết
công nghệ, giải mã công nghệ tiên tiến của nước ngoài.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Thúc đẩy hợp tác, chia sẻ trong nghiên cứu khoa học
1. Nhà nước khuyến khích chia sẻ dữ liệu, phương pháp, kết quả nghiên cứu
khoa học, bao gồm cả việc sử dụng và phát triển công nghệ nguồn mở, bảo đảm
minh bạch, dễ tiếp cận, đồng thời bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu
cá nhân. Nhà nước xây dựng hạ tầng, yêu cầu kỹ thuật để chia sẻ dữ liệu,
công bố kết quả nghiên cứu khoa học, bảo đảm bảo mật thông tin, khả năng tương
tác và tái sử dụng.
2. Doanh nghiệp, cộng đồng được khuyến khích tham gia sử dụng, đóng góp
dữ liệu, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nguồn mở.
Điều 33. Ứng dụng khoa học và công nghệ trong dự án đầu tư,
chương trình phát triển kinh tế - xã hội
1. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ kinh phí triển khai nội dung
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ để phục vụ xây dựng căn cứ trong giai
đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và giải quyết vấn đề phát sinh trong quá
trình thực hiện đối với dự án đầu tư, chương
trình phát triển kinh tế - xã hội sử dụng ngân
sách nhà nước.
2. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ kinh phí triển khai nội dung nghiên cứu, phát
triển khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn để phục vụ xây dựng
luận cứ và giải quyết vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện đối với dự án
đầu tư xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, xã hội và con người.
Chương IV
THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
TRONG DOANH NGHIỆP VÀ NỀN KINH TẾ
Điều 34. Thúc đẩy phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo lấy
doanh nghiệp làm trung tâm
1. Nhà nước thúc đẩy phát triển toàn diện hệ thống đổi mới sáng tạo lấy
doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp, cơ sở
giáo dục, cơ sở nghiên cứu, tổ chức trung gian, cơ quan nhà nước và cộng đồng.
Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, định hướng thông qua việc hoàn thiện thể
chế, thiết lập cơ chế tài chính phù hợp, bảo đảm môi trường thực thi thuận lợi.
2. Nhà nước thúc đẩy, phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo ở quy mô quốc
gia, ngành, địa phương.
3. Nhà nước khuyến khích và thúc đẩy vai trò trung tâm của doanh nghiệp
trong hệ thống đổi mới sáng tạo thông qua biện pháp sau đây:
a) Tài trợ nhiệm vụ tập trung vào triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo,
khởi nghiệp sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu;
b) Tài trợ nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp;
c) Tài trợ nhiệm vụ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận và làm chủ công
nghệ, đặc biệt là công nghệ có nguồn gốc từ nước ngoài;
d) Có chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, đất đai, đấu thầu và tín dụng
để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao trình độ công nghệ, năng suất,
chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa;
đ) Khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp đầu tư, tài trợ cho nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; tổ chức, cá nhân nhận đầu tư,
tài trợ được chi tiêu theo định mức của nhà đầu tư, nhà tài trợ;
e) Phát triển mô hình đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong đầu
tư xây dựng hạ tầng, cung cấp dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực
mới và có rủi ro cao.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định về hoạt động đổi mới
sáng tạo trong doanh nghiệp.
Điều 35. Khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
1. Nhà nước khuyến
khích và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo; đầu tư, nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho các
hoạt động này.
2. Chi phí của doanh nghiệp tài trợ cho nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo, khoản chi cho nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo được tính vào chi phí được
trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp.
3. Chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đối với hoạt
động nghiên cứu và phát triển được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí
thực tế của hoạt động này theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 36. Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghệ
chiến lược
1. Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ, đầu tư, hợp tác và giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp Việt Nam để phát triển công nghệ chiến lược thông qua các phương thức sau đây:
a) Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ chuyên biệt trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao để thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở thí nghiệm, nghiên cứu dùng chung;
b) Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị cho cơ sở thí nghiệm, nghiên cứu dùng chung để thu hút doanh nghiệp cùng tham gia khai thác, vận hành;
c) Đầu tư thực hiện dự án phát triển công nghệ chiến lược;
d) Tài trợ, đặt hàng doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.
2. Các dự án quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này nếu thực
hiện theo phương thức đối tác công tư thì thực hiện theo quy định của pháp luật
về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 37. Bảo đảm quyền và cơ chế hỗ trợ đối với tổ chức
ngoài công lập trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo ngoài công lập, bao gồm doanh nghiệp ngoài nhà nước, viện nghiên cứu tư
nhân, tổ chức khoa học và công nghệ tư nhân, tổ chức phi lợi nhuận tư nhân và
các tổ chức ngoài công lập khác (sau đây gọi chung là tổ chức ngoài công lập)
được bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng với các chính sách, chương trình, nguồn lực
hỗ trợ của Nhà nước theo quy định của Luật này.
2. Tổ chức ngoài công lập có quyền sau đây:
a) Tham gia xét chọn, tuyển chọn, đặt hàng hoặc đấu thầu thực hiện nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước;
b) Được giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu được tạo
ra từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước
do tổ chức thực hiện theo cơ chế được quy định tại Luật này;
c) Tiếp cận, thuê, sử dụng hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất, thiết bị
khoa học công lập và tài sản công trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo theo nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng;
d) Hưởng chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, đầu tư mạo hiểm,
tiếp cận sàn giao dịch công nghệ và ưu đãi khác như đối với tổ chức công lập.
3. Tổ chức ngoài công lập được tham gia hợp tác với tổ chức công lập
trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và thương mại hóa kết quả
nghiên cứu. Việc hợp tác được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng
quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích và rủi ro phù hợp với mức độ đóng góp của
các bên.
Điều 38. Thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp
sáng tạo
1. Văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo là hệ thống khuôn mẫu,
chuẩn mực hành vi, quy tắc, niềm tin, thói quen, nhận thức, phương pháp tiếp cận
có ảnh hưởng đến hành động của tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong hoạt động đổi
mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.
2. Nhà nước thúc đẩy, phổ biến, lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi
nghiệp sáng tạo thông qua chính sách, chương trình, nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ
đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức sự kiện, trình diễn, giải thưởng
về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 39. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
1. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện hoạt động
nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, đổi mới công nghệ, có năng lực hấp thụ,
làm chủ công nghệ và mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường.
2. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ được ưu tiên thuê đất, cơ sở
hạ tầng tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; ưu tiên sử dụng
trang thiết bị nghiên cứu, phát triển tại phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở
ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo; được hỗ trợ thông tin, truyền thông, xúc
tiến thương mại.
3. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ có trách nhiệm cung cấp thông tin
về tình hình hoạt động và kết quả thụ hưởng chính sách hỗ trợ phục vụ quản lý
nhà nước.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định điều kiện, trình tự,
thủ tục, thẩm quyền chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Điều 40. Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm
của địa phương
1. Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia được thành lập để đầu tư,
cùng đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đầu tư vào quỹ khác cho khởi
nghiệp sáng tạo, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia. Quỹ đầu tư
mạo hiểm quốc gia được cấp vốn điều lệ từ ngân sách nhà nước và được quyền nhận
tài trợ, viện trợ và nguồn vốn hợp pháp khác mà không làm tăng vốn điều lệ của
Quỹ.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện về nguồn lực,
nhu cầu thực tiễn, quyết định việc thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương
để đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo địa
phương. Quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương được cấp vốn điều lệ từ ngân sách
nhà nước và được quyền nhận tài trợ, viện trợ và nguồn vốn hợp pháp khác mà
không làm tăng vốn điều lệ của quỹ.
3. Quỹ hoạt động theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, chấp
nhận rủi ro có kiểm soát, trong đó tổng mức tổn thất phát sinh từ hoạt động đầu
tư không vượt quá ngưỡng rủi ro đã được xác định trong chiến lược đầu tư hoặc kế
hoạch đầu tư, trên cơ sở tổng thể danh mục đầu tư và trong một chu kỳ đầu tư
xác định được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Chính phủ. Quỹ
không áp dụng yêu cầu bảo toàn vốn theo từng năm tài chính, theo từng dự án,
nhiệm vụ cụ thể.
4. Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia, quỹ đầu tư mạo hiểm của địa
phương được hợp tác, thuê tổ chức, cá nhân chuyên nghiệp quản lý, điều hành; có
cơ chế hợp tác, phối hợp sử dụng hiệu quả nguồn lực, chuyên gia của quỹ trong
nước, nước ngoài; có cơ chế giám sát và đánh giá độc lập về rủi ro, hiệu quả đầu
tư, tác động xã hội, hiệu quả thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân; có nghĩa vụ
công bố báo cáo định kỳ, giải trình, cung cấp thông tin phục vụ quản lý nhà nước.
5. Tổ chức, cá nhân quản lý, điều hành Quỹ đầu tư mạo hiểm
quốc gia, quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương được miễn trách nhiệm dân sự, loại
trừ trách nhiệm hành chính liên quan đến tổn thất đầu tư, nếu tổn thất phát
sinh do rủi ro khách quan và đã tuân thủ đầy đủ nguyên tắc đầu tư, quy định nội
bộ của quỹ và nghĩa vụ minh bạch, trung thực trong quá trình ra quyết định đầu
tư.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định việc
thành lập, cơ cấu tổ chức, hoạt động, quản lý, cơ cấu tỷ lệ phần vốn từ
ngân sách nhà nước, sử dụng vốn, cơ chế giám sát đối với Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc
gia, quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương.
Điều 41. Tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán chuyên biệt
cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
1. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con được tổ chức thị trường
giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thông
qua một phân bảng chuyên biệt giao dịch, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo.
2. Đối tượng tham gia thị trường giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo bao gồm nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
theo quy định của pháp luật về chứng khoán, Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia, quỹ đầu
tư mạo hiểm của địa phương, quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp,
tổ chức tài chính và quỹ đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo trong nước và quốc tế,
tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu
tư cá nhân cho khởi nghiệp sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền công nhận và đối
tượng khác theo quy định của Chính phủ.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định điều kiện đặc thù cho
đăng ký giao dịch, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Chương V
XÂY DỰNG TIỀM LỰC KHOA HỌC,
CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Mục 1. TỔ CHỨC CÓ HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC, CÔNG
NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Điều 42. Phát triển tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Nhà nước thúc đẩy phát triển tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, không phân biệt công lập hay ngoài công lập;
ưu tiên nguồn lực hình thành, phát triển một số tổ chức có vai trò, nhiệm vụ dẫn
dắt trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Chính phủ quy định về loại hình tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điều 43. Tổ chức khoa học và công nghệ
1. Hình thức của tổ chức khoa học và công nghệ được quy định như sau:
a) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm và hình thức
khác do Chính phủ quy định;
b) Cơ sở giáo dục đại học được thành lập theo quy định của pháp luật về
giáo dục đại học; bệnh viện được thành lập theo quy định của pháp luật về khám
bệnh, chữa bệnh;
c) Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức
trung tâm, văn phòng và hình thức khác do Chính phủ quy định.
2. Tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập khi có đủ các điều kiện
sau đây:
a) Có điều lệ tổ chức và hoạt động, mục tiêu, phương hướng hoạt động phù
hợp với quy định của pháp luật;
b) Có nhân lực khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng
yêu cầu thực hiện mục tiêu, phương hướng và điều lệ tổ chức và hoạt động;
c) Đối với tổ chức có vốn nước ngoài, có mục đích, nội dung, lĩnh vực hoạt
động phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm quốc phòng, an ninh, yêu cầu
phát triển của Việt Nam và được cho phép đặt trụ sở làm việc tại Việt Nam.
3. Tổ chức, cá nhân được thành lập, góp vốn thành lập tổ chức khoa học
và công nghệ theo quy định của pháp luật. Thủ tướng Chính phủ quy định lĩnh vực
cá nhân được thành lập, góp vốn thành lập tổ chức khoa học và công nghệ.
4. Tổ chức được thành lập đáp ứng các quy định tại khoản 2 Điều này được
cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ chức khoa học và công nghệ sau khi tiến hành
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Cơ sở giáo dục đại học, bệnh viện được thành lập theo quy định của
pháp luật về giáo dục đại học, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, trong chức
năng, nhiệm vụ quy định bởi cấp có thẩm quyền có chức năng nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ hoặc cung cấp dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ chức khoa học và công nghệ.
6. Tổ chức khoa học và công nghệ có quyền sau đây:
a) Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo theo phạm vi được cấp giấy chứng nhận; được phép đăng ký kinh
doanh, được hoạt động trong lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật có liên
quan;
b) Thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp trực thuộc, văn
phòng đại diện và chi nhánh trong nước, nước ngoài có phạm vi hoạt động phù hợp
với lĩnh vực đã đăng ký tại Việt Nam theo quy định của pháp luật;
c) Hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ, góp vốn bằng tiền, tài sản, quyền
sở hữu trí tuệ để hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và sản xuất,
kinh doanh theo quy định của pháp luật;
d) Chuyển đổi thành doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
đ) Là đối tượng ưu tiên hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
e) Được hỗ trợ sử dụng hạ tầng khoa học và công nghệ được đầu tư từ ngân
sách nhà nước.
7. Tổ chức khoa học và công nghệ có nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo đúng
lĩnh vực đã được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký tổ chức khoa học và
công nghệ;
b) Bảo đảm duy trì đáp ứng các điều kiện của tổ chức khoa học và công
nghệ trong suốt quá trình hoạt động;
c) Thực hiện yêu cầu về quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo;
d) Thực hiện trách nhiệm phổ biến tri thức, thúc đẩy phát triển khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo;
đ) Cập nhật thông tin tình hình, kết quả hoạt động hằng năm trên Nền tảng
số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể tổ chức khoa học và
công nghệ.
Điều 44. Trách nhiệm của cơ quan chủ quản của tổ chức khoa
học và công nghệ
1. Kiểm tra, giám sát để bảo đảm tổ chức khoa học và công nghệ tuân thủ đầy đủ các điều kiện thành lập và hoạt động theo đúng lĩnh vực đã được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký tổ chức khoa học và công nghệ.
2. Đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ làm cơ sở xác định mức hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước, điều chỉnh, đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ.
3. Chịu trách nhiệm thực hiện việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải
thể tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật.
Điều 45. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập
1. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập là tổ chức khoa học và công
nghệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội thành lập và quản lý.
2. Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ kinh phí hoạt động,
giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập
về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính, hợp tác quốc tế, liên doanh, liên kết.
3. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập, trừ cơ sở giáo dục đại học,
được quyền có nhân sự đồng cơ hữu với cơ sở giáo dục đại học.
4. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thành lập, tham gia thành
lập hoặc tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; được cử viên chức tham gia
điều hành doanh nghiệp, làm việc định kỳ tại doanh nghiệp.
5. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập được cử viên chức sang làm việc
tại doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ khác trong thời gian nhất định
để trao đổi học thuật, nâng cao năng lực, nắm bắt nhu cầu công nghệ; có trách
nhiệm giữ nguyên chế độ lương, quy hoạch, bổ nhiệm, thi đua, khen thưởng và các
chế độ, chính sách khác đối với viên chức được cử.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 46. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập đặc thù
1. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập đặc thù là tổ chức khoa học và
công nghệ công lập được áp dụng cơ chế đặc thù riêng về tài chính, tổ chức bộ
máy, biên chế và nhân sự theo quy định của Chính phủ.
2. Tổ chức khoa học và
công lập đặc thù quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:
a) Tổ chức do cơ quan có thẩm quyền thành lập trên cơ sở văn bản hợp tác
với tổ chức quốc tế, quốc gia để trực tiếp thực hiện hoặc hỗ trợ nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Việt Nam ưu tiên đầu tư;
b) Trung tâm, viện nghiên cứu xuất sắc được thành lập để tập hợp chuyên
gia, nhà khoa học trong nước, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
và nhà khoa học nước ngoài đến làm việc kiêm nhiệm hoặc biệt phái.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi
mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo
1. Trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung
tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, trung
tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh,
trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia được xác định dựa trên tiêu
chí về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực, năng lực thực hiện, mục tiêu, kết quả hoạt
động.
2. Các loại hình tổ chức có hoạt động nghiên cứu và phát triển, đổi mới
sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp
sáng tạo đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này có thể yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền công nhận để làm căn cứ áp dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo
quy định của pháp luật.
3. Tổ chức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được ưu tiên thuê đất,
cơ sở hạ tầng tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ
cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung; ưu
tiên sử dụng trang thiết bị nghiên cứu, phát triển tại phòng thí nghiệm dùng
chung, cơ sở ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo; được hỗ trợ thông tin, truyền
thông, xúc tiến thương mại; được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật;
có trách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình hoạt động và kết quả thụ hưởng
chính sách ưu đãi, hỗ trợ phục vụ quản lý nhà nước.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 48. Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
Đơn vị sự nghiệp công
lập trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm:
1. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập, trừ cơ sở giáo dục đại học, bệnh
viện và các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc cơ sở giáo dục đại học, bệnh viện này;
2. Trung tâm đổi mới sáng tạo công lập;
3. Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo công lập;
4. Tổ chức khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để cung cấp
dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo.
Mục 2. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI
MỚI SÁNG TẠO
Điều 49. Nhân lực hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo
Nhân lực hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm: cá
nhân quản lý, trực tiếp thực hiện hoặc hỗ trợ hoạt động khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo.
Điều 50. Chức danh khoa học, chức danh công nghệ
1. Chức danh khoa học, chức danh công nghệ là tên gọi thể hiện
trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng của cá nhân hoạt động trong
lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
tham gia giảng dạy, đào tạo đại học, sau đại học được xét công nhận và bổ nhiệm
chức danh giáo sư, phó giáo sư theo quy định của pháp luật về giáo dục đại học.
3. Người có học vị tiến sĩ hoặc có công trình xuất sắc, giải
thưởng cao về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được xét công nhận, bổ nhiệm
vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ cao hơn không phụ thuộc vào năm
công tác.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 51. Quyền của cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo
1. Tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo.
2. Được cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác giao nhiệm vụ, trang bị phương
tiện và tạo điều kiện làm việc phù hợp.
3. Được tham gia tư vấn, đề xuất ý kiến về chính sách, pháp luật, Chiến
lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo, kế hoạch
về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4. Hợp tác với tổ chức, cá nhân khác để hoạt động khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo, ký kết hợp đồng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
5. Được tiếp cận thông tin, cơ sở dữ liệu về khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo để hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
6. Được tham gia tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo; được tham gia hội, hiệp hội khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
7. Được tham gia hoạt động đào tạo, tư vấn, hội nghị, hội thảo khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo; tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.
8. Được xét công nhận, bổ nhiệm vào chức danh khoa học, chức danh công
nghệ theo quy định của Luật này.
9. Được khen thưởng, hưởng quyền lợi, quyền
ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 52. Nghĩa vụ của cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
1. Đóng góp trí tuệ, tài năng vào sự nghiệp phát triển khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an
ninh.
2. Tuân thủ liêm chính khoa học, đạo đức
nghề nghiệp trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Thực hiện trách nhiệm truyền thông, phổ biến tri thức, kết quả, thành
tựu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho
cộng đồng.
4. Tuân thủ quy định của tổ chức nơi làm việc, thỏa thuận của tổ chức đầu
tư, tài trợ khi cung cấp, công bố kết quả
nghiên cứu, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ được tạo ra từ kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức đó.
5. Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Điều 53. Tổng công trình sư về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo
1. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
việc giao tổng công trình sư là người có uy tín, kinh nghiệm, năng lực vượt trội
để chủ trì thực hiện chương trình, nhiệm vụ sau đây:
a) Chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt;
b) Chương trình khoa học và công nghệ phát triển công nghệ chiến lược;
c) Chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác
có quy mô lớn, ý nghĩa đặc biệt, có tính liên ngành, quan trọng đối với phát
triển kinh tế - xã hội theo quy định của Chính phủ.
2. Trong quá trình thực hiện chương trình, nhiệm vụ được giao, tổng công
trình sư có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng, trình duyệt và chịu trách nhiệm về kiến trúc tổng thể, lộ
trình công nghệ;
b) Quyết định vấn đề kỹ thuật, công nghệ chiến lược, giải quyết vướng mắc
kỹ thuật phức tạp;
c) Phê duyệt thay đổi thiết kế lớn;
d) Chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn cho người đứng đầu chương trình, nhiệm
vụ, hợp phần (nếu có) và đơn vị liên quan;
đ) Quyền tiếp cận thông tin đầy đủ, yêu cầu giải trình;
e) Quyền bảo lưu ý kiến chuyên môn và báo cáo trực tiếp lên cấp cao nhất
khi có khác biệt trọng yếu;
g) Tham gia thẩm định, đánh giá các đề xuất, dự án liên quan;
h) Chịu trách nhiệm cá nhân toàn diện trước cơ quan có thẩm quyền về kết
quả kỹ thuật, công nghệ của chương trình, nhiệm vụ.
3. Thẩm quyền và quy trình lựa chọn tổng công trình sư do Chính phủ quy
định.
4. Ngoài được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật này, trong quá trình thực hiện chương
trình, nhiệm vụ được giao, tổng công trình sư còn được hưởng các ưu đãi sau đây:
a) Hưởng lương, phụ cấp ưu đãi đặc biệt theo thỏa thuận; được ngân sách
nhà nước bảo đảm để bố trí nhà ở công vụ theo quy định của pháp luật về nhà ở;
được bố trí phương tiện đi lại công vụ trong thời gian thực hiện nhiệm vụ; bảo
đảm an sinh xã hội cho tổng công trình sư và gia đình;
b) Được đề xuất cơ quan có thẩm quyền điều động nhân lực hoạt động khoa
học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ tham gia thực hiện nhiệm vụ; được
chủ động lựa chọn, điều động, sử dụng nhân lực trong phạm vi chương trình, nhiệm
vụ; thuê chuyên gia trong nước, nước ngoài và chi trả theo mức kinh phí thỏa
thuận;
c) Chủ động quyết định sử dụng kinh phí, nguồn lực được giao, bao gồm cả
kinh phí để mua trực tiếp công nghệ, sản phẩm, thiết bị nước ngoài cần thiết
cho việc giải mã với giá thỏa thuận, mua trực tiếp bí quyết công nghệ với giá
thỏa thuận;
d) Được tạo điều kiện và hỗ trợ kinh phí khảo sát, trao đổi khoa học với
nhà khoa học nước ngoài để cập nhật công nghệ mới.
5. Trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp,
việc xét công nhận tổng công trình sư thực hiện theo quy định của pháp luật về
công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Tổng công trình sư
trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp được hưởng
ưu đãi theo quy định của Luật này và Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động
viên công nghiệp.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 54. Thu hút, trọng dụng nhân tài về khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo
1. Nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo là cá nhân có năng lực đặc biệt, có đóng góp đột phá hoặc có tầm ảnh
hưởng đến sự phát triển của ngành, lĩnh vực trên phạm vi quốc gia hoặc quốc tế,
đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:
a) Đạt giải thưởng về khoa học, công nghệ uy tín trong nước
hoặc quốc tế; có kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế
hàng đầu hoặc trong các hội nghị quốc tế chuyên ngành;
b) Là tác giả sáng chế hoặc giống cây trồng được bảo hộ; có
sản phẩm, mô hình, giải pháp hoặc dịch vụ mới, đột phá được ứng dụng thực tiễn,
mang lại giá trị lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc bảo vệ môi trường;
c) Đã được giao chủ trì dự án trọng điểm quốc gia, quốc tế
hoặc dự án khởi nghiệp sáng tạo đột phá.
2. Nhà nước có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài về
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sau đây:
a) Nhà nước ưu tiên giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là nhiệm vụ phục vụ phát triển
công nghệ cao, công nghệ chiến lược cho tổ chức, doanh nghiệp thu hút được nhân
tài tham gia thực hiện;
b) Ngoài chính sách ưu đãi quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật này, Nhà nước có chính sách đãi ngộ đặc
biệt đối với nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
thông qua ưu đãi tài chính, ưu đãi phi tài chính, ưu đãi về điều kiện làm việc,
bố trí nhà ở. Nhà nước tạo cơ hội phát triển sự nghiệp lâu dài, thu hút nhân
tài từ nước ngoài; bảo đảm an sinh xã hội cho nhân tài và gia đình;
c) Nhà nước thúc đẩy phát triển nguồn nhân
lực, nhân tài về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua việc tổ chức
đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết hợp với
xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, tạo cơ hội nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
3. Việc xác định nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo được thực hiện thông qua tiêu chí và minh chứng cụ thể, không cần thủ
tục công nhận danh hiệu chính thức. Trên cơ sở tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều
này, cơ quan có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ quyết định việc áp dụng chính
sách thu hút, đãi ngộ nhân tài.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 55. Ưu đãi đối với cá nhân hoạt động khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Cá nhân hoạt động
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên
cứu khoa học, phát triển công nghệ; được ưu tiên trong bổ nhiệm, tuyển dụng, bố
trí vị trí việc làm, thu nhập, thuế thu nhập cá nhân, lao động, nhà ở, xuất cảnh,
nhập cảnh, cư trú và cấp giấy phép lao động.
2. Tổng công trình sư được ưu đãi theo quy định tại khoản
4 Điều 53 của Luật này.
3. Nhân tài được ưu đãi theo quy định tại khoản 2 Điều 54
của Luật này.
4. Nghiên cứu viên sau tiến sĩ, nghiên cứu sinh của chương trình đào tạo
tiến sĩ, học viên của chương trình đào tạo thạc sĩ được xem xét tài trợ hoạt động
nghiên cứu từ ngân sách nhà nước.
5. Nhà khoa học trẻ tài năng, kỹ sư trẻ tài năng được ưu tiên hỗ trợ
nâng cao trình độ ở nước ngoài, chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo và giao kinh phí hỗ trợ nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực chuyên môn.
6. Nhà khoa học xuất sắc có thành tích nổi bật trong nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ được xem xét tài trợ kinh phí để chủ động thực hiện
ý tưởng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có tính đột phá, tiềm năng ứng
dụng cao, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
7. Chuyên gia, nhà khoa học trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài được hưởng các ưu đãi sau đây:
a) Được khuyến khích tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo tại Việt Nam;
b) Chuyên gia, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài trong thời gian làm việc tại Việt Nam có
quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Luật này
và được hưởng ưu đãi về thu nhập, điều kiện làm việc, về xuất cảnh, nhập cảnh,
cư trú, nhà ở và ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 56. Danh hiệu vinh dự Nhà nước, khen thưởng và giải
thưởng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo được phong, tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước, giải thưởng và
các hình thức khen thưởng khác theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
2. Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức, cá nhân nước ngoài được đặt, tặng giải thưởng nhằm khuyến khích phát triển
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức, cá nhân được nhận danh hiệu, giải thưởng về khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật
Việt Nam.
4. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh căn cứ tình hình và nhu cầu động viên, khen thưởng trong phạm vi, lĩnh vực
quản lý của mình để xét, tặng giải thưởng về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo cho tập thể, cá nhân có kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo xuất sắc.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 57. Cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo, nhà đầu tư, chuyên gia hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo
1. Cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chuyên gia
hỗ trợ, nhà đầu tư cá nhân cho khởi nghiệp sáng tạo có thể yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền công nhận là đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của
pháp luật và chính sách hỗ trợ của chương trình, đề án hỗ trợ đổi mới sáng tạo,
khởi nghiệp sáng tạo.
2. Cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được ưu tiên
thuê đất, cơ sở hạ tầng tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu
công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập
trung; ưu tiên sử dụng trang thiết bị nghiên cứu, phát triển tại các phòng thí
nghiệm dùng chung, cơ sở ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo; được hỗ trợ thông
tin, truyền thông, xúc tiến thương mại.
3. Cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này có
trách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình hoạt động và kết quả thụ hưởng
chính sách hỗ trợ phục vụ quản lý nhà nước.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục, điều
kiện, thẩm quyền công nhận đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 58. Viên chức tham gia góp vốn, làm việc, quản lý, điều
hành tại doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu
1. Viên chức, viên chức quản lý làm việc tại tổ chức khoa học và công
nghệ công lập được tham gia góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp,
làm việc tại doanh nghiệp do tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập để
thương mại hóa kết quả nghiên cứu do tổ chức đó tạo ra khi được sự đồng ý của
người đứng đầu tổ chức.
2. Trường hợp viên chức quản lý là người đứng đầu tổ chức khoa học và
công nghệ công lập thì phải được sự đồng ý của cấp trên quản lý trực tiếp.
Mục 3. HẠ TẦNG CHO KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Điều 59. Xây dựng, phát triển hạ tầng phục vụ nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Nhà nước đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, duy trì và vận
hành cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó tập trung phát triển các thư
viện chuyên ngành, bảo tàng chuyên ngành, trung tâm nghiên cứu, trung tâm thử
nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật phục
vụ cho việc nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược.
Phương thức đầu tư hạ tầng phát triển công nghệ chiến lược thực hiện
theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 36 của Luật
này.
2. Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết
bị dùng chung trong một số lĩnh vực để phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Tổ chức quản lý cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị dùng
chung quy định tại khoản 2 Điều này có trách nhiệm sau đây:
a) Tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sử dụng chung;
b) Công khai danh mục thiết bị, tư liệu và tổ chức sử dụng trên Nền tảng
số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia;
c) Công khai chi phí liên quan, báo cáo định kỳ về hiệu quả sử dụng.
4. Tổ chức quản lý cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị dùng
chung quy định tại khoản 2 Điều này có thể thu chi phí dịch vụ dựa trên chi phí
thực tế, bao gồm bảo trì, sửa chữa, vận hành và khấu hao, theo định mức kinh tế
- kỹ thuật được công bố công khai.
5. Nhà nước khuyến khích phát triển các cụm, khu nghiên cứu và phát triển,
đổi mới sáng tạo tập trung, bao gồm cả khu công nghệ cao, công viên khoa học, cụm
đổi mới sáng tạo.
6. Nhà nước đầu tư xây dựng, phát triển, tham gia khai thác hạ tầng, mạng
lưới, hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trong nước, nước ngoài để kết nối
hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia với quốc tế.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 60. Xây dựng hạ tầng thông tin, thống kê khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư hạ tầng thông tin, nguồn tin, thống kê khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo, bao gồm cả Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và
Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo để phục vụ nghiên cứu,
quản lý, hoạch định chính sách, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2. Nhà nước đầu tư, hỗ trợ tổ chức có hoạt động
trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo trong thu thập, xử lý, quản lý và phổ biến thông tin, tri thức khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ sở dữ liệu mở phục vụ cộng đồng.
3. Khuyến khích tổ chức, cá nhân tài trợ và tham gia các hoạt động quy định
khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Mục 4. TÀI CHÍNH CHO KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Điều 61. Ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo
1. Nhà nước bảo đảm chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng
năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước trong nguồn tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ.
2. Ngân sách nhà nước chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải
được sử dụng có trọng tâm, trọng điểm, gắn với kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ, theo nguyên tắc đề cao trách nhiệm của các cơ quan ở trung ương và địa
phương.
3. Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngân sách nhà nước nhằm khuyến khích tổ
chức, doanh nghiệp đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 62. Nội dung chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo được sử dụng cho nội dung sau đây:
a) Chi đầu tư phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Chi thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà
nước tuyển chọn, giao trực tiếp, tài trợ thực hiện;
c) Chi cho hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng
dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo;
nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật; đăng ký, bảo hộ,
quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ;
d) Chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên của tổ chức khoa học và công nghệ
công lập;
đ) Chi thực hiện nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao cho tổ chức khoa học
và công nghệ công lập ngoài phạm vi dự toán thường xuyên quy định tại điểm d
khoản này;
e) Chi hoạt động quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
g) Chi thực hiện chính sách hỗ trợ thu hút, sử dụng, đãi ngộ cá nhân hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
h) Chi cấp vốn điều lệ cho các quỹ đầu tư mạo hiểm; chi quản lý và hoạt động
theo chức năng của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới
công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo của
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ
quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
i) Chi cho hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
k) Nội dung chi khác.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 63. Lập dự toán, phân bổ, quản lý, sử dụng, quyết toán
ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Việc lập nội dung đầu tư phát triển khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo trong kế hoạch tài chính 05 năm và kế hoạch đầu tư
công trung hạn thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư
công, bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo của từng giai đoạn.
2. Việc lập dự toán chi ngân sách nhà nước hằng năm cho
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được thực hiện như sau:
a) Bao gồm dự toán chi đầu tư phát triển, dự toán chi
thường xuyên sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương;
b) Được lập theo các nội dung chi quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật này theo hướng dẫn của cơ quan quản
lý nhà nước ở trung ương về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Căn cứ kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tổng
thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm, kế hoạch về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
d) Dự toán kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước để
triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tài
trợ, đặt hàng thực hiện gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp và dự
toán kinh phí cho nhiệm vụ mở mới trên cơ sở số nhiệm vụ dự kiến và kinh phí
trung bình theo năm của các nhiệm vụ trong các năm trước được xác định theo từng
loại hình nhiệm vụ, tăng thêm khi có thay đổi chính sách, chế độ có liên quan
và điều chỉnh do lạm phát, giảm phát;
đ) Lập dự toán kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên
cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thực hiện hằng năm, trên cơ sở
khối lượng nội dung hoạt động dự kiến do cơ quan chủ quản xác định và dự trù
kinh phí cần thiết để thực hiện, có tính đến điều kiện năng lực nhân lực, cơ sở
vật chất và lĩnh vực chuyên môn của tổ chức. Việc lập dự toán giai đoạn tiếp
theo được xác định trên cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức trong giai
đoạn trước liền kề. Dự toán kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước để triển
khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho tổ chức khoa học
và công nghệ công lập gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp và dự toán
kinh phí cho nhiệm vụ mở mới trên cơ sở số nhiệm vụ dự kiến và kinh phí trung
bình theo năm của các nhiệm vụ trong các năm trước, tăng thêm khi có thay đổi
chính sách, chế độ có liên quan và điều chỉnh do lạm phát, giảm phát;
e) Dự toán kinh phí hằng năm từ nguồn kinh phí đầu tư
phát triển khác được lập trên cơ sở căn cứ vào quyết định phê duyệt nhiệm vụ,
tiến độ giải ngân và kết quả hạng mục công việc đã được kiểm tra, đánh giá; Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở trung ương và địa phương có trách nhiệm tổng hợp
kế hoạch chi đầu tư phát triển khác hằng năm, bao gồm danh mục, mức vốn bố trí
chi từng chương trình, nhiệm vụ, dự án gửi về cơ quan quản lý nhà nước về khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở trung ương để tổng hợp.
3. Việc phân bổ ngân sách nhà nước chi cho khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
a) Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh và Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo; gắn với kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
05 năm, kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, định hướng công
nghệ ưu tiên và chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được
phê duyệt;
b) Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ,
chương trình có quy mô lớn, tính liên ngành, liên vùng, có sự tham gia của
doanh nghiệp và tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công
nghệ chiến lược, công nghệ mới nổi có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh
tranh quốc gia;
c) Phân bổ ngân sách nhà nước được thực hiện trên cơ sở
đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước
trong các giai đoạn trước và khả năng đóng góp thực tế của nhiệm vụ, chương trình,
dự án vào mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc
đánh giá gắn với trách nhiệm giải trình của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và địa phương;
d) Bảo đảm công khai, minh bạch;
đ) Kinh phí tài trợ, đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo; kinh phí hỗ trợ lãi suất vay, hỗ trợ triển khai hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giao về các quỹ quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật này được cấp bằng lệnh chi tiền
vào tài khoản của các quỹ tại Kho bạc Nhà nước;
e) Phần ngân sách nhà nước không phân bổ qua quỹ được
giao dự toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của
pháp luật.
4. Việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước được thực
hiện như sau:
a) Ngân sách nhà nước phải được sử dụng với mục tiêu bảo
đảm hiệu quả tổng thể, tiến độ giải ngân, gắn với trách nhiệm trực tiếp, toàn
diện của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, có sự giám sát, kiểm tra, đánh giá
thường xuyên của cơ quan có thẩm quyền;
b) Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
có trách nhiệm quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, đánh giá và báo cáo tình
hình thực hiện, kết quả, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trên Nền tảng số
quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; lưu trữ đầy đủ chứng
từ và giải trình khi cơ quan chức năng yêu cầu;
c) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo được chi theo ủy nhiệm chi của tổ chức chủ trì; quyết toán sau khi
hoàn thành hợp đồng, không phụ thuộc vào năm tài chính; thực hiện quyết toán
ngân sách nhà nước hằng năm theo niên độ ngân sách đối với số kinh phí thực chi
đã được Kho bạc Nhà nước nơi tổ chức chủ trì mở tài khoản giao dịch xác nhận;
d) Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí hỗ trợ hoạt động thường
xuyên của tổ chức khoa học và công nghệ công lập để bảo đảm hoàn thành các kết
quả đầu ra cam kết theo dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm.
5. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo áp
dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần theo nội dung
nghiên cứu thực hiện như sau:
a) Việc khoán chi đến sản phẩm cuối cùng được áp dụng khi
tổ chức chủ trì có cam kết đạt được các sản phẩm là kết quả cuối cùng của nhiệm
vụ. Khi áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, tổ chức chủ trì được tự chủ,
tự quyết định việc sử dụng kinh phí, được điều chỉnh giữa các khoản mục chi, nội
dung chi, quyết toán tổng số kinh phí thực hiện nhiệm vụ theo mục chi khoán
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
b) Việc khoán chi từng phần theo nội dung nghiên cứu, tổ
chức chủ trì được tự chủ sử dụng kinh phí khoán, trừ kinh phí chi mua tài sản trang
bị để triển khai thực hiện nhiệm vụ, thuê dịch vụ thuê ngoài chưa có tiêu chuẩn,
định mức và đoàn đi công tác nước ngoài. Tổ chức chủ trì được quyền điều chỉnh
các nội dung chi trong cùng loại hình chi;
c) Tổ chức chủ trì được sử dụng kinh phí từ công lao động
để thuê chuyên gia trong nước, nước ngoài theo thỏa thuận; chịu trách nhiệm sử
dụng kinh phí đúng mục đích, lưu trữ chứng từ và giải trình khi được yêu cầu.
Kinh phí chi cho công lao động phải nhập vào nguồn thu của tổ chức chủ trì để
trả cho cá nhân trực tiếp tham gia nhiệm vụ, hỗ trợ nhiệm vụ và những nội dung
thuê khoán chuyên môn khác, trừ khoản chi cho cá nhân không thuộc tổ chức chủ
trì.
6. Quyết toán ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước,
pháp luật về đầu tư công.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 64. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ
đổi mới công nghệ quốc gia
1. Quỹ phát triển khoa
học và công nghệ quốc gia được hình thành từ nguồn kinh phí được cấp hằng năm từ
ngân sách nhà nước, các khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp của tổ
chức, cá nhân. Quỹ thực hiện chức năng tài trợ, đặt hàng thực hiện chương
trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ; hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công
nghệ quốc gia.
2. Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia được
hình thành từ nguồn kinh phí được cấp hằng năm từ ngân sách nhà nước, các khoản
đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Quỹ thực hiện
chức năng tài trợ, đặt hàng thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo, hỗ trợ lãi suất vay, hỗ trợ kinh phí để ứng dụng công nghệ,
chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hoạt động
phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy
văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.
3. Việc lập kế hoạch và xác định tổng ngân sách nhà nước cấp hằng năm
cho các quỹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không tính đến khoản đóng
góp tự nguyện, hiến, tặng cho của tổ chức, cá nhân. Tại thời điểm kết thúc năm
ngân sách, khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho không sử dụng hết được giữ lại quỹ để sử dụng, không phải nộp
lại ngân sách nhà nước.
4. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc
gia không phải là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 65. Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1. Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
tùy theo tình hình thực tế thành lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo để đặt hàng, tài trợ cho chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ kinh phí, hỗ trợ lãi suất vay để ứng dụng công nghệ,
chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hoạt động
nâng cao năng lực khoa học và công nghệ; hỗ trợ hoạt động phát triển hệ thống đổi
mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng
tạo, khởi nghiệp sáng tạo.
2. Nguồn kinh phí của quỹ được cấp hằng năm từ ngân sách nhà nước, các
khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
3. Việc lập kế hoạch và xác định tổng ngân sách nhà nước cấp hằng năm
cho quỹ không tính đến khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho của tổ chức, cá
nhân. Tại thời điểm kết thúc năm ngân sách, khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng
cho không sử dụng
hết được giữ lại quỹ để sử dụng, không phải nộp lại ngân sách nhà nước.
4. Kết quả hoạt động của quỹ phải được định kỳ đánh giá dựa trên hiệu quả
phục vụ các mục tiêu chiến lược, kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo 05 năm, kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, khả
năng đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
phát triển các ngành, lĩnh vực.
5. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cơ quan, đơn vị hiện có trong hệ thống tổ
chức của mình để thực hiện nhiệm vụ điều hành quỹ, chịu trách nhiệm kiểm tra,
giám sát hoạt động của đơn vị điều hành quỹ, bảo đảm việc giải ngân và sử dụng ngân sách nhà nước đã
cấp đúng tiến độ và có hiệu quả.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 66. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh
nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp
1. Doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp được phép trích lập quỹ phát
triển khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp. Quỹ được nhận khoản đóng góp tự nguyện, hiến, tặng cho hợp pháp của tổ
chức, cá nhân để thực hiện các nhiệm vụ của quỹ.
2. Doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp được sử dụng quỹ phát triển
khoa học và công nghệ để thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Trực tiếp thực hiện, đặt hàng hoặc thuê thực hiện nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới
sáng tạo; nghiên cứu, xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn cơ sở; đăng ký, bảo hộ, quản
lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ;
c) Tổ chức nghiên cứu, thuê nghiên cứu tại nước ngoài không phải thông
qua dự án đầu tư;
d) Thực hiện mua, sáp nhập, đầu tư hoặc cùng đầu tư vào dự án khởi nghiệp
sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự
nghiệp chỉ được sử dụng tối đa 5% thu nhập tính thuế hằng năm cho nội dung quy
định tại điểm này;
d1)[2] Thực hiện hoạt động chuyển đổi
số theo quy định của pháp luật về chuyển đổi số;
đ) Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này.
3. Ngoài nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp nhà nước
được sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ để thực hiện dự án trọng điểm,
dự án phát triển công nghệ chiến lược theo cơ chế đặc biệt quy định tại Điều 31 của Luật này.
4. Doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp có quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong quản lý, sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ.
5. Việc sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp
nhà nước, tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đơn vị sự nghiệp công lập để
thực hiện mua, sáp nhập, đầu tư, cùng đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng
tạo phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, quản lý rủi ro tài chính,
phòng ngừa xung đột lợi ích;
b) Hiệu quả đầu tư được xem xét trên cơ sở đánh giá tổng thể, trong dài
hạn, không áp dụng yêu cầu bảo toàn vốn hằng năm và không áp dụng đánh giá theo
từng dự án, nhiệm vụ cụ thể;
c) Tổng mức đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo không vượt quá
ngưỡng rủi ro đã được phê duyệt trong kế hoạch đầu tư của quỹ, được xác định
trên cơ sở tổng thể danh mục đầu tư hoặc trong một chu kỳ đầu tư xác định;
d) Có cơ chế theo dõi, đánh giá định kỳ kết quả đầu tư, kịp thời xử lý rủi
ro, tổn thất nếu có phát sinh.
6. Doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp, cá nhân quản lý, sử dụng quỹ
được miễn trách nhiệm dân sự, loại trừ trách nhiệm hành chính liên quan đến tổn
thất đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư quy định tại khoản 5 Điều này trong
trường hợp phát sinh tổn thất mặc dù đã thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định
liên quan trong quá trình thực hiện đầu tư và công khai, minh bạch, trung thực
trong quá trình ra quyết định đầu tư.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 67. Ưu đãi trong mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước đối
với sản phẩm, hàng hóa của tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động trong lĩnh vực
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1.[3] Sản phẩm
công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và sản phẩm
công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển
được sản xuất bởi doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ
cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao; sản phẩm, hàng hóa từ kết quả
của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt; sản phẩm, hàng
hóa từ kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước
được ưu đãi theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
2. Nhà nước xem xét tài trợ chi phí thử nghiệm, kiểm định, đánh giá chất
lượng sản phẩm tham gia trong mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước trong các trường
hợp sau đây:
a) Sản phẩm của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức khoa học và
công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao,
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược;
b) Sản phẩm của tổ chức, doanh nghiệp là kết quả tạo ra từ kết quả
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương VI
HỘI NHẬP VÀ HỢP TÁC QUỐC
TẾ VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Điều 68. Nguyên tắc hội nhập, hợp tác quốc tế về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tích cực, chủ động hội nhập trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền, an
ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi; tham gia giải quyết các vấn đề khoa học,
công nghệ toàn cầu.
2. Đa dạng hóa, đa phương hóa hợp tác, đầu tư với nước ngoài; bảo đảm
ngân sách, cơ chế tài chính phù hợp để tham gia các hoạt động hội nhập.
3. Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo chuẩn mực quốc
tế gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
4. Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, nhất là các quốc gia có hệ
sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển; tận dụng nguồn lực
quốc tế để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới
sáng tạo, đặc biệt là đối với công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
5. Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ của các bên tham gia hợp tác quốc tế được
bảo vệ thông qua điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Điều 69. Hoạt động hội nhập, hợp tác quốc tế về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Tham gia xây dựng,
định hình các cơ chế hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khu vực và
quốc tế.
2. Tham gia các tổ chức, hiệp hội khu vực và quốc tế trong lĩnh vực khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Tham gia với các tổ chức nước ngoài, quốc tế trong việc thành lập tổ
chức, triển khai hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chung.
4. Thu hút, thuê chuyên gia, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài.
5. Tìm kiếm, chuyển giao công nghệ tiên tiến của nước ngoài; quảng bá kết
quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo ra nước
ngoài.
6. Phát triển mạng lưới đại diện khoa học và công nghệ ở nước ngoài.
Điều 70. Thúc đẩy hội nhập, hợp tác quốc tế về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Nhà nước tài trợ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
theo hình thức hợp tác song phương, đa phương, chuyển giao công nghệ.
2. Kinh phí tài trợ, đặt hàng nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các hoạt động hợp tác quốc tế được sử
dụng theo quy định của tổ chức cấp kinh phí, đồng
thời bảo đảm không vi phạm pháp luật Việt Nam.
3. Nhà nước đóng góp vào quỹ nghiên cứu chung với quốc gia, tổ chức quốc
tế theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế đã ký kết.
4. Nhà nước hỗ trợ pháp lý và tư vấn cho tổ chức, cá nhân tham gia hợp
tác quốc tế để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp liên quan đến
chuyển giao công nghệ.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[4]
Điều 71. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều, khoản của
các luật, nghị quyết có liên quan
1.[5] (được bãi bỏ)
2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số
07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 như
sau:
a) Bổ sung Điều 21a vào sau Điều 21 trong Chương II như sau:
“Điều 21a. Thẩm định, chuyển giao công nghệ trong trường hợp đặc thù
1. Thẩm định công nghệ trong trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu thẩm
định công nghệ do mình nghiên cứu tạo ra hoặc công nghệ do mình đầu tư nhằm ứng
dụng trong sản xuất, kinh doanh.
2. Trong gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế để thực hiện dự án quan
trọng quốc gia, hồ sơ mời thầu phải có điều kiện cam kết của tổng thầu, nhà thầu
nước ngoài về việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực cho tổ chức,
doanh nghiệp Việt Nam. Việc chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định của
Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:
“Điều 38. Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia
Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia thực hiện theo quy định của Luật Khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 39 như sau:
“3. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt
Nam; tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài; tổ chức,
cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển
giao công nghệ, giải mã công nghệ, đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp;”;
d) Bỏ cụm từ “Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ đổi mới công nghệ
quốc gia,” tại khoản 3 Điều 35;
đ) Bỏ cụm từ “Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia,” tại khoản 5 Điều 35.
3. Bổ sung các khoản 18, 19, 20 vào sau khoản 17 Điều 4 của Luật Thuế
thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 31/2024/QH15, Luật số
43/2024/QH15, Luật số 48/2024/QH15, Luật số 56/2024/QH15 và Luật số
71/2025/QH15 như sau:
“18. Thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.
19. Thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo khi kết quả nhiệm vụ được thương mại hóa theo quy định của pháp luật về
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ.
20. Thu nhập của nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia làm việc cho dự án khởi
nghiệp sáng tạo, sáng lập viên doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá
nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm.”.
4. Bổ sung điểm m vào sau điểm l khoản 1 Điều 157 của Luật Đất đai số
31/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 43/2024/QH15, Luật
số 47/2024/QH15, Luật số 58/2024/QH15, Luật số 71/2025/QH15 và Luật số
84/2025/QH15 như sau:
“m) Sử dụng đất để xây dựng phòng thí nghiệm, đất xây dựng cơ sở ươm tạo
công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đất xây dựng cơ sở thực
nghiệm, đất xây dựng cơ sở sản xuất thử nghiệm, đất xây dựng cơ sở vật chất, hạ
tầng dùng chung để hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới
sáng tạo của doanh nghiệp khoa học và công nghệ; tổ chức khoa học và công nghệ;
trung tâm nghiên cứu và phát triển; trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia,
trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia, trung tâm đổi mới sáng tạo
cấp tỉnh, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh.”.
5. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí số 103/2016/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 14 như sau:
“2. Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; tổ
chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật Khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên được
thành lập cơ quan tạp chí khoa học.
Cơ quan tạp chí khoa học được xuất bản nhiều tạp chí khoa học.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 21 như sau:
“1. Cơ quan báo chí hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu.
Cơ quan tạp chí khoa học hoạt động phù hợp với loại hình của cơ quan chủ
quản.”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 23 như sau:
“c) Có thẻ nhà báo còn hiệu lực. Người đứng đầu cơ quan báo chí thuộc tổ
chức tôn giáo, cơ quan tạp chí khoa học không áp dụng tiêu chuẩn này;”;
d) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 27 như sau:
“c) Đối với trường hợp cấp thẻ lần đầu, phải có thời gian công tác liên
tục tại cơ quan báo chí đề nghị cấp thẻ từ 02 năm trở lên tính đến thời điểm
xét cấp thẻ, trừ tổng biên tập của cơ quan tạp chí khoa học và trường hợp khác
theo quy định của pháp luật;”.
6. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 83a của Luật Xây dựng số
50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 03/2016/QH14, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 40/2019/QH14, Luật số
62/2020/QH14, Luật số 45/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15, Luật số 55/2024/QH15,
Luật số 61/2024/QH15 và Luật số 84/2025/QH15 như sau:
“b) Sự phù hợp của thiết kế xây dựng với thiết kế cơ sở đã
được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định, trừ trường hợp thiết kế xây
dựng có giải pháp thiết kế, công nghệ là kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo và phải bảo đảm không làm thay đổi về công năng sử
dụng công trình và mục tiêu đầu tư của dự án;”.
7. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số
50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12, Luật
số 42/2019/QH14 và Luật số 07/2022/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 86 như sau:
“b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả
dưới hình thức giao việc, thuê việc, tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn
gen cung cấp nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen theo hợp đồng tiếp cận
nguồn gen và chia sẻ lợi ích, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 135 như sau:
“1. Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa
vụ trả thù lao cho tác giả theo thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì
mức thù lao trả cho tác giả quy định như sau:
a) Trường hợp chủ sở hữu tự mình sử dụng đối tượng này trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh, 10% lợi nhuận trước thuế thu được tương ứng với giá trị mà
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đóng góp vào sản phẩm, dịch vụ
hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí đó;
b) Trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng này,
15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán từ
việc chuyển giao trước khi nộp thuế theo quy định.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 135 như sau:
“3. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có
đồng tác giả, mức thù lao theo quy định tại khoản 1 Điều này là mức dành cho
các đồng tác giả. Các đồng tác giả tự thỏa thuận việc phân chia số tiền thù lao
do chủ sở hữu chi trả.”;
d) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 164 như sau:
“b) Tổ chức, cá nhân đầu tư cho tác giả chọn tạo hoặc phát hiện và phát
triển giống cây trồng dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác;”;
đ) Sửa đổi, bổ sung câu mở đầu và điểm a khoản 1 Điều 191 như sau:
“1. Chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng có nghĩa vụ trả thù lao
cho tác giả giống cây trồng theo thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì
mức thù lao trả cho tác giả quy định như sau:
a) 10% lợi nhuận trước thuế mà chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng thu
được do tự mình sử dụng giống cây trồng được bảo hộ để sản xuất, kinh doanh
giống cây trồng đó;”;
e) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 191 như
sau:
“3. Trong trường hợp giống cây trồng có đồng tác giả, mức thù lao quy định
tại khoản 1 Điều này là mức dành cho các đồng tác giả; các đồng tác giả tự thỏa
thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ Bằng bảo hộ giống cây trồng chi trả.”;
g) Bỏ cụm từ “, Điều 86a” tại khoản 3 Điều 60, khoản 4 Điều 65 và khoản
2 Điều 71;
h) Bãi bỏ Điều 86a, Điều 133a, khoản 2 Điều 135, Điều 136a, khoản 6
Điều 139, khoản 3 và khoản 4 Điều 164, khoản 2 Điều 191, Điều 191a, Điều
191b, khoản 4 Điều 194.
8. Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1 Điều 45 của Luật Nhà ở số
27/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 43/2024/QH15, Luật
số 47/2024/QH15, Luật số 84/2025/QH15 và Luật số 90/2025/QH15 như sau:
“e) Tổng công trình sư theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo; nhân tài có đóng góp quan trọng cho quốc gia được cấp có
thẩm quyền công nhận theo quy định khác của pháp luật có liên quan;”.
9. Bãi bỏ các điều 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 của Nghị quyết số 193/2025/QH15
về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Điều 72. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Các điều 15, 61, 62, 63, 64, 65 và 66 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
3. Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 07/2022/QH15 (sau đây gọi chung là
Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có
hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2,
3, 6, 8 và 9 Điều 73 của Luật này.
Điều 73. Quy định chuyển tiếp
1. Đối với đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đề xuất đặt
hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã nộp cho
cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nhưng đến ngày 01 tháng 10 năm
2025 chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ thì trình tự, thủ tục xác định,
tuyển chọn, giao trực tiếp, phê duyệt nhiệm vụ
khoa học và công nghệ được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 và văn bản
quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13.
2. Đối với hồ sơ đăng ký thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được gửi
tới Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 thì quy trình, thủ tục đánh
giá để tài trợ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được tiếp tục thực hiện theo quy
định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13.
3. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 thì
tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13,
Nghị quyết số 193/2025/QH15 và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
có hiệu lực tại thời điểm phê duyệt nhiệm vụ.
4. Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước đã
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giao chủ trì thực hiện trước ngày 01 tháng
10 năm 2025 mà chưa được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý tài sản
trang bị thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và kết quả của nhiệm vụ khoa
học và công nghệ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công
thì việc xử lý tài
sản trang bị thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và kết quả của nhiệm vụ
khoa học và công nghệ thực hiện theo quy định tại Luật này.
5. Chính phủ quy định chuyển tiếp về hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ
quốc gia.
6. Đối với hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ
đã được gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 10 năm 2025
thì trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ được
tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13.
7. Quy định về phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên
cứu theo quy định tại Điều 28 của Luật này được áp
dụng đối với lợi nhuận chưa được phân chia từ việc thương mại hóa sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết
quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các nhiệm vụ được giao
từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 đến trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về sở
hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ.
8. Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ đã được cơ
quan có thẩm quyền cấp trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành thì vẫn còn hiệu lực. Trường hợp đề nghị thay đổi, bổ sung thông tin
hoặc cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động
khoa học và công nghệ thì thực hiện theo quy định của Luật này.
9. Văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức khoa học và công nghệ nước
ngoài tại Việt Nam đã được cấp Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi
nhánh tại Việt Nam thì tiếp tục được hoạt động đến khi Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi
nhánh hết hiệu lực.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật Công nghệ cao số
133/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Công nghệ cao.”.
Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Chuyển đổi số.”.
[2] Điểm này được bổ sung theo quy định tại
khoản 1 Điều 46 của Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2026.
[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 25 của Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[4] Điều 26 của Luật Công nghệ cao số
133/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 26. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
2. Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật số 67/2014/QH13, Luật số
71/2025/QH15 và Luật số 93/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Công nghệ cao số
21/2008/QH12) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm a và điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 27 của
Luật này.”.
Điều 47 của Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 47. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
2. Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14, Luật số 20/2023/QH15, Luật số
24/2023/QH15, Luật số 71/2025/QH15 và Luật số 84/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật
Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11) hết hiệu kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 48 của Luật này.”.
[5] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 25 của Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.