|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 83/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2026
|
LUẬT
BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân số 85/2015/QH13 ngày 25 tháng 6
năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2015, được sửa đổi,
bổ sung bởi:
1. Luật số
83/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
2. Luật
An ninh mạng số 116/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2026.
Căn cứ
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Nguyên tắc bầu cử
Việc bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc
phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Điều 2. Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử
Tính đến
ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười
tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử
vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.
Điều 3. Tiêu chuẩn của người ứng cử
1. Người ứng
cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định
tại Luật Tổ chức Quốc hội.
2. Người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng
nhân dân quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Điều 4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử
1. Quốc hội
quyết định ngày bầu cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc
hội trong thời gian giữa nhiệm kỳ; quyết định thành lập Hội đồng Bầu cử quốc
gia.
2. Hội đồng
Bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
3. Ủy ban
Thường vụ Quốc hội thực hiện việc dự kiến và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội
được bầu; xác định cơ cấu, thành phần những người được giới thiệu ứng cử đại biểu
Quốc hội; hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng
người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tổ chức giám
sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm
cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm.
4. Chính
phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân
các cấp thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện
các biện pháp bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí tổ
chức bầu cử, bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền, an ninh, an toàn và các
điều kiện cần thiết khác phục vụ cuộc bầu cử.
5. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
6.[2]
Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội tại địa
phương; Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố, Ủy ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu tổ
chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
xã tương ứng; các Ban bầu cử, Tổ bầu cử thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc
hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.
7. Thường
trực Hội đồng nhân dân dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại
biểu Hội
đồng nhân dân của cấp mình; Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các
cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát, kiểm
tra và thực hiện công tác bầu cử theo quy định của Luật này và các văn bản quy
phạm pháp luật khác có liên quan.
8. Cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế có trách nhiệm tạo
điều kiện để các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình.
Điều 5. Ngày bầu cử
Ngày bầu
cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử.
Điều 6. Kinh phí tổ chức bầu cử
Kinh phí
tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân do ngân sách nhà
nước bảo đảm.
Chương II
DỰ KIẾN CƠ CẤU,
THÀNH PHẦN VÀ PHÂN BỔ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN; ĐƠN VỊ BẦU
CỬ VÀ KHU VỰC BỎ PHIẾU
Điều 7. Dự kiến và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội được bầu
Ủy ban
Thường vụ Quốc hội dự kiến và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi
tỉnh, thành phố[3] trên cơ sở sau đây:
1. Mỗi tỉnh,
thành phố[4]
có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương;
2. Số lượng
đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương, bảo đảm
tổng số đại biểu Quốc hội dự kiến được bầu là năm trăm người.
Điều 8. Dự kiến cơ cấu, thành phần những người được giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội
1. Căn cứ
vào dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội được bầu, sau khi thống nhất ý kiến với
Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ
chức chính trị - xã hội, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội; số lượng người của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang
nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong
Quốc hội.
2. Số lượng
người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường
vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, bảo đảm
có ít nhất mười tám phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những
người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số.
3.[5]
Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc
hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Ban Thường vụ trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.
4.[6] Dự
kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu
Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc gia,
Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh,
thành phố, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
Điều 9. Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ
số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân[7]
Căn cứ vào số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở mỗi đơn vị
hành chính theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, sau khi thống
nhất ý kiến với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban nhân
dân cùng cấp, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử:
1. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ
quan nhà nước ở cấp mình và các đơn vị hành chính cấp dưới, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người
trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định
phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương;
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung
là cấp xã) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ
quan nhà nước ở cấp mình và thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi
chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khóm (sau đây gọi chung là tổ dân phố),
đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi
lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử
đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người
dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình
hình cụ thể của từng địa phương;
3. Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới
thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của Thường trực Hội đồng nhân dân ở mỗi
cấp được gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc gia, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Điều 10. Đơn vị bầu cử
1. Đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu theo đơn vị bầu cử.
2.[8]
Tỉnh, thành phố được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội.
Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc
hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử được tính căn cứ theo số dân, do Hội đồng Bầu
cử quốc gia ấn định theo đề nghị của Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố và được
công bố chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử.
3.[9]
Tỉnh, thành phố được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh. Xã, phường, đặc khu được chia thành các đơn vị bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Số đơn vị
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã, danh sách các đơn vị bầu cử
và số lượng đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử do Ủy ban bầu cử ở cấp đó ấn
định theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cùng cấp và được công bố chậm nhất
là 80 ngày trước ngày bầu cử.
4. Mỗi
đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội được bầu không quá ba đại biểu. Mỗi đơn vị bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu không quá năm đại biểu.
Điều 11. Khu vực bỏ phiếu
1. Mỗi
đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chia
thành các khu vực bỏ phiếu. Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời
là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
2.[10]
Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Ở miền núi, hải đảo và
những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng được
thành lập một khu vực bỏ phiếu.
3. Các
trường hợp có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng:
a) Đơn vị
vũ trang nhân dân;
b) Bệnh
viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm
sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên;
c) Cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trại tạm giam.
4.[11]
Việc xác định khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và
báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
điều chỉnh việc xác định khu vực bỏ phiếu. Việc xác định khu vực bỏ phiếu được
thực hiện trước khi thành lập Tổ bầu cử.
Chương III
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ
QUỐC GIA VÀ CÁC TỔ CHỨC PHỤ TRÁCH BẦU CỬ Ở ĐỊA PHƯƠNG
Mục 1. HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA
Điều 12. Cơ cấu, tổ chức của Hội đồng Bầu cử quốc gia
1. Hội đồng
Bầu cử quốc gia do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm đến hai mươi mốt thành
viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số cơ
quan, tổ chức hữu quan.
2. Chủ tịch
Hội đồng Bầu cử quốc gia do Quốc hội bầu, miễn nhiệm theo đề nghị của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia do
Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia.
3. Hội đồng
Bầu cử quốc gia thành lập các tiểu ban để giúp Hội đồng Bầu cử quốc gia thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực.
Điều 13. Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng Bầu cử quốc gia
Hội đồng
Bầu cử quốc gia hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Các cuộc
họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng Bầu
cử quốc gia tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành
viên biểu quyết tán thành.
Hội đồng
Bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về hoạt động của
mình trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn chung của Hội đồng Bầu cử quốc gia
1. Tổ chức
bầu cử đại biểu Quốc hội.
2. Chỉ đạo,
hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
3. Chỉ đạo
công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử.
4. Chỉ đạo
công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử.
5. Kiểm
tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử.
6. Quy định
mẫu hồ sơ ứng cử, mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử, nội quy phòng bỏ phiếu, các
mẫu văn bản khác sử dụng trong công tác bầu cử.
Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Bầu cử quốc gia trong việc tổ
chức bầu cử đại biểu Quốc hội
1. Ấn định
và công bố số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách các đơn vị bầu cử và số
lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử.
2. Nhận
và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; nhận hồ sơ và danh sách người ứng cử đại biểu
Quốc hội do Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố[12] gửi đến.
3. Gửi
danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản,
thu nhập của những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam để thực hiện việc hiệp thương. Giới thiệu và gửi hồ sơ của người ứng
cử đại biểu Quốc hội đã được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam hiệp thương, giới thiệu để về ứng cử tại các tỉnh, thành phố[13].
4. Lập và
công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn
vị bầu cử; xóa tên người ứng cử trong danh sách chính thức những người ứng cử đại
biểu Quốc hội.
5. Nhận
và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ủy ban bầu cử ở tỉnh,
thành phố[14],
Ban bầu cử; lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước.
6. Quyết
định việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Quốc hội hoặc hủy bỏ kết quả bầu cử
và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
7. Xác nhận
và công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước; xác nhận tư cách của
người trúng cử đại biểu Quốc hội.
8. Trình
Quốc hội khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và kết quả xác nhận
tư cách đại biểu Quốc hội được bầu.
9. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội; chuyển giao hồ
sơ, khiếu nại, tố cáo liên quan đến những người trúng cử đại biểu Quốc hội cho Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
10. Quản
lý và phân bổ kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội.
Điều 16. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Bầu cử quốc gia trong việc chỉ
đạo, hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Chỉ đạo,
hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân.
2. Hướng
dẫn hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
3. Kiểm
tra việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
4. Hủy bỏ
kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực
bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng.
Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Hội đồng
Bầu cử quốc gia
1. Chủ tịch
Hội đồng Bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Hội đồng
Bầu cử quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Trình
danh sách các Phó Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia, các Ủy viên Hội đồng Bầu cử
quốc gia để Quốc hội phê chuẩn;
b) Triệu
tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng Bầu cử quốc gia;
c) Lãnh đạo
và điều hành công việc của Hội đồng Bầu cử quốc gia;
d) Giữ
liên hệ với các thành viên của Hội đồng Bầu cử quốc gia;
đ) Thay mặt
Hội đồng Bầu cử quốc gia trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác;
e) Thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Hội đồng Bầu cử quốc gia phân công.
2. Phó Chủ
tịch, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hội đồng
Bầu cử quốc gia phân công và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bầu cử quốc gia về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
3. Khi Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia vắng mặt, một
Phó Chủ tịch được Chủ tịch ủy nhiệm thay mặt thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia.
Điều 18. Mối quan hệ công tác của Hội đồng Bầu cử
quốc gia
1. Hội đồng Bầu cử quốc gia phối hợp với Ủy ban Thường vụ
Quốc hội trong việc giám sát, kiểm tra công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân.
2. Hội đồng Bầu cử quốc gia phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủy
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc hiệp thương, giới thiệu người
ứng cử đại biểu Quốc hội, hướng dẫn việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân và vận động bầu cử.
3. Hội đồng Bầu cử quốc gia phối hợp với Chính phủ trong việc
bảo đảm kinh phí, an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết khác phục vụ cho
công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
4. Hội đồng Bầu cử quốc gia chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức
phụ trách bầu cử trong cả nước về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân.
Điều 19. Bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của
Hội đồng Bầu cử quốc gia
1. Hội đồng Bầu cử quốc gia có bộ máy giúp việc do Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định.
2. Hội đồng Bầu cử quốc gia có quyền trưng tập cán bộ, công
chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để
giúp việc cho Hội đồng Bầu cử quốc gia.
3. Kinh phí hoạt động của Hội đồng Bầu cử quốc gia do ngân
sách nhà nước bảo đảm.
Điều 20. Thời điểm kết thúc nhiệm vụ của Hội đồng Bầu cử quốc gia
Hội đồng
Bầu cử quốc gia kết thúc nhiệm vụ sau khi đã trình Quốc hội khóa mới báo cáo tổng
kết cuộc bầu cử trong cả nước và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội được
bầu, bàn giao biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội
cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa mới.
Mục 2. CÁC TỔ CHỨC PHỤ TRÁCH BẦU CỬ Ở ĐỊA PHƯƠNG
Điều 21. Các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa
phương[15]
1. Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố, Ủy ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu
(sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử).
2. Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (sau
đây gọi chung là Ban bầu cử).
3. Tổ bầu
cử.
Điều 22. Việc thành lập, cơ cấu, thành phần của
Ủy ban bầu cử[16]
1. Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập Ủy ban bầu
cử ở tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu cử ở tỉnh) để thực hiện
công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh tại tỉnh, thành phố.
Ủy ban bầu cử ở tỉnh có từ hai mươi ba đến ba mươi bảy thành viên gồm
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên là đại diện Đoàn đại biểu Quốc
hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Danh sách Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải được gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc
gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
2. Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân
cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập Ủy
ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là Ủy ban bầu
cử ở xã) để tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Ủy ban bầu cử ở xã có từ chín đến mười bảy thành viên.
Thành viên Ủy ban bầu cử ở xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy
viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Danh sách Ủy ban bầu cử ở xã phải được gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
Điều 23. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử
1. Trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh có các nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chỉ đạo
việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội ở các đơn vị bầu cử đại biểu
Quốc hội trên địa bàn tỉnh, thành phố[17]; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp
luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử;
b) Chỉ đạo
thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Quốc hội
ở địa phương;
c) Chỉ đạo
thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử đại
biểu Quốc hội ở địa phương;
d) Nhận
và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức kinh tế ở địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và hồ sơ của người
tự ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương; gửi danh sách trích ngang lý lịch,
bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của những người được
giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban Thường trực
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh để tiến hành hiệp thương; gửi hồ sơ
và danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương đến Hội đồng Bầu cử
quốc gia;
đ) Lập
danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo đơn vị bầu cử và báo cáo để
Hội đồng Bầu cử quốc gia quyết định;
e) Chỉ đạo,
kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
g) Nhận
tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phân phối
cho các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 17 ngày[18] trước ngày bầu
cử;
h) Giải
quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội
của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu
Quốc hội do Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố
cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội;
i) Nhận
và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các Ban bầu
cử đại biểu Quốc hội; lập biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở
địa phương;
k) Báo
cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội theo yêu cầu của Hội
đồng Bầu cử quốc gia;
l) Chuyển
hồ sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội đến Hội đồng Bầu cử
quốc gia;
m) Tổ chức
việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Quốc hội theo quyết định của Hội đồng Bầu
cử quốc gia.
2. Trong
việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử ở các cấp có các nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Chỉ đạo
việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình ở địa phương; kiểm tra,
đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;
b) Quản
lý và phân bổ kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;
c) Chỉ đạo
công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở
địa phương;
d) Chỉ đạo
thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;
đ) Ấn định
và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu
được bầu của mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;
e) Nhận
và xem xét hồ sơ của những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp,
tổ chức kinh tế, thôn, tổ dân phố ở địa phương giới thiệu ứng cử và những người
tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình; gửi danh sách trích ngang lý lịch,
bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới
thiệu ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để tiến hành hiệp thương;
g) Lập và
công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
mình theo từng đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xóa tên người ứng cử
trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
mình;
h) Nhận
tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân từ Ủy ban nhân dân cùng cấp và
phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là 17 ngày[19] trước ngày bầu
cử;
i) Nhận
và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
mình ở từng đơn vị bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến; lập biên bản tổng kết cuộc
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cấp mình;
k) Chỉ đạo
việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại các điều 79, 80, 81 và 82 của Luật này;
l) Xác nhận
và công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xác nhận tư cách của người
trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;
m) Trình
Hội đồng nhân dân khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp được bầu;
n) Giải
quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình, Tổ bầu cử; khiếu nại,
tố cáo về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình do Ban bầu cử, Tổ bầu cử
chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình;
o) Bàn
giao các biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cho Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp khóa mới.
Điều 24. Ban bầu cử[20]
1. Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau
khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu
Quốc hội một Ban bầu cử đại biểu Quốc hội có từ chín đến mười bảy thành viên gồm
Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và một
số cơ quan, tổ chức hữu quan.
2. Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình một Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm
đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội. Thành phần Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thêm đại diện
cử tri ở địa phương.
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ mười một đến mười
lăm thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ chín đến mười
lăm thành viên. Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các Ủy
viên.
3. Ban bầu cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử của các Tổ bầu cử
thuộc đơn vị bầu cử;
b) Kiểm tra, đôn đốc việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc niêm yết
danh sách những người ứng cử ở các Tổ bầu cử thuộc đơn vị bầu cử;
c) Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc
bầu cử ở các phòng bỏ phiếu;
d) Nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất
là 13 ngày trước ngày bầu cử;
đ) Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử của
các Tổ bầu cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử
của các Tổ bầu cử và khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các Tổ bầu cử chuyển đến;
nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại
biểu Quốc hội; nhận và chuyển đến Ủy ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về
người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;
g) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo hướng dẫn, yêu cầu
của Hội đồng Bầu cử quốc gia hoặc theo yêu cầu của Ủy ban bầu cử cùng cấp;
h) Chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội đến Ủy ban bầu cử
ở tỉnh; chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ủy ban
bầu cử cùng cấp;
i) Tổ chức
thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại (nếu có).
Điều 25. Tổ bầu cử
1.[21] Chậm nhất là 43 ngày trước ngày bầu cử,
Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở
mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt
thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa
phương.
Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được
thành lập một Tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và
các Ủy viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ
trang nhân dân đó.
Trong trường
hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì Ủy
ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban
Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ
trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt
thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa
phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân
dân đó.
2. Tổ bầu
cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Phụ
trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
b) Bố trí
phòng bỏ phiếu, chuẩn bị hòm phiếu;
c) Nhận
tài liệu và phiếu bầu cử từ Ban bầu cử; phát thẻ cử tri, phiếu bầu cử có đóng dấu
của Tổ bầu cử cho cử tri;
d) Thường
xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu
trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử;
đ) Bảo đảm
thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về bầu cử và nội quy phòng bỏ phiếu;
e) Giải
quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu
cử quy định tại Điều này; nhận và chuyển đến Ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố
cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân,
khiếu nại, tố cáo khác không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tổ bầu cử;
g) Kiểm
phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử để gửi đến Ban bầu cử tương ứng;
h) Chuyển
biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử và toàn bộ phiếu bầu cử đến Ủy ban nhân dân
cấp xã khi kết thúc việc kiểm phiếu;
i) Báo
cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ
trách bầu cử cấp trên;
k) Thực
hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại tại khu vực bỏ phiếu (nếu có).
Điều 26. Nguyên tắc hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa
phương
1. Các tổ
chức phụ trách bầu cử ở địa phương hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định
theo đa số. Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành
viên biểu quyết tán thành.
2. Cơ quan
có thẩm quyền thành lập tổ chức phụ trách bầu cử có quyền trưng tập cán bộ,
công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập để giúp thực hiện các công việc liên quan đến
tổ chức bầu cử.
Điều 27. Những trường hợp không được tham gia vào các tổ chức phụ trách
bầu cử
Người ứng
cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân không được làm thành viên Ban
bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị bầu cử mà mình ứng cử. Nếu đã là thành viên của
Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị bầu cử mà mình ứng cử thì người ứng cử phải
xin rút khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử đó chậm nhất là
vào ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử. Trường hợp người ứng
cử không có đơn xin rút thì cơ quan đã quyết định thành lập Ban bầu cử, Tổ bầu
cử đó ra quyết định xóa tên người ứng cử khỏi danh sách thành viên của tổ chức
phụ trách bầu cử và bổ sung thành viên khác để thay thế.
Điều 28. Thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử ở
địa phương
1. Ủy ban
bầu cử ở tỉnh, Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu
cử đại biểu Quốc hội sau khi Hội đồng Bầu cử quốc gia kết thúc việc tổng kết
công tác bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước và công bố kết quả bầu cử đại
biểu Quốc hội.
2. Ủy ban
bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi Ủy ban bầu
cử đã trình báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và hồ sơ,
tài liệu về bầu cử tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới.
3. Ban bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ đối với bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân sau khi Ủy ban bầu cử kết thúc việc tổng kết công tác bầu cử và
công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Chương IV
DANH SÁCH CỬ TRI
Điều 29. Nguyên tắc lập danh sách cử tri
1. Mọi
công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ
cử tri, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật
này.
2. Mỗi
công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm
trú.
3. Cử tri
là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12
tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh
sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh[22]
ở nơi tạm trú hoặc đóng quân.
4. Công
dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi
danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ,
thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để
được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh[23], cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng
ký thường trú) hoặc bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh[24]
(nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).
5. Cử tri
là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri
để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó
đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Điều 30. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên
vào danh sách cử tri
1. Người
đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người
đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực
hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.
2. Người
thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu đến trước thời điểm bắt
đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được
cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi
dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri theo quy định
tại Điều 29 của Luật này.
3. Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được
niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người thay đổi nơi
thường trú ra ngoài đơn vị hành chính cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách
cử tri thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào
danh sách cử tri tại nơi thường trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh[25], cấp xã; những người chuyển đến tạm
trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh
sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa
tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại
nơi tạm trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh[26].
4. Cử tri
được quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật này, nếu đến trước
thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo
dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi
có trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, được bổ
sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký thường trú để bầu đại biểu Quốc hội,
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh[27], cấp xã hoặc được bổ sung vào danh
sách cử tri tại nơi đăng ký tạm trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh[28].
5. Người
đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước
quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Ủy
ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử
tri.
Điều 31. Thẩm quyền lập danh sách cử tri
1.[29]
Danh sách cử tri do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu.
2. Danh
sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ
trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng
quân. Quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực đóng quân có thể
được chỉ huy đơn vị cấp giấy chứng nhận để được ghi tên vào danh sách cử tri và
tham gia bỏ phiếu ở nơi thường trú. Khi cấp giấy chứng nhận, chỉ huy đơn vị phải
ghi ngay vào danh sách cử tri tại đơn vị vũ trang nhân dân bên cạnh tên người
đó cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi cư trú”.
Điều 32. Niêm yết danh sách cử tri
Chậm nhất
là 40 ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri niêm yết danh sách cử
tri tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực
bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để
Nhân dân kiểm tra.
Điều 33. Khiếu nại về danh sách cử tri
Khi kiểm
tra danh sách cử tri, nếu phát hiện có sai sót thì trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ
quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn 05
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết
và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết.
Trường hợp
người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn
giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án
nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
Điều 34. Bỏ phiếu ở nơi khác
Từ khi
niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác,
không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có
quyền xin giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình đã có tên trong
danh sách cử tri để được bổ sung tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu
bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở nơi mình có thể
tham gia bỏ phiếu. Khi cấp giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi
ngay vào danh sách cử tri tại khu vực bỏ phiếu thuộc địa phương mình bên cạnh
tên cử tri cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi khác”.
Chương V
ỨNG CỬ VÀ HIỆP
THƯƠNG, GIỚI THIỆU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Mục 1. ỨNG CỬ
Điều 35. Hồ sơ ứng cử và thời gian nộp hồ sơ ứng cử
1. Công
dân ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của Luật
này phải nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là 42 ngày[30] trước ngày bầu
cử.
2. Hồ sơ ứng
cử bao gồm:
a) Đơn ứng
cử;
b) Sơ yếu
lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;
c) Tiểu sử
tóm tắt;
d) Ba ảnh
chân dung màu cỡ 4cm x 6cm;
đ) Bản kê
khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
3. Hội đồng
Bầu cử quốc gia hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 36. Nộp hồ sơ ứng cử
1. Việc nộp
hồ sơ ứng cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:
a) Người
được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng
vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử nộp hai bộ hồ
sơ ứng cử tại Hội đồng Bầu cử quốc gia;
b) Người
được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế ở địa
phương giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban
bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên;
c) Sau
khi nhận và xem xét hồ sơ của những người ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định
của Luật này thì Hội đồng Bầu cử quốc gia chuyển danh sách trích ngang lý lịch,
bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới
thiệu ứng cử đến Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ủy
ban bầu cử ở tỉnh chuyển hồ sơ ứng cử của người được giới thiệu ứng cử, người tự
ứng cử tại địa phương đến Hội đồng Bầu cử quốc gia; chuyển danh sách trích
ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người
được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử tại địa phương đến Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh để đưa vào danh sách hiệp thương.
2. Người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân nộp một bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở đơn vị
hành chính mà mình ứng cử. Người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử đại biểu
Hội đồng nhân dân của địa phương nào thì phải là người đang cư trú hoặc công
tác thường xuyên ở địa phương đó.
Sau khi
nhận và xem xét hồ sơ của những người tự ứng cử, người được cơ quan, tổ chức,
đơn vị giới thiệu ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật này thì Ủy ban
bầu cử chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê
khai tài sản, thu nhập của những người ứng cử đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để đưa vào danh sách hiệp thương.
3.[31] Công dân được nộp hồ sơ ứng cử làm đại
biểu Hội đồng nhân dân tối đa ở hai cấp trong cùng một nhiệm kỳ; nếu nộp hồ sơ ứng
cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân
dân ở một cấp.
4.[32]
Sau khi hết thời hạn nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh mà người đã ứng cử chuyển công tác từ đơn vị hành chính này sang
đơn vị hành chính khác thì việc chuyển hồ sơ ứng cử được thực hiện theo hướng dẫn
của Hội đồng bầu cử quốc gia.
Điều 37. Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng nhân dân
1. Người
đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực
hành vi dân sự.
2. Người
đang bị khởi tố bị can.
3. Người
đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án.
4. Người
đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án
tích.
5. Người
đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, đặc khu[33].
Mục 2. HIỆP THƯƠNG, GIỚI THIỆU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐIỀU
CHỈNH CƠ CẤU, THÀNH PHẦN, SỐ LƯỢNG NGƯỜI ĐƯỢC GIỚI THIỆU ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Điều 38. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương
1. Hội
nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử. Thành phần
hội nghị hiệp thương lần thứ nhất gồm Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đại
diện Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời
tham dự hội nghị này.
2. Hội
nghị hiệp thương thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội trên cơ sở
dự kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Biên bản
hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến,
kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng Bầu cử quốc gia và Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Điều 39. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố[34]
1. Hội
nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố[35] do Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước
ngày bầu cử. Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất gồm Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã[36] trực thuộc. Đại diện Ủy ban bầu cử ở tỉnh,
Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được mời tham dự hội
nghị này.
2. Hội
nghị hiệp thương thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan,
tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội trên cơ sở
dự kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Biên bản
hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến,
kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu
cử ở tỉnh.
Điều 40. Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất
Căn cứ
vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người
của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử
đại biểu Quốc hội.
Điều 41. Giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương ứng
cử đại biểu Quốc hội
Trên cơ sở
điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, căn cứ vào tiêu chuẩn của
đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương được phân bổ số lượng
người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tiến hành lựa chọn, giới thiệu
người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội như sau:
1. Ban
lãnh đạo tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dự kiến
người của tổ chức mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến
nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội
nghị cử tri, ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban thường vụ mở rộng hoặc Đoàn Chủ
tịch mở rộng để thảo luận, giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc
hội;
2.[37]
Ở cơ quan nhà nước, ban lãnh đạo cơ quan dự kiến người của cơ quan mình để giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri
nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, ban lãnh đạo cơ
quan tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo cơ quan, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực
thuộc để thảo luận, giới thiệu người của cơ quan mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
3. Ở đơn
vị vũ trang nhân dân, chỉ huy đơn vị dự kiến người của đơn vị mình để giới thiệu
ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi người đó
công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, chỉ huy đơn vị tổ chức hội nghị
gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện ban chấp hành công đoàn (nếu có), đại diện
quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới thiệu người của đơn
vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
4. Việc tổ
chức hội nghị cử tri quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật này;
5. Cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội phải
chuyển biên bản hội nghị cử tri nơi công tác và biên bản hội nghị ban lãnh đạo
của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận xét về người được giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội đến Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trước khi hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức.
Điều 42. Giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương ứng
cử đại biểu Quốc hội
Trên cơ sở
điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, căn cứ vào tiêu chuẩn của
đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được phân bổ số lượng
người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tiến hành lựa chọn, giới thiệu
người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội như sau:
1. Ban
lãnh đạo tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dự kiến
người của tổ chức mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến
nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội
nghị cử tri, ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban thường vụ mở rộng để thảo luận,
giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
2.[38]
Ban lãnh đạo đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế phối hợp với ban chấp hành
công đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có); ban lãnh đạo cơ quan nhà nước dự
kiến người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc
hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác.
Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ
chức hội nghị gồm lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, đại diện ban chấp hành
công đoàn (nếu có), đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận, giới
thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
3. Ở đơn
vị vũ trang nhân dân, chỉ huy đơn vị dự kiến người của đơn vị mình để giới thiệu
ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi
người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, chỉ huy đơn vị tổ chức
hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện ban chấp hành công đoàn (nếu
có), đại diện quân nhân và chỉ huy đơn vị cấp dưới trực tiếp để thảo luận, giới
thiệu người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội;
4. Việc tổ
chức hội nghị cử tri quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật này;
5. Cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội phải
chuyển biên bản hội nghị cử tri nơi công tác và biên bản hội nghị ban lãnh đạo
cơ quan, tổ chức, đơn vị mình nhận xét về người được giới thiệu ứng cử đại biểu
Quốc hội đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trước
khi hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức.
Điều 43. Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương
1. Hội
nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là 40 ngày[39] trước ngày bầu
cử. Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này.
2. Hội
nghị hiệp thương lần thứ hai căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, cơ cấu,
thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương được giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần
thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy
ý kiến cử tri nơi cư trú. Việc tổ chức lấy ý kiến cử tri được thực hiện theo
quy định tại Điều 45 của Luật này.
3. Biên bản
hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến,
kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng Bầu cử quốc gia và Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Điều 44. Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố[40]
1. Hội
nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố[41] do Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh tổ chức chậm nhất là 40 ngày[42]
trước ngày bầu cử. Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố[43]
thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này.
2. Hội
nghị hiệp thương lần thứ hai căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, cơ cấu,
thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần
thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy
ý kiến cử tri nơi cư trú; đối với người tự ứng cử thì còn được gửi lấy ý kiến cử
tri nơi người đó công tác (nếu có). Việc tổ chức lấy ý kiến cử tri được thực hiện
theo quy định tại Điều 45 của Luật này.
3. Biên bản
hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến,
kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban
bầu cử ở tỉnh.
Điều 45. Hội nghị cử tri
1.[44] Hội nghị cử tri ở xã, phường, đặc
khu được tổ chức tại thôn, tổ dân phố nơi người ứng cử đại biểu
Quốc hội cư trú thường xuyên do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giới
thiệu người ứng cử được mời tham dự hội nghị này.
2.[45] Hội nghị cử tri ở cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội do ban lãnh đạo cơ
quan, tổ chức triệu tập và chủ trì; hội nghị cử tri ở đơn vị sự nghiệp, tổ chức
kinh tế do người đứng đầu tổ chức, đơn vị phối hợp với ban chấp hành công đoàn
tổ chức, đơn vị (nếu có) triệu tập và chủ trì; hội nghị cử tri ở
đơn vị vũ trang nhân dân là hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu
tập và chủ trì.
Người ứng
cử đại biểu Quốc hội được mời tham dự hội nghị này.
3. Tại hội
nghị cử tri, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, nhận xét,
bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội bằng cách giơ tay hoặc
bỏ phiếu kín theo quyết định của hội nghị.
4. Biên bản
hội nghị cử tri lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ thành
phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị. Biên bản hội nghị cử
tri tại nơi cư trú lấy ý kiến về người do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương
giới thiệu ứng cử được gửi đến Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Biên bản hội nghị cử tri lấy ý kiến về người tự ứng cử, người do cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu ứng cử được gửi đến Ban Thường trực
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
5. Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết việc tổ chức hội nghị cử tri quy định tại
Điều này.
Điều 46. Xác minh và trả lời các vụ việc mà cử tri nêu đối với người ứng
cử đại biểu Quốc hội
1. Đối với
vụ việc ở nơi công tác thì cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người ứng
cử có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban Thường trực Ủy ban
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp tỉnh.
Trường hợp
người ứng cử đại biểu Quốc hội là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì
cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xác minh và trả lời.
Nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị không có cấp trên trực tiếp quản lý thì cơ quan có
thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ quan, tổ chức, đơn vị đó có trách nhiệm
xác minh và trả lời.
2. Đối với
vụ việc ở khu dân cư thì cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử có
trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã xác minh và trả lời bằng văn bản
cho Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
3. Đối với
người tự ứng cử đại biểu Quốc hội thì Ủy ban bầu cử ở tỉnh có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người đó hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người đó cư trú xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.
4. Chậm
nhất là 35 ngày[46] trước ngày bầu cử, việc xác minh và trả
lời về các vụ việc mà cử tri nêu đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội quy định
tại Điều này phải được tiến hành xong.
Điều 47. Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai
Căn cứ
vào kết quả hiệp thương lần thứ hai, chậm nhất là 38 ngày[47] trước ngày bầu
cử, Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng
người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng
cử đại biểu Quốc hội.
Điều 48. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương
1. Hội
nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là 23 ngày[48] trước ngày bầu
cử. Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này.
2. Hội
nghị hiệp thương lần thứ ba căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, cơ cấu,
thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương được giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần
thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách những người đủ
tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.
3. Biên bản
hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến,
kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng Bầu cử quốc gia và Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
Điều 49. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố[49]
1. Hội
nghị hiệp thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố[50] do Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh tổ chức chậm nhất là 23 ngày[51]
trước ngày bầu cử. Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố[52]
thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này.
2. Hội
nghị hiệp thương lần thứ ba căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, cơ cấu,
thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới
thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần
thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách những người đủ
tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.
3. Biên bản
hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến,
kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban
bầu cử ở tỉnh.
Mục 3. HIỆP THƯƠNG, GIỚI THIỆU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
VÀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU, THÀNH PHẦN, SỐ LƯỢNG NGƯỜI ĐƯỢC GIỚI THIỆU ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Điều 50. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất
1. Hội nghị
hiệp thương lần thứ nhất ở mỗi cấp do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử. Thành
phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất gồm Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đại
diện Ủy ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp được
mời tham dự hội nghị này.
2.[53]
Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở cấp tỉnh thỏa thuận về cơ cấu, thành phần,
số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân, cơ quan nhà nước cùng cấp và của đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, các
đơn vị hành chính cấp dưới trên địa bàn.
3. Hội
nghị hiệp thương lần thứ nhất ở cấp xã thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng
người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan
nhà nước cùng cấp và của đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, thôn, tổ dân phố
trên địa bàn.
4.[54] Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi
rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng Bầu
cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Biên bản
hội nghị hiệp thương ở cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Điều 51. Thường trực Hội đồng nhân dân điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số
lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Căn cứ
vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu
cử, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh[55] điều chỉnh
cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được
giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.
2. Căn cứ
vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu
cử, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng
người của cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố ở địa phương được giới thiệu
ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.
Điều 52. Giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ứng cử đại biểu
Hội đồng nhân dân
Trên cơ sở
kết quả hiệp thương lần thứ nhất và điều chỉnh của Thường trực Hội đồng nhân
dân, căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân, các cơ quan, tổ chức,
đơn vị và thôn, tổ dân phố (đối với cấp xã) được phân bổ số lượng người được giới
thiệu ứng cử tiến hành lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân như sau:
1. Ban
lãnh đạo tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dự kiến
người của tổ chức mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, tổ chức
lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến
của hội nghị cử tri, ban lãnh đạo tổ chức hội nghị Ban thường vụ mở rộng để thảo
luận, giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;
2.[56]
Ban lãnh đạo đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế phối hợp với ban chấp hành công
đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có); ban lãnh đạo cơ quan nhà nước dự
kiến người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để giới thiệu ứng cử đại biểu Hội
đồng nhân dân, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri nơi người đó
công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức,
đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, đại diện ban chấp
hành công đoàn (nếu có), đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc để thảo luận,
giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân;
3. Lãnh đạo,
chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân dự kiến người của đơn vị mình để giới thiệu ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của hội nghị cử tri
nơi người đó công tác. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, lãnh đạo, chỉ huy
đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện ban chấp hành
công đoàn (nếu có), đại diện quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp để thảo luận,
giới thiệu người của đơn vị mình ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;
4. Ban
công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố dự kiến người của thôn, tổ dân phố để giới
thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và phối hợp với trưởng thôn, tổ
trưởng tổ dân phố tổ chức hội nghị cử tri để thảo luận, giới thiệu người ứng cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Việc giới
thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố do Ủy
ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn;
5. Việc tổ
chức hội nghị cử tri quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Luật này;
6. Cơ
quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải
chuyển biên bản hội nghị cử tri nơi công tác và biên bản hội nghị lãnh đạo mở rộng
của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình về việc thảo luận, giới thiệu người ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
tổ chức hội nghị hiệp thương.
Ban công
tác Mặt trận chuyển biên bản hội nghị cử tri ở thôn, tổ dân phố về việc thảo luận,
giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã đến Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Điều 53. Hội nghị hiệp thương lần thứ hai
1.[57]
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở mỗi cấp do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử. Thành phần
hội nghị hiệp thương lần thứ hai thực hiện theo quy định tại khoản
1 Điều 50 của Luật này.
2. Hội
nghị hiệp thương lần thứ hai căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân
dân, cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử để lập danh sách
sơ bộ những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, gửi lấy ý kiến cử tri nơi
cư trú đối với người tự ứng cử, người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng
cử và lấy ý kiến cử tri nơi công tác (nếu có) của người tự ứng cử, người được
thôn, tổ dân phố giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Việc tổ
chức lấy ý kiến cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 54
của Luật này.
3.[58] Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi
rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng
Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng
cấp.
Biên bản
hội nghị hiệp thương ở cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Điều 54. Hội nghị cử tri
1.[59] Hội nghị cử tri ở xã, phường, đặc khu
được tổ chức tại thôn, tổ dân phố do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.
2.[60]
Hội nghị cử tri ở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội do người đứng đầu cơ quan, tổ chức triệu tập và chủ trì; hội nghị
cử tri ở tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp do người đứng đầu tổ chức, đơn vị phối
hợp với ban chấp hành công đoàn tổ chức, đơn vị (nếu có) triệu tập
và chủ trì. Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân dân là hội nghị quân nhân do
lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì.
3. Người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân
phố đã giới thiệu người ứng cử được mời tham dự các hội nghị này.
4. Tại hội
nghị cử tri, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân, nhận
xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử
đại biểu Hội đồng nhân dân bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín theo quyết định
của hội nghị.
5. Biên bản
hội nghị cử tri lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải ghi
rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị. Biên bản hội
nghị cử tri lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì gửi
đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó để chuẩn bị cho hội
nghị hiệp thương lần thứ ba.
6. Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết việc tổ chức hội nghị cử tri quy định tại
Điều này.
Điều 55. Xác minh và trả lời các vụ việc mà cử tri nêu đối với người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Đối với
vụ việc ở nơi công tác thì cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản
cho Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp
thương.
Trường hợp
người ứng cử là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì cơ quan, tổ chức,
đơn vị cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xác minh và trả lời. Nếu cơ quan, tổ
chức, đơn vị không có cấp trên trực tiếp quản lý thì cơ quan có thẩm quyền ra
quyết định thành lập cơ quan, tổ chức, đơn vị đó có trách nhiệm xác minh và trả
lời.
2. Đối với
vụ việc ở khu dân cư thì cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã xác
minh và trả lời bằng văn bản cho Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương.
3. Đối với
người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì Ủy ban bầu cử có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người đó hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người đó cư trú xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban Thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương.
4. Chậm
nhất là 35 ngày[61] trước ngày bầu cử, việc xác minh và trả
lời về các vụ việc mà cử tri nêu đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân quy định tại Điều này phải được tiến hành xong.
Điều 56. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba
1.[62]
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở mỗi cấp do Ban Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 23 ngày trước ngày bầu
cử. Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ ba thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này.
2. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Hội
đồng nhân dân, cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử của cơ
quan, tổ chức, đơn vị và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách
những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
3.[63] Biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ
ba phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến và kết quả hội nghị.
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng
Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng
cấp.
Biên bản
hội nghị hiệp thương ở cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
Mục 4. DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI ỨNG CỬ
Điều 57. Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội
1. Chậm
nhất là 21 ngày[64] trước ngày bầu cử, Ban Thường trực Ủy
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc gia biên
bản hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được
Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội.
2. Chậm
nhất là 21 ngày[65] trước ngày bầu cử, Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh biên bản hội
nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại
địa phương.
3. Căn cứ
vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ
tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng Bầu cử quốc
gia gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh danh sách và hồ sơ những người được giới thiệu
về ứng cử tại địa phương.
4. Hội đồng
Bầu cử quốc gia lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu
Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách do Ban Thường trực
Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử ở tỉnh gửi đến chậm
nhất là 17 ngày[66] trước ngày bầu cử.
5. Danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên, ngày,
tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình
độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác của người ứng cử.
Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử được xếp
theo vần chữ cái A, B, C...
Người ứng
cử đại biểu Quốc hội chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở
một đơn vị bầu cử.
6. Số người
trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số
lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người.
Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng Bầu cử
quốc gia xem xét, quyết định.
7. Chậm
nhất là 16 ngày[67] trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử ở tỉnh
phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương mình theo
quyết định của Hội đồng Bầu cử quốc gia.
Điều 58. Danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1.[68] Chậm nhất là 21 ngày trước ngày bầu cử,
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh phải gửi biên bản hội
nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân đến Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp; Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những
người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.
2.[69] Chậm nhất là 17 ngày trước ngày bầu cử,
Ủy ban bầu cử phải lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử.
Việc lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 57 của Luật này.
3. Số người
trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều
hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó; nếu đơn vị bầu
cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số
lượng đại biểu được bầu ít nhất là hai người; nếu đơn vị bầu cử được bầu từ bốn
đại biểu trở lên thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại
biểu được bầu ít nhất là ba người. Hội đồng Bầu cử quốc gia hướng dẫn đối với
trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng.
Điều 59. Niêm yết danh sách người ứng cử
Chậm nhất
là 16 ngày[70] trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải niêm
yết danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu
Hội đồng nhân dân ở khu vực bỏ phiếu.
Điều 60. Xóa tên người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân
1. Người
có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội đã được
Hội đồng Bầu cử quốc gia công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố bị
can, bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết hoặc
vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Hội đồng Bầu cử quốc gia xóa tên
người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.
2. Người
có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
đã được Ủy ban bầu cử công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố bị can,
bị bắt, giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, chết hoặc vi
phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Ủy ban bầu cử, sau khi thống nhất ý
kiến với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, quyết định
xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 61. Khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử
1. Công
dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai
sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Việc khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị được thực hiện như sau:
a) Khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập
danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu
Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng Bầu cử quốc gia. Trường hợp người khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy
ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng Bầu cử quốc gia. Quyết định của
Hội đồng Bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng;
b) Khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân,
việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì
được gửi tới Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử
thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban
bầu cử là quyết định cuối cùng;
c) Ban bầu
cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng Bầu cử quốc gia phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị nhận được theo thẩm quyền.
2. Trong
thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử,
Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về
người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.
Trong trường
hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không
đáp ứng đủ tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội
đồng Bầu cử quốc gia (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Ủy ban bầu cử ở cấp
tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) quyết định xóa tên người
đó trong danh sách chính thức những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo
cho cử tri biết.
3. Không
xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo không có họ, tên người tố cáo hoặc
mạo danh người khác để tố cáo.
4. Hội đồng
Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh,[71] Ủy ban bầu cử ở xã chuyển toàn bộ hồ
sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội (đối
với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân khóa mới ở cấp
tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) để tiếp tục xem xét, giải
quyết theo thẩm quyền.
Chương VI
TUYÊN TRUYỀN, VẬN
ĐỘNG BẦU CỬ
Điều 62. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong chỉ đạo công tác thông
tin, tuyên truyền, vận động bầu cử
1. Hội đồng
Bầu cử quốc gia chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử
trong phạm vi cả nước; Ủy ban bầu cử các cấp chỉ đạo thực hiện công tác thông
tin, tuyên truyền, vận động bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo về vận động
bầu cử ở địa phương.
2. Các cơ
quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về quá trình tổ chức công tác
bầu cử, tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước. Các cơ quan thông tin
đại chúng của địa phương có trách nhiệm đưa tin về hội nghị tiếp xúc cử tri, trả
lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng
nhân dân và việc vận động bầu cử ở địa phương.
3. Ban
Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức hội
nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh[72], cấp xã có trách nhiệm tổ chức hội nghị
tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Ủy ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp trong việc tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng
cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
4. Cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa
phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử
đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ
quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình.
5. Kinh
phí tuyên truyền, vận động bầu cử được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước.
Điều 63. Nguyên tắc vận động bầu cử
1. Việc vận
động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm
trật tự, an toàn xã hội.
2. Người ứng
cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử nào thì
thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó.
3. Các tổ
chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho
người ứng cử.
Điều 64. Thời gian tiến hành vận động bầu cử
Thời gian
vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng
cử và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ.
Điều 65. Hình thức vận động bầu cử
Việc vận
động bầu cử của người ứng cử được tiến hành bằng các hình thức sau đây:
1. Gặp gỡ,
tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử
theo quy định tại Điều 66 của Luật này;
2. Thông
qua phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 67 của
Luật này.
Điều 66. Hội nghị tiếp
xúc cử tri[73]
1. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chủ trì phối
hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những
người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức,
đơn vị và cử tri ở địa phương.
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối hợp với Ủy
ban nhân dân cùng cấp tại đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc
cử tri cho những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Thành phần
tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử
tri ở địa phương.
Hội nghị
tiếp xúc cử tri được tổ chức theo hình thức trực tiếp hoặc căn cứ điều kiện thực
tế có thể tổ chức theo hình thức trực tuyến, trực tiếp kết hợp với trực tuyến.
Việc tiếp xúc cử tri trực tuyến hoặc trực tiếp kết hợp với trực tuyến chỉ được
thực hiện khi bảo đảm các điều kiện kỹ thuật,[74] an ninh mạng.
Ủy ban
nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về hình
thức, nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, điểm truy cập trực tuyến
để cử tri tham dự đông đủ.
2. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:
a) Tuyên bố lý do;
b) Đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ
chức hội nghị tiếp xúc cử tri chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc
tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;
c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về chương trình hành động của
mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;
d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng
cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề
cùng quan tâm;
đ) Người chủ trì hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc hội nghị.
3. Sau
hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
tỉnh lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của người ứng cử đại
biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử
tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc gia và
Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp
xúc cử tri của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi đến
Ủy ban bầu cử cùng cấp và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
tỉnh.
Điều 67. Vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng
1. Người
ứng cử đại biểu Quốc hội trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động
của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội khi trả lời phỏng vấn trên các
phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương nơi mình ứng cử và trên trang
thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng Bầu cử quốc gia.
2. Người
ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trình bày với cử tri về dự kiến chương trình
hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân khi trả lời phỏng
vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông
tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có).
3. Hội
đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý
trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng
tải nội dung vận động bầu cử.
4. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc đăng tải chương trình hành động của người ứng
cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện
thông tin đại chúng của địa phương.
Điều 68. Những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử
1. Lợi
dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn
hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức,
cá nhân khác.
2. Lạm
dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động
bầu cử.
3. Lợi
dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài
cho tổ chức, cá nhân mình.
4. Sử
dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo,
mua chuộc cử tri.
Chương VII
NGUYÊN TẮC VÀ
TRÌNH TỰ BỎ PHIẾU
Điều 69. Nguyên tắc bỏ phiếu
1. Mỗi
cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu
Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
2. Cử
tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp
quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.
3. Cử
tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình
bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử
tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm
phiếu.
4.
Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu
được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của
cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người
đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai
nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang
bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại
tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử
tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
5. Khi
cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
6. Nếu
viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
7. Khi
cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử
tri.
8. Mọi
người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.
Điều 70. Thông báo về thời gian bầu cử, nơi bỏ phiếu
Trong
thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử
tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu bằng hình thức niêm yết,
phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng khác của địa phương.
Điều 71. Thời gian bỏ phiếu
1. Việc
bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa
phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng
không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín
giờ tối cùng ngày.
2. Trước
khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.
3. Việc
bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm
gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu
liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời
phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
Điều 72. Bỏ phiếu sớm, hoãn ngày bỏ phiếu
Trường
hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ủy
ban bầu cử trình Hội đồng Bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.
Chương VIII
KẾT QUẢ BẦU CỬ
Mục 1. VIỆC KIỂM PHIẾU
Điều 73. Việc kiểm phiếu
Việc
kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết
thúc.
Trước
khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu
không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến
việc kiểm phiếu.
Người ứng
cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được ủy
nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các
phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
Điều 74. Phiếu bầu không hợp lệ
1. Những
phiếu bầu sau đây là phiếu bầu không hợp lệ:
a) Phiếu
không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát ra;
b) Phiếu
không có dấu của Tổ bầu cử;
c) Phiếu
để số người được bầu nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị
bầu cử;
d) Phiếu
gạch xóa hết tên những người ứng cử;
đ) Phiếu
ghi thêm tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu có ghi thêm nội
dung khác.
2. Trường
hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để
toàn Tổ xem xét, quyết định. Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên ghi
trên phiếu bầu.
Điều 75. Khiếu nại, tố cáo về kiểm phiếu
Những
khiếu nại, tố cáo tại chỗ về những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp
luật
trong việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử nhận, giải quyết và ghi nội dung giải quyết
vào biên bản.
Trong
trường hợp Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải ghi rõ ý kiến của Tổ bầu cử
vào biên bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Ban bầu cử.
Điều 76. Biên bản kết quả kiểm phiếu
1. Sau
khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập các loại biên bản sau đây:
a)
Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội tại khu vực bỏ phiếu;
b)
Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại khu
vực bỏ phiếu;
c)[75] (được bãi bỏ)
d)
Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại khu vực
bỏ phiếu.
2.
Biên bản kết quả kiểm phiếu phải có các nội dung sau đây:
a) Tổng
số cử tri của khu vực bỏ phiếu;
b) Số
lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu;
c) Số
phiếu phát ra;
d) Số
phiếu thu vào;
đ) Số
phiếu hợp lệ;
e) Số
phiếu không hợp lệ;
g) Số
phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
h) Những
khiếu nại, tố cáo nhận được; những khiếu nại, tố cáo đã giải quyết và kết quả
giải quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ban bầu cử.
3. Mỗi
loại biên bản quy định tại khoản 1 Điều này được lập thành ba bản, có chữ ký của
Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu.
Biên bản được gửi đến Ban bầu cử tương ứng và Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã chậm nhất là 03 ngày sau ngày bầu cử.
Mục 2. KẾT QUẢ BẦU CỬ Ở ĐƠN VỊ BẦU CỬ
Điều 77. Biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử
1. Sau
khi nhận, kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử và
giải
quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu
cử ở đơn vị bầu cử của mình.
2.
Biên bản xác định kết quả bầu cử có các nội dung sau đây:
a) Số
lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được ấn định cho đơn vị bầu
cử;
b) Số
lượng người ứng cử;
c) Tổng
số cử tri của đơn vị bầu cử;
d) Số
lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;
đ) Số
phiếu phát ra;
e) Số
phiếu thu vào;
g) Số
phiếu hợp lệ;
h) Số
phiếu không hợp lệ;
i) Số
phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
k)
Danh sách những người trúng cử;
l) Những
khiếu nại, tố cáo do các Tổ bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ban bầu
cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban bầu cử, Hội đồng Bầu cử
quốc gia.
3.
Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được lập
thành ba bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng Ban bầu cử. Biên bản được
gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là 05 ngày sau ngày bầu cử.
4.
Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được
lập thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng Ban bầu cử. Biên bản
được gửi đến Ủy ban bầu cử cùng cấp, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chậm nhất là 05
ngày sau ngày bầu cử.
Điều 78. Nguyên tắc xác định người trúng cử
1. Kết
quả bầu cử được tính trên số phiếu bầu hợp lệ và chỉ được công nhận khi đã có
quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri tại đơn vị bầu cử tham gia bầu
cử, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 80 của Luật này.
2. Người
trúng cử phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp
lệ.
3. Trường
hợp số người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều
hơn số lượng đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu thì những người trúng cử là những
người có số phiếu bầu cao hơn.
4. Trường
hợp cuối danh sách trúng cử có nhiều người được số phiếu bầu bằng nhau và nhiều
hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì người nhiều tuổi
hơn là người trúng cử.
Mục 3. BẦU CỬ THÊM, BẦU CỬ LẠI
Điều 79. Bầu cử thêm
1.
Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Quốc hội chưa đủ số
lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ
vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử ở tỉnh để
đề nghị Hội đồng Bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị
bầu cử đó.
2.
Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
chưa đủ hai phần ba số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì
Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho
Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp
đó để quyết định ngày bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.
3.
Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày[76] sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử
thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu
tiên nhưng không trúng cử. Người trúng cử là người được quá một nửa tổng số phiếu
bầu hợp lệ và có số phiếu bầu cao hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số lượng
đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì không tổ chức bầu cử thêm lần
thứ hai.
Điều 80. Bầu cử lại
1. Trường
hợp đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri
ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo
ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu ở cấp đó.
2. Đối
với bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh đề nghị Hội đồng Bầu cử quốc
gia xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu
chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri.
3. Đối
với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số
cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử
tri sau khi đã báo cáo và được sự đồng ý của Hội đồng Bầu cử quốc gia.
4.
Trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày[77] sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử
lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu
tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử
tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức
bầu cử lại lần thứ hai.
Điều 81. Hủy bỏ kết quả bầu cử và quyết định bầu cử lại
1. Hội
đồng Bầu cử quốc gia tự mình hoặc theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh hủy
bỏ kết quả bầu cử ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đó.
2.
Trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày[78] sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử
lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu
tiên.
Điều 82. Danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại
Danh
sách cử tri của cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại được lập theo danh sách cử tri
trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo quy định của Luật này.
Mục 4. TỔNG KẾT CUỘC BẦU CỬ
Điều 83. Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh,
thành phố[79]
1. Sau
khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các
Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban bầu cử ở tỉnh lập
biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương.
2.
Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố[80] có các nội dung sau đây:
a) Số
lượng đơn vị bầu cử;
b) Số
lượng người ứng cử;
c) Tổng
số cử tri của địa phương;
d) Số
lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của địa phương;
đ) Số
phiếu hợp lệ;
e) Số
phiếu không hợp lệ;
g) Số
phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
h)
Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử;
i) Những
khiếu nại, tố cáo do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;
k) Những
việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết;
l) Những
khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử ở tỉnh đã giải quyết;
m) Những
khiếu nại, tố cáo và kiến nghị chuyển đến Hội đồng Bầu cử quốc gia.
3.
Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố[81] được lập thành bốn bản, có chữ ký của Chủ
tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc
gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử.
Điều 84. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội
1. Sau
khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Ủy ban
bầu cử ở tỉnh và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng Bầu cử quốc
gia lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước.
2.
Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội có các nội dung sau đây:
a) Tổng
số đại biểu Quốc hội được bầu;
b) Tổng
số người ứng cử;
c) Tổng số
cử tri trong cả nước;
d) Tổng số
cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri trong cả nước;
đ) Số phiếu
hợp lệ;
e) Số phiếu
không hợp lệ;
g) Số phiếu
bầu cho mỗi người ứng cử;
h) Danh
sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử;
i) Những
việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết;
k) Những
khiếu nại, tố cáo do Hội đồng Bầu cử quốc gia đã giải quyết.
3. Biên bản
tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ
tịch, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia. Biên bản được gửi đến Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
trình Quốc hội khóa mới.
Điều 85. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Sau
khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải
quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà mình chịu trách nhiệm tổ chức.
2. Biên bản
tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có các nội dung sau đây:
a) Tổng số
đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của đơn vị hành chính;
b) Tổng số
người ứng cử;
c) Tổng số
cử tri của đơn vị hành chính;
d) Tổng số
cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị hành chính;
đ) Số phiếu
hợp lệ;
e) Số phiếu
không hợp lệ;
g) Số phiếu
bầu cho mỗi người ứng cử;
h) Danh
sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử;
i) Những
việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết;
k) Những
khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử đã giải quyết.
3.[82] Biên
bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được lập thành
sáu bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử. Biên bản
tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được gửi đến Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp tỉnh.
Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều 86. Công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử
1. Hội đồng
Bầu cử quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong
cả nước
công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm
nhất là 10 ngày[83] sau ngày bầu cử.
2. Ủy ban
bầu cử căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh
sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình chậm nhất là 10
ngày sau ngày bầu cử.
Điều 87. Giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử
1. Khiếu
nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến Hội đồng Bầu cử quốc
gia chậm nhất là 03 ngày[84] kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại
biểu Quốc hội.
Khiếu nại
về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi đến Ủy ban bầu cử chậm
nhất là 03 ngày[85] kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân.
2. Hội đồng
Bầu cử quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử
đại biểu Quốc hội trong thời hạn 07 ngày[86] kể từ ngày
nhận được khiếu nại.
Ủy ban bầu
cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân trong thời hạn 07 ngày[87] kể từ ngày nhận được khiếu nại.
3. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử là quyết
định cuối cùng.
Điều 88. Xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân
1. Căn cứ
vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu Quốc hội, kết quả giải quyết khiếu nại, tố
cáo liên quan đến người trúng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia tiến
hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, cấp giấy chứng nhận
đại biểu Quốc hội khóa mới cho người trúng cử và báo cáo Quốc hội khóa mới về kết
quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội tại kỳ họp đầu tiên.
2. Căn cứ
vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, kết quả giải quyết khiếu
nại, tố cáo liên quan đến người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu
cử tiến hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
mà mình chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử, cấp giấy chứng nhận đại biểu Hội đồng
nhân dân khóa mới cho người trúng cử và báo cáo Hội đồng nhân dân khóa mới về kết
quả xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp đầu tiên.
Chương IX
BẦU CỬ BỔ SUNG ĐẠI
BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Điều 89. Bầu cử bổ sung
1. Việc bầu
cử bổ sung đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ chỉ được tiến hành khi thời gian
còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 02 năm và thiếu trên mười phần trăm tổng số đại
biểu Quốc hội đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ.
2. Việc bầu
cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ chỉ được tiến hành khi thời
gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 18 tháng và đáp ứng một trong các điều kiện
sau đây:
a) Hội đồng
nhân dân thiếu trên một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu ở
đầu nhiệm kỳ;
b) Đơn vị
hành chính mới được thành lập trên cơ sở nhập, chia, điều chỉnh địa giới các
đơn vị hành chính hiện có có số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân không đủ hai
phần ba tổng số đại biểu được bầu theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa
phương.
3. Quốc hội
quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội; Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và công bố ngày bầu cử
bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân[88] cấp xã.
4. Ngày bầu
cử bổ sung phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 30 ngày trước
ngày bầu cử.
Điều 90. Tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung
1. Quốc hội
thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung để tổ chức bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội.
Hội đồng bầu cử bổ sung có từ năm đến bảy thành viên gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch
và Ủy viên là đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Chậm nhất
là 20 ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thống nhất
với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp quyết định thành lập Ban bầu cử bổ sung ở đơn vị bầu cử cần bầu cử
bổ sung đại biểu Quốc hội. Ban bầu cử bổ sung có từ ba đến năm thành viên gồm
Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Ủy viên là đại diện chính quyền địa phương và Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương.
2. Đối với
bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân, chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu
cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Ủy ban nhân dân sau khi thống
nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp đó quyết định thành lập Ủy ban bầu cử bổ sung để tổ chức bầu cử bổ
sung đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình và chậm nhất là 15 ngày trước ngày bầu
cử bổ sung, thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử cần bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng
nhân dân một Ban bầu cử bổ sung. Ủy ban bầu cử bổ sung có từ ba đến năm thành
viên gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên; Ban bầu cử bổ sung có từ ba đến năm
thành viên gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội.
3. Chậm
nhất là 15 ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống
nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử bổ
sung có từ chín đến mười một thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và Ủy viên là đại
diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, đại diện cử tri ở địa phương.
4. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng bầu cử bổ sung, Ủy ban bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ
sung, Tổ bầu cử bổ sung được thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật này
về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử,
Tổ bầu cử.
Điều 91. Danh sách cử tri trong bầu cử bổ sung
Danh sách
cử tri trong bầu cử bổ sung do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo quy định tại
Chương IV của Luật này và phải được công bố chậm nhất là 15 ngày trước ngày bầu
cử bổ sung.
Điều 92. Ứng cử và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử trong bầu cử bổ
sung
1. Việc ứng
cử và hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ
sung được thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương V của Luật này.
Công dân ứng
cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung phải nộp
hồ sơ ứng cử chậm nhất là 18 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
2. Việc
hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc
hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung được thực hiện theo
quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và phải được hoàn thành chậm nhất là 12
ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
3. Danh
sách chính thức người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân
dân được công bố chậm nhất là 10 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
Điều 93. Trình tự bầu cử và xác định kết quả trong bầu cử bổ sung
Thể thức
bỏ phiếu, trình tự bầu cử và xác định kết quả bầu cử bổ sung được áp dụng theo
các quy định tại Chương VII và Chương VIII của Luật này.
Điều 94. Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bầu cử bổ sung
Khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị về bầu cử bổ sung và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị được áp dụng theo các quy định tương ứng của Luật này.
Chương X
XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[89]
Điều 95. Xử lý vi phạm
Người nào
dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử
của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm
trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn
khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật
về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 96.[90] (được bãi bỏ)
Điều 97. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2015.
2. Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
31/2001/QH10 và Luật số 63/2010/QH12, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số
12/2003/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 63/2010/QH12 hết
hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 98. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
1. Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.
2. Hội đồng
Bầu cử quốc gia, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành Luật này.
3.[91]
Trong quá trình triển khai thực hiện công tác bầu cử, nếu có phát sinh vướng mắc,
giao Hội đồng Bầu cử quốc gia chủ động điều chỉnh thời gian phù hợp với thực tế
các bước tiến hành và hướng dẫn các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện đúng quy
định.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội
đồng nhân dân số 85/2015/QH13.”.
Luật An ninh mạng số
116/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật An ninh mạng.”.
[2] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều
1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[3] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[4] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[6] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[7] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều
1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[8] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[9] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[10] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a
khoản 5 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[11] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b
khoản 5 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[12] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[13] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[14] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[15] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều
1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[16] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều
1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[17] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[18] Cụm từ “25 ngày” được thay thế bằng cụm từ “17 ngày” theo
quy định tại điểm c khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19] Cụm từ “25 ngày” được thay thế bằng cụm từ “17 ngày” theo
quy định tại điểm c khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[20] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều
1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[21] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[22] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[23] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[24] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[25] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[26] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[27] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[28] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[29] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[30] Cụm từ “70 ngày” được thay thế bằng cụm từ “42 ngày” theo
quy định tại điểm d khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[32] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của
Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[33] Từ “thị trấn” được thay thế bằng từ “đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[34] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[35] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[36] Cụm từ “cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “cấp xã” theo
quy định tại điểm b khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[38] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[39] Cụm từ “65 ngày” được thay thế bằng cụm từ “40 ngày” theo
quy định tại điểm đ khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[40] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[41] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[42] Cụm từ “65 ngày” được thay thế bằng cụm từ “40 ngày” theo
quy định tại điểm đ khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[43] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[44] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[45] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[46] Cụm từ “40 ngày” được thay thế bằng cụm từ “35 ngày” theo
quy định tại điểm e khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[47] Cụm từ “55 ngày” được thay thế bằng cụm từ “38 ngày” theo
quy định tại điểm g khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[48] Cụm từ “35 ngày” được thay thế bằng cụm từ “23 ngày” theo
quy định tại điểm h khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[49] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[50] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[51] Cụm từ “35 ngày” được thay thế bằng cụm từ “23 ngày” theo
quy định tại điểm h khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[52] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[53] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a
khoản 14 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[54] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b
khoản 14 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[55] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[56] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[57] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a
khoản 16 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[58] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b
khoản 16 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[59] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[60] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[61] Cụm từ “40 ngày” được thay thế bằng cụm từ “35 ngày” theo
quy định tại điểm e khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[62] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a
khoản 18 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[63] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b
khoản 18 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[64] Cụm từ “30 ngày” được thay thế bằng cụm từ “21 ngày” theo
quy định tại điểm i khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[65] Cụm từ “30 ngày” được thay thế bằng cụm từ “21 ngày” theo
quy định tại điểm i khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[66] Cụm từ “25 ngày” được thay thế bằng cụm từ “17 ngày” theo
quy định tại điểm c khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[67] Cụm từ “20 ngày” được thay thế bằng cụm từ “16 ngày” theo
quy định tại điểm k khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[68] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[69] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[70] Cụm từ “20 ngày” được thay thế bằng cụm từ “16 ngày” theo
quy định tại điểm k khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71] Cụm từ “Ủy ban bầu cử ở huyện,” được bỏ theo quy định tại
điểm a khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[72] Cụm từ “, cấp huyện” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[73] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[74] Cụm từ “an toàn thông tin mạng,” được bãi bỏ theo quy định
tại khoản 12 Điều 43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[75] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của
Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[76] Cụm từ “15 ngày” được thay thế bằng cụm từ “07 ngày” theo
quy định tại điểm l khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[77] Cụm từ “15 ngày” được thay thế bằng cụm từ “07 ngày” theo
quy định tại điểm l khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[78] Cụm từ “15 ngày” được thay thế bằng cụm từ “07 ngày” theo
quy định tại điểm l khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[79] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[80] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[81] Cụm từ “trực thuộc trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[82] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21
Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[83] Cụm từ “20 ngày” được thay thế bằng cụm từ “10 ngày” theo
quy định tại điểm m khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[84] Cụm từ “05 ngày” được thay thế bằng cụm từ “03 ngày” theo
quy định tại điểm n khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[85] Cụm từ “05 ngày” được thay thế bằng cụm từ “03 ngày” theo
quy định tại điểm n khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[86] Cụm từ “30 ngày” được thay thế bằng cụm từ “07 ngày” theo
quy định tại điểm o khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[87] Cụm từ “20 ngày” được thay thế bằng cụm từ “07 ngày” theo
quy định tại điểm o khoản 23 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[88] Cụm từ “cấp huyện,” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản
24 Điều 1 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[89] Điều 2 của Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 2. Hiệu lực
thi hành
Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Điều 44 của Luật An
ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định
như sau:
“Điều 44. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật An toàn
thông tin mạng số 86/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
35/2018/QH14; Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật
này có hiệu lực thi hành.”.
[90] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của
Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[91] Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của
Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc
hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.