|
VĂN
PHÒNG QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 114/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27
tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
THỦ ĐÔ
Luật Thủ đô số 39/2024/QH15
ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Quy hoạch đô thị và
nông thôn số 47/2024/QH15 ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
2. Luật Phòng cháy, chữa cháy
và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
3. Luật số 57/2024/QH15 ngày 29
tháng 11 năm 2024 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch,
Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 01 năm 2025;
4. Luật Đầu tư công số
58/2024/QH15 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2025;
5. Luật Tổ chức chính quyền địa
phương số 65/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 3 năm 2025.
6. Luật Công nghiệp công nghệ
số số 71/2025/QH15 ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
7. Luật Tổ chức chính quyền địa
phương số 72/2025/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 16 tháng 6 năm 2025.
8. Luật Đường sắt số
95/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thủ
đô[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định vị trí, vai
trò của Thủ đô; chính sách, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ
Thủ đô.
Điều 2. Vị
trí, vai trò của Thủ đô
1. Thủ đô nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.
2. Thủ đô là trung tâm chính
trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng,
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ
chức quốc tế; là thành phố trực thuộc trung ương, là đô thị loại đặc biệt, là
trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ và
hội nhập quốc tế của cả nước.
3. Trụ sở cơ quan Trung ương
Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ đặt tại khu vực Ba Đình, thành phố Hà
Nội.
Điều 3.
Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Đô thị trung tâm là
khu vực đô thị đảm nhiệm các chức năng chính của Thủ đô, gồm khu vực nội đô
lịch sử và các khu vực liền kề khác được xác định trong Quy hoạch chung Thủ đô.
2. Khu vực nội đô lịch sử là
khu vực bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội, các giá trị truyền thống
của người Hà Nội được xác định trong Quy hoạch chung Thủ đô.
3. Vùng Thủ đô là khu
vực liên kết phát triển kinh tế - xã hội gồm thành phố Hà Nội và một số tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương lân cận do Chính phủ quyết định.
4. Tổ chức trung gian hỗ trợ
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là tổ chức thúc đẩy kinh doanh, tổ chức hỗ trợ
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo, cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở ươm tạo doanh
nghiệp, khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo,
trung tâm xúc tiến và hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ
đổi mới sáng tạo, tổ chức cung cấp thiết bị dùng chung.
5. Cơ sở giáo dục chất lượng
cao là cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông đạt chuẩn quốc gia
theo quy định của pháp luật về giáo dục và đạt các tiêu chí về cơ sở vật chất,
đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chương trình giảng dạy, phương pháp giảng
dạy và dịch vụ giáo dục chất lượng cao theo quy định của Ủy ban nhân dân thành
phố Hà Nội.
6. Vùng phát thải thấp là
khu vực được xác định để hạn chế các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi
trường nhằm cải thiện chất lượng không khí.
Điều 4. Áp
dụng Luật Thủ đô
1. Trường hợp có quy định khác
nhau giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề
thì áp dụng quy định của Luật Thủ đô, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Trường hợp luật, nghị quyết
của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định
khác với quy định của Luật Thủ đô về cùng một vấn đề mà cần áp dụng thì phải
quy định cụ thể ngay về việc áp dụng pháp luật trong luật, nghị quyết đó;
trường hợp chưa có quy định cụ thể về việc áp dụng pháp luật và việc áp dụng
quy định đó cần thiết cho việc xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô
thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng theo đề nghị của Chính
phủ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
3. Văn bản quy phạm pháp luật
quy định chi tiết các nội dung của Luật Thủ đô, văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Thủ đô được áp dụng trong
trường hợp có nhiều văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng
một vấn đề.
Điều 5.
Trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô
1. Xây dựng, phát triển, quản
lý và bảo vệ Thủ đô là nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp, liên tục của các cấp
chính quyền và người dân thành phố Hà Nội; là trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức, lực lượng vũ trang và Nhân dân cả nước.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tuyên truyền, vận động Nhân
dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng, phát triển, quản
lý và bảo vệ Thủ đô.
3. Nhà nước ưu tiên đầu tư, thu
hút các nguồn lực nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô để xây dựng,
phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô.
Điều 6.
Biểu tượng của Thủ đô
Biểu tượng của Thủ đô là hình
ảnh Khuê Văn Các tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Điều 7.
Danh hiệu Công dân danh dự Thủ đô
1. Danh hiệu Công dân danh dự
Thủ đô được tặng cho người nước ngoài có đóng góp đặc biệt trong xây dựng, phát
triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô hoặc trong việc thiết lập, mở rộng, tăng cường
tình đoàn kết hữu nghị, quan hệ hợp tác quốc tế của Thủ đô.
2. Hội đồng nhân dân thành phố
Hà Nội quy định điều kiện, thủ tục tặng, thu hồi danh hiệu Công dân danh dự Thủ
đô quy định tại khoản 1 Điều này.
Chương II
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ
THỊ
Điều 8.[2] (được
bãi bỏ)
Điều 9. Hội
đồng nhân dân Thành phố
1. Thành phố được bầu 125 đại
biểu Hội đồng nhân dân. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên
trách ít nhất là 25% tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân.
2. Thường trực Hội đồng nhân
dân Thành phố hoạt động chuyên trách, gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, không quá
03 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên. Số lượng thành viên Thường
trực Hội đồng nhân dân Thành phố do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định, bảo
đảm không quá 11 người.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố
được thành lập không quá 06 Ban để tham mưu về các lĩnh vực cụ thể. Ban của Hội
đồng nhân dân Thành phố gồm Trưởng ban do Hội đồng nhân dân bầu; Phó Trưởng ban
và các Ủy viên do Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố phê chuẩn. Thường
trực Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định số lượng Phó Trưởng ban bảo đảm
bình quân không quá 02 người trên một Ban. Ban có bộ phận hoạt động chuyên
trách để giúp giải quyết các công việc thường xuyên trong thời gian Ban không
họp.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)[3] Quyết định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố
hoạt động chuyên trách; quyết định số lượng, tên gọi, phạm vi lĩnh vực phụ
trách của các Ban của Hội đồng nhân dân Thành phố;
b) Ban hành Quy chế làm việc
của Hội đồng nhân dân Thành phố, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội
đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân
Thành phố;
c) Quyết định việc thành lập,
tổ chức lại, giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban
nhân dân Thành phố chưa được quy định hoặc khác với quy định trong văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định thay đổi tên gọi, điều chỉnh chức năng
của các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính hiện có.
Việc thành lập, tổ chức lại,
giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân
Thành phố phải bảo đảm phù hợp yêu cầu về mục tiêu, nhiệm vụ quản lý nhà nước
theo ngành, lĩnh vực; không chồng chéo với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác; bảo đảm mục tiêu cải cách hành
chính nhà nước, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực,
hiệu quả. Trường hợp thành lập thêm cơ quan thì phải bảo đảm tổng số cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố không vượt quá 15% khung số lượng do
Chính phủ quy định;
d)[4] (được bãi bỏ)
đ) Xác định số lượng biên chế
cán bộ, công chức, số lượng viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước do
Thành phố quản lý căn cứ vào danh mục vị trí việc làm, quy mô dân số, thực
trạng khối lượng công việc, đặc điểm an ninh, chính trị, an toàn xã hội trên
địa bàn và khả năng cân đối ngân sách của Thành phố, bảo đảm tỷ lệ giữa tổng số
biên chế so với tổng số dân không vượt mức tỷ lệ trung bình của cả nước trình
cấp có thẩm quyền quyết định;
e) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác
quy định tại Luật này.
5. Trong thời gian Hội đồng
nhân dân Thành phố không họp, Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố được
quyết định các nội dung sau đây và báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố tại kỳ
họp gần nhất:
a) Biện pháp để giải quyết các
công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
dịch bệnh, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn;
b)[5] (được bãi bỏ)
c) Việc hỗ trợ cụ thể theo quy
định tại điểm d khoản 1 Điều 35 của Luật này căn cứ vào dự
toán ngân sách hằng năm đã được Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt.
Điều 10.
Ủy ban nhân dân Thành phố
Ủy ban nhân dân Thành phố được
thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng, trình Hội đồng nhân
dân Thành phố quyết định các nội dung quy định tại các điểm c,
d, đ và e khoản 4 Điều 9 của Luật này; trình Thường trực Hội đồng nhân dân
quyết định nội dung quy định tại khoản 5 Điều 9 của Luật này;
2. Quy định việc điều chỉnh vị
trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề
nghiệp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan,
tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý;
3. Căn cứ vào nguyên tắc, điều
kiện, tiêu chí thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật,
quyết định thành lập mới đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Ủy
ban nhân dân Thành phố theo trình tự, thủ tục do Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định;
4. Các nhiệm vụ, quyền hạn khác
quy định tại Luật này.
Điều 11.[6] (được
bãi bỏ)
Điều 12.[7] (được
bãi bỏ)
Điều 13.[8] (được
bãi bỏ)
Điều 14.
Phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và cơ quan
chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân, cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân
được phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy
định, trừ trường hợp luật quy định không được phân cấp, ủy quyền. Việc phân
cấp, ủy quyền được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân Thành phố thực hiện phân cấp, ủy quyền theo quy định sau đây:
a)[9] Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều
kiện, tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân Thành phố được quyền
phân cấp cho cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân
Thành phố hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện một cách liên tục, thường xuyên
một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình; phân cấp cho đơn
vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ
thuộc thẩm quyền của mình để tăng quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập
trong việc quản trị đơn vị và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công;
b)[10] Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân Thành phố
có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác, đơn vị sự
nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành
phố có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, người đứng đầu
cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy
ban nhân dân Thành phố thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm
quyền của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể;
2.[11] (được bãi bỏ)
3.[12] (được bãi bỏ)
4.[13] (được bãi bỏ)
5.[14] (được bãi bỏ)
6.[15] (được bãi bỏ)
7. Ủy ban nhân dân Thành phố
ban hành văn bản quy định việc điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền của các
cơ quan liên quan trong quá trình giải quyết công việc phù hợp với việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, ủy quyền theo quy định tại Điều này bảo
đảm yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính, không quy định thêm thành phần hồ
sơ, không tăng thêm yêu cầu, điều kiện, thời gian giải quyết thủ tục đang áp
dụng.
Điều 15.
Tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức
1. Cán bộ, công chức làm việc
tại xã, phường, thị trấn là cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ,
công chức thuộc biên chế hành chính được giao hằng năm cho cấp huyện, được bầu
cử, tuyển dụng, quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức.
2.[16] Người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính
khác thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố được ký hợp đồng có thời hạn với người đáp
ứng các điều kiện chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhiệm một số vị trí việc làm
thuộc nhóm nghiệp vụ chuyên ngành, nghiệp vụ chuyên môn dùng chung trong cơ
quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố.
3. Cán bộ, công chức, viên chức
làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, tổ chức chính trị - xã hội và đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà
nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên thuộc Thành phố quản lý được hưởng thu
nhập tăng thêm căn cứ theo năng lực, hiệu quả công việc.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 16.
Thu hút, trọng dụng người có tài năng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao
1. Việc thu hút, trọng dụng người
có tài năng được thực hiện như sau:
a) Công dân Việt Nam có phẩm
chất đạo đức, trình độ, năng lực vượt trội, có kinh nghiệm thực tiễn, đang làm
việc ở trong nước, ở ngoài nước có công trình, sản phẩm, thành tích, công trạng
hoặc cống hiến đặc biệt để phát triển một lĩnh vực, một ngành của Thủ đô được
xét tuyển, tiếp nhận vào làm công chức, viên chức;
b) Công dân Việt Nam có đủ tiêu
chuẩn quy định tại điểm a khoản này được ký hợp đồng để thực hiện công việc
chuyên môn, nghiệp vụ hoặc đảm nhiệm chức vụ quản lý, điều hành tại các đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
c) Người nước ngoài có trình độ
chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm thực tiễn, có công trình hoặc sản phẩm đã
được nghiệm thu, công nhận, ứng dụng đem lại hiệu quả cao thì được ký hợp đồng
để thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô;
d) Người được xét tuyển, tiếp
nhận hoặc được ký hợp đồng làm việc quy định tại các điểm a, b và c khoản này
được hưởng các chế độ, chính sách do Hội đồng nhân dân Thành phố quy định.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định các chính sách sau đây về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
của Thủ đô:
a) Ưu tiên phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, đạt trình độ khu vực và quốc tế ở các ngành, lĩnh vực
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô trong
từng giai đoạn;
b) Sử dụng ngân sách Thành phố
để hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở đào tạo trọng điểm
quốc gia trên địa bàn Thành phố;
c) Sử dụng ngân sách Thành phố để
hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng nghề tại các cơ
sở đào tạo của nước ngoài cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các
cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Thành phố quản lý, học sinh, sinh viên của các
cơ sở giáo dục, đào tạo trên địa bàn Thành phố;
d) Hỗ trợ hình thành các trung
tâm quốc gia, trung tâm vùng về đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao trên
địa bàn Thành phố; hỗ trợ học phí cho học viên học nghề tại các cơ sở đào tạo
nghề chất lượng cao của Thành phố.
Chương
III
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN,
QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ THỦ ĐÔ
Điều 17.
Quy hoạch xây dựng, phát triển Thủ đô
1. Việc xây dựng và phát triển
Thủ đô phải thực hiện theo Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch chung Thủ đô.
Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch
chung Thủ đô phải bảo đảm xây dựng Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại, phát
triển bền vững, môi trường sống trong lành, an ninh nguồn nước với sông Hồng là
trục xanh, cảnh quan trung tâm, phát triển đô thị hài hòa hai bên sông của
Thành phố; bảo đảm quốc phòng, an ninh, kết nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ
tầng xã hội của Thủ đô với các địa phương có hoạt động liên kết, phát triển
vùng với Thủ đô và cả nước.
2. Tập trung nguồn lực, ưu tiên
tổ chức thực hiện quy hoạch phân khu sông Hồng và sông Đuống phù hợp với Quy
hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô.
Cho phép xây dựng các tuyến đê
mới phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê
điều và quy hoạch khác có liên quan để khai thác hiệu quả quỹ đất.
Trên bãi sông được phép tồn tại
một số khu vực dân cư hiện hữu và được phép xây dựng mới công trình, nhà ở với
tỷ lệ thích hợp theo quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê và quy
hoạch khác có liên quan; các khu vực bãi sông, bãi nổi còn lại được phép xây
dựng các công trình dành cho không gian công cộng, công trình phục vụ mục đích
công cộng nhưng không tôn cao bãi sông, bãi nổi để đảm bảo yêu cầu không làm
cản trở dòng chảy.
3. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định điều chỉnh việc xác định phân vùng môi trường trong Quy hoạch Thủ
đô, điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung đô thị, quy hoạch chung khu chức năng[17], quy hoạch chuyên ngành hạ tầng
kỹ thuật của Thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và báo cáo Thủ
tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy
định chi tiết trình tự, thủ tục điều chỉnh việc xác định phân vùng môi trường,
điều chỉnh cục bộ quy hoạch quy định tại khoản này.
4. Đối với khu vực đã có quy
hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng vùng huyện được phê
duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch, pháp luật về quy hoạch đô thị
và nông thôn[18] thì không phải
lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện mà căn cứ vào quy hoạch chung hoặc quy
hoạch phân khu, quy hoạch xây dựng vùng huyện và chỉ tiêu sử dụng đất đã được
phân bổ từ Quy hoạch chung Thủ đô và các chỉ tiêu sử dụng đất của địa phương để
lập kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện.
Điều 18.
Biện pháp bảo đảm thực hiện quy hoạch
1. Trong khu vực nội đô lịch
sử, không mở rộng diện tích đất của các bệnh viện hiện có; không mở rộng, xây
dựng mới khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở
giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Cơ sở giáo dục đại học, cơ sở
giáo dục nghề nghiệp không có trụ sở chính hoặc địa điểm đào tạo trong khu vực
nội đô lịch sử trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành thì không được đặt
địa điểm đào tạo trong khu vực nội đô lịch sử.
2. Cơ sở sản xuất công nghiệp,
cơ sở y tế, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trụ sở các cơ
quan, đơn vị trong đô thị trung tâm không phù hợp với Quy hoạch chung Thủ đô
phải thực hiện việc di dời.
3. Thẩm quyền quyết định việc
di dời các cơ sở, trụ sở quy định tại khoản
2 Điều này được quy định như
sau:
a) Thủ tướng Chính phủ quyết
định danh mục, biện pháp và lộ trình di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ
sở y tế, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trụ sở các cơ
quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức trung ương;
b) Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định danh mục, biện pháp và lộ trình di dời các cơ sở, trụ sở không thuộc
quy định tại điểm a khoản này.
4. Ủy ban nhân dân Thành phố có
trách nhiệm bố trí quỹ đất phù hợp với quy hoạch để cơ quan, đơn vị, cơ sở
thuộc danh mục phải thực hiện di dời quy định tại khoản 3 Điều này xây dựng cơ
sở, trụ sở mới nếu có nhu cầu.
5. Quỹ đất sau khi thực hiện
việc di dời quy định tại khoản 2 Điều này được bàn giao cho Ủy ban nhân dân
Thành phố quản lý, sử dụng theo quy định sau đây:
a) Tại khu vực nội đô lịch sử
được xây dựng không gian công cộng, tăng tỷ lệ đất cây xanh sử dụng công cộng
và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, phát triển du lịch, không bố trí chức
năng ở, lưu trú;
b) Tại khu vực khác ở đô thị
trung tâm được ưu tiên xây dựng công trình công cộng, phúc lợi xã hội, bảo đảm
đáp ứng tiêu chuẩn hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật theo phân loại đô thị.
6. Khi đầu tư xây dựng mới trục
đường bộ, đường sắt đô thị hoặc mở rộng trục đường bộ hiện có theo quy hoạch
trên địa bàn Thành phố, cơ quan lập quy hoạch phải xác định vị trí, ranh giới,
diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận đường bộ, đường sắt đô thị để thực
hiện cải tạo, chỉnh trang đô thị, tái định cư tại chỗ, phát triển nhà ở, thương
mại, dịch vụ.
Ủy ban nhân dân Thành phố có
trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét, quyết định vị trí,
ranh giới, diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận đường bộ, đường sắt đô thị
để thực hiện cải tạo, chỉnh trang đô thị, tái định cư tại chỗ, phát triển nhà
ở, thương mại, dịch vụ trước khi quy hoạch chi tiết được phê duyệt.
Khi triển khai dự án phát triển
đường bộ, đường sắt đô thị theo quy hoạch đã được phê duyệt, cơ quan có thẩm
quyền của Thành phố đồng thời tổ chức thu hồi đất vùng phụ cận để sử dụng theo
quy hoạch. Việc thu hồi đất trong trường hợp này được áp dụng như trường hợp
thu hồi đất trong cùng dự án phát triển đường bộ, đường sắt đô thị.
7. Ủy ban nhân dân Thành phố
phê duyệt dự án đầu tư xây dựng các công trình tại bãi sông, bãi nổi ở các
tuyến sông có đê trên địa bàn Thành phố theo Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch chung
Thủ đô và các quy hoạch khác có liên quan.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy
định chi tiết trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng các công trình tại bãi sông,
bãi nổi.
Điều 19.
Quản lý, sử dụng không gian ngầm
1. Việc quản lý, sử dụng không
gian ngầm phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
a) Dựa trên cơ sở đánh giá đầy
đủ về điều kiện tự nhiên, địa chất, địa mạo, thủy văn;
b) Phù hợp với các chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch;
c) Bảo đảm quốc phòng, an ninh;
ưu tiên các công trình có tính lưỡng dụng, có khả năng sẵn sàng chuyển sang
phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh; bảo tồn không gian văn hóa và cảnh quan
môi trường, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; bảo đảm kết nối
đồng bộ với không gian trên mặt đất và các không gian xây dựng công trình ngầm
có liên quan;
d) Việc xây dựng công trình
ngầm, bao gồm cả phần móng, cọc và phần ngầm của công trình trên mặt đất, phải
thực hiện theo dự án đầu tư xây dựng, hạng mục của dự án đầu tư xây dựng hoặc
giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
2. Không gian ngầm phải được
phân vùng chức năng để quản lý, khai thác, sử dụng. Người sử dụng đất thuộc địa
bàn Thành phố được sử dụng lòng đất theo chiều thẳng đứng trong phạm vi ranh
giới thửa đất tính từ mặt đất đến mức giới hạn độ sâu theo quy định của Chính
phủ phù hợp với quy hoạch. Việc sử dụng lòng đất ngoài giới hạn độ sâu do Chính
phủ quy định phải được cấp phép phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước
cho phép sử dụng lòng đất ngoài giới hạn độ sâu do Chính phủ quy định để xây
dựng công trình ngầm phải trả tiền sử dụng không gian ngầm, trừ trường hợp được
miễn, giảm tiền sử dụng không gian ngầm đối với công trình ngầm không nhằm mục
đích kinh doanh, thuộc danh mục khuyến khích đầu tư xây dựng hoặc trường hợp
khác do Chính phủ quy định.
Chính phủ quy định chi tiết
khoản này.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố
ban hành danh mục các công trình ngầm được khuyến khích đầu tư xây dựng.
Điều 20.
Cải tạo, chỉnh trang đô thị
1. Việc cải tạo, chỉnh trang đô
thị trên địa bàn Thành phố phải phù hợp quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc,
thiết kế đô thị; bảo vệ các di sản văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, kiến trúc,
cảnh quan của Thủ đô; bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, phòng cháy,
chữa cháy; nâng cao tiện ích đô thị, cải thiện môi trường sống cho dân cư ở khu
vực cải tạo, chỉnh trang.
2. Việc cải tạo, chỉnh trang đô
thị trên địa bàn Thành phố được triển khai thực hiện theo dự án bao gồm:
a) Dự án tái thiết một khu vực
đô thị cụ thể, trừ dự án phát triển đô thị theo định hướng giao thông công
cộng;
b) Dự án chỉnh trang công trình
hoặc một nhóm công trình xây dựng tại một khu vực cụ thể;
c) Dự án bảo vệ, tu bổ công
trình hoặc một nhóm công trình, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, thiên
nhiên, kiến trúc, cảnh quan đô thị;
d) Dự án cải tạo, chỉnh trang
hỗn hợp là dự án đầu tư xây dựng trong đó có thể bao gồm các công trình xây
dựng mới, công trình cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và bảo vệ, tu bổ.
3. Việc cải tạo, chỉnh trang đô
thị trên địa bàn Thành phố được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Khu vực đô thị có các công
trình xây dựng có kết cấu, khoảng cách giữa các công trình không bảo đảm quy
chuẩn theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về phòng cháy, chữa
cháy;
b) Khu vực đô thị có các công
trình xây dựng thuộc diện nguy hiểm, xuống cấp, có nguy cơ sập đổ thuộc trường
hợp buộc phải phá dỡ theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về nhà
ở; khu vực có hạ tầng giao thông không bảo đảm yêu cầu về an toàn giao thông
theo quy định của pháp luật về giao thông;
c) Khu vực đô thị không bảo đảm
đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của đơn vị ở mà
không còn đủ quỹ đất để phát triển bổ sung hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội;
d) Khu vực đô thị không phù hợp
với quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc, thiết kế đô thị; khu vực đô thị có
chỉ tiêu dân số vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn của đơn vị ở cần di dời để giảm
mật độ dân cư theo quy hoạch;
đ) Khu vực đô thị có các công
trình kiến trúc có giá trị, các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
cần được bảo vệ, tu bổ nhưng có các công trình xây dựng xung quanh không phù
hợp với việc bảo vệ;
e) Khu vực đô thị có trụ sở cơ
quan, đơn vị, cơ sở phải di dời theo quy định của pháp luật, có cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ hoặc để xảy ra sự cố gây mất an toàn cho sức
khỏe, tính mạng của người dân.
4. Các chủ sở hữu nhà, người sử
dụng đất tại khu vực đô thị có quyền tự đề xuất thực hiện dự án cải tạo, chỉnh
trang đô thị khi được toàn bộ số chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất nằm trong
ranh giới dự án đề xuất cải tạo, chỉnh trang đô thị đồng thuận góp quyền sử
dụng đất, điều chỉnh lại đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai.
Việc cải tạo, chỉnh trang đô
thị trong trường hợp này phải được lập thành dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị,
do doanh nghiệp được các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất thống nhất lựa chọn
làm chủ đầu tư. Chủ đầu tư có trách nhiệm lập quy hoạch chi tiết, lập dự án cải
tạo, chỉnh trang đô thị trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt và triển khai
thực hiện dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị, bảo đảm phù hợp với quy hoạch đã
được phê duyệt.
Trường hợp các chủ sở hữu nhà,
người sử dụng đất góp quyền sử dụng đất để mở rộng quỹ đất sử dụng vào mục đích
công cộng không nhằm mục đích kinh doanh phục vụ cải tạo, chỉnh trang đô thị và
không tự lựa chọn chủ đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện vai
trò chủ đầu tư dự án.
5. Đối với khu vực thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này mà chưa có dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị
thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này, Ủy ban nhân dân Thành phố có
trách nhiệm xác định cụ thể các khu vực cần cải tạo, chỉnh trang đô thị; tổ
chức công bố công khai các khu vực cần cải tạo, chỉnh trang đô thị kèm theo các
thông tin về vị trí, ranh giới và các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc theo quy
hoạch phân khu đã được phê duyệt để kêu gọi đầu tư. Trường hợp chỉ có 01 nhà
đầu tư đáp ứng điều kiện mời quan tâm thì thực hiện chấp thuận nhà đầu tư làm
chủ đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư; trường hợp có từ 02 nhà đầu
tư trở lên quan tâm thì thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định
của pháp luật về đấu thầu.
Nhà đầu tư được lựa chọn có
trách nhiệm lập quy hoạch chi tiết, lập dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị trong
đó có nội dung về bồi thường, tái định cư, phương án xử lý tài sản công, phân
chia lợi ích từ việc tổ chức cải tạo, chỉnh trang đô thị.
Đồ án quy hoạch chi tiết, thông
tin về dự án đề xuất cải tạo, chỉnh trang đô thị phải được công bố công khai
tại khu vực dự án cải tạo, chỉnh trang và trên các phương tiện thông tin đại
chúng và chỉ được phê duyệt nếu có từ 75% số chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất
tương đương với ít nhất là 75% diện tích khu vực cải tạo, chỉnh trang đồng
thuận.
6. Trường hợp cấp bách cần cải
tạo, chỉnh trang đô thị mà không lựa chọn được nhà đầu tư theo quy định tại
khoản 4 và khoản 5 Điều này thì Ủy ban nhân dân Thành phố thu hồi đất, tổ chức
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Số tiền
thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất lớn hơn số tiền chi cho công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư được tiếp tục phân chia và chi trả cho các chủ sở
hữu nhà, người sử dụng đất bị thu hồi đất. Việc sử dụng đất trúng đấu giá phải
phù hợp với quy hoạch và mục tiêu cải tạo, chỉnh trang đô thị.
7. Đối với nhà chung cư cũ
trong khu chung cư hoặc khu đô thị, việc cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ
theo quy định của pháp luật về nhà ở chỉ được thực hiện khi phù hợp với quy
hoạch đô thị và yêu cầu cải tạo, chỉnh trang đô thị đối với cả khu chung cư.
8. Đối với các công trình kiến
trúc có giá trị có nhiều chủ sở hữu, Ủy ban nhân dân Thành phố bố trí kinh phí
theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ngân sách nhà nước để hỗ trợ kiểm định
chất lượng công trình; hỗ trợ cá nhân, tổ chức thực hiện cải tạo, chỉnh trang
đô thị.
9. Hội đồng nhân dân Thành phố
có trách nhiệm sau đây:
a) Quy định chi tiết các khoản
2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này;
b) Quy định trách nhiệm của chủ
đầu tư, chủ sở hữu trong việc kiểm định chất lượng nhà chung cư để thực hiện dự
án cải tạo, chỉnh trang đô thị;
c) Quyết định cơ chế hỗ trợ
kiểm định, di dời, bồi thường, tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp, thực hiện
dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị;
d) Quy định các biện pháp hỗ
trợ, khuyến khích thực hiện cải tạo, chỉnh trang đô thị.
10. Ủy ban nhân dân Thành phố
có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức lập, thẩm định, phê
duyệt dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị;
b) Ban hành quy chế quản lý
công trình kiến trúc có giá trị, trong đó quy định cụ thể về yêu cầu, điều
kiện, biện pháp bảo vệ, cải tạo, quản lý, khai thác, sử dụng công trình kiến
trúc có giá trị;
c) Quyết định việc đấu giá
quyền thuê biệt thự cũ, nhà thuộc tài sản công không sử dụng cho mục đích ở để
phát triển du lịch, kinh doanh dịch vụ, ẩm thực, quảng bá văn hóa, nghệ thuật
gắn với việc cam kết về giữ gìn, tu bổ, bảo trì công trình.
11. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định thành lập, quy định tổ chức, hoạt động của Quỹ bảo tồn khu vực nội
đô lịch sử của Thủ đô.
Quỹ bảo tồn khu vực nội đô lịch
sử của Thủ đô là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được ngân sách nhà
nước hỗ trợ vốn điều lệ. Nguồn thu của Quỹ được hình thành từ nguồn tài trợ,
đóng góp tự nguyện, vốn ủy thác của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
các nguồn tài chính hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước.
Quỹ bảo tồn khu vực nội đô lịch
sử của Thủ đô được sử dụng để hỗ trợ cho chương trình, dự án, hoạt động phi dự
án thực hiện cải tạo, chỉnh trang đô thị gắn với bảo tồn, tu bổ, phục hồi và
phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của khu vực nội đô lịch sử; tu bổ, phục hồi
công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn Thành phố ngoài nhiệm vụ chi của
ngân sách nhà nước.
Điều 21.
Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch
1. Việc bảo vệ và phát triển
văn hóa Thủ đô phải xứng tầm với truyền thống nghìn năm Thăng Long - Hà Nội;
xây dựng Hà Nội là trung tâm hội tụ, kết tinh văn hóa của cả nước; xây dựng văn
hóa người Hà Nội hào hoa, thanh lịch, nghĩa tình, văn minh, tiêu biểu cho văn
hóa, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định các biện pháp ưu tiên nguồn lực cho bảo vệ và phát triển văn hóa Thủ
đô; việc đầu tư các nguồn lực nhằm quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả đáp ứng
yêu cầu bảo vệ, phát triển văn hóa Thủ đô và hội nhập quốc tế; đầu tư nguồn lực
phát triển thể thao thành tích cao, xây dựng công trình thể thao hiện đại đạt
tiêu chuẩn khu vực và thế giới; đào tạo, bồi dưỡng vận động viên, huấn luyện
viên đạt trình độ quốc gia, quốc tế; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia
phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp.
3. Các khu vực, di tích, di
sản, công trình sau đây được tập trung nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị
văn hóa:
a) Khu vực Ba Đình;
b) Di tích lịch sử Khu lưu niệm
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch; Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ
Chí Minh;
c) Di tích Trung tâm Hoàng Thành
Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các di sản văn hóa khác được Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản
văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân
loại, di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, di sản tư liệu thuộc
Chương trình Ký ức thế giới;
d) Khu di tích Cổ Loa và các di
tích quốc gia đặc biệt khác, các di tích quốc gia, bảo vật quốc gia, di sản văn
hóa phi vật thể thuộc danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trên địa bàn
Thành phố; di tích cấp Thành phố; di sản văn hóa trong danh mục được kiểm kê;
đ) Khu vực Hồ Hoàn Kiếm, khu
vực Hồ Tây;
e) Phố cổ, làng cổ, làng nghề,
làng có nghề truyền thống tiêu biểu;
g) Công trình kiến trúc có giá
trị.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
ban hành danh mục các khu vực, di tích, di sản, công trình cần tập trung nguồn
lực để bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa quy định tại khoản 3 Điều này; danh mục
ô phố, tuyến phố đặc trưng, có giá trị văn hóa, lịch sử, danh mục công trình
kiến trúc có giá trị để phục hồi, bảo vệ, phát huy giá trị; quy định việc lập
hồ sơ quản lý công trình kiến trúc có giá trị, việc hỗ trợ cá nhân, tổ chức cải
tạo, bảo vệ khu vực, công trình kiến trúc có giá trị có nhiều chủ sở hữu.
5. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định đối tượng, nội dung, mức hỗ trợ cao hơn mức quy định hoặc chưa được
quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phù hợp với khả năng cân
đối của ngân sách Thành phố đối với trường hợp sau đây:
a) Người hoạt động trong lĩnh
vực văn hóa, nghệ thuật, nghệ nhân, người thực hành di sản văn hóa phi vật thể;
b) Việc truyền dạy, thực hành,
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể;
c) Vận động viên, huấn luyện
viên tham gia đào tạo, huấn luyện tại các bộ môn thể thao thành tích cao, tập
huấn đội tuyển thể thao thành tích cao của Thành phố, đội tuyển thể thao thành
tích cao quốc gia;
d) Đào tạo, bồi dưỡng vận động
viên trở thành huấn luyện viên, trọng tài viên quốc gia, quốc tế;
đ) Vận động viên, huấn luyện
viên, người hoạt động nghệ thuật bị tai nạn, suy giảm sức khỏe do đào tạo, huấn
luyện, thi đấu, biểu diễn nghệ thuật; vận động viên, huấn luyện viên, người
hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp học nghề mới, chuyển nghề khi không còn đáp
ứng yêu cầu thi đấu, huấn luyện, hoạt động nghệ thuật.
6. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định mức thưởng bổ sung đối với huấn luyện viên, vận động viên lập thành
tích tại giải thể thao thành tích cao, người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật được tặng giải thưởng cao của khu vực và quốc tế.
7. Thành phố Hà Nội được xây
dựng trung tâm công nghiệp văn hóa tại bãi sông, bãi nổi sông Hồng và khu vực
khác có lợi thế về vị trí không gian văn hóa phù hợp với quy hoạch.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy
định chi tiết thẩm quyền thành lập; trình tự, thủ tục thành lập; việc tổ chức,
hoạt động, biện pháp quản lý đối với trung tâm công nghiệp văn hóa và các chính
sách ưu đãi đối với trung tâm công nghiệp văn hóa sử dụng nguồn lực của Thành
phố.
8. Thành phố Hà Nội được thành
lập khu phát triển thương mại và văn hóa trên cơ sở các khu phố, tuyến phố,
làng nghề, điểm dân cư nông thôn hiện hữu để huy động nguồn lực xã hội cho đầu
tư phát triển các hoạt động dịch vụ, thương mại, văn hóa tại khu vực có lợi thế
về vị trí thương mại, không gian văn hóa, trên cơ sở bảo đảm các tiêu chuẩn,
điều kiện về văn hóa kinh doanh, an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường cao hơn so
với quy định chung để thu hút, phát triển du lịch, phát huy giá trị văn hóa,
thúc đẩy các hoạt động thương mại trên địa bàn, cải thiện điều kiện sống của người
dân, bảo tồn các ngành, nghề truyền thống.
Việc thành lập, tổ chức, hoạt
động và quản lý khu phát triển thương mại và văn hóa được thực hiện theo quy
định sau đây:
a) Khu phát triển thương mại và
văn hóa được thành lập, tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản.
Việc quản lý, điều hành hoạt động của khu phát triển thương mại và văn hóa do
Hội đồng quản lý gồm đại diện chính quyền cơ sở, tổ chức chính trị - xã hội ở
cơ sở, đại diện của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cộng đồng dân cư trong
khu vực thực hiện;
b) Khu phát triển thương mại và
văn hóa được quyết định các khoản thu trên cơ sở đề án đã được Ủy ban nhân dân
Thành phố phê duyệt để bảo đảm chi trả cho việc quản lý, vận hành khu phát
triển thương mại và văn hóa; chi trả cho việc cải tạo, chỉnh trang, bảo vệ cảnh
quan, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, trật tự; chi trả các dịch vụ, tiện
ích dành cho cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, người dân trong khu vực và
khách hàng, hoạt động quảng bá sản phẩm, dịch vụ của các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, hoạt động văn hóa và các hoạt động khác có liên quan; chi bù
đắp cho các hộ gia đình bị ảnh hưởng từ hoạt động của khu phát triển thương mại
và văn hóa;
c) Việc thành lập, phạm vi, quy
mô, mục tiêu phát triển khu phát triển thương mại và văn hóa; việc thành lập
Hội đồng quản lý; các khoản thu, mức thu, đối tượng nộp, miễn, giảm, cơ chế
quản lý, chi tiêu tài chính; quy chế hoạt động của khu phát triển thương mại và
văn hóa phải được đa số đại diện của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hộ
gia đình thường trú trong khu vực đó đồng thuận;
d) Khu phát triển thương mại và
văn hóa phải có cam kết với cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư về việc bảo
đảm các tiêu chuẩn, điều kiện về văn hóa kinh doanh, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy giá trị văn hóa, thúc đẩy các hoạt động
thương mại trên địa bàn, cải thiện điều kiện sống của người dân, bảo tồn các
ngành, nghề truyền thống;
đ) Ủy ban nhân dân Thành phố
phê duyệt đề án thành lập, các khoản thu, mức thu, đối tượng nộp, miễn, giảm,
cơ chế quản lý, chi tiêu tài chính, quy chế hoạt động của khu phát triển thương
mại và văn hóa; ban hành quyết định cho phép thành lập khu phát triển thương
mại và văn hóa; phê duyệt thành viên Hội đồng quản lý khu phát triển thương mại
và văn hóa.
Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy
ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi có khu phát triển thương mại và văn hóa có
trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của khu phát triển thương mại và văn
hóa theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố;
e) Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết khoản này và ban hành Quy chế mẫu của khu phát triển thương
mại và văn hóa.
Điều 22.
Phát triển giáo dục và đào tạo
1. Phát triển sự nghiệp giáo
dục, đào tạo để Thủ đô là trung tâm lớn, tiêu biểu của cả nước về giáo dục, đào
tạo chất lượng cao, thích ứng với quá trình chuyển đổi số quốc gia, đổi mới
sáng tạo và hội nhập quốc tế.
2. Đầu tư, xây dựng hệ thống
trường học công lập, cơ sở giáo dục chất lượng cao, cơ sở giáo dục có nhiều cấp
học bảo đảm không gian, cảnh quan sư phạm trong và ngoài nhà trường, đội ngũ
giáo viên phục vụ tối đa nhu cầu học tập của học sinh; bảo đảm bố trí quỹ đất
xây dựng trường học ở vị trí thuận lợi; không bố trí trường học gần nghĩa
trang, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm tiếng ồn, không khí.
3. Cơ sở giáo dục mầm non, giáo
dục phổ thông công lập của Thành phố được thực hiện liên kết giáo dục với các
cơ sở giáo dục nước ngoài.
Chính phủ quy định chi tiết
điều kiện, trình tự, thủ tục, chương trình giáo dục, việc cấp văn bằng, chứng
chỉ thực hiện liên kết giáo dục, giảng dạy chương trình giáo dục tích hợp.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định các nội dung sau đây:
a) Cơ chế tài chính áp dụng đối
với cơ sở giáo dục công lập chất lượng cao, cơ sở giáo dục công lập có nhiều
cấp học, cơ sở giáo dục công lập thực hiện liên kết giáo dục với cơ sở giáo dục
nước ngoài;
b) Mức hỗ trợ và lộ trình thực
hiện việc hỗ trợ học phí cho học sinh phổ thông và trẻ em mầm non trên địa bàn
Thành phố không phân biệt trường công lập, dân lập và tư thục; mức hỗ trợ học
phí học nghề trình độ trung cấp, cao đẳng cho người học thường trú tại Hà Nội.
5. Ủy ban nhân dân Thành phố
quy định các nội dung sau đây:
a) Các tiêu chí về cơ sở vật
chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chương trình giảng dạy, phương pháp
giảng dạy và dịch vụ giáo dục của cơ sở giáo dục chất lượng cao, cơ sở giáo dục
có nhiều cấp học;
b) Trình tự, thủ tục công nhận,
thu hồi quyết định công nhận cơ sở giáo dục chất lượng cao; việc đánh giá, kiểm
định, bảo đảm duy trì chất lượng của cơ sở giáo dục chất lượng cao;
c) Việc điều chỉnh, bổ sung
chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đối với một số môn học, hoạt
động giáo dục bổ trợ tại cơ sở giáo dục công lập chất lượng cao để phù hợp với
điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của Thủ đô theo hướng tiệm cận nền giáo dục
của khu vực và quốc tế.
6. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định công nhận, thu hồi quyết định công nhận cơ sở giáo dục chất lượng
cao.
Điều 23.
Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
1. Phát triển đồng bộ các lĩnh
vực khoa học và công nghệ; ưu tiên nguồn lực đầu tư xây dựng Thủ đô trở thành
trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao
công nghệ hàng đầu của cả nước và khu vực.
Lĩnh vực trọng điểm về khoa học
và công nghệ của Thủ đô bao gồm công nghệ số, công nghệ thông tin và truyền
thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo - tự động
hóa, công nghệ môi trường, giảm phát thải các-bon, ứng phó với biến đổi khí hậu
và các lĩnh vực khác do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định.
Ủy ban nhân dân Thành phố ban
hành danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm của Thủ đô, quy chế
quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Thủ đô.
2. Tổ chức, cá nhân thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm của Thủ đô được áp dụng các chính
sách sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân chủ trì
nhiệm vụ được quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu cung ứng dịch vụ, hàng
hóa;
b) Doanh nghiệp, tổ chức khoa
học và công nghệ được nhận hỗ trợ từ ngân sách Thành phố để mua sắm, vận hành
máy móc, thiết bị phục vụ thực hiện nhiệm vụ;
c) Thu nhập từ việc thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm của Thủ đô là thu nhập không chịu
thuế thu nhập cá nhân;
d) Doanh nghiệp được hưởng ưu
đãi tương tự như doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công
nghệ cao trong thời gian thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm
của Thủ đô.
3. Hoạt động nghiên cứu khoa
học và ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ được áp dụng các
chính sách sau đây:
a) Nhiệm vụ khoa học và công
nghệ trọng điểm của Thủ đô, dự án sản xuất thử nghiệm cấp Thành phố được giao
theo phương thức tuyển chọn hoặc giao trực tiếp theo quy định của Hội đồng nhân
dân Thành phố;
b) Tổ chức, cá nhân chủ trì
nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Thành phố được áp dụng hình
thức khoán kinh phí theo kết quả, sản phẩm của nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
c) Doanh nghiệp, tổ chức khoa
học và công nghệ, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được nhận
chuyển giao không bồi hoàn tài sản, kết quả, sản phẩm hình thành từ nhiệm vụ
khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Thành phố khi đáp ứng đủ điều kiện về
năng lực ứng dụng, phát triển kết quả, sản phẩm để phục vụ quản lý, phát triển
kinh tế - xã hội Thủ đô;
d) Doanh nghiệp, tổ chức khoa
học và công nghệ hoạt động trên địa bàn Thành phố được hỗ trợ một phần kinh phí
từ ngân sách Thành phố để hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng
thí nghiệm, nhận chuyển giao công nghệ thuộc các lĩnh vực trọng điểm về khoa
học và công nghệ của Thủ đô.
4. Cơ sở giáo dục đại học công
lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công
lập khác trên địa bàn Thành phố được thành lập hoặc tham gia thành lập doanh
nghiệp, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ thuộc quyền sở hữu trí tuệ của chính cơ sở, tổ
chức đó. Viên chức làm việc tại cơ sở giáo dục đại học công lập, cơ sở giáo dục
nghề nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập khác trên địa bàn
Thành phố được tham gia góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp do cơ
sở, tổ chức đó thành lập hoặc tham gia thành lập khi được sự đồng ý của người
đứng đầu cơ sở, tổ chức.
Chính phủ quy định chi tiết
khoản này.
5. Doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo trong các lĩnh vực trọng điểm về khoa học và công nghệ của Thủ đô hoạt
động trên địa bàn Thành phố được hỗ trợ chi phí ươm tạo, bao gồm chi phí tổ
chức hoạt động tuyển chọn dự án, chi phí thuê chuyên gia, nhân công lao động
trực tiếp, dịch vụ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chi phí sử dụng cơ sở kỹ
thuật, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung.
6. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết các khoản 2, 3 và 5 Điều này.
Điều 24.
Phát triển các khu công nghệ cao
1. Việc xây dựng, phát triển
các khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung[19], khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn
Thành phố (sau đây gọi chung là khu công nghệ cao) được thực hiện theo quy định
sau đây:
a) Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định thành lập, điều chỉnh, mở rộng ranh giới khu công nghệ cao trên địa
bàn Thành phố; ban hành quy chế hoạt động của các khu công nghệ cao do Ủy ban
nhân dân Thành phố thành lập;
b) Ủy ban nhân dân Thành phố
được phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý khu công nghệ cao thực hiện việc giao
đất, cho thuê đất, quản lý đất đai trong phạm vi Khu công nghệ cao Hòa Lạc;
c) Dự án đầu tư và hoạt động
tại khu công nghệ cao được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
cao nhất theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về công nghệ cao và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Khu công nghệ cao Hòa Lạc là
khu vực nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ cao, đào tạo
nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao và đổi mới sáng tạo
trọng điểm của đất nước và Thủ đô; là điểm thử nghiệm, thí điểm về cơ chế,
chính sách cho việc phát triển công nghệ cao và các khu công nghệ cao trong cả
nước.
Khu công nghệ cao Hòa Lạc được
áp dụng các quy định sau đây:
a) Ngân sách Thành phố bố trí vốn
để đầu tư xây dựng và phát triển Khu công nghệ cao Hòa Lạc, trong đó ưu tiên
đầu tư hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật; cơ sở hạ tầng kỹ thuật công
nghệ cao và kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học và công nghệ trong Khu
công nghệ cao Hòa Lạc; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; xây dựng nhà lưu trú
phù hợp với quy hoạch để bố trí cho người lao động làm việc tại Khu công nghệ
cao Hòa Lạc thuê trong thời gian làm việc;
b) Đối với khu chức năng cần
đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, Nhà nước đầu tư thông qua Ban Quản lý khu
công nghệ cao hoặc cho nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng thuê đất
đối với diện tích đất xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và đất sử dụng
vào mục đích công cộng theo quy hoạch phân khu theo pháp luật về quy hoạch đô
thị và nông thôn[20] đã được phê
duyệt.
Nhà nước cho thuê đất không đấu
giá quyền sử dụng đất đối với dự án thực hiện các loại hình hoạt động công nghệ
cao có sử dụng đất;
c) Nhà đầu tư thực hiện dự án
sản xuất sản phẩm công nghệ cao trong Khu công nghệ cao Hòa Lạc được chuyển đổi
một phần hoặc toàn bộ mục tiêu dự án sang nghiên cứu và phát triển công nghệ
cao, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng
tạo hoặc cung ứng dịch vụ công nghệ cao và tiếp tục sử dụng địa điểm đầu tư,
quỹ đất đã được giao, cho thuê để thực hiện dự án theo mục tiêu chuyển đổi;
d) Hội đồng quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đối với nơi
không tổ chức Hội đồng quản lý có cơ sở trong Khu công nghệ cao Hòa Lạc được
quyết định sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh,
liên kết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị trong trường hợp sử dụng
tài sản công để cung cấp các dịch vụ cho các hoạt động công nghệ cao, cung cấp
thiết bị dùng chung, cung cấp không gian làm việc, nghiên cứu, ươm tạo, thử
nghiệm và trình diễn công nghệ để hỗ trợ các hoạt động công nghệ cao, phát
triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hoặc trong các trường hợp
được quy định tại pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Việc sử dụng tài sản công của
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố vào mục đích kinh
doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết được thực hiện theo quy định của Hội đồng
nhân dân Thành phố.
Việc sử dụng tài sản công của
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ
vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết được thực hiện theo quy
định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tương ứng;
đ) Tài sản do tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài hiến, biếu, tặng, cho, đóng góp, viện trợ, tài trợ và
hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác cho Ban Quản lý khu công nghệ cao hoặc
đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong Khu công nghệ cao Hoà Lạc được xác
định là tài sản công hợp pháp của đơn vị trực tiếp tiếp nhận, quản lý, sử dụng
tài sản mà không phải thực hiện thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân.
3. Ban Quản lý khu công nghệ
cao là tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện chức năng
quản lý nhà nước trực tiếp đối với các khu công nghệ cao trên địa bàn Thành
phố. Ban Quản lý khu công nghệ cao được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Thẩm định, phê duyệt quy
hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông
thôn[21] trong phạm vi khu công
nghệ cao;
b) Chấp thuận chủ trương đầu
tư, chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với dự án thuộc thẩm quyền chấp
thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân Thành phố; cấp, điều chỉnh, thu hồi
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án đầu tư tại khu công nghệ cao;
c) Chấp thuận nhu cầu sử dụng
người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người Việt Nam chưa
đáp ứng được của các doanh nghiệp có trụ sở chính tại khu công nghệ cao hoặc
của cơ quan, tổ chức, đơn vị có vị trí công việc cần sử dụng người lao động
nước ngoài mà phạm vi làm việc chỉ trong khu công nghệ cao; chấp thuận sử dụng
người lao động nước ngoài của nhà thầu hoạt động tại khu công nghệ cao; cấp,
cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động đối với người nước ngoài làm việc
tại khu công nghệ cao; xác nhận người nước ngoài làm việc tại khu công nghệ cao
không thuộc diện cấp giấy phép lao động;
d) Cấp, cấp lại, điều chỉnh,
gia hạn, thu hồi, hủy giấy phép xây dựng đối với việc xây dựng mới, sửa chữa,
cải tạo, di dời công trình trong phạm vi khu công nghệ cao;
đ) Thực hiện việc giao đất, cho
thuê đất, quản lý đất đai trong phạm vi Khu công nghệ cao Hòa Lạc khi được Ủy
ban nhân dân Thành phố phân cấp, ủy quyền;
e) Thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định các nội dung sau đây:
a) Trình tự, thủ tục thực hiện
thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, các điểm a, b, c và d khoản 3
Điều này; việc thực hiện quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này đối với đơn vị sự
nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
b) Cơ chế, chính sách, biện
pháp ưu đãi, hỗ trợ để thu hút nguồn nhân lực công nghệ cao làm việc tại khu
công nghệ cao và thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo tại khu công nghệ cao;
c) Việc xác định mức thu, việc
thu, nộp, sử dụng tiền bồi thường giải phóng mặt bằng hoàn trả của người sử
dụng đất tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc; chính sách ưu đãi, hỗ trợ về tiền bồi thường
giải phóng mặt bằng hoàn trả đối với một số trường hợp cụ thể;
d) Việc xác định mức thu, việc
thu, nộp, sử dụng tiền sử dụng hạ tầng, tiền xử lý nước thải và chính sách ưu
đãi, hỗ trợ đối với các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong
phạm vi Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ quy định chi tiết trình tự, thủ tục lập, lấy ý kiến, quyết định
đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên
kết, phương thức và giá cho thuê tài sản công quy định tại điểm d khoản 2 Điều
này và việc thực hiện quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này đối với đơn vị sự
nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý.
Điều 25.
Thử nghiệm có kiểm soát
1. Thử nghiệm có kiểm soát là
việc thử nghiệm công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới có
tính đổi mới sáng tạo trong điều kiện thực tế với phạm vi được giới hạn, dưới
sự kiểm soát đặc biệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một số lĩnh vực
có khả năng mang lại giá trị, hiệu quả cao về kinh tế - xã hội mà pháp luật
chưa có quy định, chưa cho phép thực hiện hoặc quy định hiện hành của pháp luật
không còn phù hợp với đặc điểm, tính năng mới của công nghệ, sản phẩm, dịch vụ
hoặc mô hình kinh doanh được đề xuất thử nghiệm nhằm khuyến khích hoạt động đổi
mới sáng tạo và làm cơ sở để cơ quan nhà nước xem xét, đánh giá các rủi ro có
thể phát sinh trước khi quyết định đưa vào ứng dụng chính thức, qua đó xác định
cơ chế quản lý, điều chỉnh phù hợp.
Thử nghiệm có kiểm soát có thể
bị giới hạn về không gian địa lý triển khai thực hiện; về quy mô thử nghiệm; về
đối tượng được tham gia sử dụng công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, tham gia mô hình
kinh doanh được thử nghiệm (sau đây gọi là người dùng); về số lượng người dùng
hoặc các giới hạn cần thiết khác.
Thời hạn thực hiện thử nghiệm
có kiểm soát tối đa là 03 năm và có thể được gia hạn 01 lần không quá 03 năm.
2. Việc thử nghiệm có kiểm soát
được thực hiện dưới hình thức cho phép có thời hạn đối với các công nghệ, sản
phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mà pháp luật chưa có quy định, chưa cho phép
thực hiện hoặc cho phép có thời hạn và không áp dụng một số quy định của pháp
luật trong phạm vi giới hạn thử nghiệm đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch
vụ, mô hình kinh doanh đã có quy định của pháp luật nhưng không đủ cụ thể hoặc
không còn phù hợp.
3. Tổ chức, doanh nghiệp được
cho phép thử nghiệm có kiểm soát khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Công nghệ, sản phẩm, dịch vụ
hoặc mô hình kinh doanh được đề xuất thử nghiệm có tính đổi mới sáng tạo có
phạm vi ứng dụng, triển khai trên địa bàn Thành phố, ưu tiên đối với công nghệ,
sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh triển khai trong phạm vi khu công nghệ
cao, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Trung tâm đổi mới sáng tạo của Thành
phố;
b) Công nghệ, sản phẩm, dịch vụ
hoặc mô hình kinh doanh được đề xuất thử nghiệm có triển vọng mang lại giá trị,
hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, ưu tiên trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ
cao, lĩnh vực trọng điểm về khoa học và công nghệ của Thủ đô; không thuộc lĩnh
vực quốc phòng, an ninh quốc gia, biến đổi, chỉnh sửa gen người; không xâm phạm
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
c) Tổ chức, doanh nghiệp đề
xuất thử nghiệm có phương án thử nghiệm, trong đó có đánh giá về các lợi ích và
rủi ro đối với bên tham gia thử nghiệm, người dùng, các bên liên quan khác, đối
với an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tính cạnh tranh của thị trường;
cam kết trách nhiệm đối với sự an toàn của người dùng và bên có liên quan; các
biện pháp kiểm soát rủi ro; cơ chế giải quyết khiếu nại của người dùng; phạm vi
và các biện pháp bồi thường thiệt hại; đồng thời phải cung cấp thông tin, tài
liệu chứng minh năng lực phù hợp với phương án thử nghiệm đã đề xuất;
d) Phạm vi giới hạn thử nghiệm
được đề xuất phù hợp với năng lực kiểm soát của chính quyền Thành phố.
4. Việc cho phép và thực hiện
thử nghiệm có kiểm soát phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm bình đẳng giữa các
tổ chức, doanh nghiệp trong việc đề xuất, đăng ký, tham gia và thực hiện các
quyền, nghĩa vụ trong quá trình thử nghiệm;
b) Bảo đảm công khai, minh bạch
trong quá trình thử nghiệm; người dùng phải được thông tin đầy đủ về tình trạng
thử nghiệm, các rủi ro có thể phát sinh và các biện pháp bồi thường thiệt hại
nếu có; có cơ chế tiếp nhận, đánh giá và xử lý công khai, kịp thời ý kiến phản
hồi của tổ chức, doanh nghiệp thử nghiệm và người dùng trong quá trình thử
nghiệm;
c) Bảo đảm các yêu cầu về quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi của người dùng, lợi ích của
xã hội trong quá trình thử nghiệm;
d) Tổ chức, doanh nghiệp thử
nghiệm, cá nhân thực hiện thử nghiệm được miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt
hại gây ra cho Nhà nước, được loại trừ trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình
sự khi đã tuân thủ đúng và đầy đủ nội dung quy định trong quy chế thử nghiệm có
kiểm soát và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 7
Điều này, trừ trường hợp trong quá trình thử nghiệm đã biết hoặc buộc phải biết
về nguy cơ rủi ro nhưng không kịp thời thông tin, báo cáo cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và không áp dụng đầy đủ biện pháp phù hợp để ngăn ngừa, hạn chế mức
độ thiệt hại có thể xảy ra.
5. Tổ chức, doanh nghiệp thực
hiện thử nghiệm có kiểm soát được phép không áp dụng một số quy định của pháp
luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, về
điều kiện kinh doanh, trình tự, thủ tục cấp phép, bảo đảm điều kiện kinh doanh
và các quy định khác không phù hợp với đặc điểm, tính năng mới của công nghệ,
sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh được đề xuất thử nghiệm.
Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định phạm vi miễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với từng dự án
thử nghiệm cụ thể phù hợp với yêu cầu, mục đích thử nghiệm theo đề nghị của Ủy
ban nhân dân Thành phố trên cơ sở đánh giá về mức độ rủi ro và khả năng kiểm
soát.
6. Ủy ban nhân dân Thành phố có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quyết định, công bố danh mục
lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích đăng ký thực hiện thử nghiệm có kiểm soát;
b) Cho phép thử nghiệm và ban
hành quy chế thử nghiệm riêng cho từng công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô
hình kinh doanh mới được cho phép thử nghiệm; quyết định điều chỉnh phạm vi thử
nghiệm, gia hạn thử nghiệm, chấm dứt thử nghiệm;
c) Tổ chức hướng dẫn và kiểm
soát quá trình thử nghiệm;
d) Tham vấn Bộ, cơ quan ngang
Bộ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực liên quan đến nội dung
thử nghiệm về đối tượng, phạm vi đề xuất thử nghiệm có kiểm soát và các vấn đề
phát sinh trong quá trình thử nghiệm nếu thấy cần thiết.
Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách
nhiệm cho ý kiến đối với các nội dung mà Ủy ban nhân dân Thành phố có yêu cầu
tham vấn;
đ) Báo cáo Hội đồng nhân dân
Thành phố cho phép miễn áp dụng một số quy định của pháp luật để phục vụ yêu
cầu thử nghiệm theo quy định tại khoản 5 Điều này trước khi cho phép thử
nghiệm. Báo cáo về nội dung, phạm vi, đối tượng được miễn áp dụng quy định của
pháp luật đến cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định đó để theo dõi, phục vụ
yêu cầu quản lý nhà nước;
e) Hằng năm, báo cáo Chính phủ,
Hội đồng nhân dân Thành phố về tình hình và kết quả thực hiện các nội dung thử
nghiệm có kiểm soát do mình cho phép.
Báo cáo Chính phủ về kết quả
của từng dự án thử nghiệm tại thời điểm kết thúc dự án hoặc khi có đủ khả năng
để áp dụng chính thức, trong đó nêu rõ các lợi ích, rủi ro và yêu cầu quản lý
đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh được thử nghiệm đã
được làm rõ trong quá trình thử nghiệm; kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về lĩnh vực, nội dung có liên quan.
7. Cơ quan hướng dẫn, kiểm soát
quá trình thử nghiệm có quyền hạn và trách nhiệm sau đây:
a) Tham mưu xây dựng, bổ sung,
điều chỉnh các hướng dẫn thực hiện pháp luật cho hoạt động thử nghiệm;
b) Tiếp nhận, xem xét, giải đáp
các vướng mắc về pháp luật phát sinh trong quá trình thử nghiệm phù hợp với
thẩm quyền hoặc đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, giải quyết;
c) Kiểm tra thường xuyên, đột
xuất việc thử nghiệm; đánh giá việc áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro của
tổ chức, doanh nghiệp thử nghiệm trong quá trình thử nghiệm; kịp thời phát hiện
và ngăn ngừa các nguy cơ lạm dụng, vượt tầm kiểm soát trong quá trình thử
nghiệm;
d) Tiếp nhận, xem xét, giải
quyết trong phạm vi thẩm quyền hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền giải quyết
đối với các kiến nghị, phản ánh của người dùng hay của bên thứ ba về việc thử
nghiệm;
đ) Yêu cầu tổ chức, doanh
nghiệp thử nghiệm báo cáo, giải trình về các vấn đề phát sinh;
e) Yêu cầu tổ chức, doanh
nghiệp thử nghiệm bổ sung các biện pháp kiểm soát rủi ro; quyết định tạm dừng
thử nghiệm; đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định điều chỉnh phạm vi thử
nghiệm, gia hạn thử nghiệm, chấm dứt thử nghiệm;
g) Định kỳ hằng năm báo cáo Ủy
ban nhân dân Thành phố về tình hình và kết quả thực hiện các nội dung thử
nghiệm có kiểm soát mà mình được giao hướng dẫn, kiểm soát hoặc báo cáo đột
xuất khi có yêu cầu; báo cáo về kết quả thử nghiệm tại thời điểm kết thúc thử
nghiệm, trong đó nêu rõ các lợi ích, rủi ro và yêu cầu quản lý đối với công
nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh được thử nghiệm đã được làm rõ
trong quá trình thử nghiệm;
h) Cơ quan hướng dẫn, kiểm soát
quá trình thử nghiệm, cán bộ, công chức trực tiếp hướng dẫn, kiểm soát thử
nghiệm đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục, cơ chế
hướng dẫn, kiểm soát trong phạm vi trách nhiệm được giao, có động cơ trong
sáng, vì lợi ích chung thì được loại trừ trách nhiệm hoặc không xử lý trách
nhiệm theo quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp đã biết hoặc
buộc phải biết về nguy cơ rủi ro đối với quá trình thử nghiệm nhưng không áp
dụng đầy đủ biện pháp phù hợp để ngăn ngừa, hạn chế mức độ thiệt hại có thể xảy
ra.
8. Quy chế thử nghiệm riêng cho
từng công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh được Ủy ban nhân dân
Thành phố quyết định theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều này phải bao gồm các
nội dung cơ bản sau đây:
a) Tên gọi, nội dung công nghệ,
sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới được cho phép thử nghiệm có kiểm
soát;
b) Tổ chức, doanh nghiệp được
phép triển khai thử nghiệm;
c) Thời gian thực hiện thử
nghiệm;
d) Phạm vi giới hạn về không
gian địa lý, quy mô thử nghiệm, số lượng, phạm vi người dùng hoặc các giới hạn
cần thiết khác đối với nội dung thử nghiệm;
đ) Các quy định pháp luật mà tổ
chức, doanh nghiệp thử nghiệm được miễn thực hiện (nếu có);
e) Cơ quan chịu trách nhiệm
hướng dẫn, kiểm soát quá trình thử nghiệm;
g) Quyền hạn, trách nhiệm của
cơ quan hướng dẫn, kiểm soát quá trình thử nghiệm;
h) Quyền, nghĩa vụ và nội dung
cam kết trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp thử nghiệm;
i) Các yêu cầu, hướng dẫn cần
tuân thủ khác trong quá trình thử nghiệm.
9. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết về tiêu chí, điều kiện lựa chọn và trình tự, thủ tục cho
phép, điều chỉnh, gia hạn và chấm dứt việc thử nghiệm có kiểm soát; cơ chế
hướng dẫn, kiểm soát quá trình thử nghiệm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát.
10. Trên cơ sở báo cáo của Ủy
ban nhân dân Thành phố, Chính phủ có trách nhiệm tổ chức xem xét, đánh giá kết
quả, hiệu quả thực hiện các nội dung thử nghiệm có kiểm soát để quyết định theo
thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định ban hành mới, sửa đổi, bổ
sung pháp luật về lĩnh vực, nội dung có liên quan làm cơ sở cho việc áp dụng
chính thức công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh đã được thử nghiệm.
Điều 26.
Phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
1. Xây dựng hệ thống y tế Thủ
đô tiên tiến, hiện đại phù hợp với cơ cấu, quy mô dân số, địa bàn thực hiện,
đáp ứng toàn diện nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân, là trung tâm lớn về y tế
của cả nước và khu vực. Tập trung phát triển một số lĩnh vực tiếp cận trình độ
công nghệ thế giới. Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và năng lực của hệ
thống y tế dự phòng, y tế cơ sở, mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình.
Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện công lập và ngoài công lập.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định các nội dung sau đây:
a) Việc sử dụng ngân sách Thành
phố để hỗ trợ thanh toán một số dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình
chưa được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học
gia đình trên địa bàn Thành phố;
b) Việc sử dụng ngân sách Thành
phố để hỗ trợ thanh toán dịch vụ cấp cứu ngoại viện;
c) Mức giá dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh y học gia đình, mức giá dịch vụ cấp cứu ngoại viện chưa được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định theo pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và tỷ lệ
đồng chi trả của người bệnh khi sử dụng dịch vụ cấp cứu ngoại viện để làm cơ sở
thực hiện việc hỗ trợ thanh toán quy định tại điểm a và điểm b khoản này;
d) Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng,
phát triển nguồn nhân lực y tế thực hiện khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình, y
tế cơ sở, y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe nhân dân; hỗ trợ kinh phí đào tạo,
bồi dưỡng tại nước ngoài, cập nhật, chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ thuật
tiên tiến trong lĩnh vực y, dược, an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch bệnh, y
tế công cộng cho cơ sở y tế công lập của Thành phố.
3. Ủy ban nhân dân Thành phố có
trách nhiệm sau đây:
a) Quy định tiêu chí cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh chất lượng cao, hiện đại trong lĩnh vực y tế thuộc phạm vi quản
lý của Thành phố để được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định tại Điều
43 của Luật này;
b) Xác định lộ trình phát triển
và tổ chức, hoạt động của hệ thống cấp cứu ngoại viện trên địa bàn Thành phố
gồm Bệnh viện 115, Trung tâm điều phối cấp cứu, Trung tâm đào tạo cấp cứu và
mạng lưới cấp cứu, trạm cấp cứu 115 và các tổ cấp cứu ngoại viện của các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
c) Quy định việc đăng ký cung
cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình, quản lý hoạt động của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác có
phạm vi hoạt động chuyên môn về y học gia đình trên địa bàn Thành phố.
Điều 27.
Chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội
1. Xây dựng hệ thống chính sách
xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của Thủ đô bảo đảm đa dạng, toàn diện,
hiện đại, bền vững, bao phủ toàn dân; tạo điều kiện cho người dân tiếp cận tối
đa các dịch vụ xã hội thiết yếu về y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao,
trợ giúp xã hội, trợ giúp pháp lý, nước sạch, nhà ở xã hội, tiếp cận thông tin.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định các chính sách xã hội sau đây:
a) Bố trí ngân sách để hỗ trợ
giảm nghèo, giải quyết việc làm, vay mua nhà ở xã hội, hỗ trợ công nhân, người
lao động trong các khu công nghiệp vay mua nhà ở xã hội;
b) Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm
việc làm cho hộ dân tộc thiểu số nghèo sinh sống ở xã vùng dân tộc thiểu số và
miền núi làm nghề nông, lâm nghiệp trong trường hợp không bố trí được đất sản
xuất.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội sau đây:
a) Hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã
hội tự nguyện theo mức 100% đối với người thuộc hộ nghèo; tối thiểu là 60% đối
với người thuộc hộ cận nghèo; tối thiểu là 20% đối với các đối tượng khác;
b) Hỗ trợ 100% tiền đóng bảo
hiểm y tế đối với người khuyết tật, người thuộc hộ cận nghèo, người cao tuổi từ
70 tuổi trở lên; hỗ trợ đối với các đối tượng khác theo mức cao hơn mức quy
định hoặc cho đối tượng chưa được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên;
c) Hỗ trợ thực hiện chương
trình khám sức khỏe miễn phí hằng năm cho người cao tuổi trên địa bàn Thành
phố. Kinh phí thực hiện việc khám sức khỏe được bảo đảm thực hiện từ ngân sách
Thành phố, nguồn xã hội hóa theo lộ trình phù hợp.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định đối tượng, nội dung, mức hỗ trợ và trình tự, thủ tục thực hiện các
chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của Thành phố; từng bước mở
rộng phạm vi đối tượng thụ hưởng và bố trí ngân sách phù hợp với điều kiện thực
tiễn và khả năng cân đối của ngân sách Thành phố để thực hiện các nhiệm vụ quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 28.
Bảo vệ môi trường
1. Quản lý và bảo vệ môi trường
Thủ đô được thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững, phát triển kinh tế
tuần hoàn và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu gắn với việc duy trì các yếu
tố tự nhiên, đa dạng sinh học, văn hóa, lịch sử của Thủ đô; bảo đảm tỷ lệ không
gian xanh theo quy hoạch.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
có trách nhiệm sau đây:
a) Quy định tiêu chí, điều
kiện, trình tự, thủ tục xác định vùng phát thải thấp; quyết định phạm vi vùng
phát thải thấp và các biện pháp được áp dụng trong vùng theo lộ trình phù hợp;
b) Quyết định chính sách hỗ trợ
tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi phương tiện giao thông từ sử dụng nhiên
liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng sạch; quy định các biện pháp hạn chế sử
dụng phương tiện giao thông phát thải gây ô nhiễm môi trường; hỗ trợ đầu tư
phát triển hạ tầng giao thông sử dụng năng lượng sạch;
c) Quy định các biện pháp hỗ
trợ việc di dời các cơ sở sản xuất trong khu dân cư, cơ sở sản xuất thuộc
ngành, nghề không khuyến khích phát triển tại làng nghề ở nông thôn;
d) Quy định biện pháp giảm phát
thải nhựa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt trên địa
bàn Thành phố; quy định biện pháp hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động xử lý, sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng liên quan đến tái chế rác thải sử dụng
kỹ thuật hiện có tốt nhất.
Điều 29.
Phát triển nhà ở
1. Chương trình, kế hoạch phát
triển nhà ở trên địa bàn Thành phố phải phù hợp với Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch
chung Thủ đô; ưu tiên đầu tư xây dựng các khu đô thị, nhà ở, các khu nhà ở xã
hội độc lập theo hướng hiện đại, thuận tiện, đồng bộ với việc xây dựng hạ tầng
kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội.
2. Việc phát triển nhà ở xã hội
trên địa bàn Thành phố được thực hiện các quy định sau đây:
a) Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết
được lập đồng thời với việc lập đồ án quy hoạch chi tiết và tổ chức lấy ý kiến
cộng đồng dân cư có liên quan cùng một thời điểm; việc thẩm định, phê duyệt
nhiệm vụ quy hoạch chi tiết phải được thực hiện trước, làm cơ sở thẩm định, phê
duyệt đồ án quy hoạch chi tiết;
b) Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định sử dụng ngân sách Thành phố để đầu tư xây dựng các công trình hạ
tầng kỹ thuật khung, hạ tầng xã hội thiết yếu trong các dự án đầu tư xây dựng
nhà ở xã hội độc lập.
3. Trường hợp không lựa chọn
được chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư theo quy định của pháp
luật về nhà ở thì Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định thu hồi đất nhà chung
cư, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất sau
khi có từ hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất trong phạm vi
ranh giới dự án trở lên đồng thuận. Số tiền thu được từ việc đấu giá quyền sử
dụng đất lớn hơn số tiền chi cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tiếp
tục được phân chia và chi trả cho từng chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định cơ chế, chính sách, biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đối với dự án phát triển
nhà ở, nhà lưu trú bố trí cho người lao động làm việc tại khu công nghệ cao,
khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố.
5. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết Điều này.
Điều 30.
Phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông
Hội đồng nhân dân Thành phố quy
định các nội dung sau đây:
1. Chính sách đầu tư và huy
động nguồn lực để đầu tư xây dựng, phát triển, bảo trì, bảo dưỡng các công
trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình bảo đảm an toàn giao thông, chống ùn tắc
giao thông, các công trình ngầm công cộng trên địa bàn Thành phố;
2. Chính sách phát triển hệ
thống vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn; khuyến khích đầu tư xây
dựng, khai thác đường sắt đô thị, xe buýt, nhà ga, bến xe, bãi đỗ xe ô tô và sử
dụng các phương tiện giao thông phát thải thấp; hạn chế phương tiện giao thông
cá nhân vào khu vực trung tâm để giảm ùn tắc giao thông, giảm phát thải; áp
dụng phí giảm ùn tắc giao thông;
3. Chính sách phát triển đường
vành đai, trung tâm logistic, hệ thống giao thông công cộng trên địa bàn Thành
phố và kết nối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hoạt động liên
kết, phát triển vùng với Thủ đô;
4. Khuyến khích áp dụng công
nghệ cao trong quản lý, điều hành hệ thống giao thông vận tải;
5. Chính sách quản lý, khai
thác đường đô thị, đường sắt đô thị, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, văn
minh đô thị.
Điều 31.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng
1. Phát triển đô thị theo định
hướng giao thông công cộng (sau đây gọi là mô hình TOD) là giải pháp quy hoạch,
cải tạo, chỉnh trang và phát triển đô thị, lấy điểm kết nối giao thông đường
sắt đô thị hoặc điểm kết nối giao thông có sử dụng phương thức vận tải hành
khách công cộng khối lượng lớn khác làm điểm tập trung dân cư, kinh doanh dịch
vụ thương mại, văn phòng trong khoảng cách đi bộ đến phương tiện giao thông
công cộng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, công trình công cộng, sức khoẻ
cộng đồng, giảm phương tiện giao thông cơ giới cá nhân, giảm phát thải gây ô
nhiễm môi trường, kết hợp với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
Khu vực TOD là khu vực bao gồm
nhà ga, đề-pô đường sắt đô thị, điểm đón, trả khách của các loại hình vận tải
hành khách công cộng khối lượng lớn khác và vùng phụ cận được xác định theo quy
hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết có liên quan để xây dựng tuyến giao
thông, đường sắt đô thị kết hợp cải tạo, chỉnh trang đô thị, đầu tư phát triển
đô thị.
2.[22] Việc lập, quyết định, quản lý quy hoạch hệ thống đường
sắt đô thị, quy hoạch tuyến giao thông có sử dụng phương thức vận tải hành
khách công cộng khối lượng lớn khác và khu vực TOD được áp dụng các quy định
sau đây:
a) Trên cơ sở Quy hoạch Thủ đô
và Quy hoạch chung Thủ đô, Ủy ban nhân dân Thành phố được điều chỉnh chức năng
sử dụng các khu đất trong khu vực TOD để khai thác quỹ đất và giá trị tăng thêm
từ đất, phát triển các tuyến đường sắt đô thị, các phương thức vận tải hành
khách công cộng khác, phát triển đô thị trong khu vực TOD;
b) Trong khu vực TOD, Ủy ban
nhân dân Thành phố được quyết định áp dụng các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc, hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các yêu cầu về không gian và sử dụng đất khác
với quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn[23] bảo đảm phù hợp với Quy hoạch
chung Thủ đô;
c) Đối với khu vực đã có quy
hoạch phân khu hoặc tương đương đã được phê duyệt nhưng khi lập phương án tuyến
đường sắt đô thị, tuyến giao thông có sử dụng phương thức vận tải hành khách
công cộng khối lượng lớn khác hoặc khi lập quy hoạch khu vực TOD, cơ quan, tổ
chức được giao nhiệm vụ lập phương án tuyến, quy hoạch có đề xuất mới, khác nội
dung quy hoạch đã được phê duyệt thì trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét,
quyết định. Quyết định phê duyệt phương án tuyến đường sắt đô thị hoặc quy
hoạch chi tiết khu vực TOD có giá trị thay thế cho phần nội dung điều chỉnh cục
bộ quy hoạch khu vực có liên quan trong quy hoạch phân khu hoặc tương đương đã
được phê duyệt và không phải làm thủ tục điều chỉnh cục bộ đồ án quy hoạch đã
được phê duyệt trước đó.
3.[24] Việc đầu tư phát triển đường sắt đô thị tại Thành phố
được ưu tiên áp dụng mô hình TOD, bảo đảm hiện đại, đồng bộ, bền vững và được
áp dụng các quy định sau đây:
a) Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định chủ trương đầu tư dự án tuyến đường sắt đô thị theo mô hình TOD theo
phân kỳ đầu tư trong từng giai đoạn; quyết định việc tách nội dung bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập;
b) Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định đầu tư dự án tuyến đường sắt đô thị theo mô hình TOD, quyết định đầu
tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư các dự án thành phần, quyết định đầu tư dự
án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
c) Nội dung, trình tự, thủ tục,
thẩm quyền thẩm định các dự án quy định tại điểm a và điểm b khoản này được
thực hiện tương tự như dự án nhóm A thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh theo quy định của pháp luật về đầu tư công;
d) Ủy ban nhân dân Thành phố
được quyết định lựa chọn áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn cho các tuyến đường sắt
đô thị của Thành phố.
4. Trong khu vực TOD, Thành phố
được thu và sử dụng 100% tiền thu đối với các khoản thu sau đây để phát triển
hệ thống đường sắt đô thị, hệ thống giao thông công cộng, hạ tầng kỹ thuật kết
nối với hệ thống vận tải hành khách công cộng:
a) Tiền thu đối với diện tích
sàn xây dựng tăng thêm của các dự án xây dựng công trình dân dụng do việc tăng
hệ số sử dụng đất và các chỉ tiêu quy hoạch khác của khu vực TOD;
b) Tiền thu từ việc khai thác
giá trị tăng thêm từ đất trong khu vực TOD;
c) Phí cải thiện hạ tầng.
5. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết việc quản lý, vận hành, khai thác đường sắt đô thị và khu vực
TOD; phương pháp xác định mức thu, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc
thu tiền đối với các khoản thu quy định tại khoản 4 Điều này, bảo đảm không
trùng thu với các loại thuế, phí khác.
Điều 32.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn
1. Phát triển nông nghiệp Thủ
đô theo hướng nông nghiệp sinh thái, bền vững; chú trọng đến sự tương tác giữa
các yếu tố môi trường, kinh tế - xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn
hóa, lịch sử trong nông nghiệp, nông thôn; phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi
trường, hệ sinh thái, tạo ra các sản phẩm chất lượng, an toàn thực phẩm, hiệu
quả kinh tế cao.
Phát triển bền vững các vùng
sản xuất nông nghiệp tập trung. Trong vùng sản xuất nông nghiệp tập trung được
sử dụng đất kết hợp đa mục đích, được bố trí đất nông nghiệp sử dụng vào việc
xây dựng công trình phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, chế biến, bảo
quản, trưng bày, giới thiệu sản phẩm, giáo dục trải nghiệm, du lịch sinh thái.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định phạm vi, đối tượng, nội dung, mức hỗ trợ cao hơn mức quy định hoặc
chưa được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên trong các lĩnh
vực sau đây:
a) Giống, chuyển giao công nghệ
trong sản xuất giống;
b) Công nghệ bảo quản, chế biến
sản phẩm nông nghiệp;
c) Ứng dụng công nghệ cao trong
sản xuất nông nghiệp;
d) Phát triển nông nghiệp sinh
thái, nông nghiệp kết hợp du lịch, giáo dục trải nghiệm, nông nghiệp kết hợp
với các hoạt động thương mại, dịch vụ;
đ) Hoạt động bảo vệ môi trường
trong sản xuất, sơ chế, chế biến nông sản;
e) Phát triển các chuỗi liên
kết, chuỗi giá trị, thị trường tiêu thụ sản phẩm;
g) Phát triển kinh tế tập thể,
làng nghề, làng có nghề;
h) Đào tạo nguồn nhân lực trong
lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định các nội dung sau đây:
a) Hình thức sử dụng, khai thác
quỹ đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở tuyến sông có đê để sản xuất nông
nghiệp, sản xuất nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp kết hợp du lịch, giáo dục
trải nghiệm bảo đảm nguyên tắc việc xây dựng trên đất nông nghiệp tại bãi sông,
bãi nổi ở tuyến sông có đê phải phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến
sông có đê, quy hoạch đê điều, quy hoạch theo pháp luật về quy hoạch đô thị và
nông thôn[25], quy hoạch khác có
liên quan;
b) Điều kiện, trình tự, thủ tục
cấp phép xây dựng, loại công trình và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp được sử
dụng để xây dựng công trình trên đất nông nghiệp phục vụ trực tiếp cho sản xuất
nông nghiệp, chế biến, bảo quản, trưng bày, giới thiệu sản phẩm, cảnh quan du
lịch, giáo dục trải nghiệm tại các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung.
4. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định cho phép sử dụng quỹ đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở tuyến
sông có đê, cấp phép xây dựng công trình tại các vùng sản xuất nông nghiệp tập
trung theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều 33.
Biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
1. Việc xử phạt vi phạm hành
chính trên địa bàn Thành phố được áp dụng các quy định sau đây:
a) Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định mức tiền phạt cao hơn nhưng không quá 02 lần mức tiền phạt chung do
Chính phủ quy định và không vượt quá mức phạt tối đa theo quy định của pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính đối với một số hành vi vi phạm hành chính
tương ứng trong các lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, đất đai, xây dựng, phòng cháy,
chữa cháy, an toàn thực phẩm, giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố;
b) Người có thẩm quyền phạt
tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định trong các
lĩnh vực quy định tại điểm a khoản này có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức
tiền phạt cao hơn do Hội đồng nhân dân Thành phố quy định đối với các hành vi
vi phạm trong lĩnh vực đó.
2. Trong trường hợp thật cần
thiết để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp được áp dụng biện pháp yêu cầu ngừng cung cấp dịch
vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh sau đây:
a) Công trình xây dựng sai quy
hoạch, công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng đối với trường hợp theo
quy định phải có giấy phép hoặc xây dựng sai với nội dung trong giấy phép xây
dựng; công trình xây dựng sai với thiết kế xây dựng được phê duyệt đối với
trường hợp được miễn giấy phép xây dựng;
b) Công trình xây dựng trên đất
bị lấn, chiếm theo quy định của pháp luật về đất đai;
c)[26] Công trình xây dựng thuộc diện phải thẩm duyệt hoặc
thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy nhưng được tổ chức thi công khi
chưa có giấy chứng nhận hoặc văn bản thẩm duyệt hoặc văn bản thẩm định thiết kế
về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan quản lý chuyên ngành;
d)[27] Công trình thi công không đúng theo thiết kế về phòng
cháy, chữa cháy đã được thẩm duyệt hoặc thẩm định;
đ)[28] Công trình xây dựng, phần công trình xây dựng, hạng mục
công trình xây dựng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa có văn bản chấp
thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan quản lý chuyên
ngành mà đã đưa vào hoạt động;
e) Cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ
trường, kinh doanh dịch vụ ka-ra-ô-kê (karaoke) không bảo đảm các điều kiện an
toàn về phòng cháy, chữa cháy;
g) Công trình thuộc trường hợp
phải phá dỡ và đã có quyết định di dời khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền.
3. Người cung cấp dịch vụ điện,
nước có trách nhiệm ngừng cung cấp dịch vụ ngay khi có yêu cầu của người có
thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này bảo đảm đúng phạm vi, đối tượng, thời
hạn. Quyền ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước của người cung cấp dịch vụ điện,
nước trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này phải được thông báo cho
người sử dụng dịch vụ và thể hiện trong hợp đồng sử dụng dịch vụ điện, nước.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết trường hợp áp dụng, thẩm quyền áp dụng và việc thực hiện biện
pháp yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều này.
Chương IV
TÀI CHÍNH, NGÂN SÁCH VÀ
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ
Điều 34.
Huy động nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô
1. Trường hợp ngân sách trung
ương tăng thu so với dự toán từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung
ương với ngân sách Thành phố, ngân sách trung ương trích 30% của số tăng thu để
thưởng cho ngân sách Thành phố, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức
thực hiện thu năm trước.
2. Ngân sách trung ương bổ sung
có mục tiêu cho ngân sách Thành phố toàn bộ số tăng thu ngân sách trung ương từ
các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố so với
dự toán Thủ tướng Chính phủ giao sau khi đã thực hiện thưởng vượt dự toán các
khoản thu quy định tại khoản
1 Điều này và số tăng thu từ
các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% trên địa bàn so với dự toán Thủ
tướng Chính phủ giao, trừ các khoản sau đây:
a) Thuế giá trị gia tăng thu từ
hàng hóa nhập khẩu;
b) Thuế tài nguyên, thuế thu
nhập doanh nghiệp, lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác từ hoạt
động thăm dò, khai thác dầu, khí;
c) Viện trợ không hoàn lại của
Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước
ngoài cho Chính phủ Việt Nam;
d) Thu từ bán tài sản công, kể
cả thu tiền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn
vị thuộc trung ương quản lý;
đ) Thu từ tài sản được xác lập
quyền sở hữu toàn dân do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương xử lý;
e) Các khoản thu hồi vốn của
ngân sách trung ương đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ tức, lợi nhuận được
chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 02 thành viên trở lên có
vốn góp của Nhà nước do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau
khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương đại diện chủ sở hữu; chênh lệch
thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
g) Thu từ quỹ dự trữ tài chính
trung ương;
h) Thu kết dư ngân sách trung
ương;
i) Thu chuyển nguồn từ năm
trước chuyển sang của ngân sách trung ương;
k) Khoản thu không giao cho
Thành phố quản lý thu, không phát sinh trên địa bàn Thành phố mà chỉ hạch toán
nộp ở Thành phố;
l) Các khoản thu đã được cấp có
thẩm quyền cho phép sử dụng cho nhiệm vụ chi cụ thể;
m) Các khoản hạch toán ghi thu,
ghi chi và các khoản thu được để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách nhà nước
theo quy định của pháp luật.
3. Khoản bổ sung có mục tiêu
của ngân sách trung ương cho ngân sách Thành phố quy định tại khoản 2 Điều này
không vượt quá tổng số tăng thu ngân sách trung ương trên địa bàn so với thực
hiện thu năm trước và bảo đảm ngân sách trung ương không hụt thu. Việc xác định
số bổ sung có mục tiêu trên cơ sở tổng các khoản thu, không tính riêng từng
khoản thu.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
được quyết định áp dụng trên địa bàn một số loại phí, lệ phí chưa được quy định
trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí; điều chỉnh mức
hoặc tỷ lệ thu phí, lệ phí đã được cấp có thẩm quyền quyết định đối với các
loại phí, lệ phí được quy định trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo
Luật Phí và lệ phí, trừ án phí, lệ phí Tòa án và các loại phí, lệ phí thuộc
khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%.
Việc thu phí, lệ phí trên địa
bàn Thành phố quy định tại khoản này phải có lộ trình; phù hợp với khả năng và
yêu cầu phát triển của Thành phố; tạo môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi
cho doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngành, nghề ưu đãi
đầu tư; không gây ra tiêu cực, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
bảo đảm sự thống nhất của thị trường, không cản trở lưu thông hàng hóa, dịch
vụ; thực hiện điều tiết hợp lý đối với một số hàng hóa, dịch vụ và nguồn thu
nhập hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên địa bàn Thành phố; bảo đảm công khai,
minh bạch, cải cách hành chính nhà nước.
5. Ngân sách Thành phố được
hưởng 100% số thu tăng thêm từ các khoản thu do việc điều chỉnh chính sách phí,
lệ phí quy định tại khoản 4 Điều này để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế
- xã hội và chi hoạt động kinh tế, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường,
giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và an sinh xã hội, phúc lợi xã hội thuộc
nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố; các khoản thu này không dùng để xác định
tỷ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và
ngân sách Thành phố.
6. Ủy ban nhân dân Thành phố
được vay thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các tổ
chức tài chính trong nước, các tổ chức khác trong nước, nguồn vay nước ngoài
của Chính phủ vay về cho Thành phố vay lại và từ nguồn trái phiếu Chính phủ
phát hành với tổng mức dư nợ vay không vượt quá 120% số thu ngân sách Thành phố
được hưởng theo phân cấp.
Ủy ban nhân dân Thành phố chịu
trách nhiệm thực hiện đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ liên quan đến khoản vay
lại.
Hằng năm, trong quá trình chấp
hành ngân sách nhà nước, Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định cụ thể mức vay,
nguồn vay trong nước, nguồn vay nước ngoài của Chính phủ vay về cho Thành phố
vay lại, nguồn trái phiếu Chính phủ phát hành nhưng phải bảo đảm trong tổng mức
vay và mức bội chi ngân sách Thành phố đã được Quốc hội quyết định, Thủ tướng
Chính phủ giao.
Trường hợp cần huy động vốn vay
lớn hơn 120% số thu ngân sách Thành phố được hưởng theo phân cấp để thực hiện
dự án trọng điểm của Thành phố, Ủy ban nhân dân Thành phố báo cáo Chính phủ xem
xét trình Quốc hội quyết định.
7. Ngân sách Thành phố được giữ
lại toàn bộ phần ngân sách trung ương được hưởng theo tỷ lệ phân chia các khoản
thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất thuộc thẩm quyền quản lý của Thành phố
để tập trung tạo nguồn lực ưu tiên hỗ trợ di dời các cơ quan, đơn vị, cơ sở
thuộc danh mục phải di dời quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật
này và hỗ trợ thực hiện các dự án trọng điểm của Thủ đô.
8. Khoản thu từ giao dịch tín
chỉ các-bon từ các chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ
các-bon sử dụng ngân sách Thành phố là khoản thu ngân sách Thành phố hưởng
100%; khoản thu này không dùng để xác định tỷ lệ phần trăm đối với các khoản
thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố.
Điều 35.
Sử dụng nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô
1. Hội đồng nhân dân Thành phố
được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quyết định sử dụng nguồn cải
cách tiền lương còn dư sau khi đã bảo đảm đủ nguồn để thực hiện cải cách tiền
lương cho cả thời kỳ ổn định ngân sách theo quy định của cấp có thẩm quyền và
bảo đảm các chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội do trung ương
ban hành để thực hiện chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức
theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này; tổng mức chi
không vượt quá 0,8 lần quỹ lương cơ bản của cán bộ, công chức, viên chức thuộc
phạm vi quản lý của Thành phố;
b) Quyết định sử dụng nguồn cải
cách tiền lương còn dư của ngân sách Thành phố và cho phép ngân sách cấp dưới
sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách địa phương, thực hiện
chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý
của Thành phố theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và các chính sách xã
hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội sau khi đã bảo đảm đủ nguồn để thực hiện
cải cách tiền lương cho cả thời kỳ ổn định ngân sách;
c) Quyết định sử dụng ngân sách
Thành phố để hỗ trợ di dời, xây dựng mới, bố trí đất cho đối tượng thuộc danh
mục phải di dời quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật này đã
có quyết định di dời hoặc tự nguyện di dời;
d) Quyết định sử dụng ngân sách
Thành phố để hỗ trợ các cơ quan trung ương thực hiện các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn
Thành phố, hỗ trợ các địa phương khác trong nước hoặc hỗ trợ quốc gia khác
trong trường hợp cần thiết; cho phép đơn vị hành chính cấp huyện sử dụng ngân
sách cấp mình để hỗ trợ đơn vị hành chính cấp huyện khác của Thành phố và các
đơn vị hành chính cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác
trong việc phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ an sinh xã hội, phúc lợi xã hội;
đ) Quyết định sử dụng ngân sách
Thành phố để thực hiện dự án đầu tư, công trình, dự án có tính chất liên kết,
phát triển vùng giữa Thủ đô với địa phương khác, dự án quốc lộ, đường cao tốc
đi qua địa bàn Thành phố phù hợp với quy hoạch;
e) Quy định chế độ, tiêu chuẩn,
định mức chi đối với các nhiệm vụ chi sử dụng ngân sách Thành phố cao hơn mức
quy định hoặc chưa được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện chính sách xã
hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã
hội của Thủ đô phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách Thành phố.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định tạm ứng từ Quỹ dự trữ tài chính của Thành phố để thực hiện các dự án
đầu tư đã có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, đã có quyết định phê duyệt
dự án và thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố trong trường hợp cần đẩy
nhanh tiến độ thực hiện; trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định bố trí dự
toán vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách Thành phố hằng năm cho các dự án này để
thu hồi vốn tạm ứng, hoàn trả Quỹ dự trữ tài chính theo quy định của pháp luật.
Thời gian tạm ứng mỗi khoản từ
Quỹ dự trữ tài chính tối đa là 36 tháng kể từ ngày tạm ứng; tổng các khoản tạm
ứng tại một thời điểm không quá 50% số dư Quỹ dự trữ tài chính tính đến ngày 31
tháng 12 năm trước.
3. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có
sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của chính quyền Thành phố được
sử dụng kinh phí chi thường xuyên theo quy trình, thủ tục áp dụng đối với kinh
phí chi thường xuyên theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước để thực
hiện các dự án nâng cấp, cải tạo, mở rộng, xây dựng mới các hạng mục trong các
cơ sở, công trình, tài sản công hiện có; thực hiện việc lập, thẩm định, phê
duyệt quy hoạch đô thị và nông thôn[29],
quy chế quản lý kiến trúc thuộc trách nhiệm tổ chức lập của Ủy ban nhân dân
Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc Thành phố.
4. Đơn vị sự nghiệp công lập
thuộc phạm vi quản lý của Thành phố được sử dụng Quỹ phát triển hoạt động sự
nghiệp để mua sắm, sửa chữa nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy trình, thủ tục áp dụng đối với kinh phí chi thường
xuyên theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
5. Ủy ban nhân dân Thành phố
quy định chi tiết việc sử dụng kinh phí quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều
này.
Điều 36.
Đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước
1. Thành phố Hà Nội được thí
điểm thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư vốn
vào các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong các lĩnh vực trọng điểm về khoa học và công
nghệ của Thủ đô nhằm hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản
phẩm khoa học, công nghệ.
Quỹ đầu tư mạo hiểm được bố trí
vốn điều lệ từ ngân sách Thành phố, được nhận tài trợ, huy động các nguồn vốn
hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn
của Quỹ đầu tư mạo hiểm được thực hiện theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận
khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, chống thất thoát, lãng
phí vốn.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố
xây dựng đề án thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm trình Hội đồng nhân dân Thành phố
phê duyệt, trong đó xác định rõ hình thức tổ chức hoạt động của Quỹ; thời gian
hoạt động của Quỹ; mức hỗ trợ vốn điều lệ từ ngân sách Thành phố; phương thức
đầu tư, đối tượng hợp tác, nhận vốn đầu tư; cơ chế đánh giá, kiểm soát rủi ro,
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, vận hành Quỹ đầu
tư mạo hiểm của Thành phố.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố phê
duyệt đề án, quy định cơ chế tổ chức hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm, trách
nhiệm kiểm tra, giám sát, báo cáo kết quả thực hiện. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định thành lập Quỹ, ban hành điều lệ, quy chế đầu tư của Quỹ đầu tư mạo
hiểm.
Điều 37.
Thẩm quyền về đầu tư
1. Dự án trọng điểm của Thủ đô
là dự án có quy mô lớn, có vai trò tạo động lực, sức lan tỏa, kết nối để thực
hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi
trường của Thủ đô, có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội của Thủ
đô, các địa phương có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô và cả
nước. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định danh mục dự án trọng điểm của Thủ
đô.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư công, dự án đầu tư theo
phương thức đối tác công tư (sau đây gọi là dự án PPP) thuộc thẩm quyền theo
quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư theo phương thức đối
tác công tư và các dự án đầu tư công, dự án PPP sau đây không sử dụng nguồn vốn
ngân sách trung ương trên địa bàn Thành phố:
a)[30] Dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị theo mô
hình TOD không giới hạn tổng mức vốn đầu tư, bao gồm cả trường hợp sử dụng đất
có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ 02 vụ trở lên với quy
mô từ 500 ha trở lên, di dân tái định cư từ 50.000 người trở lên;
b)[31] Dự án đầu tư công, dự án PPP không giới hạn tổng mức
vốn đầu tư công, trừ dự án quy định tại điểm a khoản này, dự án ảnh hưởng lớn
đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, dự án sản xuất chất
độc hại, chất nổ thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng
Chính phủ và các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban
nhân dân Thành phố theo quy định của pháp luật về đầu tư công và đầu tư theo
phương thức đối tác công tư.
3.[32] Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu
tư dự án đầu tư công, dự án PPP trên địa bàn Thành phố có sử dụng nguồn vốn
ngân sách trung ương, sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nước ngoài
thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ
trong trường hợp được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định điều chỉnh
chủ trương đầu tư các dự án đầu tư công, dự án PPP đã được Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư và giao Ủy ban nhân dân Thành phố làm cơ
quan chủ quản thực hiện dự án trong trường hợp không làm tăng nguồn vốn đầu tư
từ ngân sách trung ương, nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nước ngoài.
4. Ủy ban nhân dân Thành phố
chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án theo quy định của Luật Đầu tư,
Luật Công nghệ cao và các dự án sau đây:
a) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở
để bán, cho thuê, cho thuê mua, khu đô thị có quy mô sử dụng đất từ 300 ha đến
dưới 500 ha hoặc quy mô dân số từ 50.000 người trở lên, trừ dự án thuộc thẩm
quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội;
b) Dự án đầu tư xây dựng và
kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
5. Ủy ban nhân dân Thành phố
quyết định đầu tư dự án đầu tư công, phê duyệt dự án PPP đã được Hội đồng nhân
dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
này; quyết định lựa chọn áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong nước và
nước ngoài; quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, định
mức chi phí, đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước
trong các lĩnh vực, phương thức thực hiện, phương thức thanh toán khác với quy
định hoặc chưa được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phù
hợp với tình hình thực tế, đặc điểm và nhu cầu xây dựng, phát triển Thủ đô; tổ
chức thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi
trường, cấp giấy phép môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định
đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân Thành phố.
6. Hội đồng nhân dân Thành phố quy
định chi tiết trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ
trương đầu tư đối với các dự án quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này;
trình tự, thủ tục thực hiện quy định tại khoản 5 Điều này.
Điều 38.
Tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập
1. Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của Thành phố, khi quyết định chủ trương đầu tư dự án quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 37 của Luật này, dự án tổng thể có quy
mô dự án nhóm B, nhóm C theo quy định của pháp luật về đầu tư công, có quyền
quyết định tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập;
quyết định mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, địa điểm đầu tư
của dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2. Căn cứ chủ trương đầu tư dự
án tổng thể, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Thành phố quyết định đầu tư dự
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Quyết định đầu tư là căn cứ để
bố trí vốn kế hoạch đầu tư công hằng năm, đồng thời là căn cứ để cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Thành phố ban hành thông báo thu hồi đất, quyết định thu
hồi đất.
Trường hợp điều chỉnh dự án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư phát sinh yếu tố phải điều chỉnh chủ trương đầu tư
dự án tổng thể, cơ quan có thẩm quyền của Thành phố thực hiện điều chỉnh chủ
trương đầu tư dự án tổng thể trước khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền điều chỉnh dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Việc điều chỉnh chủ
trương đầu tư dự án tổng thể và điều chỉnh dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư thực hiện theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư công
và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Trình tự, thủ tục thực hiện
dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại khoản 1 Điều này được thực
hiện theo tiêu chí, trình tự, thủ tục đối với dự án đầu tư công theo quy định
của pháp luật về đầu tư công.
Điều 39.
(được bãi bỏ)[33]
Điều 40.
(được bãi bỏ)[34]
Điều 41.
Quản lý, sử dụng tài sản công và khai thác công trình hạ tầng
1. Cơ quan, tổ chức đang được giao
quản lý, sử dụng công trình, hạng mục công trình là tài sản công quy định tại
khoản 2 Điều này trên địa bàn Thành phố được ký hợp đồng nhượng quyền khai
thác, quản lý với nhà đầu tư, doanh nghiệp để khai thác công trình, hạng mục
công trình trong một thời gian nhất định.
2. Công trình, hạng mục công
trình hạ tầng được nhượng quyền khai thác, quản lý bao gồm:
a) Công trình, hạng mục công
trình hạ tầng văn hóa, thể thao;
b) Công trình kiến trúc có giá
trị.
3. Hội đồng quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố, Trung tâm Đổi mới sáng
tạo Quốc gia hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đối với nơi không tổ
chức Hội đồng quản lý được quyết định sử dụng tài sản công thuộc phạm vi quản
lý trên địa bàn Thành phố vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên
kết trong trường hợp sử dụng tài sản công để cung cấp các dịch vụ cho các hoạt
động công nghệ cao, cung cấp thiết bị dùng chung, cung cấp không gian làm việc,
nghiên cứu, ươm tạo, thử nghiệm và trình diễn công nghệ để hỗ trợ các hoạt động
công nghệ cao, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hoặc
trong các trường hợp được quy định tại pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản
công phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố
có trách nhiệm sau đây:
a) Quyết định danh mục công
trình, hạng mục công trình quy định tại khoản 2 Điều này thuộc phạm vi quản lý
của Thành phố được nhượng quyền khai thác, quản lý; quy định nguyên tắc, điều
kiện, nội dung, cơ chế tài chính, trình tự, thủ tục thực hiện việc nhượng quyền
khai thác, quản lý công trình, hạng mục công trình thuộc phạm vi quản lý của
Thành phố; nguyên tắc, điều kiện, nội dung, cơ chế tài chính, trình tự, thủ tục
lập, lấy ý kiến, quyết định đề án sử dụng tài sản công thuộc phạm vi quản lý
của Thành phố vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết;
b) Quy định biện pháp bảo vệ,
giữ gìn, tu bổ công trình, hạng mục công trình thuộc phạm vi quản lý của Thành
phố trong quá trình nhượng quyền khai thác, quản lý và kinh doanh, cho thuê,
liên doanh, liên kết.
5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, cơ quan khác ở trung ương quyết định danh mục công trình, hạng
mục công trình thuộc phạm vi quản lý của cơ quan mình được nhượng quyền khai
thác, quản lý; quy định nguyên tắc, điều kiện, nội dung, cơ chế tài chính,
trình tự, thủ tục và biện pháp bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác công trình,
hạng mục công trình thực hiện nhượng quyền khai thác, quản lý quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này.
6. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu
tư quy định nguyên tắc, điều kiện, nội dung, cơ chế tài chính, trình tự, thủ
tục lập, lấy ý kiến, quyết định đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh
doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết quy định tại khoản 3 Điều này đối với
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
Điều 42.
Thu hút nhà đầu tư chiến lược
1. Danh mục ngành, nghề ưu tiên
thu hút nhà đầu tư chiến lược của Thủ đô bao gồm:
a) Đầu tư xây dựng đô thị vệ
tinh; phát triển đường sắt đô thị, giao thông công cộng khối lượng lớn nội vùng
và liên vùng; phát triển khu công nghệ cao, xử lý ô nhiễm môi trường;
b) Công nghiệp chế tạo, sản
xuất mạch tích hợp bán dẫn, chế tạo linh kiện, vi mạch điện tử tích hợp (IC),
điện tử linh hoạt (PE), chip bán dẫn, pin công nghệ mới, vật liệu mới, năng
lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo phát triển và chế tạo hệ thống
đầu máy, toa xe, thông tin tín hiệu, điều khiển đường sắt, điều khiển giao
thông đô thị, thành phố thông minh, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;
c) Phát triển trung tâm đổi mới
sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D); nghiên cứu và hỗ trợ
chuyển giao công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu mới, năng lượng sạch.
2. Nhà đầu tư chiến lược là nhà
đầu tư đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Thực hiện dự án đầu tư thuộc
danh mục quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Chứng minh được năng lực về
tài chính, công nghệ và kinh nghiệm đầu tư dự án trong lĩnh vực tương tự có quy
mô vốn tương đương với quy mô dự án thu hút nhà đầu tư chiến lược;
c) Có cam kết bằng văn bản về
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, về việc nội địa hóa, cam kết về thực hiện
dự án đầu tư đúng mục tiêu theo danh mục ngành, nghề ưu tiên thu hút nhà đầu tư
chiến lược của Thủ đô; đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi
trường theo quy định của pháp luật Việt Nam.
3. Căn cứ các dự án thuộc danh
mục ngành, nghề quy định tại khoản 1 Điều này, nhà đầu tư hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đề xuất dự án đầu tư. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định
đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định của Luật này, quy
định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư
theo phương thức đối tác công tư.
4. Đối với dự án đầu tư không
thuộc diện phải thực hiện thủ tục lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của Luật
Đầu tư, dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư mà cơ quan có thẩm
quyền chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư không thông
qua đấu giá quyền sử dụng đất và dự án thuộc trường hợp phải đấu thầu lựa chọn
nhà đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư thì việc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư
chiến lược để thực hiện các dự án quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện
theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Căn cứ quyết định chấp thuận
chủ trương đầu tư dự án quy định tại khoản 3 Điều này, cơ quan đăng ký đầu tư
có thẩm quyền của Thành phố công bố thông tin dự án, yêu cầu sơ bộ về năng lực,
kinh nghiệm của nhà đầu tư và điều kiện xác định nhà đầu tư chiến lược trên hệ
thống mạng đấu thầu quốc gia;
b) Căn cứ nội dung thông tin
được công bố quy định tại điểm a khoản này, nhà đầu tư chuẩn bị và nộp hồ sơ
đăng ký thực hiện dự án. Hồ sơ đăng ký thực hiện dự án của nhà đầu tư bao gồm
văn bản đăng ký thực hiện dự án; hồ sơ về tư cách pháp lý, năng lực, kinh
nghiệm của nhà đầu tư; các tài liệu chứng minh việc đáp ứng điều kiện quy định
tại khoản 2 Điều này và tài liệu khác có liên quan (nếu có);
c) Hết thời hạn đăng ký thực
hiện dự án, cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền của Thành phố tổ chức đánh giá
sơ bộ năng lực, kinh nghiệm của các nhà đầu tư đã nộp hồ sơ đăng ký thực hiện
dự án. Căn cứ kết quả đánh giá sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm, Ủy ban nhân dân
Thành phố quyết định việc tổ chức thực hiện theo một trong các trường hợp quy
định tại các điểm d, đ và e khoản này;
d) Trường hợp chỉ có 01 nhà đầu
tư đăng ký và đáp ứng yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm hoặc có nhiều nhà
đầu tư đăng ký nhưng chỉ có 01 nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu sơ bộ về năng lực,
kinh nghiệm thì chấp thuận nhà đầu tư đó theo quy định của pháp luật về đầu tư;
đ) Trường hợp có từ 02 nhà đầu
tư trở lên đáp ứng yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm, trong đó chỉ có 01
nhà đầu tư được xác định đáp ứng điều kiện đối với nhà đầu tư chiến lược quy
định tại điểm a khoản này thì chấp thuận nhà đầu tư đó theo quy định của pháp
luật về đầu tư;
e) Trường hợp có từ 02 nhà đầu
tư trở lên đáp ứng yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm, trong đó có từ 02
nhà đầu tư trở lên được xác định đáp ứng điều kiện đối với nhà đầu tư chiến
lược quy định tại điểm a khoản này thì áp dụng pháp luật về đấu thầu để tổ chức
lựa chọn nhà đầu tư trong số các nhà đầu tư được xác định đáp ứng điều kiện đối
với nhà đầu tư chiến lược;
g) Ủy ban nhân dân Thành phố
quy định chi tiết về mẫu công bố thông tin dự án thu hút nhà đầu tư chiến lược
bao gồm yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư; hồ sơ đăng ký
thực hiện dự án.
5. Nhà đầu tư chiến lược được
lựa chọn theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 4 Điều này để thực hiện dự
án đầu tư thuộc danh mục ngành, nghề ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược quy
định tại khoản 1 Điều này được hưởng các ưu đãi đầu tư quy định tại khoản 5 Điều 43 của Luật này.
6. Trong quá trình thực hiện,
nhà đầu tư chiến lược không đáp ứng điều kiện về vốn, tiến độ giải ngân, các
điều kiện khác đối với nhà đầu tư chiến lược và không thực hiện đúng cam kết
với Thành phố thì không được hưởng ưu đãi quy định tại Luật này. Nhà đầu tư
chiến lược, cá nhân hoặc tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư có trách nhiệm
liên đới bồi thường cho Thành phố các khoản đã được nhận ưu đãi hơn so với nhà
đầu tư khác, đồng thời phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về các
hậu quả phát sinh do không thực hiện đúng cam kết của mình.
7. Hội đồng nhân dân Thành phố
quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển
của Thủ đô.
Điều 43.
Ưu đãi đầu tư
1. Các dự án đầu tư trên địa
bàn Thành phố được ưu đãi bao gồm:
a) Dự án đầu tư mới vào lĩnh
vực thể thao và các ngành công nghiệp văn hóa bao gồm quảng cáo, kiến trúc,
phần mềm và các trò chơi giải trí, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, xuất
bản, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, truyền
hình và phát thanh, du lịch văn hóa, văn hóa ẩm thực theo danh mục chi tiết do
Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định;
b) Dự án đầu tư thành lập mới
cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục chất lượng cao, cơ sở giáo dục có nhiều
cấp học; cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông tại các vùng khó khăn
về kinh tế - xã hội; cơ sở đào tạo người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn;
c) Dự án đầu tư thành lập mới
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chất lượng cao, hiện đại; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
tại các vùng khó khăn về kinh tế - xã hội;
d) Dự án đầu tư vào cơ sở trợ
giúp xã hội ngoài công lập, các cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện, cơ sở cung
cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;
đ) Dự án hoạt động công nghệ
cao, công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
trong các lĩnh vực trọng điểm về khoa học và công nghệ của Thủ đô;
e) Dự án sử dụng công nghệ cao,
tiên tiến trong lĩnh vực môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, xử lý chất thải,
nước thải; dự án xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, dự án nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, dự án phát triển làng nghề truyền thống.
2. Nhà đầu tư khi đầu tư vào
các dự án quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 1 Điều này được hưởng các
ưu đãi sau đây:
a) Được miễn tiền thuê đất,
thuê mặt nước 10 năm và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước cho thời gian còn
lại.
Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng
tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo được giảm 50% tiền thuê mặt bằng sản xuất, kinh doanh tại các
trung tâm đổi mới sáng tạo của Thành phố;
b) Được áp dụng mức thuế suất
5% thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
trong thời gian 04 năm và giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong 09 năm tiếp
theo.
Thời gian miễn thuế, giảm thuế
đối với thu nhập của doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới quy định tại khoản
này được tính từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư.
3. Các doanh nghiệp có hoạt
động đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực trọng
điểm về khoa học và công nghệ của Thủ đô được hưởng các ưu đãi sau đây:
a) Miễn thuế thu nhập doanh
nghiệp trong thời hạn 05 năm từ thời điểm phát sinh thuế thu nhập phải nộp đối
với thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và các tổ
chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát sinh trên địa bàn
Thành phố;
b) Miễn thuế thu nhập cá nhân,
thuế thu nhập doanh nghiệp của các cá nhân, tổ chức có khoản thu nhập từ chuyển
nhượng vốn góp, quyền góp vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên địa
bàn Thành phố;
c) Miễn một số tiêu chí đánh
giá hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất về năng lực, kinh nghiệm
của nhà thầu khi tham gia đấu thầu các gói thầu của Thành phố, bao gồm yêu cầu
về doanh thu, nguồn lực tài chính, hợp đồng tương tự và các yêu cầu khác để phù
hợp với đặc thù của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Khi đánh giá, xếp hạng hồ sơ dự
thầu, hồ sơ đề xuất, nhà thầu là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoạt động
trên địa bàn Thành phố được tính ưu đãi như đối với trường hợp nhà thầu cung
cấp hàng hóa có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ từ 25% trở lên theo quy
định của pháp luật về đấu thầu; cách tính ưu đãi thực hiện theo quy định của
pháp luật;
d) Miễn thuế thu nhập cá nhân
trong thời hạn 05 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các chuyên
gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo làm
việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức khoa học và công nghệ,
trung tâm đổi mới sáng tạo và các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo trên địa bàn Thành phố.
4. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào
các dự án quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng các ưu đãi sau đây:
a) Miễn tiền sử dụng đất khi
thành lập, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ các hoạt động
của cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập, các cơ sở cai nghiện ma túy tự
nguyện, cơ sở cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng
đồng;
b) Hỗ trợ lãi suất vay vốn
trong 05 năm đầu thành lập theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố;
c) Tiền ủng hộ, tài trợ của các
tổ chức, doanh nghiệp cho các hoạt động tư vấn, tuyên truyền, phòng, chống ma
túy, cai nghiện ma túy, phát triển các mô hình mới về cai nghiện ma túy, quản
lý sau cai nghiện và tiền khuyến khích, động viên cho các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống ma túy được tính là chi
phí hợp pháp của doanh nghiệp khi hạch toán.
Tiền ủng hộ, tài trợ của các cá
nhân cho các hoạt động tư vấn, tuyên truyền, phòng, chống ma túy, cai nghiện ma
túy, phát triển các mô hình mới về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện và
tiền khuyến khích, động viên cho các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công
tác phòng, chống ma túy được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế đối với cá nhân
cư trú tại Thành phố.
5. Nhà đầu tư chiến lược được
lựa chọn theo quy định tại Điều 42 của Luật này được hưởng
các ưu đãi sau đây:
a) Miễn tiền thuê đất, thuê mặt
nước 10 năm và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước cho thời gian còn lại đối
với cá nhân, tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư thuộc trường hợp quy định
tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 42 của Luật này;
b) Hưởng chế độ ưu tiên về thủ
tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan và thủ tục về thuế theo
quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của dự án
đầu tư do nhà đầu tư chiến lược thực hiện trên địa bàn Thành phố khi đáp ứng
các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật về hải quan và
thuế, trừ điều kiện về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu;
c) Hỗ trợ phát triển nhân lực;
hạ tầng và các công trình hạ tầng xã hội; chi phí hỗ trợ cho các sản phẩm công
nghệ cao; nghiên cứu và phát triển;
d) Ưu đãi, hỗ trợ khác do Hội
đồng nhân dân Thành phố quyết định để đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong thu hút
nhà đầu tư chiến lược.
6. Tổ chức, cá nhân đầu tư xây
dựng các dự án bãi đỗ xe ngầm, bãi đỗ xe cao tầng được hưởng các ưu đãi sau
đây:
a) Miễn tiền thuê đất, tiền sử
dụng không gian ngầm trong toàn bộ thời hạn thực hiện dự án;
b) Hỗ trợ 100% tiền thuế nhập
khẩu phải nộp đối với các thiết bị, dây chuyền phục vụ trực tiếp cho dự án xây
dựng bãi đỗ xe ngầm, bãi đỗ xe cao tầng sử dụng công nghệ cao;
c) Được phép sử dụng tối đa là
25% tổng diện tích sàn xây dựng của dự án theo quy hoạch để đầu tư, khai thác
dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động trông, giữ xe;
d) Hỗ trợ lãi suất vay vốn
trong 05 năm đầu theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
Chương V
LIÊN KẾT, PHÁT TRIỂN
VÙNG
Điều 44.
Mục tiêu, nguyên tắc liên kết, phát triển vùng
1. Thành phố Hà Nội và các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng động lực phía Bắc có trách nhiệm
liên kết, phát triển theo các chương trình, dự án phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống quy hoạch quốc gia.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm,
động lực thúc đẩy liên kết, phát triển, là cực tăng trưởng của vùng Thủ đô,
vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng động lực phía
Bắc và của cả nước.
2. Việc liên kết, phát triển
vùng giữa thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc
vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng
động lực phía Bắc phải bảo đảm nguyên tắc sau đây:
a) Tuân thủ Hiến pháp, Luật Thủ
đô và các luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định liên quan đến cơ chế, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của vùng;
b) Đồng thuận, bình đẳng, công
khai, minh bạch;
c) Thực hiện phối hợp, liên kết
phát triển thông qua kế hoạch, chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
d) Việc chủ trì tổ chức thực
hiện kế hoạch, chương trình, dự án được giao cho địa phương có nhiệm vụ, quyền
hạn có liên quan hoặc chịu tác động nhiều nhất đến lĩnh vực, nhiệm vụ cần phối
hợp, liên kết.
Điều 45.
Chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng
1. Chương trình, dự án liên
kết, phát triển vùng là chương trình, dự án được triển khai trên địa bàn từ 02
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, trong đó có thành phố Hà Nội,
thuộc danh mục dự án trong Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành quốc
gia, có quy mô lớn, có vai trò tạo động lực, sức lan tỏa và kết nối phát triển
kinh tế - xã hội cho vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, vùng động lực phía Bắc.
2. Việc đề xuất chương trình,
dự án liên kết, phát triển vùng được thực hiện như sau:
a) Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương có liên quan báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp
xem xét, đồng thuận về việc thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển
vùng và đề nghị giao 01 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện
chương trình, dự án và chịu trách nhiệm làm đầu mối trong việc triển khai
chương trình, dự án;
b) Căn cứ văn bản đồng thuận
của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và của Hội đồng nhân dân các địa phương
có liên quan, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đại diện các địa phương thực
hiện việc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc giao 01 Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện chương trình, dự án.
Điều 46.
Nguồn vốn đầu tư chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng
1. Ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương ưu tiên bố trí để triển khai thực hiện chương trình, dự án liên
kết, phát triển vùng có sử dụng ngân sách nhà nước, trong đó:
a) Ngân sách trung ương ưu tiên
bố trí toàn bộ hoặc một phần cho chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng
nhưng tỷ trọng ngân sách trung ương không thấp hơn so với ngân sách của các địa
phương;
b) Ưu tiên bố trí từ nguồn tăng
thu ngân sách trung ương cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong
vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng
động lực phía Bắc để bảo đảm đầu tư các chương trình, dự án liên kết, phát
triển vùng trước các chương trình, nhiệm vụ, dự án khác.
Trường hợp có nguồn vốn ngân
sách trung ương bố trí cho chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng do địa
phương làm chủ đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền giao bổ sung có mục tiêu cho Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh được giao làm cơ quan chủ quản thực hiện chương trình, dự
án để triển khai thực hiện.
2. Ưu tiên huy động nguồn vốn
ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài để thực hiện chương trình,
dự án liên kết, phát triển vùng.
3. Trường hợp cần thiết, Hội
đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có chương trình, dự án
liên kết, phát triển vùng thống nhất việc sử dụng ngân sách địa phương này hỗ
trợ địa phương khác để thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng
theo khả năng cân đối ngân sách địa phương.
4. Ưu tiên tổng hợp các chương
trình, dự án liên kết, phát triển vùng vào danh mục dự án kêu gọi đầu tư của
các chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia.
5. Chương trình, dự án liên
kết, phát triển vùng được đầu tư toàn bộ từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước
được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 2 Điều 43 của Luật
này.
6. Thủ tướng Chính phủ quyết
định danh mục chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng được hỗ trợ từ ngân
sách trung ương quy định tại khoản 1 Điều này theo đề nghị của Ủy ban nhân dân
thành phố Hà Nội.
Điều 47.
Trách nhiệm của Bộ, ngành và các địa phương tham gia vào chương trình, dự án
liên kết, phát triển vùng
1. Chính quyền thành phố Hà
Nội, chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham gia
vào chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng động lực phía Bắc có trách nhiệm sau
đây:
a) Phối hợp, huy động nguồn lực
để thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng; bảo đảm việc bố trí
vốn và tổ chức thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng theo
đúng tiến độ được phê duyệt; quản lý, duy tu, bảo trì đối với phần công trình
thuộc chương trình, dự án sau khi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng trên địa bàn
của địa phương mình;
b) Ưu tiên bố trí ngân sách địa
phương cùng ngân sách trung ương triển khai thực hiện chương trình, dự án liên
kết, phát triển vùng trên địa bàn của địa phương mình.
2. Chính quyền thành phố Hà Nội
có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
thuộc vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ,
vùng động lực phía Bắc đề xuất, triển khai thực hiện chương trình, dự án liên
kết phát triển vùng trong từng lĩnh vực.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có
trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các địa phương, báo cáo Chính phủ trình Quốc
hội bảo đảm cân đối ngân sách triển khai thực hiện chương trình, dự án liên
kết, phát triển vùng giữa thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương thuộc vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm
Bắc bộ, vùng động lực phía Bắc.
Chương VI
GIÁM SÁT, KIỂM TRA,
THANH TRA VÀ TRÁCH NHIỆM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, QUẢN LÝ, BẢO VỆ THỦ ĐÔ
Điều 48.
Trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và
đại biểu Quốc hội
1. Quốc hội quyết định ngân
sách đặc thù cho Thủ đô quy định tại khoản 6 Điều 34 của Luật
này; giám sát tối cao việc thi hành và định kỳ 03 năm xem xét báo cáo của
Chính phủ về việc thi hành Luật Thủ đô.
2. Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban
của Quốc hội, trong quá trình thẩm tra dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc
hội, có trách nhiệm xem xét, cho ý kiến về việc xác định cụ thể nội dung thực
hiện hoặc không thực hiện theo quy định của Luật Thủ đô, nội dung thực hiện theo
quy định của dự án, dự thảo đó.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu
Quốc hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thi hành
Luật Thủ đô.
4. Trong trường hợp cần thiết,
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu Ủy ban nhân dân Thành phố báo cáo
về việc thi hành Luật Thủ đô.
Điều 49.
Trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
1. Chính phủ có trách nhiệm sau
đây:
a) Ban hành mới hoặc sửa đổi,
bổ sung cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền để giải quyết những bất cập phát
sinh trong thực tiễn xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô; xem xét,
quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành
phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ ngoài
các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật này;
b) Hướng dẫn, kiểm tra, thanh
tra việc thi hành pháp luật về Thủ đô; xử lý vi phạm theo quy định của pháp
luật;
c) Chỉ đạo các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương phối hợp với Ủy ban nhân dân Thành phố và các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô thực hiện
quy định của pháp luật về Thủ đô; rà soát, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với năng lực quản lý của Thành phố;
d) Định kỳ 03 năm báo cáo Quốc
hội kết quả thi hành Luật Thủ đô.
2. Thủ tướng Chính phủ có trách
nhiệm sau đây:
a) Xem xét, quyết định phân
cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn
thuộc phạm vi thẩm quyền của mình phù hợp với năng lực quản lý của Thành phố;
b) Chỉ đạo các Bộ, cơ quan
ngang Bộ phối hợp với Ủy ban nhân dân Thành phố trong việc đơn giản hóa, rút
ngắn trình tự, thủ tục nội bộ giữa các cơ quan và thủ tục hành chính, xử lý các
vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật về Thủ đô;
c) Hằng năm, làm việc với Ủy
ban nhân dân Thành phố, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hoạt động
liên kết, phát triển vùng với Thủ đô và các Bộ, ngành có liên quan để đánh giá
kết quả thi hành pháp luật về Thủ đô.
Điều 50.
Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
1. Chủ trì, phối hợp với chính
quyền Thành phố trong việc xây dựng chiến lược phát triển ngành, quy hoạch
ngành, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến xây dựng,
phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô; xem xét, quyết định việc phân cấp, ủy
quyền cho Ủy ban nhân dân Thành phố, cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác
thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thuộc phạm vi
thẩm quyền của mình ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật này.
2. Khi xây dựng dự án luật, dự
thảo nghị quyết của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm rà soát, đối
chiếu với quy định của Luật Thủ đô, xác định cụ thể nội dung thực hiện theo quy
định của Luật Thủ đô hoặc nội dung cần thực hiện theo luật, nghị quyết đó. Cơ
quan thẩm định, thẩm tra văn bản có trách nhiệm xem xét, cho ý kiến về nội dung
này trong dự án, dự thảo.
3. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm
tra, thanh tra các nội dung thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ngành
mình; giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết các
vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành
pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực.
4. Chủ động phối hợp với Ủy ban
nhân dân Thành phố khi triển khai xây dựng, thực hiện các chương trình, dự án
đầu tư trên địa bàn Thành phố để bảo đảm quản lý thống nhất theo quy hoạch.
5. Tuân thủ nghiêm trách nhiệm
di dời trụ sở theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 51.
Trách nhiệm của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hoạt động liên
kết, phát triển vùng với Thủ đô
1. Xây dựng chương trình, kế
hoạch để phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên
quan và các tỉnh, thành phố có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô
theo quy định của Luật này.
2. Phối hợp với các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và các tỉnh, thành phố có hoạt
động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô nghiên cứu, đề xuất chương trình, dự
án trọng điểm của Thủ đô, chương trình, dự án trọng điểm về liên kết, phát
triển vùng.
3. Cân đối nguồn vốn ngân sách
địa phương để triển khai thực hiện các công trình, dự án hạ tầng kinh tế - xã
hội trọng điểm về liên kết, phát triển vùng trên địa bàn.
4. Xây dựng và cung cấp, cập
nhật thông tin, dữ liệu về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội theo quy định của Luật này và công bố thông tin về các ngành, lĩnh vực
trọng điểm của tỉnh, thành phố có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ
đô; phối hợp xây dựng kế hoạch hợp tác giữa các địa phương trong từng chương
trình, dự án liên kết, phát triển vùng quy định tại Điều 45 của
Luật này.
5. Ban hành cơ chế, chính sách
nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, các biện pháp nhằm khuyến khích,
hỗ trợ các thành phần kinh tế và thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào
các chương trình, dự án trọng điểm của Thủ đô, chương trình, dự án trọng điểm
về liên kết, phát triển vùng.
6. Phối hợp giám sát, kiểm tra,
thanh tra việc thực hiện các quy định về liên kết, phát triển vùng.
Điều 52.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và Nhân dân Thủ đô
1. Xây dựng, phát triển Thủ đô
văn hiến, văn minh, hiện đại, tiêu biểu cho cả nước.
2. Chủ động, tích cực mở rộng
quan hệ, hợp tác hữu nghị với thủ đô các nước, tranh thủ các nguồn lực bên
ngoài để xây dựng, phát triển Thủ đô; tăng cường đối ngoại nhân dân, tạo điều
kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, người dân Thủ đô tham gia các hoạt động
giao lưu và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo
dục, khoa học và công nghệ.
3. Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp của Thành phố, trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Kịp thời ban hành văn bản
quy định chi tiết các điều, khoản, điểm được giao trong Luật Thủ đô, quy định
biện pháp tổ chức thực hiện Luật Thủ đô theo thẩm quyền;
b) Đôn đốc, thanh tra, kiểm
tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Luật Thủ đô thuộc phạm vi quản lý
và chịu trách nhiệm về những vi phạm, yếu kém xảy ra trong công tác xây dựng,
phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô;
c) Công khai, minh bạch, tăng
cường trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện các quy định của Luật
này; bảo đảm quyền của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
được biết, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
quy định của Luật này;
d) Tổ chức và bảo đảm việc thi
hành pháp luật về Thủ đô; quyết định những vấn đề của Thành phố trong phạm vi
được phân quyền, phân cấp, ủy quyền theo quy định của Luật này và quy định khác
của pháp luật có liên quan.
đ) Tăng cường thanh tra, kiểm
tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân
phường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường bảo đảm yêu cầu về kiểm soát quyền lực.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Giám sát việc thi hành Luật
Thủ đô;
b) Định kỳ xem xét báo cáo của
Ủy ban nhân dân Thành phố về việc thực hiện Luật Thủ đô.
5. Ủy ban nhân dân Thành phố,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Bảo đảm an toàn, thuận lợi
cho hoạt động của các cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và cho việc tổ chức
các chương trình, sự kiện quốc gia, quốc tế trên địa bàn Thành phố; phối hợp
với cơ quan, tổ chức có liên quan bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan trung
ương, các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước;
b) Chủ động phối hợp và hỗ trợ
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng
sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng động lực phía Bắc và cả nước
thông qua việc mở rộng các hình thức liên kết, hợp tác cùng phát triển;
c) Tạo điều kiện để cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia có hiệu quả vào quá trình xây dựng, phát triển, quản lý
và bảo vệ Thủ đô;
d) Tham gia ý kiến về các dự án
luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội có quy định liên quan đến các chính sách,
cơ chế đặc thù quy định tại Luật này;
đ) Đề xuất việc áp dụng quy định
trong các luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu
lực thi hành có nội dung khác với quy định của Luật Thủ đô do việc áp dụng quy
định đó sẽ thuận lợi hơn cho việc xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ
đô, báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố cho ý kiến trước khi báo cáo đề nghị
Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định theo quy định tại
khoản 2 Điều 4 của Luật này;
e) Định kỳ 03 năm tổ chức sơ
kết, báo cáo Chính phủ về việc thực hiện Luật Thủ đô; báo cáo Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về việc thi hành Luật Thủ đô khi có yêu cầu.
6. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam các cấp của Thành phố và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm
sau đây:
a) Giám sát việc thực hiện
chính sách, pháp luật về Thủ đô; giám sát việc thực hiện các nội dung được phân
cấp, ủy quyền theo quy định của Luật này;
b) Phản biện xã hội đối với các
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật mà Luật này giao Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân Thành phố ban hành;
c) Phối hợp chặt chẽ với các cấp
chính quyền và huy động sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa
bàn Thành phố trong việc xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô.
7. Cán bộ, công chức, viên chức
của Thủ đô phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ; gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
hướng dẫn, tạo điều kiện cho người dân thực hiện đúng quy định của pháp luật.
8. Nhân dân Thủ đô có trách
nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia xây dựng chính quyền,
nếp sống văn minh, thanh lịch, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Thủ
đô.
Chương
VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH [35]
Điều 53.
Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Các quy định sau đây của
Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025:
a) Việc quản lý, sử dụng không
gian ngầm quy định tại Điều 19 của Luật này;
b) Việc thành lập khu phát
triển thương mại và văn hóa quy định tại khoản 7 Điều 21 của
Luật này;
c) Việc phát triển khoa học và
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quy định tại Điều 23
của Luật này;
d) Việc thử nghiệm có kiểm soát
quy định tại Điều 25 của Luật này;
đ) Việc thực hiện hợp đồng xây
dựng - chuyển giao quy định tại Điều 40 của Luật này.
3. Luật Thủ đô số 25/2012/QH13,
Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội thí điểm tổ
chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, Nghị quyết số
160/2021/QH14 ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Quốc hội thí điểm bố trí chức danh
đại biểu hoạt động chuyên trách của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, Nghị
quyết số 115/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội về thí điểm một số
cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với thành phố Hà Nội hết
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
Điều 54.
Quy định chuyển tiếp
1. Cán bộ, công chức cấp xã
được bầu hoặc tuyển dụng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được chuyển
thành cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức thuộc biên chế
hành chính được giao hằng năm cho cấp huyện để tiếp tục làm việc tại vị trí
đang công tác; trường hợp chuyển sang vị trí việc làm mới thì phải bảo đảm tiêu
chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và phù hợp với vị trí việc làm
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Văn bản do Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân phường ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2021 nếu chưa
được cơ quan có thẩm quyền thay thế hoặc bãi bỏ thì vẫn được áp dụng.
Trường hợp văn bản của Hội đồng
nhân dân phường, văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân phường ban hành
trước ngày 01 tháng 7 năm 2021 mà không còn phù hợp thì Hội đồng nhân dân quận,
thị xã, thành phố thuộc Thành phố bãi bỏ văn bản của Hội đồng nhân dân phường;
Ủy ban nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố bãi bỏ văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân phường theo đề nghị của Ủy ban nhân dân phường.
3. Kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, không phải thực hiện phân loại đô thị, rà soát tiêu chí phân loại
đô thị đối với đô thị loại đặc biệt khi làm thủ tục điều chỉnh địa giới đơn vị
hành chính hoặc thực hiện mở rộng nội thành để thành lập quận, phường của Thành
phố.
4. Cơ quan, đơn vị, cơ sở phải
thực hiện việc di dời trụ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và điểm b khoản 3
Điều 15 của Luật Thủ đô số 25/2012/QH13 đã hoàn thành đầu tư xây dựng tại địa
điểm mới mà chưa bàn giao quỹ đất tại địa điểm phải di dời cho Ủy ban nhân dân
Thành phố thì phải thực hiện bàn giao trước ngày 31 tháng 12 năm 2025 để quản lý,
sử dụng theo quy định của Luật này.
Cơ quan, đơn vị, cơ sở phải
thực hiện việc di dời theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và điểm b khoản 3 Điều
15 của Luật Thủ đô số 25/2012/QH13 đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
phương án di dời, phương án sử dụng quỹ đất sau di dời trước ngày Luật này được
thông qua thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã được phê duyệt.
Kể từ ngày Luật này được thông
qua, cơ quan, đơn vị, cơ sở phải thực hiện việc di dời theo quy định tại khoản
1 Điều 9 và điểm b khoản 3 Điều 15 của Luật Thủ đô số 25/2012/QH13 chưa được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt phương án di dời, phương án sử dụng quỹ đất sau di
dời thì thực hiện theo quy định của Luật này.
5. Các công trình ngầm, phần
ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất đã được xây dựng hoặc có giấy phép
xây dựng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không phải làm thủ tục
xin cấp phép và trả tiền sử dụng không gian ngầm quy định tại khoản
2 Điều 19 của Luật này.
Việc cải tạo, xây dựng lại công
trình ngầm, phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất đã có; điều chỉnh
giấy phép xây dựng làm thay đổi việc sử dụng không gian ngầm sau ngày Luật này
có hiệu lực thi hành phải được cấp phép và trả tiền sử dụng không gian ngầm
theo quy định của Luật này.
6. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ
sử dụng ngân sách Thành phố và các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm
của Thủ đô, chương trình, dự án trọng điểm về liên kết, phát triển vùng được
phê duyệt hoặc ký hợp đồng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa
được nghiệm thu, hoàn thành thì được áp dụng các quy định của Luật này.
7. Doanh nghiệp, nhà thầu, cơ
quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài quy định tại
điểm c khoản 3 Điều 24 của Luật này đã được cơ quan có thẩm
quyền chấp thuận việc sử dụng người lao động nước ngoài hoặc cấp giấy phép lao
động cho người nước ngoài làm việc tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc trước ngày
Luật này có hiệu lực thi hành thì được lựa chọn báo cáo việc thay đổi nhu cầu
sử dụng lao động nước ngoài hoặc thực hiện thủ tục cấp lại, gia hạn giấy phép
lao động cho người nước ngoài tại Ban Quản lý khu công nghệ cao hoặc cơ quan có
thẩm quyền đã chấp thuận, cấp giấy phép lao động.
8. Đối với hợp đồng cung cấp dịch vụ điện, nước
trên địa bàn Thành phố đã được giao kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, các bên tham gia hợp đồng có trách nhiệm bổ sung hợp đồng hoặc phụ lục
hợp đồng để thể hiện nội dung liên quan đến việc ngừng cung cấp dịch vụ điện,
nước khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản
3 Điều 33 của Luật này.
9. Việc điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư,
chấp thuận chủ trương đầu tư dự án thuộc trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 37 của Luật này đã được quyết định chủ
trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành do cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Luật này
quyết định.
10. Đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết
định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân Thành phố theo
quy định của Luật này, nếu thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi
trường và báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đã được gửi đến cơ
quan có thẩm quyền thẩm định trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc
thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
tiếp tục được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ đề
nghị thẩm định; nếu thuộc đối tượng phải có giấy phép môi trường và hồ sơ đề
nghị cấp giấy phép môi trường đã được gửi đến cơ quan có thẩm quyền cấp giấy
phép trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc xem xét, thẩm định, cấp
giấy phép môi trường tiếp tục được thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục
theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép.
|
|
XÁC THỰC VĂN
BẢN HỢP NHẤT
|
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Quy
hoạch đô thị và nông thôn.”.
Luật Phòng cháy, chữa cháy và
cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.”.
Luật số 57/2024/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo đối tác
công tư và Luật Đấu thầu có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 15/2023/QH15, Luật số 16/2023/QH15, Luật số
28/2023/QH15, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 35/2024/QH15, Luật số 38/2024/QH15
và Luật số 43/2024/QH15; Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 72/2020/QH14, Luật số 03/2022/QH15, Luật số
05/2022/QH15, Luật số 08/2022/QH15, Luật số 09/2022/QH15, Luật số 20/2023/QH15,
Luật số 26/2023/QH15, Luật số 27/2023/QH15, Luật số 28/2023/QH15, Luật số
31/2024/QH15, Luật số 33/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15; Luật Đầu tư theo
phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 03/2022/QH15, Luật số 28/2023/QH15, Luật số 35/2024/QH15;
Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15.”.
Luật Đầu tư công số
58/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Đầu
tư công.”.
Luật Tổ chức chính quyền địa
phương số 65/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tổ
chức chính quyền địa phương.”.
Luật Công nghiệp công nghệ số
số 71/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Công
nghiệp công nghệ số.”.
Luật Tổ chức chính quyền địa
phương số 72/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tổ
chức chính quyền địa phương.”.
Luật Đường sắt số 95/2025/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Đường sắt.”.
[2]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[3]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 của
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16
tháng 6 năm 2025.
[4]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[5]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 102 của Luật Đầu tư
công số 58/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[6]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con dấu
khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm 2025.
[7]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[8]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[9]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 52 của
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16
tháng 6 năm 2025.
[10]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 52 của
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16
tháng 6 năm 2025.
[11]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[12]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[13]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[14]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[15]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; nội dung liên quan đến chế độ trách
nhiệm, việc bảo đảm điều kiện thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con
dấu khi thực hiện phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6 năm
2025.
[16]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 52 của
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16
tháng 6 năm 2025.
[17]
Cụm từ “quy hoạch chung xây dựng khu chức năng” được thay thế bằng cụm từ “quy
hoạch chung khu chức năng” theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 57 của Luật
Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[18]
Cụm từ “pháp luật về xây dựng, pháp luật về quy hoạch đô thị” được thay thế
bằng cụm từ “pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn” theo quy định tại điểm
b khoản 6 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19]
Cụm từ “khu công nghệ thông tin tập trung” được thay thế bằng cụm từ “khu công
nghệ số tập trung” theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 49 của Luật Công
nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[20]
Cụm từ “quy hoạch phân khu xây dựng” được thay thế bằng cụm từ “quy hoạch phân
khu theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn” theo quy định tại điểm c
khoản 6 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[21]
Cụm từ “quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết xây dựng” được thay thế bằng
cụm từ “quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết theo pháp luật về quy hoạch đô
thị và nông thôn” theo quy định tại điểm d khoản 6 Điều 57 của Luật Quy hoạch
đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[22] Việc
phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội được áp
dụng theo quy định của Luật Đường sắt số 95/2025/QH15 mà không phải thực hiện
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 37
của Luật Thủ đô, được quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Đường sắt số
95/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[23]
Cụm từ “quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng” được thay thế bằng
cụm từ “quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn” theo quy
định tại điểm đ khoản 6 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số
47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[24]
Việc phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội được
áp dụng theo quy định của Luật Đường sắt số 95/2025/QH15 mà không phải thực
hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31, điểm a khoản 2 và khoản 3
Điều 37 của Luật Thủ đô, được quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Đường sắt
số 95/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[25]
Cụm từ “quy hoạch xây dựng” được thay thế bằng cụm từ “quy hoạch theo pháp luật
về quy hoạch đô thị và nông thôn” theo quy định tại điểm e khoản 6 Điều 57 của
Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[26]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 53 của Luật Phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[27]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 53 của Luật Phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[28]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 53 của Luật Phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[29]
Cụm từ “quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng” được thay thế bằng cụm từ “quy
hoạch đô thị và nông thôn” theo quy định tại điểm g khoản 6 Điều 57 của Luật
Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[30]
Việc phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội được
áp dụng theo quy định của Luật Đường sắt số 95/2025/QH15 mà không phải thực
hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31, điểm a khoản 2 và khoản 3
Điều 37 của Luật Thủ đô, được quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Đường sắt
số 95/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[31]
Điểm này được sửa đổi theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 102 của Luật Đầu tư
công số 58/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[32]
Việc phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội được
áp dụng theo quy định của Luật Đường sắt số 95/2025/QH15 mà không phải thực
hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31, điểm a khoản 2 và khoản 3
Điều 37 của Luật Thủ đô, được quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Đường sắt
số 95/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[33]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật số 57/2024/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo
đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2025.
[34]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật số 57/2024/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo
đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2025.
[35] Điều 58 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số
47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 58. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Luật Quy hoạch đô thị số
30/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 77/2015/QH13,
Luật số 35/2018/QH14, Luật số 40/2019/QH14, Luật số 61/2020/QH14 và Điều 29 của
Luật số 35/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.
Điều 54 của Luật Phòng cháy,
chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025 quy định như sau:
“Điều 54. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
2. Luật Phòng cháy và chữa
cháy số 27/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
40/2013/QH13 và Luật số 30/2023/QH15 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 55 của Luật này.
3. Nghị quyết số
99/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy hết
hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
4. Việc trang bị thiết bị
truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa
cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy theo lộ trình quy định tại khoản 5
Điều 20 và điểm c khoản 1 Điều 23 của Luật này được thực hiện chậm nhất từ ngày
01 tháng 7 năm 2027.”.
Khoản 2 Điều 5 của Luật số
57/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật
Đầu tư theo đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng
01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 5. Điều khoản thi
hành
2. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 15 tháng 01 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản
4 Điều này.”.
Các khoản 1, 2 và 3 Điều 102
của Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025 quy định như sau:
“Điều 102. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
2. Luật Đầu tư công số
39/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 64/2020/QH14, Luật số
72/2020/QH14, Luật số 03/2022/QH15, Luật số 27/2023/QH15 và Luật số
38/2024/QH15 (sau đây gọi là Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14) hết hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 103 của Luật này.
3. Đối với các địa phương
thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù hoặc áp dụng mô hình chính
quyền đô thị, thực hiện theo quy định của Luật này và Nghị quyết của Quốc hội.
Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và Nghị quyết của Quốc hội về
cùng một vấn đề thì việc áp dụng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.”.
Điều 49 của Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 65/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025
quy định như sau:
“Điều 49. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 50
của Luật này.
2. Tổ chức chính quyền đô
thị ở Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hải Phòng tiếp tục
thực hiện theo Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Quốc
hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số
98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế,
chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số
136/2024/QH15 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô
thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng
và Nghị quyết số 169/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về tổ
chức chính quyền đô thị tại thành phố Hải Phòng.
Ủy ban nhân dân quận ở đơn
vị hành chính không tổ chức cấp chính quyền địa phương tại Thành phố Hồ Chí
Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hải Phòng thực hiện thêm nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại điểm i khoản 1 Điều 18 của Luật này.
3. Tổ chức chính quyền đô
thị ở thành phố Hà Nội thực hiện theo quy định của Luật Thủ đô.
Bãi bỏ khoản 5 Điều 14 của
Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
47/2024/QH15, Luật số 55/2024/QH15, Luật số 57/2024/QH15 và Luật số
58/2024/QH15. Nội dung liên quan đến chế độ trách nhiệm, việc bảo đảm điều kiện
thực hiện, việc sử dụng hình thức văn bản, con dấu khi thực hiện phân cấp, ủy
quyền thực hiện theo quy định của Luật này.
4. Luật Tổ chức chính quyền
địa phương số 77/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
21/2017/QH14, Luật số 47/2019/QH14, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 34/2024/QH15,
Luật số 43/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15 và Luật số 58/2024/QH15 hết hiệu lực
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 3
Điều 50 của Luật này.”.
Điều 50 và Điều 51 của Luật
Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2026 quy định như sau:
“Điều 50. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Các điều 11, 28 và 29 của
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
3. Trường hợp có quy định
khác nhau về cùng một vấn đề giữa Luật này với luật, nghị quyết khác của Quốc
hội thì áp dụng quy định của Luật này. Trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp
luật khác có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Luật này thì
đối tượng được ưu đãi được áp dụng mức ưu đãi có lợi nhất.
Điều 51. Quy định chuyển
tiếp
1. Khu công nghệ thông tin
tập trung đã được quy hoạch, thành lập, công nhận, mở rộng, đang hoạt động theo
quy định của pháp luật được tự động chuyển thành khu công nghệ số tập trung và
thực hiện theo quy định tại Luật này.
2. Trong thời gian luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
chưa được sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 02 năm từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, giao Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh để giải
quyết khó khăn, vướng mắc cho phát triển công nghiệp công nghệ số được quy định
tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội để thống nhất áp dụng, định kỳ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
trường hợp liên quan đến luật, nghị quyết của Quốc hội thì báo cáo Quốc hội tại
kỳ họp gần nhất.”.
Điều 51 và Điều 53 của Luật Tổ
chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 6
năm 2025 quy định như sau:
“Điều 51. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày được thông qua.
2. Luật Tổ chức chính quyền
địa phương số 65/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành.
3. Hội đồng nhân dân, các cơ
quan thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các cơ
quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã
(sau đây gọi chung là cấp huyện) kết thúc hoạt động từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
Điều 53. Tổ chức chính
quyền địa phương tại phường thuộc thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và
thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2021 - 2026
1. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025, chính quyền địa phương tại các phường hình thành trên cơ sở sắp xếp các
phường thuộc thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng đang
thực hiện mô hình chính quyền đô thị theo quy định của Luật Thủ đô, Nghị quyết
số 131/2020/QH14 ngày 16 tháng 11 năm 2020 và Nghị quyết số 136/2024/QH15 ngày
26 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân phường.
Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân phường được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này.
2. Đại biểu Hội đồng nhân
dân phường quy định tại khoản 1 Điều này được xác định như sau:
a) Đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp huyện nhiệm kỳ 2021 - 2026 được xác định làm đại biểu Hội đồng nhân dân
của phường theo quy định tại khoản 4 Điều 54 của Luật này và đại biểu Hội đồng
nhân dân nhiệm kỳ 2021 - 2026 của các xã, thị trấn được sắp xếp với phường để
hình thành phường;
b) Trường hợp không có đại
biểu Hội đồng nhân dân phường hoặc số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được xác
định theo quy định tại điểm a khoản này không đủ, thì Thường trực Hội đồng nhân
dân thành phố được chỉ định thêm nhân sự không phải là đại biểu Hội đồng nhân
dân làm đại biểu Hội đồng nhân dân để hình thành Hội đồng nhân dân lâm thời ở
phường, bảo đảm có ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân
theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 30 của Luật này để thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường theo quy định của Luật này cho đến khi
Hội đồng nhân dân phường nhiệm kỳ 2026 - 2031 được bầu ra.
3. Việc chỉ định các chức
danh của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường thực hiện theo quy định tại
Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”.
Điều 58 của Luật Đường sắt số
95/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 58. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Khoản 1, điểm b khoản 3
Điều 56 và Mục 2, Mục 3 Chương II của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
3. Luật Đường sắt số 06/2017/QH14 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14, Luật số 16/2023/QH15, Luật
số 31/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15 và Luật số 47/2024/QH15 hết hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 59 của
Luật này.”.