|
VĂN PHÒNG CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2/VBHN-VPCP
|
Hà Nội, ngày 21
tháng 7 năm 2025
|
NGHỊ ĐỊNH
VỀ
KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010
của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 14 tháng
10 năm 2010, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm
2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013;
2. Nghị định số 150/2016/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016;
3. Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm
2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017;
4. Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm
2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng
dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 4 năm 2025;
5. Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm
2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa
liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12
năm 2001;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Xét đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng
Chính phủ,[1]
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định về kiểm soát việc quy định,
thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc
gia về thủ tục hành chính.
2. Nghị định này không điều chỉnh:
a) Thủ tục hành chính trong nội bộ của từng cơ quan
hành chính nhà nước, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan
đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức;
b) Thủ tục xử lý vi phạm hành chính; thủ tục thanh
tra và thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan hành chính
nhà nước, người có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân trong hoạt động kiểm soát thủ tục
hành chính.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu
như sau:
1. “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức
thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.
2. “Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước
tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết
một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.
3. “Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng
thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực hiện thủ tục
hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.
4. “Yêu cầu, điều kiện” là những đòi hỏi mà
đối tượng thực hiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện
một thủ tục hành chính cụ thể.
5. “Kiểm soát thủ tục hành chính” là việc
xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục
hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực
hiện thủ tục hành chính.
6. “Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành
chính” là tập hợp thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản quy phạm
pháp luật có quy định về thủ tục hành chính được xây dựng, cập nhật và duy trì
trên Trang thông tin điện tử về thủ tục hành chính của Chính phủ nhằm đáp ứng
yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước, tạo thuận lợi
cho tổ chức, cá nhân truy nhập và sử dụng thông tin chính thức về thủ tục hành
chính.
Điều 4. Nguyên tắc kiểm soát thủ
tục hành chính
1. Kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực
hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo
đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các cơ quan,
tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm soát thủ tục hành chính.
2. Kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa thủ
tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ sung thủ tục hành chính cần
thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định thủ tục hành chính đơn giản, dễ
hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ
quan thực hiện thủ tục hành chính.
3.[2]
Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề nghị xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ
chức thực hiện thủ tục hành chính.
Điều 5. Cơ quan, đơn vị kiểm
soát thủ tục hành chính[3]
1. Văn phòng Chính phủ[4] giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm
soát thủ tục hành chính.
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng
Chính phủ[5] có chức năng tham mưu,
giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ[6] thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục
hành chính.
2. Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ[7] có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính
trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.
Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng
Bộ, cơ quan ngang Bộ[8] có chức
năng tham mưu, giúp Chánh Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ[9] thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
3.[10]
Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại
địa phương. Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh thuộc Văn phòng Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục
hành chính.
Tại các địa phương tổ chức Trung tâm Phục vụ hành
chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành
chính công một cấp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục
hành chính tại địa phương.
4. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ[11] quy định cụ thể chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính; chủ trì,
phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
cơ cấu tổ chức và biên chế của Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn
phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ[12] và
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương[13].
Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm cán bộ, công chức được phân công thực
hiện thủ tục hành chính thực hiện các hành vi sau đây:
a) Tiết lộ thông tin về hồ sơ tài liệu và các thông
tin liên quan đến bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân của đối tượng thực hiện thủ
tục hành chính mà mình biết được khi thực hiện thủ tục hành chính, trừ trường hợp
được đối tượng thực hiện thủ tục hành chính đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật
có quy định khác; sử dụng thông tin đó để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác;
b) Từ chối thực hiện, kéo dài thời gian thực hiện
hoặc tự ý yêu cầu bổ sung thêm hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định mà không nêu rõ lý
do bằng văn bản;
c) Hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà,
gây khó khăn cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; lợi dụng các quy định,
các vướng mắc về thủ tục hành chính để trục lợi;
d) Nhận tiền hoặc quà biếu dưới bất cứ hình thức
nào từ đối tượng thực hiện thủ tục hành chính khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục
hành chính ngoài phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính đã được quy định và
công bố công khai;
đ) Đùn đẩy trách nhiệm, thiếu hợp tác, chậm trễ,
gây cản trở trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
2. Nghiêm cấm đối tượng thực hiện thủ tục hành chính
cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền; đưa hối lộ hoặc
dùng các thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong
thực hiện thủ tục hành chính.
3. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi
cản trở hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
Chương II
QUY ĐỊNH THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH
Điều 7. Thủ tục hành chính
trong văn bản quy phạm pháp luật[14]
“...[15]...”
(được bãi bỏ)
1. Thủ tục hành chính chỉ được quy định để bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp theo
quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương;
b) Thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế - xã
hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh.
2. Thủ tục hành chính quy định trong văn bản quy phạm
pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng
bộ, hiệu quả của quy định về thủ tục hành chính;
b) Minh bạch, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện;
c) Tiết kiệm thời gian và chi phí của cơ quan, tổ
chức và cá nhân;
d) Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực
hiện thủ tục hành chính;
đ) Bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành
chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý;
e) Bảo đảm quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận tạo
thành của thủ tục hành chính theo pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính.
Trường hợp không quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành thì giao cơ quan
có trách nhiệm quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan đó;
g) Không yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
các thành phần hồ sơ đã có trong Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin
giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên
ngành do cơ quan nhà nước quản lý được chia sẻ, khai thác theo quy định của
pháp luật.
3. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì
soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động của thủ tục hành chính nếu giải pháp
thực hiện chính sách có thủ tục hành chính; dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật có quy định thủ tục hành chính. Việc đánh giá tác động thủ tục hành
chính thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Điều 8. Yêu cầu của việc quy định
thủ tục hành chính[16]
1. Thủ tục hành chính phải được quy định trong văn
bản quy phạm pháp luật theo đúng thẩm quyền được quy định tại Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật.
2. Việc quy định một thủ tục hành chính chỉ hoàn
thành khi đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây:
a) Tên thủ tục hành chính;
b) Trình tự thực hiện;
c) Cách thức thực hiện;
d) Thành phần, số lượng hồ sơ;
đ) Thời hạn giải quyết;
e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;
g) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính;
h) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu
tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện;
phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành
chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành
chính.
3.[17]
(Được bãi bỏ)
Điều 9. Tham gia ý kiến đối với
quy định về thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật[18]
1. Ngoài việc tham gia góp ý kiến về nội dung đề
nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
cơ quan sau đây có trách nhiệm cho ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành
chính tại đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự án, dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật:
a) Văn phòng Chính phủ[19] cho ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong đề nghị
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự án văn bản quy phạm pháp luật[20] do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy
ban thường vụ Quốc hội, đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật[21]
thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
b) Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ[22] cho ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong đề nghị
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật[23] thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
c) Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương[24] cho ý kiến về
thủ tục hành chính quy định trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật[25]
thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
2. Nội dung cho ý kiến về quy định thủ tục hành
chính chủ yếu xem xét các vấn đề được quy định tại Điều 7 và Điều
8 của Nghị định này.
Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan quy định tại
các điểm a, b và c Khoản 1 Điều này tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liên
quan và đối tượng chịu sự tác động của quy định về thủ tục hành chính thông qua
tham vấn, hội nghị, hội thảo hoặc biểu mẫu lấy ý kiến do Văn phòng Chính phủ[26] ban hành và đăng tải trên Cơ sở
dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính để tổng hợp ý kiến gửi cơ quan chủ trì
soạn thảo.
3. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên
cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của cơ quan tham gia ý kiến quy định tại
Khoản 1 Điều này.
Điều 10. Đánh giá tác động của
thủ tục hành chính[27]
Việc thực hiện đánh giá tác động của thủ tục hành
chính trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự án, dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Điều 11. Thẩm định quy định về
thủ tục hành chính[28]
1. Ngoài việc thẩm định nội dung đề nghị xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật[29], cơ quan thẩm định có trách nhiệm
thẩm định quy định về thủ tục hành chính và thể hiện nội dung này trong Báo cáo
thẩm định.
2. Nội dung thẩm định thủ tục hành chính chủ yếu
xem xét các tiêu chí quy định tại Điều 10 của Nghị định này.
3. Ngoài thành phần hồ sơ gửi thẩm định theo quy định
của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan gửi thẩm định phải
có bàn đánh giá tác động về thủ tục hành chính theo quy định tại Điều
10 của Nghị định này.
Cơ quan thẩm định không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định
nếu đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự án, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính[30] chưa có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và
ý kiến góp ý của cơ quan cho ý kiến quy định tại Khoản 1 Điều 9
của Nghị định này.
Chương III
THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH
Điều 12. Nguyên tắc thực hiện
thủ tục hành chính
1. Bảo đảm công khai, minh bạch các thủ tục hành
chính đang được thực hiện.
2. Bảo đảm khách quan, công bằng trong thực hiện thủ
tục hành chính.
3. Bảo đảm tính liên thông, kịp thời, chính xác,
không gây phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính.
4. Bảo đảm quyền được phản ánh, kiến nghị của các
cá nhân, tổ chức đối với các thủ tục hành chính.
5. Đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong
giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức.
Điều 13. Thẩm quyền công bố thủ
tục hành chính
Để giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức, thủ tục
hành chính phải được công bố dưới hình thức quyết định theo quy định sau đây:
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ công bố
thủ tục hành chính được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về ngành,
lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
2.[31]
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố:
a) Danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải
quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, trong đó phải xác định rõ tên, căn cứ pháp lý, thời gian, địa điểm thực
hiện và phí, lệ phí trong trường hợp được phân cấp hoặc ủy quyền quy định.
b) Thủ tục hành chính được giao quy định hoặc quy định
chi tiết trong văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền trên địa bàn
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị được cơ quan nhà
nước cấp trên giao nhiệm vụ hoặc ủy quyền ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện
thủ tục giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức công bố thủ tục thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị.
Điều 14. Phạm vi công bố thủ tục
hành chính
1. Tất cả các thủ tục hành chính sau khi ban hành,
sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ phải được công bố công khai.
2. Việc công bố công khai thủ tục hành chính, bao gồm:
công bố thủ tục hành chính mới ban hành; công bố thủ tục hành chính được sửa đổi,
bổ sung hoặc thay thế và công bố thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ.
a) Công bố thủ tục hành chính mới ban hành là việc
cung cấp các thông tin về thủ tục hành chính theo quy định tại khoản
1 Điều 15 của Nghị định này;
b) Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung
hoặc thay thế là việc cung cấp các thông tin liên quan đến việc sửa đổi, bổ
sung, thay thế của thủ tục hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều
15 của Nghị định này;
c) Công bố thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ
là việc xóa bỏ nội dung thông tin về thủ tục hành chính đã được đưa vào Cơ sở dữ
liệu quốc gia về thủ tục hành chính theo quy định khoản 3 Điều
15 của Nghị định này.
Điều 15. Quyết định công bố thủ
tục hành chính
Quyết định công bố thủ tục hành chính của các cơ
quan quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định này phải được
ban hành chậm nhất trước 20 ngày tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có
quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành.
Quyết định công bố thủ tục hành chính của các cơ
quan quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 13 của Nghị định này
phải được ban hành chậm nhất trước 05 ngày tính đến ngày văn bản quy phạm pháp
luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành.[32]
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
theo trình tự, thủ tục rút gọn có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban
hành, quyết định công bố thủ tục hành chính phải được ban hành chậm nhất là sau
03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định
về thủ tục hành chính.[33]
Nội dung quyết định công bố thủ tục hành chính theo
quy định sau đây:
1.[34]
Đối với quyết định công bố thủ tục hành chính mới ban hành, nội dung quyết định
bao gồm:
a) Các bộ phận tạo thành thủ tục hành chính quy định
tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này;
b) Văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục
hành chính.
2. Đối với quyết định công bố thủ tục hành chính được
sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, ngoài việc chứa đựng thông tin quy định tại khoản
1 Điều này, nội dung quyết định phải xác định rõ bộ phận nào của thủ tục hành
chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế; văn bản quy phạm pháp luật có quy định
việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thủ tục hành chính.
3. Đối với quyết định công bố thủ tục hành chính bị
hủy bỏ hoặc bãi bỏ, nội dung quyết định phải xác định rõ tên thủ tục hành chính
bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ; trường hợp thủ tục hành chính đã được đăng tải trên Cơ sở
dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, quyết định phải ghi rõ số, ký hiệu của
hồ sơ thủ tục hành chính; văn bản quy phạm pháp luật có quy định việc hủy bỏ hoặc
bãi bỏ thủ tục hành chính.
Điều 16. Công khai thủ tục
hành chính
Thông tin về thủ tục hành chính đã được người có thẩm
quyền công bố theo quy định tại Điều 15 của Nghị định này
phải được công khai đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ
khai thác, sử dụng và phải được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục
hành chính.
Điều 17. Hình thức công khai[35]
1. Thủ tục hành chính đã được người có thẩm quyền
công bố phải được công khai đầy đủ, chính xác, kịp thời theo các hình thức sau:
a) Công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục
hành chính.
b) Công khai tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp
tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính thông qua việc niêm yết hoặc sử dụng
các hình thức điện tử phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật trên cơ sở
quyết định công bố thủ tục hành chính hoặc kết xuất, kết nối, tích hợp dữ liệu
thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
c) Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính
phủ, Cổng thông tin điện tử của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở kết nối, tích hợp với Cơ sở dữ liệu
quốc gia về thủ tục hành chính.
2. Ngoài hình thức công khai bắt buộc tại khoản 1 Điều
này, việc công khai thủ tục hành chính có thể thực hiện theo các hình thức khác
phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị và đối tượng thực hiện thủ tục
hành chính.
Điều 18. Trách nhiệm của cơ
quan thực hiện thủ tục hành chính
1. Sử dụng, bố trí cán bộ, công chức có phẩm chất đạo
đức tốt, văn hóa giao tiếp chuẩn mực, đủ trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ và
năng lực phù hợp để thực hiện thủ tục hành chính.
2. Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin chính
xác, đầy đủ, kịp thời về thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức có liên quan.
3. Cấp giấy biên nhận hồ sơ, tài liệu theo quy định.
4. Bảo quản và giữ bí mật về hồ sơ tài liệu và các
thông tin liên quan đến bí mật cá nhân trong quá trình giải quyết theo quy định
của pháp luật, trừ trường hợp phải thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo
quyết định của cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền.
5. Nêu rõ lý do bằng văn bản trong trường hợp từ chối
thực hiện hoặc có yêu cầu bổ sung giấy tờ trong thời hạn giải quyết theo quy định.
6. Không tự đặt ra thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy
tờ ngoài quy định của pháp luật.
7. Phối hợp và chia sẻ thông tin trong quá trình giải
quyết công việc của cá nhân, tổ chức.
8. Hỗ trợ người có công, người cao tuổi, người tàn
tật, người nghèo, phụ nữ mang thai, trẻ mồ côi và người thuộc diện bảo trợ xã hội
khác trong thực hiện thủ tục hành chính.
9. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong
thực hiện thủ tục hành chính.
10. Tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá
nhân, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính.
11. Ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ
khoa học kỹ thuật trong thực hiện thủ tục hành chính.
12. Thực hiện quy định khác của pháp luật.
Điều 19. Trách nhiệm người đứng
đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1. Chịu trách nhiệm công bố, tổ chức nhập dữ liệu về
thủ tục hành chính đã công bố trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính
theo quy định tại các điều 13, 14, 15 và 24
của Nghị định này; tổ chức thực hiện nghiêm túc các thủ tục hành chính đã
công bố công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
2. Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chức thuộc quyền
trong việc thực hiện thủ tục hành chính.
3. Khen thưởng cán bộ, công chức có thành tích
trong thực hiện thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính hoặc có sáng
kiến cải cách thủ tục hành chính.
4. Xử lý nghiêm minh, kịp thời cán bộ, công chức
khi có vi phạm trong thực hiện và kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định của
pháp luật.
5. Cải tiến cách thức, phương pháp thực hiện thủ tục
hành chính; kịp thời kiến nghị với cơ quan cấp trên các biện pháp cải cách thủ
tục hành chính.
6. Thực hiện quy định khác của pháp luật.
Điều 20. Trách nhiệm của cán bộ,
công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính
1. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ được giao
trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
2. Phải tạo thuận lợi cho đối tượng thực hiện thủ tục
hành chính; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao
tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc trong thực hiện thủ tục hành chính.
3. Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của cá nhân, tổ chức
theo quy định.
4. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện trình tự, hồ
sơ hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác không để tổ chức, cá nhân phải đi lại
bổ sung hồ sơ quá hai lần cho một vụ việc, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân thực
hiện không đúng theo hướng dẫn của cán bộ, công chức được phân công thực hiện
thủ tục hành chính.
5. Chấp hành nghiêm túc các quy định của cấp có thẩm
quyền về thủ tục hành chính đã được người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố.
6. Chủ động tham mưu, đề xuất, sáng kiến cải tiến
việc thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan,
người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định
về thủ tục hành chính không phù hợp, thiếu khả thi.
7. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan
trong việc thực hiện thủ tục hành chính.
8. Thực hiện quy định khác của pháp luật.
Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của
đối tượng thực hiện thủ tục hành chính
1. Thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục hành
chính.
2. Từ chối thực hiện những yêu cầu không được quy định
trong thủ tục hành chính hoặc chưa được công khai theo quy định.
3. Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, chính xác của
các giấy tờ có trong hồ sơ và cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan.
4. Không được cản trở hoạt động thực hiện thủ tục
hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.
5. Không hối lộ hoặc dùng các thủ đoạn khác để lừa
dối cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong thực hiện thủ tục hành chính.
6. Giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính; phản
ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền về những bất hợp lý của
thủ tục hành chính và các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong thực hiện
thủ tục hành chính.
7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện các quyết định hành
chính và hành vi hành chính theo quy định của pháp luật.
8. Trực tiếp hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp
pháp của mình tham gia thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.
9. Thực hiện quy định khác của pháp luật.
Điều 22. Phản ánh, kiến nghị về
thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện
1. Mọi cá nhân, tổ chức có quyền phản ánh, kiến nghị
về thủ tục hành chính và việc thực hiện thủ tục hành chính.
Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về thủ tục
hành chính được thực hiện theo quy định tại pháp luật về tiếp nhận, xử lý phản
ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.
2.[36]
Văn phòng Chính phủ[37] chịu
trách nhiệm thiết lập, duy trì hoạt động của cổng thông tin phản ánh, kiến nghị,
kết quả giải quyết về thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục
hành chính và chủ động tổ chức lấy ý kiến cá nhân, tổ chức về thủ tục hành
chính quy định trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan chủ
trì soạn thảo gửi lấy ý kiến theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 của
Nghị định này.
Chương IV
CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Điều 23. Điều kiện đăng tải thủ
tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu
quốc gia là các thủ tục hành chính được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố theo quy
định tại các Điều 13, 14 và 15 của Nghị định này.
Điều 24. Nhập, đăng tải công
khai thủ tục hành chính đã công bố[38]
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức
việc nhập, đăng tải công khai các thủ tục hành chính và văn bản quy định về thủ
tục hành chính đã được công bố vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành
chính; đồng thời chịu trách nhiệm về tính chính xác của thủ tục hành chính trên
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
2. Thời hạn nhập, đăng tải công khai thủ tục hành
chính đã công bố vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính chậm nhất là
10 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định công bố của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ; 05 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định công bố của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 02 ngày làm việc kể từ ngày
ký quyết định công bố thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc
ký ban hành.
Điều 25. Giá trị của thủ tục hành
chính và văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính trên Cơ sở
dữ liệu quốc gia
Thủ tục hành chính và các văn bản quy định về thủ tục
hành chính hoặc văn bản có liên quan về thủ tục hành chính được đăng tải trên
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính có giá trị thi hành và được bảo đảm
thi hành.
Mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính đăng tải kèm theo
thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính có giá trị
ngang bằng với mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính do cơ quan thực hiện thủ tục
hành chính cung cấp trực tiếp.
Điều 26. Trách nhiệm quản lý
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính
1.[39]
Văn phòng Chính phủ[40] có trách
nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng và duy trì Cơ sở
dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; hướng dẫn, rà soát, đánh giá, kiểm tra
việc nhập, đăng tải công khai, khai thác và quản lý dữ liệu thủ tục hành chính
trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
2.[41]
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có
trách nhiệm quản lý tài khoản đăng nhập, kiểm duyệt, đăng tải, kiểm tra, rà
soát dữ liệu thủ tục hành chính; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa thủ tục
hành chính được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, thủ tục hành chính được
đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ, ngành, địa phương và thủ tục hành
chính được công khai tại nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo việc
tạo đường kết nối giữa trang tin điện tử của Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ
tục hành chính.
4. Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính bao
gồm các nội dung cơ bản sau đây:
a) Thủ tục hành chính hiện đang được thực hiện trên
phạm vi toàn quốc hoặc trên địa bàn của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
b) Thủ tục hành chính đã bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ;
c) Các văn bản quy định về thủ tục hành chính và
các văn bản quy định có liên quan đến thủ tục hành chính;
d) Cổng tham vấn về thủ tục hành chính và việc thực
hiện thủ tục hành chính quy định tại khoản 2 Điều 22 của Nghị định
này;
đ) Nội dung khác theo quyết định của Thủ tướng
Chính phủ.
5. Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính phải
bảo đảm dễ dàng, tiện lợi cho người sử dụng trong việc tìm kiếm, tra cứu, khai
thác.
Chương V
RÀ SOÁT, ĐÁNH GIÁ THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH
Điều 27. Trách nhiệm rà soát,
đánh giá
1. Bộ, cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm rà soát,
đánh giá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý ngành, lĩnh vực được
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương chịu trách nhiệm rà soát, đánh giá thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải
quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
3. Văn phòng Chính phủ[42] chịu trách nhiệm rà soát, đánh giá độc lập thủ tục hành
chính trong các trường hợp sau đây:
a) Theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
b) Thủ tục hành chính có liên quan chặt chẽ với
nhau, kết quả thực hiện thủ tục hành chính này là tiền đề để thực hiện thủ tục
hành chính tiếp theo;
c) Thủ tục hành chính, qua phát hiện hoặc theo
thông tin phản ánh của cá nhân, tổ chức, còn rườm rà, khó thực hiện, gây cản trở
hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức kinh tế và đời sống của nhân dân.
Điều 28. Nội dung rà soát,
đánh giá
1.[43]
Sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp của thủ tục hành chính, quy định có
liên quan đến thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ của thủ tục hành chính được
rà soát, đánh giá.
2. Sự phù hợp của thủ tục hành chính và các quy định
có liên quan đến thủ tục hành chính được rà soát, đánh giá với mục tiêu quản lý
nhà nước và những thay đổi về kinh tế - xã hội, công nghệ và các điều kiện
khách quan khác.
3. Các nguyên tắc nêu tại Điều 7 và
Điều 12 của Nghị định này.
Điều 29. Cách thức rà soát,
đánh giá
1. Việc rà soát, đánh giá phải được tiến hành trên
cơ sở thống kê, tập hợp đầy đủ các thủ tục hành chính, các quy định có liên
quan đến thủ tục hành chính cần rà soát, đánh giá để xem xét theo những nội
dung quy định tại Điều 28 của Nghị định này. Trong quá
trình rà soát, đánh giá phải chú trọng tới đối tượng chịu sự tác động của thủ tục
hành chính.
2. Đối với các thủ tục hành chính quy định tại điểm b khoản 3 Điều 27 của Nghị định này, thì việc rà soát,
đánh giá cần tiến hành theo nhóm các quy định của thủ tục hành chính và nhóm
các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính được rà soát, đánh giá.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương[44]
rà soát, đánh giá thủ tục hành chính theo kế hoạch hoặc theo sự chỉ đạo của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Kết quả rà soát, đánh giá thủ tục hành chính của
các cơ quan này là cơ sở để thực hiện đơn giản hoá thủ tục, hành chính.
4. Huy động sự tham gia rà soát của các đối tượng
chịu sự tác động trực tiếp của thủ tục hành chính.
5.[45]
(được bãi bỏ)
Điều 30. Kế hoạch rà soát,
đánh giá
1. Kế hoạch rà soát, đánh giá thủ tục hành chính được
xây dựng dựa trên một trong các căn cứ sau:
a) Chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
b) Lựa chọn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
c) Phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về thủ
tục hành chính.
2. Nội dung kế hoạch phải xác định rõ thủ tục hành
chính cần rà soát, đánh giá, cơ quan thực hiện, thời gian thực hiện, căn cứ lựa
chọn và dự kiến sản phẩm.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng kế hoạch hàng năm về rà soát,
đánh giá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý, gửi Kế hoạch rà
soát, đánh giá thủ tục hành chính đã được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt đến
Văn phòng Chính phủ[46] trước
ngày 31 tháng 01 của năm kế hoạch.
4.[47]
Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và yêu cầu cải cách thủ tục
hành chính, Văn phòng Chính phủ[48]
xây dựng kế hoạch rà soát trọng tâm, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Điều 31. Xử lý kết quả rà
soát, đánh giá[49]
1. Trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá thủ tục
hành chính, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sửa đổi, bổ
sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính theo thẩm quyền; đề nghị
các Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét, xử lý kết quả rà soát, đánh giá thủ tục hành
chính thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
2. Trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá thủ tục
hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ và đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ sửa đổi, bổ
sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc tổng hợp phương án sửa
đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính, các quy định có
liên quan thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, gửi Văn
phòng Chính phủ[50] xem xét, đánh
giá trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Hồ sơ gửi Văn phòng Chính phủ[51] xem xét, đánh giá, gồm:
- Dự thảo tờ trình;
- Dự thảo văn bản phê duyệt phương án đơn giản hóa
thủ tục hành chính;
- Báo cáo kết quả rà soát của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Báo cáo kết quả rà soát của Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương và của các cơ quan kèm theo phương án đơn giản
hóa thủ tục hành chính đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương hoặc Thủ trưởng cơ quan phê duyệt (nếu có).
Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp
thu, giải trình ý kiến xem xét, đánh giá của Văn phòng Chính phủ[52] về phương án sửa đổi, bổ sung,
thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính, các quy định có liên quan thuộc
phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
3. Văn phòng Chính phủ[53] chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện
quyết định phê duyệt phương án sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ
thủ tục hành chính, các quy định có liên quan của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Chương VI
KHEN THƯỞNG, KINH PHÍ THỰC
HIỆN, THÔNG TIN, BÁO CÁO
Điều 32. Khen thưởng trong thực
hiện kiểm soát thủ tục hành chính
1. Cơ quan, cán bộ, công chức có thành tích trong thực
hiện kiểm soát thủ tục hành chính thì được khen thưởng theo quy định của pháp
luật về thi đua khen thưởng.
2. Cán bộ, công chức được khen thưởng trong thực hiện
kiểm soát thủ tục hành chính do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được
nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu
cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu.
Điều 33. Xử lý vi phạm
Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Nghị
định này, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của
pháp luật.
Điều 34. Điều kiện đảm bảo về
kinh phí thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính
1. Kinh phí thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính
quy định tại Nghị định này do ngân sách nhà nước bảo đảm. Kinh phí thực hiện hoạt
động kiểm soát thủ tục hành chính của Bộ, cơ quan trung ương do ngân sách trung
ương bảo đảm. Kinh phí thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do ngân sách địa phương bảo đảm. Ngoài
kinh phí do ngân sách nhà nước bảo đảm, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được huy động và sử dụng các nguồn lực
hợp pháp khác để tăng cường thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính thuộc phạm
vi quản lý.
2. Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh
phí cho hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định của Luật Ngân sách
nhà nước và văn bản hướng dẫn thi hành.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm bố trí kinh phí cho hoạt động kiểm
soát thủ tục hành chính trong dự toán ngân sách của cấp mình theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước và văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 35. Chế độ thông tin, báo
cáo[54]
1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương định kỳ 6 tháng báo cáo Văn phòng Chính phủ[55] về tình hình và kết quả thực hiện
hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của Bộ, ngành, địa phương mình hoặc báo
cáo theo yêu cầu đột xuất.
2. Văn phòng Chính phủ[56] có trách nhiệm tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ về tình hình, kết quả thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành
chính của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương theo định kỳ hoặc báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ.
3. Nội dung báo cáo định kỳ:
a) Tình hình, kết quả kiểm soát quy định về thủ tục
hành chính, trong đó nêu rõ tổng số thủ tục hành chính được đánh giá tác động và
tổng số văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính được ban hành
trong kỳ báo cáo;
b) Tình hình, kết quả và số lượng thủ tục hành
chính được công bố; tình hình công khai và cập nhật thủ tục hành chính vào Cơ sở
dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;
c) Tình hình, kết quả thực hiện thủ tục hành chính
tại cơ quan hoặc tại địa phương, trong đó nêu rõ việc khen thưởng, xử lý cán bộ,
công chức vi phạm quy định về kiểm soát thực hiện thủ tục hành chính (nếu có);
d) Việc rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính (nếu
có);
đ) Vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện kiểm
soát thủ tục hành chính (nếu có);
e) Tình hình, kết quả tiếp nhận và kết quả xử lý phản
ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính;
g) Công tác truyền thông hỗ trợ hoạt động kiểm soát
thủ tục hành chính;
h) Nội dung khác theo yêu cầu của Văn phòng Chính
phủ[57] hoặc theo chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ.
4. Văn phòng Chính phủ[58] xây dựng mẫu báo cáo quy định tại khoản 3 Điều này và
hướng dẫn thực hiện.
5. Tình hình, kết quả hoạt động kiểm soát thủ tục
hành chính phải được thông tin kịp thời, trung thực và thường xuyên trên Trang
tin thủ tục hành chính của Văn phòng Chính phủ[59] và các phương tiện thông tin đại chúng khác.
Điều 35a. Kiểm tra việc thực
hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính[60]
1. Kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục
hành chính được thực hiện theo định kỳ hàng năm hoặc đột xuất trong phạm vi
trách nhiệm sau đây:
a) Cục Kiểm soát thủ tục hành chính giúp Bộ trưởng,
Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ[61]
kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
b) Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ[62] giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan kiểm tra việc thực
hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại các vụ, cục, đơn vị trực thuộc;
c) Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương[63] giúp Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm tra việc thực hiện hoạt động
kiểm soát thủ tục hành chính tại các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân quận, huyện,
thành phố, thị xã thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
2. Nội dung kiểm tra, gồm:
a) Công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện
hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính;
b) Công tác kiểm soát quy định về thủ tục hành
chính tại các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;
c) Công tác kiểm soát việc thực hiện thủ tục hành
chính;
d) Công tác rà soát, đánh giá thủ tục hành chính;
đ) Công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của
cá nhân, tổ chức về quy định hành chính;
e) Nội dung khác theo yêu cầu của Văn phòng Chính
phủ[64].
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH [65]
Điều 36. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
2. Văn phòng Chính phủ[66] có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra
việc thực hiện Nghị định này.
Điều 37. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14
tháng 10 năm 2010. Bãi bỏ quy định tại Điều 2 của Quyết định số 1699/QĐ-TTg
ngày 20 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thiết lập Cơ sở dữ liệu
quốc gia về thủ tục hành chính kể từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi
hành.
2. Thủ tục hành chính quy định tại các văn bản quy
phạm pháp luật đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trước khi Nghị định
này có hiệu lực thi hành thì vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi được
sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bị bãi bỏ, hủy bỏ.
Trước ngày 31 tháng 12 năm 2010, cơ quan đã ban
hành văn bản sử dụng phương pháp dùng một văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi,
bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ thủ tục hành chính quy định trong nhiều văn bản
quy phạm pháp luật do chính cơ quan đó ban hành nhằm bảo đảm đơn giản hóa thủ tục
hành chính theo yêu cầu của Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh
vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 được phê duyệt kèm theo Quyết định số
30/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Sau ngày 31 tháng 12 năm 2010, việc sửa đổi, bổ
sung, thay thế hoặc bãi bỏ, hủy bỏ thủ tục hành chính được áp dụng theo đúng
quy định tại Nghị định này.
3. Việc quy định mới về thủ tục hành chính trong
các văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng theo đúng quy định tại Nghị định
này kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Tư pháp;
- VPCP: BTCN, PCN Phạm Mạnh Cường, Vụ PL, Công báo, Cổng TTĐT;
- Lưu: VT, KSTT (3).
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
KT. BỘ TRƯỞNG,
CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Phạm Mạnh Cường
|
[1] Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12
năm 2001;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về
kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm
2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức
về quy định hành chính; Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ
quan ngang Bộ và Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp
chế.”
Nghị định số 150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6
năm 2015;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng
Chính phủ;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.”
Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6
năm 2015;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày
19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng
Chính phủ,
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ
về tiếp nhận, xử lý phản ảnh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành
chính; Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm
soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm
soát thủ tục hành chính; Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của
Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm
2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày
14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp
thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số
123/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang bộ”.
Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số
điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02
năm 2025;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ngày 19 tháng 02 năm 2025;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một
số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật.”
Nghị định số 118/2025/NĐ-CP về thực hiện thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng
Dịch vụ công quốc gia có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02
năm 2025;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 22 tháng 6
năm 2023;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2025;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng
Chính phủ;
Chính phủ ban hành Nghị định về thực hiện thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng
Dịch vụ công quốc gia.”
[2] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[3] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[4] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi cụm
từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[5] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi cụm
từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[6] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Tư pháp” được thay
thế bởi cụm từ “Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản
2 Điều 4 của Nghị định số 150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12
năm 2016.
[7] Cụm từ “Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan
ngang Bộ” được thay thế bởi cụm từ “Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo quy định
tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[8] Cụm từ “Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan
ngang Bộ” được thay thế bởi cụm từ “Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo quy định
tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[9] Cụm từ “người đứng đầu Tổ chức pháp chế”
được thay thế bởi cụm từ “Chánh Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo quy định tại
khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[10] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 5 Điều 40 của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính
theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ
công quốc gia, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Tư pháp” được
thay thế bởi cụm từ “Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại
khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15
tháng 12 năm 2016.
[12] Cụm từ “Tổ chức pháp chế của Bộ, cơ
quan ngang Bộ” được thay thế bởi cụm từ “Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo
quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực
kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[13] Cụm từ “Sở Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” theo
quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực
kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[14] Điều này được thay thế theo quy định tại
khoản 3 Điều 78 của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và
biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2025.
[15] Cụm từ “Thủ tục hành chính được quy định
phải bảo đảm các nguyên tắc sau:” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 78
của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ
chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2025.
[16] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[17] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
khoản 3 Điều 78 của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và
biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2025.
[18] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[19] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[20] Cụm từ “dự án văn bản quy phạm pháp luật”
được thay thế bởi cụm từ “đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự án
văn bản quy phạm pháp luật” theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Nghị định số
92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm
soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[21] Cụm từ “dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật” được thay thế bởi cụm từ “đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và
dự án văn bản quy phạm pháp luật” theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Nghị định
số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[22] Cụm từ “Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan
ngang Bộ” được thay thế bởi cụm từ “Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo quy định
tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[23] Cụm từ “dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật” được thay thế bởi cụm từ “đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và
dự án văn bản quy phạm pháp luật” theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Nghị định
số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[24] Cụm từ “Sở Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” theo
quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực
kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[25] Cụm từ “dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật” được thay thế bởi cụm từ “đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và
dự án văn bản quy phạm pháp luật” theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Nghị định
số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[26] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[27] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[28] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 4 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[29] Cụm từ “dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật” được thay thế bởi cụm từ “đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật” theo quy định tại khoản 11 Điều 1
của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định
liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9
năm 2017.
[30] Cụm từ “dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật” được thay thế bởi cụm từ “đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật” theo quy định tại khoản 11 Điều 1
của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định
liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9
năm 2017.
[31] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 4 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[32] Đoạn “Quyết định công bố thủ tục hành
chính phải được ban hành chậm nhất trước 10 (mười) ngày làm việc tính đến ngày
văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi
hành.” được sửa đổi bởi các đoạn: “Quyết định công bố thủ tục hành chính của
các cơ quan quy định tại Khoản 1 Điều 13 của Nghị định này phải được ban hành
chậm nhất trước 20 (hai mươi) ngày làm việc tính đến ngày văn bản quy phạm pháp
luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành; Quyết định công bố
thủ tục hành chính của các cơ quan quy định tại các Khoản 2 và 3 Điều 13 của Nghị
định này phải được ban hành chậm nhất trước 05 (năm) ngày làm việc tính đến
ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực
thi hành.” theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa
đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[33] Các đoạn “Quyết định công bố thủ tục
hành chính của các cơ quan quy định tại Khoản 1 Điều 13 của Nghị định này phải
được ban hành chậm nhất trước 20 (hai mươi) ngày làm việc tính đến ngày văn bản
quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành; Quyết
định công bố thủ tục hành chính của các cơ quan quy định tại các khoản 2 và 3 Điều
13 của Nghị định này phải được ban hành chậm nhất trước 05 (năm) ngày làm việc
tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có
hiệu lực thi hành.” được sửa đổi bởi các đoạn: “Quyết định công bố thủ tục hành
chính của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định này phải được
ban hành chậm nhất trước 20 ngày tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có
quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành; Quyết định công bố thủ tục
hành chính của các cơ quan quy định tại các khoản 2 và 3 Điều 13 của Nghị định
này phải được ban hành chậm nhất trước 05 ngày tính đến ngày văn bản quy phạm
pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành; Trường hợp
văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn có hiệu
lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, quyết định công bố thủ tục hành
chính phải được ban hành chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký
ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính.” theo
quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực
kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[34] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[35] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 6 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[36] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 6 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[37] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[38] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 7 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[39] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 8 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[40] Cụm từ “Văn phòng Chính phủ” được thay
thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 1 của Nghị định
số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013;
Cụm từ “Bộ Tư pháp” được bãi bỏ, thay thế bởi cụm từ
“Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 4 Điều 5 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[41] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 8 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[42] Cụm từ “Cơ quan kiểm soát thủ tục hành
chính” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều
1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định
liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2013;
Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi cụm từ “Văn
phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[43] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 9 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[44] Cụm từ “và Cơ quan kiểm soát thủ tục
hành chính” được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 12 Điều 1 của Nghị định
số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[45] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
khoản 7 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[46] Cụm từ “Cơ quan kiểm soát thủ tục hành
chính” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều
1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định
liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2013;
Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi cụm từ “Văn
phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[47] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 8 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[48] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[49] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 9 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[50] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[51] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[52] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[53] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[54] Điều này được sửa đổi theo quy định tại
khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[55] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[56] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[57] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[58] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[59] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[60] Điều này được bổ sung theo quy định tại
khoản 11 Điều 1 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013.
[61] Cụm từ “Bộ trưởng Bộ Tư pháp” được
thay thế bởi cụm từ “Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại
khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15
tháng 12 năm 2016.
[62] Cụm từ “Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan
ngang Bộ” được thay thế bởi cụm từ “Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” theo quy định
tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[63] Cụm từ “Sở Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” theo
quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực
kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017.
[64] Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi
cụm từ “Văn phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.
[65] Điều 5 của Nghị định số 48/2013/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 quy định như sau:
“Điều 5. Điều khoản thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2013.
2. Bộ trưởng Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, các tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này.”
Các Điều 6, Điều 7 và Điều 8 của Nghị định số
92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm
soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2017 quy định
như sau:
“Điều 6. Điều khoản chuyển tiếp
1. Trường hợp Nghị định quy định về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành trước
khi Nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện tổ chức
lại Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ
trên cơ sở chuyển giao Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Tổ chức pháp chế
của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong trường hợp cơ cấu tổ chức của Tổ chức pháp chế
có phòng này hoặc thành lập Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng
Bộ, cơ quan ngang Bộ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành
chính, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa,
một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính được giao theo quy định
tại Nghị định này. Riêng Bộ Công an thực hiện theo quy định tại Luật Công an
nhân dân.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương thực hiện tổ chức lại Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn
phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cơ sở chuyển
giao Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở Tư pháp để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức
triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục
hành chính phù hợp với quy định tại Nghị định này.
Điều 7. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
1. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm:
a) Hướng dẫn thực hiện công bố, công khai thủ tục
hành chính; rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; xây dựng, quản lý và vận hành
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; kiểm tra, tổng hợp, báo cáo về
tình hình, kết quả thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính và các nội
dung khác theo quy định tại Nghị định này.
b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị
định này.
2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, bãi bỏ
toàn bộ hoặc một phần Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp khi Thông tư của Bộ trưởng,
Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thực hiện các nội dung quy định tại điểm
a khoản 1 Điều này có hiệu lực thi hành.
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, các tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này.
Điều 8. Điều khoản thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
25 tháng 9 năm 2017.
2. Nghị định này bãi bỏ khoản 3a Điều 3, khoản
3a Điều 5, khoản 3a Điều 6 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011
của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ
chức pháp chế (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP
ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị
định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính); bãi bỏ cụm từ “kiểm soát thủ
tục hành chính” tại điểm c khoản 2 Điều 174 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14
tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật./.”
Điều 78 và Điều 79 của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2025
quy định như sau:
Điều 78. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 4 năm 2025.
2. Các nghị định sau hết hiệu lực kể từ ngày nghị
định này có hiệu lực thi hành:
a) Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5
năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
b) Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12
năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
c) Nghị định số 59/2024/NĐ-CP ngày 25 tháng 5
năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020
của Chính phủ.
3. Sửa đổi tên Điều 7 của Nghị định số
63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành
chính từ “Nguyên tắc quy định thủ tục hành chính” thành “Thủ tục hành chính
trong văn bản quy phạm pháp luật”;
Bãi bỏ cụm từ “Thủ tục hành chính được quy định
phải bảo đảm các nguyên tắc sau:“ tại Điều 7 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
Thay thế các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 7 của
Nghị định số 63/2010/NĐ-CP bằng các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Nghị định này.
4. Bãi bỏ khoản 3 Điều 8 của Nghị định số
63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm, soát thủ tục hành
chính, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm
2017 của Chính phủ.
Điều 79. Điều khoản chuyển tiếp
Việc bãi bỏ hoặc thay thế thông tư liên tịch giữa
các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm
2016 được thực hiện như sau:
1. Trường hợp cần bãi bỏ toàn bộ thông tư liên tịch
thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã chủ trì xây dựng thông tư liên tịch
ban hành thông tư bãi bỏ thông tư liên tịch đó sau khi có ý kiến thống nhất bằng
văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ đã liên tịch ban hành thông tư;
2. Trường hợp cần thay thế một phần thông tư
liên tịch thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư quy định
nội dung thuộc thẩm quyền quản lý ngành, lĩnh vực của mình và bãi bỏ các nội
dung đã được thay thế trong thông tư liên tịch sau khi có ý kiến thống nhất bằng
văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ đã liên tịch ban hành thông tư.”
Điều 40 và Điều 41 của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP
về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ
phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025 quy định như sau:
“Điều 40. Điều khoản thi hành
“1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2025. Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của
Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ
tục hành chính; Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP hết hiệu lực kể
từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
2. Cổng Dịch vụ công cấp bộ tiếp tục vận hành
theo quy định tại Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính
phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục
hành chính và đóng giao diện trước ngày 01 tháng 3 năm 2026.
3. Ủy ban nhân dân các tỉnh đang thực hiện thí điểm
mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện thí điểm, đặc thù về quản lý dân cư,
tổ chức đời sống dân cư đô thị, mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số tại địa phương, quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ
hành chính công một cấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 hoặc thành lập
Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã theo quy định tại điểm a, khoản
2, điểm a, b khoản 3 Điều 7 Nghị định này.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành
danh mục thủ tục hành chính thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính
trong phạm vi cấp tỉnh theo lộ trình, bảo đảm hoàn thành 100% thủ tục hành
chính thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh
trước ngày 31 tháng 12 năm 2025.
5. Sửa đổi khoản 3, Điều 5 Nghị định số
63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành
chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2017) như sau:
“3. Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức
năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công
tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương. Trung tâm Phục vụ hành chính
công cấp tỉnh thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu,
giúp Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ
chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
Tại các địa phương tổ chức Trung tâm Phục vụ
hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ
hành chính công một cấp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm
soát thủ tục hành chính tại địa phương.”
6. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 6
Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính
như sau:
“2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương tổ chức lại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, trên cơ sở
sáp nhập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Phòng Kiểm soát thủ tục
hành chính để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành
chính, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên
thông trong giải quyết thủ tục hành chính phù hợp với quy định của pháp luật và
quy định tại Nghị định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một
cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
7. Sửa đổi, bãi bỏ một số quy định tại của Nghị
định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ quy định về việc
cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường
mạng
a) Sửa đổi khoản 1 Điều 12 như sau:
“1. Danh mục và thông tin của các dịch vụ công
trực tuyến phải được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành
chính, đồng bộ thường xuyên, liên tục với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục
hành chính cấp bộ, tỉnh.”;
b) Bỏ cụm từ “Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh”
tại điểm c khoản 1 Điều 4;
c) Bãi bỏ Điều 13.
8. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định tại
của Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ về thực
hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử
a) Bỏ cụm từ “Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh”
tại điểm b khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 11, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 12;
b) Bỏ cụm từ “hoặc Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp
tỉnh” tại khoản 1, khoản 4 Điều 8, khoản 1 Điều 11, điểm b khoản 2 Điều 12, điểm
d khoản 8 Điều 13;
c) Thay thế cụm từ “Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp
tỉnh” bằng “Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh”
tại khoản 11 Điều 3, khoản 3 Điều 8, khoản 1, khoản 2, khoản 7, khoản 8 Điều
13, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 16, khoản 5 Điều 23;
d) Thay thế cụm từ “Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp
tỉnh, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh” bằng “Hệ thống thông
tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh” tại điểm a khoản 2 Điều 11;
đ) Thay thế cụm từ “Cổng dịch vụ công cấp tỉnh”
bằng “Cổng Dịch vụ công quốc gia” tại khoản 1, khoản 4 Điều 27;
e) Bãi bỏ quy định tại khoản 1 Điều 16.
Điều 41. Trách nhiệm thi hành
1. Văn phòng Chính phủ hướng dẫn, theo dõi, đôn
đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này; định kỳ hàng năm hoặc đột xuất báo
cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực
thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Nghị định này”
[66] Cụm từ “Văn phòng Chính phủ” được thay
thế bởi cụm từ “Bộ Tư pháp” theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 1 của Nghị định
số 48/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến
kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013;
Cụm từ “Bộ Tư pháp” được thay thế bởi cụm từ “Văn
phòng Chính phủ” theo quy định tại khoản 4 Điều 5 của Nghị định số
150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Văn phòng Chính phủ, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2016.