|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
54/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày
11 tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
64/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 4 năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 87/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của
Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật; nội dung cơ bản về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp
luật.
Luật này không quy định về làm Hiến pháp, sửa đổi
Hiến pháp.
Điều 2. Văn bản quy phạm
pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa
quy phạm pháp luật, được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục
theo quy định của Luật này.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu
như sau:
1. Quy
phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được
áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi cả nước hoặc trong đơn
vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định tại
Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
2. Chính sách là tập hợp các giải pháp cụ
thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được
mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng.
3. Tham vấn chính sách là việc trao đổi
trực tiếp giữa cơ quan lập đề xuất chính sách với cơ quan, tổ chức, cá nhân được
tham vấn theo quy định của Luật này nhằm lựa chọn giải pháp, hoàn thiện chính
sách của dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
4. Đánh giá tác động của chính sách là việc
phân tích, dự báo khả năng ảnh hưởng của từng giải pháp nhằm lựa chọn phương án
tối ưu, phù hợp với mục tiêu của chính sách.
5. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật là
việc xem xét, đối chiếu, đánh giá các quy định của văn bản được rà soát nhằm
phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, hết
hiệu lực hoặc không còn phù hợp.
6. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là
việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất
với hệ thống pháp luật của văn bản được kiểm tra.
Điều 4. Hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật [2]
1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật),
nghị quyết của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
5. Nghị định, nghị quyết của Chính phủ; nghị quyết
liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước.
9. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
10. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành
phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).
11. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
12. Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
13. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường,
đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Điều 5. Nguyên tắc xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống
nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với
điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân
thủ đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
3. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực, lãng phí; phòng, chống lợi ích nhóm, cục bộ.
4. Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công
khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.
5. Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền,
phân cấp; giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng
mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
6. Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện
thí điểm phải xác định thời gian thực hiện thí điểm và phải được sơ kết, tổng kết
để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật để áp dụng chính thức.
7. Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo
vệ bí mật nhà nước đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí
mật nhà nước.
Điều 6. Phản biện xã hội,
tham vấn, góp ý đối với chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật theo quy định của Luật này, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các luật
khác có liên quan.
Phản biện xã hội được thực hiện trong thời gian
tổ chức soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.
2. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm
tham vấn Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định
của Luật này.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền
và được tạo điều kiện tham gia góp ý kiến về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật.
4. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ và công
khai việc tiếp thu, giải trình ý kiến phản biện xã hội, tham vấn chính sách,
góp ý chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 7. Ngôn ngữ, thể thức,
kỹ thuật trình bày và dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số,
tiếng nước ngoài
1. Ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản quy phạm
pháp luật là tiếng Việt, bảo đảm chính xác, phổ thông, thống nhất, diễn đạt rõ
ràng, dễ hiểu.
2. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục
theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; phần, chương, mục, tiểu mục,
điều phải có tên.
3. Văn bản quy phạm pháp luật phải đánh số, ký
hiệu bảo đảm thể hiện rõ số thứ tự liên tục, năm ban hành, loại văn bản, cơ
quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản.
4. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch
ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài. Bản dịch có giá trị tham khảo.
Điều 8. Sửa đổi, bổ sung,
thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi,
bổ sung, thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan, người có
thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành bằng văn bản của
cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a
và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này hoặc luật, nghị quyết của Quốc hội
có quy định khác.
2. Văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ bằng văn
bản của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bằng văn
bản của cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm
a và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này.
3. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc
đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương,
mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi
bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.
Trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban Thường vụ
Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Văn bản bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản
quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được đăng tải
trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
4. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế
văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi cơ bản chính sách, phạm vi điều chỉnh,
đối tượng áp dụng;
b) Sửa đổi, bổ sung về nội dung quá một phần hai
tổng số điều.
5. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần
của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành khác với quy định của văn bản
quy phạm pháp luật mới được ban hành. Trường hợp có quy định khác nhưng cần tiếp
tục được áp dụng thì phải được quy định rõ trong văn bản quy phạm pháp luật mới
được ban hành.
6. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban
hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung của nhiều văn bản
quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan, người có thẩm quyền ban hành.
Điều 9. Gửi, lưu trữ văn bản
quy phạm pháp luật
1. Chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc
ký chứng thực, ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật khác, cơ quan,
người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm gửi văn
bản để đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
2. Hồ sơ chính sách, dự án và bản gốc của văn bản
quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
3.[3] Văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan, người có thẩm quyền ở trung ương ban hành phải được đăng tải
trên công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc
biệt phải được đăng tải trên công báo điện tử cấp tỉnh.
4. Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên công
báo điện tử có giá trị như văn bản gốc.
Chương II
THẨM QUYỀN BAN HÀNH, NỘI
DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 10. Luật, nghị quyết của
Quốc hội
1. Quốc hội ban hành luật để quy định:
a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch
nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc
gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc
biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền
công dân; tội phạm và hình phạt; tố tụng tư pháp;
c) Chính sách cơ bản về kinh tế, xã hội, văn
hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, tài chính, tiền tệ quốc gia,
ngân sách nhà nước; quy định các thứ thuế, về huân chương, huy chương và danh
hiệu vinh dự nhà nước;
d) Chính sách cơ bản về quốc phòng, an ninh quốc
gia; hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; quy định về tình trạng khẩn cấp,
các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
đ) Chính sách cơ bản về đối ngoại; hàm, cấp ngoại
giao; hàm, cấp nhà nước khác;
e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của
Nhà nước;
g) Trưng cầu ý dân;
h) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;
i) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội
theo quy định của Hiến pháp và luật.
2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
a) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc
thẩm quyền quyết định của Quốc hội khác với quy định của luật hiện hành;
b) Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài
thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng
yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền
công dân;
c) Vấn đề khác do Quốc hội quyết định.
Điều 11. Pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh
trong trường hợp được Quốc hội giao.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết
để quy định:
a) Giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội và pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài
thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội đáp ứng yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội;
c) Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố,
bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
d) Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;
đ) Nội dung được luật, nghị quyết của Quốc hội
giao, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này;
e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Điều 12. Lệnh, quyết định của
Chủ tịch nước
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết
định để quy định:
1. Tổng động viên hoặc động
viên cục bộ; công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả
nước hoặc ở từng địa phương;
2. Vấn đề khác thuộc thẩm
quyền của Chủ tịch nước.
Điều 13. Nghị quyết liên tịch
giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để
quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc hướng dẫn một số vấn đề cần
thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 14. Nghị định, nghị
quyết của Chính phủ
1. Chính phủ ban hành nghị định để quy định:
a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung
khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
b) Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến
pháp; các biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn
hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ,
cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác
thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến
nhiệm vụ, quyền hạn của từ 02 Bộ, cơ quan ngang Bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn,
tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ
quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ; phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn;
c) Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp
lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước
khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Chính phủ ban hành nghị quyết để quy định:
a) Giải quyết các vấn đề cấp bách, quan trọng
phát sinh từ thực tiễn và để áp dụng trong một thời gian nhất định, phạm vi cụ
thể thuộc thẩm quyền của Chính phủ; phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn;
b) Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài
thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần nghị định của Chính phủ đáp ứng yêu cầu
cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công
dân;
c) Thực hiện thí điểm một số chính sách chưa có
pháp luật điều chỉnh thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc khác với nghị định,
nghị quyết của Chính phủ.
Điều 15. Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định để quy định:
1. Nội dung được giao trong luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước, nghị định, nghị quyết của Chính phủ;
2. Biện pháp chỉ đạo, điều hành hoạt động của
Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ
làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa phương và các vấn đề
khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; phân cấp và thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn được phân cấp;
3. Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các
thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Điều 16. Nghị quyết của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao
1. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành
thông tư để quy định việc quản lý các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự về tổ chức,
hoạt động, những vấn đề khác thuộc thẩm quyền hoặc được giao tại Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân và văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Điều 17. Thông tư của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban
hành thông tư để quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc được giao tại Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Điều 18. Thông tư của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành
thông tư để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung
khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định, nghị quyết
của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
2. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước
của mình; phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
Điều 19. Thông tư của Tổng
Kiểm toán nhà nước
Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành thông tư để quy
định chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán, những
vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc được giao tại Luật Kiểm toán nhà nước và văn bản
quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 20. Thông tư liên tịch
giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ ban hành thông tư liên tịch để quy định việc phối hợp
trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng, thi hành
án, thi hành tạm giữ, tạm giam; phòng, chống
tham nhũng và công tác bồi thường nhà nước; nội dung được giao trong luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh,
quyết định của Chủ tịch nước.
2. Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
Điều 21. Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, quyết định của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh [4]
1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết
để quy định:
a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung
khác được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành
Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
c) Chính sách, biện pháp nhằm phát triển kinh tế
- xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp khác có tính
chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp;
d) Thực hiện thí điểm các chính sách theo quy định
của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định
để quy định:
a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung
khác được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa
phương;
c) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước
ở địa phương; phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành
quyết định để quy định:
a) Biện pháp chỉ đạo, điều hành hoạt động của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh; phối hợp hoạt động giữa các cơ quan chuyên môn, cơ quan,
tổ chức khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được
phân cấp.
Điều 22.
Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính -
kinh tế đặc biệt và cấp xã [5]
1. Chính quyền địa phương ở đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định
của Luật này và quy định của văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của
Quốc hội.
2. Hội đồng nhân dân cấp
xã ban hành nghị quyết để quy định:
a) Những vấn đề được luật,
nghị quyết của Quốc hội giao;
b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo
đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên;
c) Chính sách, biện pháp nhằm
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
được phân cấp.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để
quy định:
a) Những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội
giao;
b) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp;
c) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước
ở địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
Chương III
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Mục 1. ĐỊNH HƯỚNG LẬP PHÁP
NHIỆM KỲ VÀ CHƯƠNG TRÌNH LẬP PHÁP HẰNG NĂM CỦA QUỐC HỘI
Điều 23. Định hướng lập
pháp nhiệm kỳ của Quốc hội
1.[6] Ủy ban Thường vụ Quốc
hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của
Quốc hội, hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc Kỳ họp đầu tiên
nhiệm kỳ Quốc hội, để trình cơ quan có thẩm quyền của Đảng phê duyệt.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình đề xuất nhiệm
vụ lập pháp; Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính
trị - xã hội và đại biểu Quốc hội gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp đến Ủy ban Thường
vụ Quốc hội trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết thúc Kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ
Quốc hội để xem xét đưa vào Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.
2. Căn cứ xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ
của Quốc hội bao gồm:
a) Chủ trương, đường lối của Đảng, các định hướng,
kết luận của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước;
b) Kết quả thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ
của Quốc hội nhiệm kỳ trước, yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật;
c) Vấn đề mới, xu hướng mới cần có pháp luật điều
chỉnh;
d) Yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh
từ thực tiễn.
3. Đề xuất nhiệm vụ lập pháp bao gồm: tờ trình;
danh mục nhiệm vụ lập pháp, trong đó nêu rõ căn cứ, nội dung cần được nghiên cứu,
rà soát, thể chế hóa, dự kiến thời hạn hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát và
thời hạn cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nếu có).
4. Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội là
danh mục các nhiệm vụ lập pháp, trong đó xác định cụ thể yêu cầu về việc rà
soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc nghiên cứu, đề xuất ban hành mới luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cơ
quan chủ trì thực hiện; thời gian hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát được sắp
xếp theo thứ tự ưu tiên hằng năm của nhiệm kỳ Quốc hội.
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kế hoạch
triển khai thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội ngay sau khi được
phê duyệt. Trường hợp phát sinh các nhiệm vụ lập pháp mới, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xem xét, quyết định điều chỉnh kế hoạch triển khai thực hiện.
6. Chính phủ và cơ quan, tổ chức được Ủy ban Thường
vụ Quốc hội giao thực hiện các nhiệm vụ lập pháp ban hành kế hoạch thực hiện Định
hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội; trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ lập
pháp có thể chủ động xây dựng chính sách, soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 24. Chương trình lập
pháp hằng năm của Quốc hội
1.[7] Căn cứ Định hướng lập
pháp nhiệm kỳ của Quốc hội hoặc yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ
thực tiễn (nếu có), Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình đề xuất xây dựng luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
và đại biểu Quốc hội (sau đây gọi chung là cơ quan trình) gửi tờ trình đề xuất
xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 01 tháng 8 hằng năm để đưa
vào Chương trình lập pháp của năm tiếp theo.
2. Tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh,
nghị quyết được gửi bằng bản điện tử và 01 bản giấy, trong đó nêu rõ sự cần thiết,
mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; các vấn đề cụ thể để
xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập có nguyên nhân từ pháp luật; vấn đề mới,
xu hướng mới và các nội dung cần thiết khác (nếu có); thời gian dự kiến trình
và thông qua.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Chương
trình lập pháp của năm tiếp theo trước ngày 01 tháng 10 hằng năm trên cơ sở tờ
trình đề xuất của cơ quan trình.
Điều 25. Thông qua Chương
trình lập pháp hằng năm
1. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ
trì, phối hợp với cơ quan trình và Hội đồng Dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội
có ý kiến về nội dung đề xuất xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự kiến Chương trình lập pháp hằng
năm, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy
ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp cho ý kiến về nội dung trong tờ trình,
thứ tự ưu tiên, thời gian trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
nghị quyết về Chương trình lập pháp hằng năm; nghị quyết nêu rõ tên luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ
quan trình, cơ quan thẩm tra và thời gian dự kiến trình theo kỳ họp của Quốc hội,
phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết được gửi đến đại biểu Quốc
hội.
Trường hợp có nội dung đề xuất xây dựng pháp lệnh
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà chưa được Quốc hội giao thì Ủy ban Thường vụ
Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo triển khai
việc thực hiện Chương trình lập pháp hằng năm.
Điều 26. Điều chỉnh Chương
trình lập pháp hằng năm
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình điều chỉnh
hoặc xem xét, quyết định việc điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm theo
quy định tại Điều 25 của Luật này trong các trường hợp sau
đây:
a) Cơ quan trình có tờ trình quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này đề xuất bổ sung luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào Chương trình
lập pháp hằng năm;
b) Cơ quan trình có văn bản nêu rõ lý do đề xuất
đưa ra khỏi Chương trình lập pháp hằng năm hoặc điều chỉnh thời điểm trình.
2.[8] Trường hợp cần ban
hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất
để giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn
mà nội dung đề xuất chưa có trong Chương trình lập pháp hằng năm thì cơ quan
trình áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn để xây dựng dự án;
gửi hồ sơ dự án để Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, trình Ủy ban
Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đồng thời quyết định việc bổ sung vào dự kiến
chương trình kỳ họp Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Mục 2. XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
Điều 27. Các trường hợp thực
hiện quy trình xây dựng chính sách
1. Cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức thực hiện
quy trình xây dựng chính sách trước khi soạn thảo trong các trường hợp xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật sau đây:
a) Luật, pháp lệnh mới; luật, pháp lệnh thay thế
các luật, pháp lệnh hiện hành;
b) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có
nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp;
c) Nghị quyết thí điểm của Quốc hội.
2. Đối với dự án luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản
1 Điều này thì cơ quan trình không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách
nhưng phải nêu rõ tác động của chính sách trong bản thuyết minh quy phạm hóa
chính sách.
3. Cơ quan trình tự mình lập đề xuất chính sách
hoặc phân công cơ quan thực hiện lập đề xuất chính sách.
Điều 28. Xác định chính
sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm
xác định chính sách trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng; kết quả tổng kết
thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; bảo đảm thực hiện quyền
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh;
chủ trương phân quyền, phân cấp; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà
nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội; cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Nội dung từng chính sách phải cụ thể, rõ
ràng, bao gồm:
a) Vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của từng vấn
đề;
b) Mục tiêu cần đạt được khi giải quyết các vấn
đề;
c) Các giải pháp để giải quyết từng vấn đề;
d) Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
chính sách, nhóm đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện chính sách;
đ) Giải pháp tối ưu được lựa chọn.
Điều 29. Đánh giá tác động
của chính sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm
đánh giá tác động của chính sách.
2. Nội dung đánh giá tác động của chính sách bao
gồm:
a) Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh
giá trên cơ sở phân tích về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ
thống pháp luật của chính sách; tính tương thích với các điều ước quốc tế có
liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b)[9] Tác động về kinh tế -
xã hội được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo chi phí, lợi ích, tác động
tích cực, tiêu cực về một hoặc một số nội dung liên quan đến sản xuất, kinh
doanh, việc làm, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường, quốc
phòng, an ninh, phân quyền, phân cấp, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số, các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế - xã hội;
c) Tác động về giới (nếu có) được đánh giá trên
cơ sở phân tích về cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền,
lợi ích của mỗi giới;
d) Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được
đánh giá trên cơ sở phân tích về sự cần thiết của thủ tục hành chính để thực hiện
chính sách.
3. Đối với dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này, trước khi biểu quyết thông qua, nếu
bổ sung chính sách mới thì cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức đánh giá tác động
của chính sách đó.
Điều 30. Lấy ý kiến, tham vấn
chính sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm
sau đây:
a) Tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động
trực tiếp của chính sách, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị -
xã hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác có liên quan. Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức
được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được đề nghị tham gia góp ý kiến;
b) Tổ chức hội nghị tham vấn Thường trực Hội đồng
Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với chính
sách liên quan trực tiếp thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách trong quá trình xây
dựng chính sách.
Theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng Dân tộc,
Thường trực Ủy ban của Quốc hội được tham vấn, cơ quan lập đề xuất chính sách mời
đại diện cơ quan khác của Quốc hội, đối tượng hoặc tổ chức đại diện cho đối tượng
chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, các chuyên gia, nhà khoa học và các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia hội nghị. Tại hội nghị tham vấn,
lãnh đạo cơ quan lập đề xuất chính sách thuyết trình và giải trình các vấn đề
liên quan đến chính sách. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xây dựng
văn bản về kết quả tham vấn chính sách trong đó phải nêu rõ quan điểm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn.
Việc tham vấn chính sách đối với Bộ, cơ quan
ngang Bộ thực hiện theo quy định của Chính phủ;
c) Nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý,
tham vấn chính sách.
2. Hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn
chính sách gồm dự thảo các tài liệu sau đây:
a) Tờ trình;
b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách;
c) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối
của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính
sách;
d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến chính sách;
đ) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách.
3. Đối với hồ sơ chính sách không do Chính phủ
trình, cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xin ý kiến Chính phủ. Hồ
sơ chính sách gửi Chính phủ cho ý kiến gồm văn bản đề nghị cho ý kiến và các
tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều
31 của Luật này. Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ chính sách.
Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm
nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ.
Điều 31. Thẩm định chính
sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
do Chính phủ trình
1.[10] Bộ Tư pháp chủ trì,
phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức thẩm
định chính sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội trước khi trình Chính phủ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ
hồ sơ. Việc thẩm định được thực hiện trên cơ sở hồ sơ chính sách gửi thẩm định.
Đối với chính sách do Bộ Tư pháp đề xuất hoặc
trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định.
2. Hồ sơ chính sách gửi thẩm định bao gồm:
a) Văn bản đề nghị thẩm định của cơ quan lập đề
xuất chính sách;
b) Dự thảo tờ trình;
c) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của
Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách;
đ) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến chính sách;
e) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách;
g) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý
kiến góp ý, tham vấn.
3. Lãnh đạo cơ quan lập đề xuất chính sách có
trách nhiệm thuyết trình và giải trình các vấn đề liên quan đến chính sách tại
cuộc họp thẩm định.
4. Nội dung thẩm định chính sách bao gồm:
a) Sự cần thiết của chính sách;
b) Sự phù hợp của chính sách với chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách của Nhà nước;
c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất
với hệ thống pháp luật của chính sách;
d) Tính tương thích của chính sách với điều ước
quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
đ)[11] Sự cần thiết quy định
thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng
giới, chính sách dân tộc (nếu có);
e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng
chính sách.
5. Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp phải nêu rõ
hồ sơ chính sách đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ; báo cáo thẩm định được
gửi đến Chính phủ, đồng thời gửi cơ quan lập đề xuất chính sách.
Trường hợp đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan
lập đề xuất chính sách nghiên cứu, xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến
thẩm định và chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, giải trình để trình Chính
phủ.
Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ
quan lập đề xuất chính sách phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ chính
sách để thẩm định lại.
Điều 32. Thông qua chính
sách
1. Đối với luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình, Chính phủ
ban hành nghị quyết thông qua chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo.
2. Đối với luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không do Chính phủ trình, cơ
quan trình ban hành văn bản thông qua chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo.
Mục 3. SOẠN THẢO LUẬT, NGHỊ
QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Điều 33. Soạn thảo luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Cơ quan trình tự mình soạn thảo hoặc phân
công cho một cơ quan tổ chức soạn thảo (sau đây gọi chung là cơ quan chủ trì soạn
thảo) luật, pháp lệnh, nghị quyết. Nội dung dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết
phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại Điều 5 của Luật này.
2. Việc tổ chức soạn thảo được thực hiện như
sau:
a) Đối với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách, việc
soạn thảo được thực hiện trên cơ sở các chính sách đã được thông qua.
Trường hợp bổ sung chính sách mới trong quá
trình soạn thảo thì chính sách mới phải được thực hiện theo quy định tại các điều 28, 29, 30, 31 và 32 của Luật này;
b) Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết không phải
thực hiện quy trình xây dựng chính sách, việc soạn thảo được thực hiện trên cơ
sở kế hoạch triển khai thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và
Chương trình lập pháp hằng năm.
3. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thực
hiện các nội dung sau đây:
a) Tổ chức lấy ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội,
đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; lấy
ý kiến Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với những nội dung của dự án liên quan đến chức
năng quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác có liên quan. Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức,
cá nhân được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được đề nghị tham gia góp ý kiến.
Đối với các dự án luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thực hiện quy trình xây dựng chính
sách thì không bắt buộc phải tổ chức lấy ý kiến;
b)[12] Lấy ý kiến phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cử đại diện tham gia cuộc họp phản biện
xã hội khi được đề nghị.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì hoặc tổ chức
chính trị - xã hội trên cơ sở thống nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì
tổ chức phản biện xã hội. Văn bản phản biện được gửi đến cơ quan chủ trì soạn
thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ;
c)[13] Đăng tải hồ sơ dự
án luật, pháp lệnh, nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì
soạn thảo và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế
có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục
rút gọn thì việc đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b
khoản 4 Điều 51 của Luật này;
d) Nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý,
phản biện xã hội.
4. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết gửi
phản biện xã hội, lấy ý kiến, đăng tải gồm các tài liệu sau đây:
a) Dự thảo tờ trình;
b) Dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối
của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
đ)[14] Bản đánh giá về thủ
tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng
giới, chính sách dân tộc (nếu có);
e) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này;
g) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế
với luật, pháp lệnh, nghị quyết hiện hành;
h) Tài liệu khác (nếu có).
Điều 34. Thẩm định dự án luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do
Chính phủ trình
1.[15] Bộ Tư pháp chủ trì,
phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức thẩm
định dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trước khi trình Chính phủ trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Việc thẩm định được thực hiện trên cơ sở hồ
sơ dự án gửi thẩm định.
Đối với dự án do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo hoặc
trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định.
2. Hồ sơ dự án gửi thẩm định bao gồm:
a) Văn bản đề nghị thẩm định;
b) Dự thảo tờ trình;
c) Dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo;
đ) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối
của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
e)[16] Bản đánh giá thủ tục
hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng giới,
chính sách dân tộc (nếu có);
g) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này;
h) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế
với luật, pháp lệnh, nghị quyết hiện hành;
i) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý
kiến góp ý, phản biện xã hội;
k) Tài liệu khác (nếu có).
3. Lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo có trách
nhiệm thuyết trình và giải trình các vấn đề liên quan đến dự án tại cuộc họp thẩm
định.
4. Nội dung thẩm định dự án bao gồm:
a) Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh,
nghị quyết;
b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với chủ
trương, đường lối của Đảng; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ
thống pháp luật;
c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với chính
sách đã được thông qua (nếu có);
d) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên
quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu
về quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
đ)[17] Sự cần thiết, tính
hợp lý của thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm
bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
e) Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản
và trình tự, thủ tục soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.
5. Báo cáo thẩm định phải nêu rõ dự án đủ hay
chưa đủ điều kiện trình Chính phủ; báo cáo thẩm định được gửi đến Chính phủ, đồng
thời gửi cơ quan chủ trì soạn thảo.
Trường hợp đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan
chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, xây dựng
báo cáo tiếp thu, giải trình và chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, giải
trình để trình Chính phủ.
Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ
quan chủ trì soạn thảo phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ dự án để thẩm
định lại.
Điều 35. Cho ý kiến đối với
dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội không do Chính phủ trình
1. Chính phủ cho ý kiến đối với dự án luật, pháp
lệnh, nghị quyết không do Chính phủ trình trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội. Thời hạn cho ý kiến chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
2. Hồ sơ dự án gửi Chính phủ cho ý kiến gồm văn
bản đề nghị cho ý kiến và các tài liệu quy định tại các điểm b,
c, d, đ, e, g, h, i và k khoản 2 Điều 34 của Luật này.
3. Cơ quan trình có trách nhiệm nghiên cứu tiếp
thu, giải trình ý kiến của Chính phủ.
Điều 36. Xem xét, quyết định
việc trình dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội
1. Chính phủ xem xét, quyết định
việc trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trên cơ sở tờ trình của cơ quan chủ
trì soạn thảo và hồ sơ dự án sau khi đã tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định.
2. Đối với luật, pháp lệnh, nghị
quyết không do Chính phủ trình, cơ quan trình xem xét, quyết định việc trình
sau khi đã tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ.
Mục 4. THẨM TRA, THÔNG QUA,
CÔNG BỐ LUẬT, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG
VỤ QUỐC HỘI
Điều 37. Thẩm tra dự án
1.[18] Đối với dự án trình
Quốc hội thì chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan
trình phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra
để tiến hành thẩm tra và gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này bằng bản điện
tử đến Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội để gửi đến các Đoàn
đại biểu Quốc hội và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.
Đối với dự án trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội
thì chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
cơ quan trình phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến cơ quan chủ trì
thẩm tra để tiến hành thẩm tra.
Cơ quan trình phải đăng tải hồ sơ dự án trình Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên Cổng Pháp luật quốc gia.
2. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chủ trì
thẩm tra dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực mình phụ trách và dự án luật, pháp lệnh, nghị
quyết khác do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra đối với
nội dung liên quan đến lĩnh vực mình phụ trách trong dự án luật, pháp lệnh, nghị
quyết do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra theo quy định của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp có
trách nhiệm tham gia thẩm tra về tính hợp hiến, tính hợp
pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự
thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.
3. Hồ sơ dự án gửi thẩm tra bao gồm:
a) Tờ trình;
b) Dự thảo luật, pháp lệnh,
nghị quyết;
c) Báo cáo tổng kết việc
thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối
của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
đ)[19] Bản
đánh giá về thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng,
thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
e) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này;
g) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế
với luật, pháp lệnh, nghị quyết hiện hành;
h) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý
kiến góp ý, phản biện xã hội;
i) Báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án luật,
pháp lệnh, nghị quyết không do Chính phủ trình;
k) Báo cáo tiếp thu, giải
trình ý kiến thẩm định đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết
do Chính phủ trình hoặc báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ
đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị
quyết không do Chính phủ trình;
l) Tài liệu khác (nếu có).
4. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn
đề sau đây:
a) Sự phù hợp của nội dung dự thảo luật, pháp lệnh,
nghị quyết với chủ trương, đường lối của Đảng;
b) Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự
thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
c) Nội dung của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị
quyết và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau (nếu có);
d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất
với hệ thống pháp luật của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
đ) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên
quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu
về quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
e)[20] Sự cần thiết, tính
hợp lý của thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc bảo đảm
bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
g) Tính khả thi của các quy định trong dự thảo
luật, pháp lệnh, nghị quyết;
h) Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản
và trình tự, thủ tục xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.
5. Phương thức thẩm tra:
a) Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp
toàn thể để thẩm tra. Trường hợp chưa tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra
thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của
Quốc hội thẩm tra sơ bộ để kịp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước
khi trình Quốc hội;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời
cơ quan tham gia thẩm tra hoặc Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra tham dự
phiên họp thẩm tra;
c) Lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo đối với dự
án do Chính phủ trình hoặc đại biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan trình đối với dự
án không do Chính phủ trình có trách nhiệm tham dự, báo cáo và giải trình các vấn
đề liên quan đến dự án tại phiên họp thẩm tra.
6. Yêu cầu đối với báo cáo thẩm tra:
a) Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của
cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 4
Điều này;
b) Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến
của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra,
ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội (nếu có) về nội dung dự án luật, pháp lệnh,
nghị quyết; nêu rõ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đủ hoặc chưa đủ điều kiện
trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội; trường hợp dự án chưa đủ điều kiện
trình thì cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trả
lại hồ sơ cho cơ quan trình để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện.
Điều 38. Ủy ban Thường vụ
Quốc hội cho ý kiến về dự án luật, nghị quyết của Quốc hội
1. Dự án luật, nghị quyết của Quốc hội phải được
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội. Ủy ban Thường vụ
Quốc hội có thể đưa dự án ra thảo luận, cho ý kiến tại Hội nghị đại biểu Quốc hội
hoạt động chuyên trách.
2. Chậm nhất là 07 ngày trước ngày bắt đầu phiên
họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hồ sơ quy định tại khoản 3
Điều 37 của Luật này và báo cáo thẩm tra phải được gửi đến Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
3. Dự án luật, nghị quyết của Quốc hội được Ủy
ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại một hoặc nhiều phiên họp theo trình tự
sau đây:
a) Cơ quan trình thuyết trình về nội dung cơ bản
của dự thảo;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm
tra, đề xuất các vấn đề cần Quốc hội tập trung thảo luận;
c) Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về dự án
không do Chính phủ trình;
d) Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp
phát biểu ý kiến;
đ) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận;
e) Chủ tọa phiên họp kết luận.
4. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
cơ quan trình có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý, hoàn thiện dự
án.
5. Cơ quan trình báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về việc tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án. Thường trực cơ quan chủ trì thẩm
tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về nội dung tiếp thu, chỉnh lý,
hoàn thiện dự án của cơ quan trình. Trường hợp cơ quan trình và Ủy ban Thường vụ
Quốc hội chưa thống nhất hoặc dự án có nội dung quan trọng, phức tạp cần có
thêm thời gian để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự
mình hoặc theo đề nghị của cơ quan trình quyết định lùi thời điểm trình Quốc hội
thông qua.
6. Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo đưa vào dự kiến chương trình kỳ họp
của Quốc hội đối với các dự án luật, nghị quyết đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội
cho ý kiến, đủ điều kiện trình Quốc hội.
Điều 39. Xem xét, thông qua
dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội
1. Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật, nghị
quyết tại một kỳ họp, trừ trường hợp quy định tại khoản 11 Điều
40 của Luật này. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp, hồ sơ dự
án luật, nghị quyết và báo cáo thẩm tra phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
dự thảo pháp lệnh, nghị quyết tại một phiên họp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 42 của Luật này. Chậm nhất là 10 ngày trước ngày
bắt đầu phiên họp, hồ sơ dự án pháp lệnh, nghị quyết và báo cáo thẩm tra phải
được gửi đến các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Hồ sơ dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm các tài liệu quy định
tại khoản 3 Điều 37 của Luật này và báo cáo thẩm tra được gửi
bằng bản điện tử và 03 bản giấy.
Điều 40. Trình tự xem xét,
thông qua dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội
1. Cơ quan trình trình bày tờ trình.
2. Cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm
tra.
3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể.
Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án có thể được thảo luận ở Tổ đại
biểu Quốc hội.
4. Trong quá trình thảo luận, cơ quan trình giải
trình những vấn đề liên quan đến dự án mà đại biểu Quốc hội nêu.
5. Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của
dự án còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của
cơ quan trình hoặc theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để làm cơ sở cho
việc chỉnh lý.
6. Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc
hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và kết quả biểu quyết đối với
trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này để gửi cơ quan trình và cơ quan chủ trì
thẩm tra.
7. Việc nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh
lý dự thảo luật, nghị quyết được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải
trình, chỉnh lý dự thảo và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự
thảo luật, nghị quyết, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến; Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về nội dung
cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết;
b) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải
trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội;
c) Chậm nhất là 03 ngày trước ngày Quốc hội biểu
quyết thông qua, cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ
trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan hoàn thành việc rà soát, hoàn thiện
về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản đối với dự thảo luật, nghị
quyết và gửi Quốc hội;
d) Trường hợp cơ quan trình có ý kiến khác với ý
kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc dự án có nội dung quan trọng, phức tạp
cần có thêm thời gian để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý thì Ủy ban Thường vụ Quốc
hội tự mình hoặc trên cơ sở đề xuất của cơ quan trình báo cáo Quốc hội xem xét,
quyết định cho lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tiếp theo hoặc
trình lại.
8. Cơ quan trình báo cáo Quốc hội về việc tiếp
thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết.
9. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật,
nghị quyết. Trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu
quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết
thông qua toàn văn dự thảo.
10. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị
quyết của Quốc hội.
11. Trường hợp dự thảo luật, nghị quyết chưa được
thông qua, Quốc hội xem xét, quyết định lùi thời điểm thông qua để tiếp tục
hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại.
12. Việc hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua dự
thảo luật, nghị quyết tại kỳ họp tiếp theo được thực hiện theo quy định tại Điều 41 của Luật này. Việc trình lại thực hiện theo quy định tại
các điều 37, 38 và 40 của Luật này; hồ sơ dự án, thời hạn gửi
hồ sơ dự án thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều
39 của Luật này.
Điều 41. Trình tự xem xét,
thông qua dự thảo luật, nghị quyết tại kỳ họp tiếp theo
1. Trước kỳ họp tiếp theo, cơ quan trình chủ
trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra và cơ quan, tổ chức có
liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết và
xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo, báo cáo Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội
nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách để thảo luận, cho ý kiến đối với
dự thảo luật, nghị quyết, cơ quan trình báo cáo và nghiên cứu tiếp thu, giải
trình ý kiến của đại biểu tham dự Hội nghị.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến
về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết theo trình tự
sau đây:
a) Cơ quan trình trình bày báo cáo tiếp thu, giải
trình và chỉnh lý dự thảo;
b) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình
bày ý kiến đối với nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh
lý dự thảo;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận
về dự thảo đã được chỉnh lý.
3. Cơ quan trình nghiên cứu tiếp thu, giải trình
ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
4. Tại kỳ họp tiếp theo:
a) Cơ quan trình báo cáo Quốc hội việc tiếp thu,
giải trình và chỉnh lý dự thảo, trong đó nêu rõ ý kiến khác với ý kiến của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội hoặc khác với ý kiến của Chính phủ đối với dự án không
do Chính phủ trình (nếu có);
b) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình
bày ý kiến đối với nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh
lý dự thảo;
c) Quốc hội thảo luận về nội dung dự thảo;
d) Việc nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của
đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết, trình Quốc hội biểu quyết
thông qua và ký chứng thực tiếp tục thực hiện theo quy định tại các khoản 7, 8, 9 và 10 Điều 40 của Luật này.
Điều 42. Trình tự xem xét,
thông qua dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
dự thảo pháp lệnh, nghị quyết theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình trình bày tờ trình;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm
tra;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự
phiên họp phát biểu ý kiến;
d) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, chủ tọa
phiên họp kết luận;
đ) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải
trình, chỉnh lý dự thảo theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tổ chức,
hoàn thành việc rà soát, hoàn thiện về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày
văn bản đối với dự thảo pháp lệnh, nghị quyết chậm nhất là 03 ngày trước ngày Ủy
ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua;
e) Cơ quan trình báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo; Thường trực cơ quan chủ trì
thẩm tra trình bày ý kiến đối với nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải
trình và chỉnh lý dự thảo (nếu có);
g) Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông
qua dự thảo. Trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Ủy ban Thường
vụ Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước
khi biểu quyết thông qua toàn văn dự thảo;
h) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Trường hợp dự thảo pháp lệnh, nghị quyết chưa
được thông qua, cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì
thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh
lý dự thảo và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo để
trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo tại phiên họp sau
theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình trình bày báo cáo tiếp thu, giải
trình và chỉnh lý dự thảo;
b) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình
bày ý kiến đối với báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận
và biểu quyết thông qua dự thảo. Trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác
nhau thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của chủ
tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua toàn văn dự thảo;
d) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 43. Công bố luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất
là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.
Đối với pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc
hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại,
chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, Chủ tịch nước gửi văn
bản đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại. Ủy ban Thường vụ Quốc hội
có trách nhiệm xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến tại phiên họp
gần nhất. Sau khi pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết, thông
qua lại thì Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Ủy ban Thường
vụ Quốc hội thông qua lại. Trường hợp Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ
tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.
2. Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc
hội công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.
Đối với nghị quyết được xây dựng, ban hành theo
trình tự, thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt thì Tổng Thư ký Quốc hội
- Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội công bố nghị quyết chậm nhất là 05 ngày kể từ
ngày nghị quyết được thông qua.
Chương IV
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN KHÁC
Điều 44. Xây dựng, ban hành
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
1. Chủ tịch nước tự mình hoặc theo
đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
hoặc cơ quan khác có thẩm quyền quyết định cơ quan chủ trì soạn thảo lệnh, quyết
định.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức
soạn thảo lệnh, quyết định.
3. Chủ tịch nước có thể yêu cầu cơ
quan chủ trì soạn thảo thảo luận về những vấn đề quan trọng của dự thảo lệnh,
quyết định.
4.[21] Tùy
theo nội dung của dự thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc đăng
tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo và Cổng
Pháp luật quốc gia. Việc đăng tải dự thảo lệnh, quyết định trong thời gian ít
nhất là 20 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường
hợp điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban
hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc đăng tải thực hiện theo quy định tại
điểm b khoản 4 Điều 51 của Luật này.
5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh
lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước.
6. Chủ tịch nước xem xét, ký ban
hành lệnh, quyết định.
Điều 45. Xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương.
Điều 46. Xây dựng, ban hành
nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao
1. Xây dựng, ban hành nghị quyết của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
a) Dự thảo nghị quyết của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức
và chỉ đạo việc soạn thảo;
b)[22] Dự thảo
nghị quyết được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối
cao và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ
quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có
liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác; trường hợp nghị quyết được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc
đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 51 của
Luật này.
Dự thảo nghị quyết phải gửi để lấy
ý kiến Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên
quan, Hội Luật gia Việt Nam và Liên đoàn Luật sư Việt Nam;
c) Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo nghị quyết;
d) Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao thành lập hội đồng tư vấn thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia,
nhà khoa học;
đ) Dự thảo nghị quyết được thảo luận
tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có sự tham dự của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
e) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao tổ chức phiên họp để thông qua dự thảo nghị quyết.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí với nghị quyết của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xem xét, cho ý kiến tại phiên họp gần nhất;
g) Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Xây dựng, ban hành thông tư của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:
a) Dự thảo thông tư của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo
việc soạn thảo;
b)[23] Đơn vị
được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn thi hành
pháp luật liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan;
chuẩn bị đề cương, soạn thảo và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị
tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo.
Dự thảo thông tư được đăng tải
trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và Cổng Pháp luật quốc
gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham
gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác; trường hợp thông tư
được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc đăng tải thực hiện theo
quy định tại điểm b khoản 4 Điều 51 của Luật này.
Tùy theo tính chất và nội dung của
dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy
ý kiến Tòa án nhân dân ở địa phương, Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức có liên
quan;
c) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối với dự thảo thông tư của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao;
d) Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.
Điều 47. Xây dựng, ban hành
thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1. Dự thảo thông tư của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ
chức và chỉ đạo việc soạn thảo.
2. Đơn vị được phân công chủ trì
soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến dự
thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan; chuẩn bị đề cương, soạn thảo
và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên
quan đến dự thảo.
3.[24] Dự thảo
thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ
quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có
liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác; trường hợp thông tư được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc
đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 51 của
Luật này.
Tùy theo tính chất và nội dung của
dự thảo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo
thông tư để lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương, Viện kiểm sát quân
sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.
4. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối với dự thảo thông tư của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông
tư.
Điều 48. Xây dựng, ban hành
thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước
1. Dự thảo thông tư của Tổng Kiểm
toán nhà nước do Tổng Kiểm toán nhà nước tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.
2.[25] Dự thảo
thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Kiểm toán nhà nước và Cổng
Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có liên quan mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác; trường hợp
thông tư được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc đăng tải thực hiện
theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 51 của Luật này.
3. Tùy theo tính chất và nội dung
của dự thảo, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy
ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan.
4. Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ
đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.
Điều 49. Xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật liên tịch
1. Xây dựng, ban hành nghị quyết
liên tịch:
a) Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa
Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính
phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban Thường
vụ Quốc hội phân công cơ quan chủ trì soạn thảo; dự thảo nghị quyết liên tịch
giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do
Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm tổ chức soạn thảo;
c) Trong quá trình soạn thảo nghị
quyết liên tịch, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
d) Dự thảo nghị quyết do Chính phủ
liên tịch ban hành phải được Bộ Tư pháp thẩm định. Việc thẩm định thực hiện
theo quy định tại Điều 34 của Luật này;
đ) Dự thảo nghị quyết do Ủy ban
Thường vụ Quốc hội liên tịch ban hành phải được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội thẩm tra. Việc thẩm tra thực hiện theo quy định tại Điều
37 của Luật này;
e) Cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo;
g) Dự thảo được thông qua khi có sự
thống nhất ý kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành nghị quyết
liên tịch;
h) Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng ký ban
hành nghị quyết liên tịch.
2. Xây dựng, ban hành thông tư
liên tịch:
a) Dự thảo thông tư liên tịch
giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phân công cơ quan chủ
trì soạn thảo;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm tổ chức soạn thảo;
c)[26] Dự thảo
được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo và Cổng
Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có liên quan mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác; trường hợp
thông tư liên tịch được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc đăng tải
thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 51 của Luật này.
Dự thảo thông tư liên tịch do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành phải được lấy ý kiến các
thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; dự thảo thông tư liên tịch
do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch ban hành phải được lấy
ý kiến các thành viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Cơ quan chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo;
đ) Dự thảo được thông qua khi có sự
thống nhất ý kiến của người có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch;
e) Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cùng ký ban hành thông tư liên tịch.
Chương V
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT THEO TRÌNH TỰ, THỦ TỤC RÚT GỌN VÀ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT
Điều 50. Trường hợp và thẩm
quyền quyết định xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự,
thủ tục rút gọn
1. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn thuộc trường hợp sau đây:
a) Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật
về tình trạng khẩn cấp; khi có yêu cầu đột xuất, cấp bách vì lý do quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ;
b) Trường hợp cấp bách để giải quyết vấn đề phát
sinh trong thực tiễn;
c) Trường hợp cần tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc
một phần của văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
d) Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với
văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; trường hợp cần ban hành ngay văn
bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
đ) Trường hợp cần điều chỉnh thời hạn áp dụng
toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định
để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn;
e) Trường hợp ban hành văn bản quy định chi tiết
của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và
trong trường hợp đặc biệt.
2. Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn:
a) Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề
nghị của cơ quan trình quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong
xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội;
b) Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc
cơ quan khác có thẩm quyền quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút
gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
c) Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ tự mình hoặc
theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ
tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết
định của Thủ tướng Chính phủ;
d) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước tự mình hoặc theo đề
nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục
rút gọn trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc
liên tịch ban hành;
đ)[27] Thường
trực Hội đồng nhân dân theo đề nghị của cơ quan trình quyết định việc áp dụng
trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân
dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết
định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành quyết định
của Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tự mình hoặc theo đề nghị
của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn
trong xây dựng, ban hành quyết định của mình;
e) Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính -
kinh tế đặc biệt quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành.
Điều 51. Trình tự, thủ tục
rút gọn trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Việc đề nghị, quyết định áp dụng trình tự, thủ
tục rút gọn được thực hiện trước hoặc trong quá trình xây dựng chính sách, soạn
thảo văn bản quy phạm pháp luật.
2. Trường hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này khi được áp dụng
trình tự, thủ tục rút gọn thì không phải thực hiện quy trình xây dựng chính
sách.
3. Văn bản đề nghị áp dụng trình tự, thủ tục rút
gọn bao gồm các nội dung sau đây:
a) Sự cần thiết ban hành, trong đó nêu rõ vấn đề
phát sinh trong thực tiễn, dự báo tác động tiêu cực đối với đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của văn bản và hậu quả có thể xảy ra nếu không kịp thời ban
hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết;
b) Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng;
c) Dự kiến nội dung chính của văn bản quy phạm
pháp luật;
d) Căn cứ áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn quy
định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này.
4. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo
trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:
a) Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn
thảo;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể đăng tải dự
thảo trên cổng thông tin điện tử của cơ quan mình, trừ trường hợp điều ước quốc
tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác; có thể lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và thực hiện truyền thông nội dung dự thảo.
Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản thì thời hạn lấy ý kiến ít nhất là 03 ngày kể
từ ngày nhận được đề nghị tham gia góp ý kiến.
5.[28] Việc
thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật và việc Chính phủ cho ý kiến đối
với dự án không do Chính phủ trình theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện
như sau:
a) Hồ sơ gửi thẩm định gồm văn
bản đề nghị thẩm định; dự thảo tờ trình; dự thảo văn bản; bản so sánh dự thảo sửa
đổi, bổ sung, thay thế với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay
thế; bản rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật,
điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo; bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải
trình ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân (nếu có);
b) Hồ sơ gửi Chính phủ cho ý kiến đối với dự án
không do Chính phủ trình gồm văn bản đề nghị cho ý kiến; dự thảo tờ trình; dự
thảo văn bản; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế; bản rà soát các
chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có
liên quan đến dự thảo; bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của
cơ quan, tổ chức, cá nhân (nếu có);
c) Hồ sơ gửi thẩm tra gồm tờ
trình; dự thảo văn bản; báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự
án không do Chính phủ trình và báo cáo tiếp thu, giải
trình; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hiện hành và lý
do đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế; bản rà soát các chủ trương, đường lối của
Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo; bản
tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá
nhân (nếu có);
d) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ dự án theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này, cơ
quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định, cơ quan thẩm tra có trách nhiệm thẩm
tra dự án; đối với dự án có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực thì thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ;
đ) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối
với dự án không do Chính phủ trình, ý kiến thẩm tra.
Trường hợp cơ quan thẩm định kết luận dự án chưa
đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tiếp thu, giải
trình, hoàn thiện dự án để thẩm định lại. Trường hợp cơ quan chủ trì thẩm tra
có ý kiến dự án chưa đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội thì
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình dự án
để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện.
6. Hồ sơ xem xét, thông qua dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:
a)[29] Hồ sơ trình dự án
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội bao gồm tờ trình; dự thảo văn bản; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung,
thay thế với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế; báo
cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án không do Chính phủ trình;
báo cáo thẩm tra; bản rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy
phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
b) Hồ sơ trình dự thảo lệnh, quyết định của Chủ
tịch nước, dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, dự
thảo thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, dự thảo thông tư của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, dự thảo thông tư của Tổng Kiểm toán nhà
nước, dự thảo thông tư liên tịch bao gồm tờ trình, dự thảo, các tài liệu khác
(nếu có);
c) Hồ sơ trình dự thảo nghị định, nghị quyết của
Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo thông tư của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân,
dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân thực hiện theo quy định của Chính phủ.
7. Trình tự xem xét, thông qua được quy định như
sau:
a) Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật, nghị
quyết tại kỳ họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 40 của
Luật này;
b) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
dự thảo pháp lệnh, nghị quyết tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại
Điều 42 của Luật này;
c)[30] Chủ tịch nước, Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, ký ban hành văn bản thuộc thẩm quyền;
d) Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xem xét, thông qua văn bản thuộc thẩm
quyền.
Điều 52. Xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp đặc biệt
1. Khi được cơ quan có thẩm quyền của Đảng đồng
ý và trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn
cấp hoặc xảy ra sự cố, thảm họa theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự
hoặc sự kiện bất khả kháng hoặc các vấn đề cấp bách, quan trọng, cần thiết của
đất nước, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ ban
hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp đặc biệt.
2. Đối với các vấn đề cấp bách, quan trọng, cần
thiết của đất nước quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ giao cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện việc soạn thảo,
cơ quan thẩm định thực hiện việc thẩm định, cơ quan thẩm tra thực hiện việc thẩm
tra.
3. Đối với trường hợp khẩn cấp hoặc xảy ra sự cố,
thảm họa hoặc sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ giao cơ quan chủ trì soạn thảo phối
hợp cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện
việc soạn thảo, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính
phủ xem xét, thông qua.
4. Hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc
trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này bao gồm tờ trình, dự thảo
văn bản và các tài liệu khác (nếu có).
Chương VI
HIỆU LỰC VÀ NGUYÊN TẮC
ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 53. Thời điểm có hiệu
lực của văn bản quy phạm pháp luật
1. Thời điểm có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần
văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45
ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước ở trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày thông qua hoặc
ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng,
ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt có thể có
hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành; đồng thời phải được đăng tải
ngay trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, cổng thông tin
điện tử của cơ quan ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.
2. Văn bản quy định chi tiết phải được ban hành
để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định chi tiết hoặc
thời điểm có hiệu lực của nội dung được giao quy định chi tiết.
Điều 54. Hiệu lực về không
gian
1. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, người
có thẩm quyền ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước, trừ trường hợp
được xác định cụ thể phạm vi áp dụng hoặc
điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có
quy định khác.
2.[31] Văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở
đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải
được quy định cụ thể ngay trong văn bản đó. Trường hợp có sự thay đổi về địa giới
đơn vị hành chính thì hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản
quy phạm pháp luật được xác định như sau:
a) Trường hợp một đơn vị hành chính được chia
thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính
được chia tiếp tục có hiệu lực đối với các đơn vị hành chính mới cho đến khi Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính
mới có quyết định khác;
b) Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập
thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính
được nhập tiếp tục có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính
mới ban hành văn bản hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân của đơn vị hành chính được nhập hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới;
c) Trường hợp một phần địa giới của đơn vị hành
chính được điều chỉnh về một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị
hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa giới của đơn vị hành chính
được điều chỉnh;
d) Văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực
trong phạm vi địa giới của đơn vị hành chính trước khi được thành lập, giải thể,
chia, nhập đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính thì tiếp tục
có hiệu lực trong phạm vi địa giới đó, trừ trường hợp quy định tại các điểm a,
b và c khoản này hoặc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ bởi văn bản của
cơ quan, người có thẩm quyền.
Điều 55. Hiệu lực trở về
trước của văn bản quy phạm pháp luật
1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm
lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được
quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội thì văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mới được quy định
hiệu lực trở về trước.
2. Văn bản quy phạm pháp luật không được quy định
hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:
a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành
vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm
pháp lý;
b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
3.[32] Văn bản quy phạm
pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp xã, Ủy
ban nhân dân cấp xã không được quy định hiệu lực trở về trước.
Điều 56. Tạm ngưng hiệu lực
văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật bị tạm ngưng hiệu
lực trong các trường hợp sau đây:
a) Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật quyết định tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn
bản đó để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân;
b) Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ việc
thi hành toàn bộ hoặc một phần thì tạm ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định
xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền.
2. Thời điểm tạm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu
lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản phải được quy định rõ tại văn bản của cơ
quan, người có thẩm quyền.
3. Văn bản tạm ngưng hiệu lực phải được đăng tải
trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, đưa tin trên các
phương tiện thông tin đại chúng chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ban hành.
Điều 57. Văn bản quy phạm
pháp luật hết hiệu lực
1. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn
bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
a) Hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong
văn bản quy phạm pháp luật;
b) Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn
bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành
văn bản quy phạm pháp luật đó;
c) Bị bãi bỏ theo quy định tại khoản
2 Điều 8 của Luật này.
2.[33] Văn bản quy phạm
pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần do có văn bản quy phạm pháp luật
khác thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung thì văn bản quy định chi tiết, quy định biện
pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản đó hết hiệu lực, trừ trường
hợp được công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần. Văn bản công bố là
văn bản hành chính phải được đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc
gia về pháp luật.
Điều 58. Áp dụng văn bản
quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời
điểm bắt đầu có hiệu lực.
2. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với
hành vi, sự kiện xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trường hợp
văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo
quy định đó.
3. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý
cao hơn.
4. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do
cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng
quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.
5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong
nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong
nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước
quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
6. Việc áp dụng pháp luật khác với quy định tại
các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này do Quốc hội quy định.
Chương VII
TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 59. Nội dung và trách
nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật:
a) Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn
thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
b) Giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
c) Phổ biến, giáo dục văn bản quy phạm pháp luật;
d) Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật;
tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; tập huấn,
bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ;
đ) Giám sát, kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống
hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.
2. Tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật
phải bảo đảm công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.
3. Cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
a) Tổ chức thi hành, theo dõi và sơ kết, tổng kết
việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật;
b) Báo cáo hoặc cung cấp thông tin về tổ chức thi
hành, theo dõi việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 60. Giải thích Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội
1. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh,
nghị quyết không được làm thay đổi nội dung quy định được giải thích và được thực
hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có cách hiểu khác nhau về quy định của văn bản;
b) Chưa thống nhất việc áp dụng các văn bản.
2. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh,
nghị quyết phải bảo đảm thực hiện theo thứ tự các nguyên tắc, tiêu chí sau đây:
a) Phù hợp với nghĩa phổ thông của từ ngữ sử dụng
trong văn bản quy phạm pháp luật đó;
b) Căn cứ vào quá trình xây dựng nội dung liên
quan đến quy định cần giải thích;
c) Phù hợp với quan điểm chỉ đạo, mục đích, tinh
thần ban hành văn bản;
d) Bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp
luật.
3.[34] Ủy ban Thường vụ Quốc
hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung
ương của tổ chức chính trị - xã hội và đại biểu Quốc hội thực hiện giải thích
Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết.
Điều 61. Hướng dẫn áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật
1. Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
được thực hiện đối với văn bản quy phạm pháp luật trừ Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật xem xét, hướng dẫn áp dụng đối với văn bản quy phạm pháp luật
do mình ban hành bằng văn bản hành chính, trên cơ sở đề nghị của cơ quan, kiến
nghị của tổ chức, cá nhân. Trường hợp cần thiết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
ủy quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực; Hội
đồng nhân dân giao Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành văn bản hành
chính để hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành.
2. Việc hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp
luật được thực hiện theo các trường hợp, nguyên tắc, tiêu chí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 60 của Luật này và không được làm thay
đổi nội dung quy định được hướng dẫn, không được đặt ra quy định mới. Văn bản hướng
dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải trên cổng thông tin
điện tử của cơ quan ban hành văn bản hướng dẫn.
Điều 62. Giám sát văn bản
quy phạm pháp luật
Việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật thực hiện
theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân
dân, các luật khác có liên quan.
Điều 63. Kiểm tra, xử lý
văn bản quy phạm pháp luật
1. Thẩm quyền, trách nhiệm kiểm
tra văn bản:
a) Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chủ tịch nước, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm tự kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành;
b)[35] Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban
hành hoặc liên tịch ban hành; Chính phủ kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm
pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt;
c)[36] Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình
ban hành hoặc liên tịch ban hành; kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm
pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành về những nội
dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;
d)[37] Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tự kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành; chính quyền địa phương cấp
trên kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa
phương cấp dưới ban hành.
2. Căn cứ thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật:
a) Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành;
b) Kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá
nhân về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật;
c) Theo yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan, người có
thẩm quyền.
3. Căn cứ thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật theo thẩm quyền:
a) Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;
b) Phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật
thuộc thẩm quyền kiểm tra;
c) Các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c
khoản 2 Điều này.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện kiểm
tra văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành đúng thẩm quyền,
hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này, văn bản hướng dẫn áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật khi có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3
Điều này.
5. Việc xử lý văn bản trái pháp luật qua kiểm
tra được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 64. Rà soát, hệ thống
hóa văn bản quy phạm pháp luật
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quyết định tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở đề xuất
của Chính phủ.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện
rà soát, hệ thống hóa văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban
hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
chủ trì soạn thảo; văn bản khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nội
dung điều chỉnh vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
3. Tòa án nhân dân tối cao thực
hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản
do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo; văn bản khác của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội có nội dung điều chỉnh vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án nhân dân.
4. Viện kiểm sát nhân dân tối
cao thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao ban hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản do Viện kiểm sát nhân dân
tối cao chủ trì soạn thảo; văn bản khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
có nội dung điều chỉnh vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân.
5. Kiểm toán nhà nước thực hiện
rà soát, hệ thống hóa văn bản do Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành hoặc liên tịch
ban hành; văn bản do Kiểm toán nhà nước chủ trì soạn thảo; văn bản khác của Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nội dung điều chỉnh vấn đề thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của Kiểm toán nhà nước.
6. Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện rà
soát, hệ thống hóa văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thuộc
các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này.
7. Văn phòng Chủ tịch nước thực
hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản của Chủ tịch nước.
8.[38] Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản do Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện
rà soát, hệ thống hóa văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã
ban hành.
9. Việc rà soát, hệ thống hóa
văn bản của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thực
hiện theo hướng dẫn của Chính phủ.
10. Các cơ quan nhà nước quy định
tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này quyết định rà soát văn bản theo
chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn.
11. Việc xử
lý văn bản quy phạm pháp luật qua rà soát được thực hiện theo quy định của pháp
luật.
Điều 65. Hợp nhất văn bản
quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung
phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung.
2. Cơ quan nhà nước pháp điển hệ thống quy phạm
pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực, trừ Hiến
pháp, để xây dựng Bộ pháp điển.
3. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật,
pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định tại pháp lệnh của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 66. Cơ sở dữ liệu quốc
gia về pháp luật và ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số
1. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật dùng để đăng
tải toàn văn các văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4
của Luật này, các văn bản khác theo quy định của Chính phủ; hỗ trợ việc
khai thác dữ liệu phục vụ công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
2. Công nghệ số, chuyển đổi số được ứng dụng
trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định việc
ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi
hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền.
Chương VIII
TRÁCH NHIỆM VÀ NGUỒN LỰC
TRONG XÂY DỰNG, BAN HÀNH VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 67. Trách nhiệm xin ý
kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng
Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công
tác xây dựng pháp luật có trách nhiệm báo cáo, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của Đảng.
Điều 68. Trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành
văn bản quy phạm pháp luật
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc hỗ trợ
đại biểu Quốc hội trong xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do đại biểu Quốc hội trình.
2. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ
trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra, cơ quan được tham vấn chính
sách có quyền thuê chuyên gia, tổ chức điều tra, khảo sát thực tế, hội thảo, tọa
đàm, đánh giá tác động của chính sách để hỗ trợ, nâng cao chất lượng xây dựng
chính sách, tham vấn, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra.
3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự
án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất
lượng dự án, dự thảo văn bản do mình trình.
4. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ
trì soạn thảo chịu trách nhiệm trước cơ quan trình hoặc cơ quan, người có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiến độ, chất lượng lập đề xuất
chính sách, soạn thảo; truyền thông chính sách và dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật; việc tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, tham vấn, phản biện xã hội, thẩm
định, thẩm tra.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được đề nghị tham vấn
chính sách, tham gia góp ý về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu
trách nhiệm về nội dung tham vấn chính sách, tham gia góp ý và thời hạn tham
gia góp ý.
6. Cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra chịu
trách nhiệm trước cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về kết quả thẩm định, thẩm tra.
7. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành.
8. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy định chi tiết chịu trách nhiệm về tiến độ và chất lượng văn bản được giao.
9. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
trái pháp luật.
10. Người đứng đầu của cơ quan, tổ chức chịu
trách nhiệm trực tiếp:
a) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành
văn bản quy phạm pháp luật;
b) Khi để xảy ra tình trạng trình hoặc ban hành
văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền chậm tiến độ, trái pháp luật; để xảy
ra tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật
của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ;
c) Chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp đã
giao cấp phó của mình trực tiếp phụ trách công tác xây dựng pháp luật;
d) Kết quả thực hiện công tác xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức do mình đứng đầu; kết quả thực
hiện là căn cứ để đánh giá, xét thi đua khen thưởng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại.
11. Cơ quan, tổ chức, người đứng đầu và công chức
để xảy ra hành vi vi phạm, tham nhũng, tiêu cực,
lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật tại cơ quan, tổ chức, phạm
vi công việc mình được phân công trực tiếp quản lý, phụ trách thì tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý trách nhiệm hoặc được xem xét loại
trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật.
12. Ngoài trách nhiệm quy định tại các khoản 3,
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 của Điều này, cơ quan, tổ chức, người đứng đầu và
công chức còn phải chịu trách nhiệm trong công tác xây dựng pháp luật theo quy
định khác có liên quan.
Điều 69. Nhân lực cho công
tác xây dựng pháp luật
1. Nhà nước có cơ chế, chính sách đặc biệt để
thu hút, trọng dụng cán bộ, công chức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm công
tác xây dựng pháp luật.
2. Nhà nước bảo đảm ngân sách cho hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác xây dựng pháp luật, tổ
chức thi hành pháp luật; thuê chuyên gia tư vấn, nghiên cứu, đánh giá tác động
của chính sách.
Điều 70. Cơ sở vật chất,
kinh phí cho công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật
1. Nhà nước bảo đảm và ưu tiên nguồn lực đầu tư
cơ sở vật chất, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị làm việc, ứng dụng
công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác nghiên cứu chính
sách, xây dựng, ban hành, văn bản quy phạm pháp luật.
2. Nhà nước có cơ chế đặc thù về phân bổ, quản
lý, sử dụng kinh phí dành cho công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, từng bước thực hiện soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tập trung,
chuyên nghiệp, đáp ứng đầy đủ, kịp thời, hiệu quả toàn bộ hoạt động xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
3. Kinh phí cho công tác xây dựng, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật thực hiện theo cơ chế đặc thù do Quốc hội quy định.
4. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền phải bảo
đảm cơ sở vật chất, bố trí kinh phí để tổ chức thi hành và theo dõi việc thi
hành văn bản quy phạm pháp luật.
5. Ngoài kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp, các
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ xây dựng, ban hành và
tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng nguồn kinh phí hợp
pháp khác theo quy định của pháp luật.
6. Khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ
trợ cơ sở vật chất, kinh phí cho cơ quan nhà nước trong công tác xây dựng, ban
hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH [39]
Điều 71. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 4 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc điều chỉnh Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh năm 2025 được thực hiện theo quy định của Luật này từ ngày Luật này
được thông qua.
3. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
80/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 63/2020/QH14 hết
hiệu lực thi hành từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định
tại khoản 4 Điều này, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 72 của Luật
này.
4. Khoản 1 Điều 46 của Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật số 80/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 63/2020/QH14 hết hiệu lực thi hành từ ngày Luật này được thông qua.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều
7, Điều 31, khoản 1 Điều 32, Điều 34, khoản 1 Điều 36, khoản
3 Điều 59, Điều 63, Điều 64, Điều 69, khoản 4 và khoản 5 Điều
70 và hướng dẫn thực hiện Luật này.
Điều 72. Điều khoản chuyển
tiếp
1. Việc thực hiện Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh năm 2025 được quy định như sau:
a) Dự án luật, nghị quyết đã có trong Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025 trước ngày Luật này được thông qua thì
việc soạn thảo, trình, xem xét, cho ý kiến và thông qua được thực hiện theo quy
định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 63/2020/QH14;
b) Dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được bổ sung vào Chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh năm 2025 (Chương trình lập pháp năm 2025) kể từ ngày Luật này
được thông qua thì việc xây dựng, ban hành được thực hiện theo quy định của Luật
này.
2. Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không phải
là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội đã được thẩm định hoặc trình cơ quan có thẩm quyền trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 63/2020/QH14.
3. Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước được
ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục có hiệu lực cho
đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc
bị bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền.
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp xã được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành
thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị bãi bỏ bằng văn
bản của cơ quan, người có thẩm quyền./.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15.”.
[2] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[15] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[16] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[17] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[18] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[20] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 12 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[21] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[22] Đoạn đầu điểm này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 14 Điều 1 của Luật số
87/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[23] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 14 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[24] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[25] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[26] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 19 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[29] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 19 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[30] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 19 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[33] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[34] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[36] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[38] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[39] Điều 2 và Điều 3 của
Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 2. Điều khoản thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp
Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện được xử
lý như sau:
1. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định
của Ủy ban nhân dân cấp huyện tiếp tục có hiệu lực trong phạm vi địa giới của
đơn vị hành chính cấp huyện trước khi sắp xếp đến hết ngày 28 tháng 02 năm
2027, trừ trường hợp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành văn bản
theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc văn bản của người có thẩm quyền, cơ
quan nhà nước cấp trên có quy định khác;
2. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã
khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện thì trong văn bản đó phải
quy định rõ thời điểm không áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi địa giới của đơn vị hành
chính mình; việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp này phải
hoàn thành chậm nhất vào ngày 28 tháng 02 năm 2027.”.