|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 07/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 21 tháng 02 năm 2025
|
LUẬT
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15
ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2023, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn
số 47/2024/QH15 ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thực hiện
dân chủ ở cơ sở[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định về nội dung,
cách thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực
hiện dân chủ ở cơ sở và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong
việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Điều 2. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này,
các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Cơ sở
là xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) và cộng đồng dân cư trên
địa bàn cấp xã; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi chung
là cơ quan, đơn vị); tổ chức có sử dụng lao động.
2. Thực hiện
dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, để công
dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý
chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến,
quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật.
3. Cộng đồng
dân cư là nhóm công dân Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp,
bản, buôn, bon, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối
phố, khóm, tiểu khu (sau đây gọi chung là tổ dân phố).
4. Tổ chức có
sử dụng lao động bao gồm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức
khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc khu vực ngoài
Nhà nước.
Điều 3. Nguyên
tắc thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Bảo đảm quyền
của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được biết, tham gia
ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Bảo đảm sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.
3. Thực hiện dân
chủ ở cơ sở trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm trật tự, kỷ cương,
không cản trở hoạt động bình thường của chính quyền địa phương cấp xã, cơ quan,
đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động.
4. Bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
5. Bảo đảm công
khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện
dân chủ ở cơ sở.
6. Tôn trọng ý kiến
đóng góp của Nhân dân, kịp thời giải quyết kiến nghị, phản ánh của Nhân dân.
Điều 4. Phạm
vi thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Mọi công dân
thực hiện dân chủ tại xã, phường, thị trấn, tại thôn, tổ dân phố nơi mình cư
trú.
2. Công
dân là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện dân
chủ tại cơ quan, đơn vị nơi mình công tác. Trường hợp cơ quan, đơn vị có đơn vị
trực thuộc thì việc thực hiện dân chủ tại đơn vị trực thuộc của cơ quan, đơn vị
do người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định.
3. Công
dân là người lao động thực hiện dân chủ tại tổ chức có sử
dụng lao động nơi mình có giao kết hợp đồng lao động. Trường hợp
tổ chức có sử dụng lao động có đơn vị trực thuộc thì việc
thực hiện dân chủ tại đơn vị trực thuộc thực hiện theo quy định tại điều lệ, nội
quy, quy định, quy chế của tổ chức có sử dụng lao động và
pháp luật có liên quan.
Điều 5. Quyền
của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Được công khai thông tin và yêu
cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định của pháp luật.
2. Đề xuất sáng
kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung thực hiện dân chủ
ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Kiểm tra, giám sát, kiến nghị,
phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm
pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
4. Được công nhận,
tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trong
thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Nghĩa
vụ của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Tuân thủ quy định
của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Tham gia ý kiến
về các nội dung được đưa ra lấy ý kiến ở cơ sở theo quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Chấp hành quyết
định của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức
có sử dụng lao động.
4. Kịp thời kiến
nghị, phản ánh, tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm
pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
5. Tôn trọng và bảo
đảm trật tự, an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân.
Điều 7. Quyền
thụ hưởng của công dân
1. Được Nhà nước
và pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Được bảo đảm thực
hiện các quyền về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
2. Được thông tin
đầy đủ, kịp thời về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính sách an sinh xã hội,
phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật và quyết định của chính quyền địa
phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức ở nơi mình cư trú, công tác, làm việc.
3. Được thụ hưởng
thành quả đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, chế độ an sinh xã hội, sự an
toàn, ổn định của đất nước, của địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức có
sử dụng lao động và kết quả thực hiện dân chủ ở nơi mình cư trú,
công tác, làm việc.
4. Được tạo điều
kiện để tham gia học tập, công tác, lao động, sản xuất, kinh doanh, cải thiện
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng.
Điều 8. Các biện pháp bảo đảm
thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Bồi dưỡng nâng
cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện
pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Tăng cường
công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thực hiện dân
chủ ở cơ sở; nâng cao nhận thức cộng đồng về việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở
cơ sở.
3. Nâng cao trách
nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, vai trò nêu gương của người đứng đầu,
cán bộ lãnh đạo, quản lý, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người hoạt động
không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trong việc thực hiện dân chủ và
bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở; lấy mức độ thực hiện dân chủ ở cơ sở của
chính quyền địa phương cấp xã, cơ quan, đơn vị, tổ chức làm căn cứ đánh giá kết
quả thực hiện nhiệm vụ.
4. Kịp thời biểu
dương, khen thưởng các gương điển hình, có nhiều thành tích trong việc phát huy
và tổ chức thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; phát hiện và xử lý nghiêm cơ quan,
đơn vị, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
5. Hỗ trợ, khuyến
khích ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học - kỹ thuật, trang bị phương tiện kỹ
thuật và bảo đảm các điều kiện cần thiết khác cho việc tổ chức thực hiện dân chủ
ở cơ sở phù hợp với tiến trình xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số, xã
hội số.
Điều 9. Các
hành vi bị nghiêm cấm trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Gây khó khăn,
phiền hà hoặc cản trở, đe dọa công dân thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Bao che, cản
trở, trù dập hoặc thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại,
tố cáo; tiết lộ thông tin về người tố cáo, người cung cấp thông tin về hành vi
vi phạm có liên quan đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.
3. Lợi dụng việc
thực hiện dân chủ ở cơ sở để thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân.
4. Lợi dụng việc
thực hiện dân chủ ở cơ sở để xuyên tạc, vu khống, gây mâu thuẫn, kích động bạo lực, phân biệt vùng, miền, giới tính, tôn giáo, dân tộc,
gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, đơn vị, tổ chức.
5. Giả mạo
giấy tờ, gian lận hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bàn, quyết định, tham gia ý kiến của công dân.
Điều 10. Xử
lý vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở
1. Cá nhân có
hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở thì tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức vi phạm
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến thực hiện
dân chủ ở cơ sở thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm
hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Cán bộ, công
chức, viên chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật này, xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của
pháp luật.
4. Việc xử phạt
vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thực
hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Chương II
THỰC HIỆN DÂN CHỦ
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
Mục 1. CÔNG
KHAI THÔNG TIN Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
Điều 11. Những
nội dung chính quyền địa phương cấp xã phải công khai
Trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước hoặc
thông tin chưa được công khai theo quy định của pháp luật, chính
quyền địa phương cấp xã phải công khai các nội dung sau đây:
1. Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế hằng năm của cấp
xã và kết quả thực hiện;
2. Số liệu, báo
cáo thuyết minh dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch hoạt động tài chính của cấp
xã trình Hội đồng nhân dân cấp xã; dự toán ngân sách, kế hoạch hoạt động tài
chính đã được Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định; số liệu và thuyết minh tình
hình thực hiện dự toán ngân sách cấp xã định kỳ theo quý, 06 tháng, hằng năm;
quyết toán ngân sách nhà nước và kết quả thực hiện các hoạt động tài chính khác
đã được Hội đồng nhân dân cấp xã phê chuẩn; kết quả thực hiện các kiến nghị của
Kiểm toán nhà nước (nếu có);
3. Dự án, công
trình đầu tư trên địa bàn cấp xã và tiến độ thực hiện; kế hoạch thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất để thực hiện dự án, công trình đầu
tư trên địa bàn cấp xã; kế hoạch quản lý, sử dụng quỹ đất do cấp xã quản lý; kế
hoạch cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của
cấp xã; quy hoạch chung huyện, quy hoạch chung xã và quy hoạch chi tiết khu
vực xây dựng được xác định trong quy hoạch chung huyện, quy hoạch chung xã; quy
hoạch chung thị trấn, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết được lập cho khu vực
thuộc phạm vi huyện, xã, thị trấn[2];
4. Quy chế thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức
và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; quy tắc ứng
xử của người có chức vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp xã;
5. Việc quản lý
và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với
địa bàn cấp xã; các khoản huy động Nhân dân đóng góp;
6. Tình hình đầu
tư xây dựng, mua sắm, giao, thuê, sử dụng, thu hồi, điều chuyển, chuyển đổi
công năng, bán, thanh lý, tiêu hủy và hình thức xử lý khác đối với tài sản
công do cấp xã quản lý; tình hình khai thác nguồn lực tài
chính từ tài sản công của chính quyền địa phương cấp xã;
7. Chủ trương,
chính sách, kế hoạch, tiêu chí, đối tượng, quy trình bình xét và kết quả thực
hiện chính sách hỗ trợ, trợ cấp, tín dụng để thực hiện các chương trình mục
tiêu quốc gia, phát triển sản xuất, hỗ trợ xây dựng nhà ở, cấp thẻ bảo hiểm y tế
và các chính sách an sinh xã hội khác được tổ chức triển khai trên địa bàn cấp
xã;
8. Thông tin về
phạm vi, đối tượng, cách thức bình xét, xác định đối tượng, mức hỗ trợ, thời
gian, thủ tục thực hiện phân phối các khoản hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để khắc
phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố, thảm họa hoặc để hỗ trợ bệnh nhân
mắc bệnh hiểm nghèo trên địa bàn cấp xã; việc quản lý, sử dụng các nguồn đóng
góp, quyên góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài dành
cho các đối tượng trên địa bàn cấp xã;
9. Số lượng, đối
tượng, tiêu chuẩn gọi nhập ngũ; danh sách công dân đủ điều kiện nhập ngũ và thực
hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; danh sách công dân được gọi nhập ngũ
và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; danh sách tạm hoãn gọi nhập
ngũ, miễn gọi nhập ngũ trên địa bàn cấp xã;
10. Kết quả thanh
tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật đối
với cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ
dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch
và Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp xã, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy
viên Ủy ban nhân dân cấp xã;
11. Kế hoạch lấy ý kiến Nhân dân, nội dung lấy ý kiến, kết quả tổng hợp ý kiến và giải trình, tiếp thu ý kiến của Nhân dân đối
với những nội dung chính quyền địa phương cấp xã đưa ra lấy ý kiến Nhân dân quy
định tại Điều 25 của Luật này;
12. Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác
do chính quyền địa phương cấp xã trực tiếp thu;
13. Các thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết công việc liên quan đến tổ
chức, cá nhân do chính quyền địa phương cấp xã trực tiếp thực hiện;
14. Nội
dung khác theo quy định của pháp luật và quy chế thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn.
Điều 12. Hình thức và thời
điểm công khai thông tin
1. Các hình thức công khai thông tin bao gồm:
a) Niêm yết thông tin;
b) Đăng tải trên cổng thông tin
điện tử, trang thông tin điện tử của chính quyền địa phương cấp xã;
c) Phát tin trên hệ thống truyền
thanh của cấp xã (nếu có);
d) Thông qua Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố để thông báo đến công dân;
đ) Gửi văn bản đến
công dân;
e) Thông qua hội nghị trao đổi,
đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Nhân dân;
g) Thông qua việc tiếp công
dân, tiếp xúc cử tri, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn
của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật;
h) Thông báo đến tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức, đoàn thể cùng cấp
khác để tổ chức phổ biến, tuyên truyền đến hội viên, đoàn viên ở cơ sở;
i) Thông qua mạng viễn thông, mạng xã hội hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật, bảo đảm phù
hợp với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tại cấp xã, tại thôn, tổ dân phố;
k) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật và quy chế thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn.
2. Việc công khai
thông tin quy định tại Điều 11 của Luật này tại khu vực biên
giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Thời điểm công
khai thông tin đối với từng lĩnh vực được thực hiện theo quy định của pháp luật
có liên quan. Trường hợp pháp luật chưa có quy định thì chậm nhất là 05 ngày
làm việc kể từ ngày có quyết định, văn bản của cơ quan có thẩm quyền về nội
dung cần công khai, Ủy ban nhân dân cấp xã phải tổ chức công khai thông tin.
Điều 13. Lựa
chọn hình thức công khai thông tin
1. Tại nơi đã thiết
lập trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử thì Ủy ban nhân dân cấp xã
có trách nhiệm đăng tải trên trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử của
chính quyền địa phương cấp xã thông tin quy định tại Điều 11 của
Luật này.
2. Ủy ban nhân
dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông tin quy định tại các khoản
1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 11 của Luật này tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã, tại nhà văn hóa
và các điểm sinh hoạt cộng đồng ở thôn, tổ dân phố. Thời
gian niêm yết thông tin ít nhất là 30 ngày liên tục kể từ ngày niêm yết, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thông tin quy định tại khoản 4 và khoản 13 Điều 11 của Luật này
phải được niêm yết thường xuyên tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân cấp xã và được cập nhật khi có sự thay đổi. Danh sách các nội dung đã được
thực hiện công khai kèm theo hình thức, thời gian thực hiện được lập, cập nhật
theo từng quý và niêm yết tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã,
tại nhà văn hóa và các điểm sinh hoạt cộng đồng ở thôn, tổ dân phố.
3. Thông
tin quy định tại các khoản 7, 8, 9, 10, 11 và 12
Điều 11 của Luật này được công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã
(nếu có) trong thời hạn ít nhất là 03 ngày liên tục.
4. Thông
tin quy định tại khoản 3 Điều này được gửi đến Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố để thông báo đến Nhân dân. Việc thông báo thông tin đến Nhân
dân quy định tại khoản này được thực hiện thông qua một hoặc nhiều hình thức, gồm
thông báo tại cuộc họp của cộng đồng dân cư, cuộc họp,
sinh hoạt của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức,
đoàn thể khác ở thôn, tổ dân phố; thông báo trực tiếp hoặc gửi văn bản thông
báo đến từng hộ gia đình; thông qua tin nhắn đến đại diện hộ gia đình hoặc sử dụng
mạng xã hội hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật và đã được cộng đồng
dân cư thống nhất lựa chọn.
5. Cùng với việc
thực hiện công khai thông tin bằng các hình thức quy định tại các khoản 1, 2, 3
và 4 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã có thể quyết định lựa chọn thêm các hình
thức công khai thông tin khác quy định tại khoản 1 Điều 12 của
Luật này phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, bảo đảm để Nhân dân
tiếp cận thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, thuận lợi.
6. Trường hợp
pháp luật có quy định khác về hình thức, cách thức thực hiện công khai đối với
nội dung thông tin cụ thể thì áp dụng theo quy định đó.
Điều 14.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện việc công khai thông tin
1. Ủy ban nhân
dân cấp xã có kế hoạch thực hiện việc công khai thông tin, trong đó nêu rõ nội
dung thông tin cần công khai, hình thức công khai, thời điểm, thời hạn công
khai và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức thực hiện kế hoạch đã được
Ủy ban nhân dân cấp xã thông qua; kiểm tra, đôn đốc và báo cáo Ủy ban nhân dân
về kết quả thực hiện.
Trường hợp thông
tin đã công khai có sự thay đổi, điều chỉnh thì nội dung thay đổi, điều chỉnh
phải được kịp thời công khai theo quy định tại Mục này.
2. Ủy ban nhân
dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân theo quy
định của Luật Tiếp cận thông tin đối với những thông tin trong thời hạn công
khai nhưng chưa được công khai, thông tin hết thời hạn công khai theo quy định
của pháp luật hoặc thông tin đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng
người yêu cầu không thể tiếp cận được.
3. Ủy ban nhân
dân cấp xã tổng hợp, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả
thực hiện các nội dung công khai thông tin tại kỳ họp thường lệ gần nhất, đồng
thời gửi Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để giám sát.
Mục 2. NHÂN DÂN BÀN VÀ QUYẾT ĐỊNH
Điều 15. Những
nội dung Nhân dân bàn và quyết định
1. Chủ trương và
mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng trong phạm vi địa
bàn cấp xã, ở thôn, tổ dân phố do Nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh
phí, tài sản, công sức.
2. Việc thu, chi,
quản lý các khoản đóng góp của Nhân dân tại cộng đồng dân cư ngoài các khoản đã
được pháp luật quy định; việc thu, chi, quản lý các khoản kinh phí, tài sản do
cộng đồng dân cư được giao quản lý hoặc được tiếp nhận từ
các nguồn thu, tài trợ, ủng hộ hợp pháp khác.
3. Nội dung hương
ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
4. Bầu, cho thôi
làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
5. Bầu, cho thôi
làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng.
6. Các công việc
tự quản khác trong nội bộ cộng đồng dân cư không trái với quy định của pháp luật,
phù hợp với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.
Điều 16. Đề
xuất nội dung để Nhân dân bàn và quyết định
1. Đối với các nội
dung có phạm vi thực hiện trong địa bàn cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
sau khi thống nhất với Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết
định nội dung, lựa chọn hình thức và chỉ đạo, hướng dẫn Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố tổ chức để Nhân dân bàn và quyết định.
2. Đối với các nội
dung chỉ có phạm vi thực hiện trong thôn, tổ dân phố, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố sau khi thống nhất với Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố
đề xuất nội dung để cộng đồng dân cư bàn và quyết định.
3. Công dân cư
trú tại thôn, tổ dân phố có sáng kiến đề xuất về nội dung quy định tại Điều 15 của Luật này và được ít nhất là 10% tổng số hộ gia đình
tại thôn, tổ dân phố đồng thuận thì gửi đề xuất đến Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố để đưa ra cộng đồng dân cư bàn và quyết định nếu không trái với quy định
của pháp luật, phù hợp với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.
Trường hợp sáng
kiến của công dân chưa có đủ 10% tổng số hộ gia đình ở thôn, tổ dân phố đồng
thuận nhưng xét thấy có thể mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư và được Ban
công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố tán thành thì Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố đưa ra để cộng đồng dân cư bàn và quyết định.
Việc thu thập ý
kiến đồng thuận của các hộ gia đình có thể thực hiện trực tiếp tại cuộc họp của
cộng đồng dân cư, bằng văn bản thể hiện ý kiến đồng ý của
đại diện hộ gia đình hoặc hình thức thể hiện ý kiến khác phù hợp với điều kiện
thực tế tại cộng đồng dân cư. Công dân có sáng kiến chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tính chính xác của số lượng và danh sách hộ gia đình đồng thuận. Ý kiến
đồng thuận với sáng kiến của công dân có giá trị trong thời hạn 03 tháng kể từ
ngày thể hiện ý kiến.
Điều 17. Hình
thức Nhân dân bàn và quyết định
1. Tùy theo nội dung được đề xuất,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức để Nhân dân ở thôn, tổ dân phố bàn và quyết định bằng một trong các hình
thức sau đây:
a) Tổ chức cuộc họp của cộng đồng dân cư;
b) Phát phiếu lấy ý kiến của từng hộ gia đình;
c) Biểu quyết trực
tuyến phù hợp với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và được cộng đồng dân cư
thống nhất lựa chọn.
2. Việc bàn, quyết
định các nội dung quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 15 của
Luật này phải được thực hiện tại cuộc họp của cộng đồng dân cư, trừ
trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 của Luật này. Hình thức phát phiếu lấy ý kiến của từng hộ gia đình được thực hiện
trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này.
Hình thức biểu
quyết trực tuyến chỉ áp dụng trong trường hợp cộng đồng dân cư quyết định các công việc quy định tại khoản 6 Điều 15 của
Luật này mà Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố sau khi thống nhất với Ban
công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố thấy không cần thiết tổ chức cuộc họp của
cộng đồng dân cư hoặc phát phiếu lấy ý kiến của từng hộ
gia đình.
3. Trường hợp
pháp luật có quy định khác về việc tổ chức để Nhân dân bàn, quyết định thì thực
hiện theo quy định đó.
Điều 18. Tổ
chức cuộc họp của cộng đồng dân cư
1. Cuộc họp của cộng
đồng dân cư do Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố triệu tập
và chủ trì tổ chức; trường hợp cuộc họp để bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố thì thực hiện theo quy định của Chính phủ. Trường hợp khuyết
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định
đại diện Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố hoặc triệu tập viên là công
dân có uy tín cư trú tại thôn, tổ dân phố đó để triệu tập và tổ chức cuộc họp của
cộng đồng dân cư.
Thành phần tham dự
cuộc họp của cộng đồng dân cư gồm Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố, Ban công tác Mặt trận ở
thôn, tổ dân phố, đại diện các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố.
2. Đại diện hộ
gia đình là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có khả năng đại diện được cho các thành viên hộ gia đình; trường
hợp hộ gia đình không có người có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ thì đại diện hộ gia đình là người được các thành
viên hộ gia đình thống nhất đề cử hoặc ủy
nhiệm.
3. Trường hợp thôn, tổ dân phố có từ 200 hộ gia đình trở lên hoặc có địa
bàn dân cư sinh sống không tập trung thì có thể tổ chức các cuộc họp theo từng
cụm dân cư.
Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố có thể ủy quyền cho thành viên Ban công tác Mặt trận ở thôn,
tổ dân phố hoặc một công dân có uy tín cư trú tại cụm dân cư chủ trì, điều hành
cuộc họp của cụm dân cư và báo cáo kết quả với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
để tổng hợp vào kết quả chung của toàn thôn, tổ dân phố.
4. Trình tự tổ chức
cuộc họp của cộng đồng dân cư được thực hiện như sau:
a) Người chủ trì cuộc họp tuyên bố lý do, nêu mục đích, yêu cầu, nội dung
cuộc họp; giới thiệu người để cuộc họp biểu quyết cử làm thư ký;
b) Người chủ trì cuộc họp trình bày những nội dung đưa ra để xem xét, thảo
luận tại cuộc họp;
c) Những người tham gia cuộc họp thảo luận;
d) Người chủ trì cuộc họp tổng hợp chung các ý kiến thảo luận tại cuộc họp;
đề xuất các nội dung và phương án biểu quyết đối với các nội dung đã được thảo
luận. Việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín
do các thành viên tham dự cuộc họp quyết định. Trường hợp bỏ phiếu kín thì cuộc
họp bầu ra Ban kiểm phiếu để thực hiện việc tổ chức bỏ phiếu kín;
đ) Người chủ trì
cuộc họp công bố kết quả biểu quyết và kết luận cuộc họp.
Điều 19. Phát
phiếu lấy ý kiến của hộ gia đình
1. Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố tổ chức gửi phiếu biểu quyết đến từng hộ gia đình để lấy ý kiến
biểu quyết về các nội dung có phạm vi thực hiện trong thôn, tổ dân phố hoặc
trong địa bàn cấp xã đối với các trường hợp sau đây:
a) Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã quyết định lựa chọn hình thức phát phiếu lấy ý kiến của hộ
gia đình đối với nội dung có phạm vi thực hiện trong địa bàn cấp xã;
b) Cộng đồng
dân cư đã tổ chức cuộc họp mà không có đủ đại
diện của số hộ gia đình tham dự để có thể đạt tỷ lệ biểu quyết tán thành tối
thiểu quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này;
c) Các trường hợp
khác do Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố quyết định sau khi đã thống nhất với
Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố.
2. Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố
xây dựng kế hoạch tổ chức phát phiếu lấy ý kiến; thành lập Tổ phát phiếu lấy ý
kiến có từ 03 đến 05 thành viên và công khai thông tin đến Nhân dân ở thôn,
tổ dân phố về nội dung lấy ý kiến, thời điểm, thời hạn lấy ý kiến,
thành phần Tổ phát phiếu lấy ý kiến chậm nhất là 02 ngày trước ngày thực hiện
việc phát phiếu lấy ý kiến.
3. Mỗi hộ
gia đình được phát 01 phiếu lấy ý kiến. Tổ phát phiếu có nhiệm vụ
gửi phiếu lấy ý kiến trực tiếp đến từng hộ gia đình, tổ chức thu phiếu theo
đúng thời hạn đã được xác định và tổng hợp đầy đủ, khách quan kết quả phiếu lấy
ý kiến.
Điều 20. Quyết
định của cộng đồng dân cư
1. Quyết định của
cộng đồng dân cư được thể hiện bằng văn bản dưới hình thức nghị quyết, biên bản
cuộc họp, bản ghi nhớ, bản thỏa thuận của cộng đồng dân cư. Trường hợp pháp luật
không quy định cụ thể về hình thức văn bản thì Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
lựa chọn hình thức văn bản của cộng đồng dân cư phù hợp với nội dung quyết định
và phong tục, tập quán, điều kiện thực tế của cộng đồng dân cư sau khi thống nhất
với Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố.
2. Quyết định của
cộng đồng dân cư gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Thời gian cộng
đồng dân cư bàn và quyết định;
b) Tổng số hộ gia
đình thuộc cộng đồng dân cư; số người đại diện hộ gia đình có mặt; số hộ gia
đình không có người đại diện tham dự;
c) Nội dung cộng
đồng dân cư bàn;
d) Hình thức cộng
đồng dân cư quyết định;
đ) Kết quả biểu
quyết tại cuộc họp hoặc tổng hợp phiếu lấy ý kiến, kết quả biểu quyết trực tuyến
của hộ gia đình;
e) Nội dung quyết
định của cộng đồng dân cư;
g) Chữ ký của Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố và
02 đại diện của các hộ gia đình.
3. Chậm nhất là
05 ngày làm việc kể từ ngày cộng đồng dân cư tổ chức họp biểu quyết hoặc kể từ
ngày kết thúc thời hạn lấy ý kiến bằng phiếu, biểu quyết trực tuyến, quyết định
đã được cộng đồng dân cư biểu quyết thông qua phải được gửi đến Ủy ban nhân dân
cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Điều 21. Hiệu
lực của quyết định của cộng đồng dân cư
1. Quyết định của
cộng đồng dân cư về nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
15 của Luật này được thông qua khi có từ hai phần ba tổng số đại diện hộ
gia đình trở lên trong thôn, tổ dân phố tán thành.
Quyết định của cộng
đồng dân cư về nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15
của Luật này có phạm vi thực hiện trong địa bàn cấp xã được thông qua khi
có từ hai phần ba tổng số thôn, tổ dân phố trở lên tán thành.
Quyết định của cộng
đồng dân cư về nội dung quy định tại các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều
15 của Luật này được thông qua khi có trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình
trong thôn, tổ dân phố tán thành.
2. Quyết định của
cộng đồng dân cư về nội dung quy định tại các khoản 1, 2 và 6
Điều 15 của Luật này có phạm vi thực hiện trong thôn, tổ dân phố có hiệu lực
kể từ ngày được cộng đồng dân cư biểu quyết thông qua.
Đối với quyết định
của cộng đồng dân cư về nội dung quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 15 của Luật này có phạm vi thực hiện trong địa bàn cấp xã, thì thời
điểm có hiệu lực do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định trên cơ sở tổng hợp kết
quả biểu quyết của cộng đồng dân cư.
Quyết định của cộng
đồng dân cư về nội dung quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 15
của Luật này có hiệu lực kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định
công nhận.
Quyết định của cộng
đồng dân cư về nội dung quy định tại khoản 5 Điều 15 của Luật
này có hiệu lực kể từ ngày Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã ban hành
quyết định công nhận.
Chậm nhất là 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của cộng đồng dân cư, Ủy ban nhân
dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phải ban hành quyết định
công nhận; trường hợp không công nhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ
lý do.
Điều 22. Sửa đổi, bổ sung,
thay thế, bãi bỏ quyết định của cộng đồng dân cư
1. Quyết định của cộng đồng dân cư
được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ khi thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Có nội dung trái với quy định của
pháp luật, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục, đạo
đức xã hội;
b) Không tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục
thông qua văn bản của cộng đồng dân cư theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan;
c) Cộng đồng dân cư thấy cần thiết phải sửa đổi,
bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định bãi bỏ quyết
định của cộng đồng dân cư đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định bãi bỏ hoặc
đề nghị cộng đồng dân cư sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp đối với trường
hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Quyết định bãi bỏ hoặc văn bản đề nghị sửa đổi,
bổ sung, thay thế quyết định của cộng đồng dân cư phải được Ủy ban nhân dân cấp
xã gửi đến Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến Nhân dân và được
gửi đồng thời đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
3. Cộng đồng dân cư tự mình quyết định việc sửa
đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ quyết định của mình khi xét thấy cần thiết hoặc
sửa đổi, bổ sung, thay thế quyết định của mình theo đề nghị của Ủy ban nhân dân
cấp xã theo trình tự, thủ tục quy định tại các điều 18, 19,
20 và 21 của Luật này.
Điều 23.
Trách nhiệm trong việc tổ chức để Nhân dân bàn, quyết định và thực hiện quyết định
của cộng đồng dân cư
1. Ủy ban nhân dân cấp xã có kế hoạch
tổ chức để Nhân dân bàn, quyết định các nội dung có phạm vi thực hiện trong địa
bàn cấp xã; Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ
chức thực hiện quyết định của cộng đồng dân cư thuộc phạm vi cấp xã; kiểm tra,
theo dõi việc tổ chức thực hiện quyết định của cộng đồng dân cư có phạm vi thực
hiện trong thôn, tổ dân phố.
Ủy ban nhân dân cấp xã tổng hợp,
báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về việc tổ chức để Nhân dân bàn, quyết định
các nội dung có phạm vi thực hiện trong địa bàn cấp xã tại kỳ họp thường lệ gần
nhất, đồng thời gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để giám sát.
2. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân
phố có trách nhiệm công khai kết quả biểu quyết hoặc kết quả tổng hợp phiếu lấy
ý kiến của Nhân dân tại thôn, tổ dân phố; tổ chức thực hiện quyết định của cộng
đồng dân cư có phạm vi thực hiện trong thôn, tổ dân phố; báo cáo kết quả thực
hiện quyết định của cộng đồng dân cư đến Nhân dân ở thôn, tổ dân phố và đến Ủy
ban nhân dân cấp xã.
3. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát việc tổ chức để Nhân dân bàn, quyết
định và thực hiện các nội dung Nhân dân bàn, quyết định.
4. Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức cuộc họp của cộng đồng
dân cư; việc phát phiếu lấy ý kiến của hộ gia đình; việc biểu quyết
trực tuyến tại thôn, tổ dân phố; quy trình bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố; việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng
dân cư.
Điều
24. Trách nhiệm của Nhân dân trong việc tham gia bàn, quyết định các nội
dung, công việc ở cơ sở
1. Công dân, hộ
gia đình tích cực quan tâm đến công việc chung của cộng đồng dân cư; có trách
nhiệm tham gia hoặc cử đại diện hộ gia đình tham gia họp bàn, thảo luận, quyết
định các nội dung có phạm vi thực hiện trong thôn, tổ dân phố, trong địa bàn cấp
xã; thực hiện nghiêm túc các nội dung thuộc trách nhiệm đã được cộng đồng dân
cư quyết định.
2. Đại diện hộ
gia đình có trách nhiệm tham dự các cuộc họp của cộng đồng
dân cư; tập hợp, nắm bắt ý kiến chung của các thành viên hộ gia
đình để phản ánh, tham gia thảo luận tại cuộc họp hoặc thể hiện trên phiếu lấy
ý kiến của hộ gia đình; phổ biến, truyền đạt lại cho các thành viên hộ gia đình
về kết quả bàn, thảo luận, quyết định của cộng đồng dân cư. Trường hợp thành
viên hộ gia đình có ý kiến khác với ý kiến của đại diện hộ gia đình thì được
đăng ký tham dự cuộc họp của cộng đồng dân cư để thể hiện
ý kiến, quan điểm của mình tại cuộc họp.
3. Đảng viên, cán bộ, công chức,
viên chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố có
trách nhiệm tích cực, gương mẫu tham gia bàn và quyết định các nội dung có phạm
vi thực hiện trong thôn, tổ dân phố, trong địa bàn cấp xã; có trách nhiệm thực
hiện nghiêm túc và tuyên truyền, hướng dẫn, vận động gia đình và các thành viên
trong cộng đồng thực hiện các quyết định của cộng đồng dân cư.
4. Trường hợp nhận
thấy quyết định của cộng đồng dân cư không bảo đảm trình tự, thủ tục hoặc có nội
dung trái với quy định của pháp luật, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục, đạo
đức xã hội thì công dân có quyền kiến nghị, phản ánh đến Ủy ban nhân dân cấp
xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Ban Thanh tra nhân dân.
Mục 3. NHÂN
DÂN THAM GIA Ý KIẾN
Điều 25. Những
nội dung Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
1. Dự thảo kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát
triển ngành, nghề của cấp xã.
2. Dự thảo quy hoạch
sử dụng đất cấp huyện và phương án điều chỉnh; việc quản
lý, sử dụng quỹ đất được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
3. Chủ trương, chính sách đầu
tư, xây dựng, đất đai, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, đền bù, giải phóng
mặt bằng và phương án di dân, tái định canh, định cư đối với việc quyết định đầu
tư công dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án có quy mô di dân, tái định
canh, định cư lớn, dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, dự án có ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư nơi thực hiện
dự án.
4. Dự thảo đề án thành lập, giải
thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị
hành chính; dự thảo đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, đặt tên, đổi tên
thôn, tổ dân phố, ghép cụm dân cư.
5. Dự thảo quyết định hành
chính của Ủy ban nhân dân cấp xã có liên quan đến lợi ích cộng đồng, bao gồm quyết định ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch, dự án, đề án
có nội dung tác động đến môi trường, sức khỏe của cộng đồng, trật tự, an toàn
xã hội và những vấn đề khác có ảnh hưởng đến cộng đồng.
6.[3] Dự thảo quy hoạch đô thị và nông thôn.
7. Dự thảo quy chế
về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; dự thảo quy chế thực hiện dân chủ
trong từng lĩnh vực, nội dung hoạt động cụ thể ở xã, phường, thị trấn (nếu có).
8. Dự thảo quyết
định hành chính có nội dung xác lập nghĩa vụ hoặc làm chấm dứt, hạn chế quyền,
lợi ích của đối tượng thi hành là công dân trên địa bàn cấp xã.
9. Các nội dung khác theo quy định của pháp luật, quy
chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, theo yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần lấy ý kiến.
Điều 26. Hình
thức Nhân dân tham gia ý kiến
1. Các hình thức lấy ý kiến Nhân dân bao gồm:
a) Hội nghị trao
đổi, đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Nhân dân;
b) Tổ chức cuộc họp
của cộng đồng dân cư;
c) Phát phiếu lấy
ý kiến của hộ gia đình;
d) Thông qua hòm
thư góp ý, đường dây nóng (nếu có);
đ) Thông qua Ban công tác Mặt trận ở thôn,
tổ dân phố và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở;
e) Thông qua cổng thông tin điện
tử, trang thông tin điện tử của chính quyền địa phương cấp xã;
g) Thông qua mạng
viễn thông, mạng xã hội hoạt động hợp pháp theo quy định của
pháp luật, bảo đảm phù hợp với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tại cấp xã,
tại thôn, tổ dân phố;
h) Tổ chức đối
thoại, lấy ý kiến công dân là đối tượng thi hành đối với nội dung quy định tại khoản 8 Điều 25 của Luật này.
2. Tùy theo nội
dung, tính chất, yêu cầu của việc lấy ý kiến Nhân dân, khả năng, điều kiện đáp ứng
thực tế của địa phương và phù hợp với quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị
trấn, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định lựa chọn một hoặc một số hình thức quy
định tại khoản 1 Điều này để tổ chức lấy ý kiến Nhân dân. Trường hợp
pháp luật có quy định về việc áp dụng hình thức, cách thức tổ chức
cụ thể để lấy ý kiến của Nhân dân về nội dung nhất định thì việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, tổng hợp, giải trình, tiếp thu
ý kiến tham gia của Nhân dân thực hiện theo quy định đó.
Điều 27. Việc
tổ chức đối thoại, lấy ý kiến công dân là đối tượng thi hành trong trường hợp Ủy
ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định hành chính có nội dung xác lập nghĩa vụ
hoặc làm chấm dứt, hạn chế quyền, lợi ích của đối tượng thi hành
1. Trước khi ban hành quyết
định hành chính có nội dung xác lập nghĩa vụ hoặc làm chấm
dứt, hạn chế quyền, lợi ích của công dân là đối tượng thi
hành, trừ quyết định hành chính có nội dung thuộc bí mật
nhà nước và quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông tin và tạo điều kiện để công dân là đối
tượng thi hành quyết định hành chính được biết và trình
bày ý kiến nếu người đó có yêu cầu. Công dân
là đối tượng thi hành quyết định hành chính có thể tự mình hoặc ủy quyền
cho người đại diện trình bày ý kiến.
2. Trường hợp quyết định
hành chính áp dụng đối với nhiều đối tượng
hoặc khi xét thấy cần thiết, thì Ủy ban nhân dân cấp xã có thể tổ chức
cuộc họp đối thoại, lấy ý kiến trực tiếp của các công dân là đối
tượng thi hành quyết định. Thành phần tham dự cuộc họp bao
gồm đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã, đại diện Ban Thanh tra nhân dân cấp xã và các công dân là đối tượng thi
hành quyết định hành chính.
3. Ý kiến của
công dân là đối tượng thi hành, ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan phải được tổng hợp đầy đủ; nội dung giải trình, tiếp thu ý kiến của đối tượng thi hành được gửi đến các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan và được lưu cùng hồ sơ trình ký ban hành quyết định
hành chính. Người có thẩm quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm về việc ban
hành quyết định hành chính của mình.
Điều 28.
Trách nhiệm trong việc tổ chức để Nhân dân tham gia ý kiến
1. Ủy ban
nhân dân cấp xã có kế hoạch tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về
các nội dung quy định tại Điều
25 của Luật này thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã, trong đó xác định rõ nội dung lấy ý kiến, hình thức lấy ý
kiến, cách thức, thời hạn triển khai và trách nhiệm
tổ chức thực hiện. Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến Nhân dân phải được gửi đến Hội đồng
nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Trường hợp tổ chức lấy ý kiến
Nhân dân về những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước cấp
trên thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến theo các nội
dung được giao trong kế hoạch lấy ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm lấy ý kiến.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã phối
hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng
cấp tổ chức thực hiện kế hoạch đã được thông qua. Thời gian lấy ý kiến Nhân dân
ít nhất là 20 ngày kể từ ngày công khai nội dung lấy ý kiến. Trường hợp pháp luật
có quy định cụ thể thời hạn lấy ý kiến Nhân dân thì thực hiện theo quy định đó.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tiếp nhận, tổng hợp ý kiến, thông tin phản hồi
của Nhân dân; nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến tham gia của Nhân dân về
các nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã để quyết định theo thẩm quyền
hoặc báo cáo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và thực hiện
việc công khai kết quả tổng hợp ý kiến của Nhân dân, nội dung giải trình, tiếp
thu đến Nhân dân.
4. Đối với những nội dung do cơ
quan có thẩm quyền giao cho chính quyền địa phương cấp xã đưa ra lấy ý kiến
Nhân dân thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổng hợp ý kiến và báo cáo với
cơ quan có thẩm quyền về kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên địa bàn. Cơ quan có
thẩm quyền quyết định có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của
Nhân dân về những nội dung đã đưa ra lấy ý kiến; trường hợp quyết định có nội
dung khác với ý kiến của đa số Nhân dân thì phải giải trình, nêu rõ lý do của
việc không tiếp thu và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nội dung giải
trình, tiếp thu ý kiến của Nhân dân phải được gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã để
thực hiện việc công khai thông tin đến Nhân dân.
5. Ủy ban nhân dân cấp xã tổng
hợp, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và
kết quả thực hiện tại kỳ họp thường lệ gần nhất, đồng thời gửi đến Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để giám sát.
6. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối
hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện kế hoạch tổ
chức lấy ý kiến Nhân dân và tổ chức hội nghị đối thoại với Nhân dân trên địa
bàn; trực tiếp hướng dẫn, thực hiện việc tổ chức lấy kiến Nhân dân đối với những
nội dung thuộc trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định của pháp
luật.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thực hiện
giám sát việc lập và tổ chức thực hiện kế hoạch tổ chức lấy ý kiến
Nhân dân trên địa bàn; việc tổ chức đối thoại, lấy ý kiến trong trường hợp Ủy
ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định hành chính có nội dung xác lập nghĩa vụ
hoặc làm chấm dứt, hạn chế quyền, lợi ích của đối tượng thi hành và quá trình, kết quả giải trình, tiếp thu và tổ chức thực hiện các nội
dung Nhân dân tham gia ý kiến.
Điều 29. Trách
nhiệm của Nhân dân trong việc tham gia ý kiến về các nội dung ở xã, phường, thị
trấn
1. Đảng viên, cán
bộ, công chức, viên chức và mọi công dân cư trú trên địa bàn có trách nhiệm
tích cực tham gia ý kiến về những nội dung liên quan trực tiếp đến đời sống của
cộng đồng dân cư để làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định
các vấn đề quan trọng của địa phương, của đất nước.
2. Cá nhân, hộ
gia đình có trách nhiệm tham gia hoặc cử đại diện hộ gia đình tham dự họp bàn,
thảo luận, thể hiện ý kiến đối với các nội dung theo yêu cầu của cấp có thẩm
quyền.
3. Công dân theo dõi, đánh giá,
giám sát việc tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của Nhân dân trên địa bàn đối
với những nội dung đã được đưa ra lấy ý kiến và quá trình tổ chức thực hiện quyết
định của cơ quan có thẩm quyền đối với các nội dung này.
Mục 4. NHÂN
DÂN KIỂM TRA, GIÁM SÁT
Tiểu mục 1.
NỘI DUNG, HÌNH THỨC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
Điều 30. Nội
dung kiểm tra, giám sát
1. Công dân kiểm tra việc thực hiện các nội dung
mà Nhân dân đã bàn và quyết định quy định tại Điều 15 của Luật
này.
2. Công dân giám sát việc tổ chức thực hiện dân
chủ ở cơ sở và việc thực hiện chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương
cấp xã, cán bộ, công chức cấp xã, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở
thôn, tổ dân phố.
Điều 31. Hình
thức kiểm tra, giám sát
1. Công dân trực tiếp thực hiện việc kiểm tra,
giám sát thông qua:
a) Hoạt động lao động, sản xuất, học tập, công
tác, sinh hoạt của công dân ở cộng đồng dân cư;
b) Quan sát, tìm hiểu, giao tiếp với cán bộ,
công chức cấp xã, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân
phố và người dân ở cộng đồng dân cư;
c) Tiếp cận các thông tin được công khai; các
thông tin, báo cáo của chính quyền địa phương cấp xã, cán bộ, công chức cấp xã,
người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, cơ quan, tổ chức,
cá nhân được giao quản lý hoặc thực hiện các nội dung Nhân dân đã bàn và quyết
định;
d) Tham dự hội nghị trao đổi, đối thoại giữa Ủy
ban nhân dân cấp xã với Nhân dân, hội nghị tiếp xúc cử tri, hoạt động tiếp công
dân; hội nghị định kỳ và các cuộc họp khác của cộng đồng
dân cư.
2. Công dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát
thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, thông qua hoạt động của Ban Thanh
tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và các tổ
chức tự quản khác ở địa phương được thành lập theo quy định của pháp luật.
Điều 32. Hội
nghị trao đổi, đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Nhân dân
1. Hằng năm, Ủy ban nhân
dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân trên địa bàn về tình hình hoạt động của Ủy
ban nhân dân và những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa
vụ của công dân ở địa phương.
2. Nội dung, cách thức tổ chức hội
nghị trao đổi, đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp
xã với Nhân dân thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Điều 33. Hội nghị định kỳ của
cộng đồng dân cư
1. Hội nghị của cộng đồng
dân cư được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần vào thời gian cuối năm.
2. Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có trách
nhiệm triệu tập, chủ trì hội nghị. Thành phần tham dự hội nghị là đại diện của
toàn thể các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố.
3. Tại hội nghị, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân
phố có trách nhiệm báo cáo với Nhân dân về tình hình của cộng đồng
dân cư, kết quả thực hiện các nội dung đã được cộng đồng dân cư bàn và quyết định.
Đại diện Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố báo cáo, cung cấp thông tin về
tình hình, kết quả thực hiện dân chủ ở thôn, tổ dân phố và trên địa bàn cấp xã.
Thành viên Ban Thanh tra nhân dân được bầu tại thôn, tổ dân phố báo cáo, cung cấp
thông tin về việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, xem xét, xác minh theo
kiến nghị của Nhân dân trên địa bàn.
4. Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức hội
nghị định kỳ của cộng đồng dân cư.
Điều 34. Xử lý kết quả kiểm
tra, giám sát của Nhân dân
1. Thông qua việc kiểm tra, giám sát trực tiếp,
Nhân dân đánh giá mức độ hài lòng đối với hoạt động của chính quyền địa phương
cấp xã, đối với cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp thực hiện thủ tục hành
chính, giải quyết công việc của công dân.
2. Khi phát hiện hành vi, nội dung có dấu hiệu
vi phạm, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật hoặc
kiến nghị, phản ánh đến chính quyền địa phương cấp xã, cán bộ, công chức cấp
xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố,
các tổ chức, đoàn thể mà mình là thành viên, hội viên, đến đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân hoặc phản ánh, đề nghị Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám
sát đầu tư của cộng đồng, tổ chức tự quản khác ở địa phương được thành lập theo
quy định của pháp luật xem xét, thực hiện kiểm tra, giám sát theo chức năng,
nhiệm vụ.
3. Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn,
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng thay mặt Nhân dân thực hiện kiểm tra, giám
sát theo quy định tại Tiểu mục 2 và Tiểu mục 3 của Mục này.
Điều 35.
Trách nhiệm trong việc bảo đảm để Nhân dân thực hiện kiểm tra, giám sát
1. Các cơ quan, tổ chức, cá
nhân quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật này có trách nhiệm
tiếp nhận, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân
theo thẩm quyền hoặc thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp
luật.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách
nhiệm sau đây:
a) Tạo lập và bảo đảm vận hành ổn
định, thường xuyên hệ thống đánh giá mức độ hài lòng của Nhân dân, tiếp nhận
góp ý, kiến nghị, phản ánh để người dân có thể trực tiếp bày tỏ thái độ, sự
đánh giá, nhận xét đối với hoạt động của chính quyền địa phương và của cán bộ,
công chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính, giải quyết công việc của công
dân;
b) Xem xét, giải quyết, giải trình
và trả lời kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, kiến
nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã hoặc báo cáo, chuyển thông tin đến
cơ quan có thẩm quyền đối với những vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết của
mình;
c) Phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã, căn cứ vào yêu cầu, đặc điểm và điều kiện thực tế của địa
phương, xây dựng và ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn để quy định cụ thể hơn nội dung, cách thức
thực hiện dân chủ trên địa bàn cấp xã làm cơ sở để công dân kiểm tra, giám sát
việc thực hiện. Nội dung của quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
có thể mở rộng hơn phạm vi thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn nhưng không
được trái hoặc hạn chế việc thực hiện các nội dung đã được quy định trong Luật
này. Khuyến khích các địa phương xây dựng và ban hành quy chế thực hiện dân chủ
trong từng lĩnh vực, nội dung hoạt động cụ thể ở xã, phường, thị trấn;
d) Tạo điều kiện và bảo đảm để Ban
Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và các tổ chức tự quản
khác của Nhân dân ở địa phương thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định
của pháp luật;
đ) Xử lý người có hành vi cản trở
công dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoặc người có hành vi trả thù, trù
dập người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.
3. Công dân chịu trách nhiệm về nội
dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình; chủ động, tích cực phối hợp
với Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc xác minh, kiểm tra, giám sát đối với
các nội dung mà công dân đã kiến nghị, đề nghị.
Tiểu mục 2.
BAN THANH TRA NHÂN DÂN Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
Điều 36. Tổ chức Ban Thanh
tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
1. Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
gồm các thành viên được bầu từ các thôn, tổ dân phố trên địa bàn cấp xã. Số lượng
thành viên Ban Thanh tra nhân dân tương ứng số lượng thôn, tổ dân phố trên địa
bàn cấp xã nhưng không ít hơn 05 người.
2. Nhiệm kỳ của Ban Thanh tra nhân dân theo nhiệm
kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trên cùng địa bàn.
Trong nhiệm kỳ, nếu thành viên Ban Thanh tra
nhân dân không hoàn thành nhiệm vụ, không còn được tín nhiệm hoặc xin thôi làm
nhiệm vụ thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã đề nghị thôn, tổ dân phố
đã bầu thành viên đó xem xét, cho thôi làm nhiệm vụ.
Trường hợp khuyết thành viên Ban Thanh tra nhân
dân trong nhiệm kỳ và thời gian còn lại của nhiệm kỳ là từ 06 tháng trở lên thì
Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố tổ chức việc bầu bổ sung thành viên Ban Thanh tra nhân dân theo hướng dẫn
của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
3. Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Trưởng ban chịu trách nhiệm
chung về hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; Phó Trưởng ban có trách nhiệm
giúp Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ; các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo
sự phân công của Trưởng ban.
Điều 37. Tiêu chuẩn thành
viên Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
1. Có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng
đồng dân cư, có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ; có hiểu biết về chính sách,
pháp luật và tự nguyện tham gia Ban Thanh tra nhân dân.
2. Là công dân thường trú trên địa bàn và không
đồng thời là cán bộ, công chức cấp xã, người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã, ở thôn, tổ dân phố.
Điều 38. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
1. Kiểm tra việc thực hiện các quyết định đã được
Nhân dân bàn và quyết định; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc
thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở của chính quyền địa phương cấp
xã, cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở
thôn, tổ dân phố.
2. Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý
theo quy định của pháp luật khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và giám
sát việc thực hiện kiến nghị đó.
3. Yêu cầu chính quyền địa phương cấp xã, cán bộ,
công chức cấp xã cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan để phục vụ việc xác
minh, kiểm tra, giám sát.
4. Xem xét, xác minh vụ việc cụ thể theo kiến
nghị của công dân, cộng đồng dân cư.
5. Kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã,
cán bộ, công chức cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố khắc phục hạn chế,
thiếu sót được phát hiện qua việc kiểm tra, giám sát; bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của tổ chức, công dân; biểu dương những đơn vị, cá nhân có
thành tích. Trường hợp phát hiện người có hành vi vi phạm pháp luật thì kiến
nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý.
6. Tham dự các cuộc họp của Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân cấp xã có nội dung liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát của Ban Thanh tra nhân dân.
7. Tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của công dân, cộng
đồng dân cư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến phạm vi kiểm tra, giám sát
của Ban Thanh tra nhân dân.
Điều 39. Hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
1. Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động.
2. Căn cứ vào chương trình hành động và sự chỉ đạo,
hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ban Thanh tra nhân dân
xây dựng phương hướng, nội dung kế hoạch hoạt động của mình theo từng quý, 06
tháng và hằng năm.
3. Ban Thanh tra nhân dân có trách nhiệm định kỳ
báo cáo hoặc báo cáo khi có yêu cầu về hoạt động của mình với Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã. Ban Thanh tra nhân dân được mời tham dự cuộc họp của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có nội
dung liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Ban Thanh tra
nhân dân.
Điều 40. Trách nhiệm trong
việc bảo đảm hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
1. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau
đây:
a) Thông báo cho Ban Thanh tra nhân dân về những
chính sách, pháp luật chủ yếu liên quan đến tổ chức, hoạt động, nhiệm vụ, quyền
hạn của chính quyền địa phương cấp xã; các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội hằng năm của địa phương;
b) Cung cấp thông tin hoặc yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu cần
thiết theo yêu cầu của Ban Thanh tra nhân dân;
c) Xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của
Ban Thanh tra nhân dân, thông báo kết quả giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được kiến nghị;
d) Thông báo cho Ban Thanh tra nhân dân kết quả
giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở
cơ sở trên địa bàn cấp xã;
đ) Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động của
Ban Thanh tra nhân dân, người có hành vi trả thù, trù dập thành viên Ban Thanh
tra nhân dân theo quy định của pháp luật.
2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có
trách nhiệm sau đây:
a) Hướng dẫn việc tổ chức hội nghị của cộng đồng
dân cư ở thôn, tổ dân phố để bầu hoặc cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra
nhân dân;
b) Công nhận kết quả bầu thành viên Ban Thanh
tra nhân dân; tổ chức cuộc họp của Ban Thanh tra nhân dân để bầu Trưởng ban,
Phó Trưởng ban và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; thông báo kết quả bầu
và thành phần Ban Thanh tra nhân dân đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
cùng cấp và Nhân dân ở địa phương;
c) Hướng dẫn Ban Thanh tra nhân dân xây dựng
chương trình, kế hoạch, nội dung công tác; xem xét báo cáo hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân và hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân;
tham gia hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân khi xét thấy cần thiết;
d) Xác nhận biên bản, kiến nghị của Ban Thanh
tra nhân dân; đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân;
đ) Động viên Nhân dân ở địa phương ủng hộ, phối
hợp, tích cực hỗ trợ hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân;
e) Hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Thanh tra
nhân dân. Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân được sử dụng
từ nguồn ngân sách nhà nước theo dự toán, kế hoạch hằng năm của Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã, do ngân sách nhà nước cấp xã bảo đảm.
3. Chính phủ quy định chi tiết tổ chức và hoạt động
của Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn.
Tiểu mục 3.
BAN GIÁM SÁT ĐẦU TƯ CỦA CỘNG ĐỒNG
Điều 41. Tổ chức Ban Giám
sát đầu tư của cộng đồng
1. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng được Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã quyết định thành lập theo từng chương trình, dự
án đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) triển khai
trên địa bàn cấp xã, chương trình, dự án đầu tư bằng vốn và công sức của cộng đồng
dân cư hoặc bằng nguồn tài trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho cấp xã.
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng có ít nhất là
05 thành viên, gồm đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ban Thanh
tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn và đại diện người dân trên địa bàn thôn, tổ
dân phố nơi có chương trình, dự án. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tự giải
thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
2. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng có Trưởng
ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Trưởng ban chịu trách nhiệm chung về hoạt động
của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; Phó Trưởng ban có trách nhiệm giúp Trưởng
ban thực hiện nhiệm vụ; các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo sự phân
công của Trưởng ban.
Điều 42. Tiêu chuẩn thành
viên Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng
1. Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, công
tâm, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ;
có hiểu biết về chính sách, pháp luật hoặc kinh nghiệm, hiểu biết về các lĩnh vực
có liên quan đến chương trình, dự án đầu tư và tự nguyện tham gia Ban Giám sát
đầu tư của cộng đồng.
2. Là công dân thường trú trên địa bàn và không
đồng thời là cán bộ, công chức cấp xã; không có người thân là người có thẩm quyền
quyết định đầu tư, chủ đầu tư hoặc đại diện chủ đầu tư, đơn vị tư vấn của chủ đầu
tư, nhà thầu dự án hoặc đơn vị tư vấn, giám sát của nhà thầu, người trực tiếp
quản lý dự án đầu tư trên địa bàn cấp xã.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng
1. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng có các nhiệm
vụ sau đây:
a) Theo dõi, giám sát sự phù hợp của chủ trương
đầu tư, quyết định đầu tư với quy hoạch, kế hoạch đầu tư trên địa bàn cấp xã;
việc chủ đầu tư chấp hành các quy định về chỉ giới đất đai và sử dụng đất, quy
hoạch mặt bằng chi tiết, phương án kiến trúc, xây dựng, xử lý chất thải, bảo vệ
môi trường, đền bù, giải phóng mặt bằng và phương án tái định cư, kế hoạch đầu
tư; tình hình triển khai và tiến độ thực hiện các chương trình, dự án, việc thực
hiện công khai thông tin trong quá trình đầu tư đối với các chương trình, dự án
đầu tư công, dự án đầu tư từ nguồn vốn khác trên địa bàn cấp xã;
b) Đối với các chương trình, dự án đầu tư bằng vốn
và công sức của cộng đồng dân cư, dự án sử dụng ngân sách cấp xã hoặc bằng nguồn
tài trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho cấp xã, thì thực hiện theo dõi,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung quy định tại điểm a khoản này và
kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy trình, quy phạm kỹ thuật, định mức và
chủng loại vật tư theo quy định; theo dõi, kiểm tra kết quả nghiệm thu và quyết
toán công trình;
c) Phát hiện những việc làm tổn hại đến lợi ích
của cộng đồng; những tác động tiêu cực của dự án đến môi trường sinh sống của cộng
đồng trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành dự án; những việc gây lãng
phí, thất thoát vốn, tài sản thuộc các chương trình, dự án đầu tư.
2. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng có các quyền
hạn sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
cung cấp các thông tin về quy hoạch có liên quan đến việc quyết định đầu tư dự
án, kế hoạch sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai;
b) Yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên
quan trả lời về các vấn đề thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu chủ chương trình, chủ đầu
tư trả lời, cung cấp các thông tin phục vụ việc giám sát đầu tư gồm quyết định
đầu tư; thông tin về chủ đầu tư, ban quản lý dự án, địa chỉ liên hệ;
tiến độ và kế hoạch đầu tư; diện tích chiếm đất và sử dụng đất; quy hoạch mặt bằng
chi tiết và phương án kiến trúc; đền bù, giải phóng mặt bằng và phương án tái định
cư; phương án xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.
Đối với các chương trình, dự án đầu tư bằng vốn
và công sức của cộng đồng dân cư, dự án sử dụng ngân sách cấp xã hoặc bằng nguồn
tài trợ trực tiếp của các tổ chức, cá nhân cho cấp xã, thì ngoài các nội dung
trên, chủ chương trình, chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp thêm thông tin
về quy trình, quy phạm kỹ thuật, chủng loại và định mức vật tư;
kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình;
d) Tiếp nhận các thông tin do công dân phản ánh
để gửi đến các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc tiến hành kiểm tra,
giám sát theo phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Ban; tiếp nhận và thông tin cho
công dân biết ý kiến trả lời của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về
kiến nghị của công dân;
đ) Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật
trong quá trình thực hiện dự án gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, an
ninh, văn hóa, xã hội, môi trường sinh sống của cộng đồng hoặc chủ đầu tư không
thực hiện công khai thông tin về chương trình, dự án đầu tư theo quy định của
pháp luật thì phản ánh đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và kiến nghị
biện pháp xử lý; trường hợp cần thiết thì kiến nghị cấp có thẩm quyền đình chỉ
thực hiện đầu tư, vận hành dự án.
Điều 44. Hoạt động của Ban
Giám sát đầu tư của cộng đồng
1. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng do Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã trực tiếp chỉ đạo hoạt động.
2. Trên cơ sở hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng xây dựng chương trình,
kế hoạch kiểm tra, giám sát đầu tư của cộng đồng bám sát các nhiệm vụ và nội
dung kiểm tra, giám sát quy định tại Điều 43 của Luật này.
3. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng có trách
nhiệm định kỳ báo cáo hoặc báo cáo khi có yêu cầu về kết quả giám sát đầu tư của
cộng đồng với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Trưởng ban Giám sát đầu
tư của cộng đồng được mời tham dự cuộc họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có nội dung liên quan đến chương
trình, dự án mà Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng chịu trách nhiệm kiểm tra,
giám sát.
Điều 45. Trách nhiệm trong
việc bảo đảm hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng
1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có
trách nhiệm sau đây:
a) Chủ trì việc thành lập Ban Giám sát đầu tư của
cộng đồng cho từng chương trình, dự án. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cấp xã quyết định số lượng thành viên; cử đại diện tham gia Ban Giám
sát đầu tư của cộng đồng; dự kiến địa bàn và số thành viên được bầu theo từng địa
bàn để chỉ đạo Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố phối hợp cùng Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức việc bầu thành viên là đại diện Nhân dân
tham gia Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; công nhận kết quả bầu thành viên
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng; tổ chức cuộc họp của Ban Giám sát đầu tư của
cộng đồng để bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban và phân công nhiệm vụ cho từng
thành viên; cử, đề nghị cử hoặc tổ chức bầu bổ sung thành viên Ban Giám sát đầu
tư của cộng đồng trong trường hợp khuyết, thiếu;
b) Thông báo cho chủ chương trình, chủ đầu tư,
ban quản lý chương trình, dự án về kế hoạch giám sát và thành phần Ban Giám sát
đầu tư của cộng đồng chậm nhất là 45 ngày trước ngày thực hiện; thông báo về
thành phần Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân cùng cấp và Nhân dân ở địa phương;
c) Hướng dẫn Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng
xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát chương trình, dự án đầu tư
theo quy định của pháp luật; hỗ trợ Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng trong việc
thông tin liên lạc, lập và gửi các báo cáo giám sát đầu tư của cộng đồng;
d) Xác nhận văn bản kiến nghị, phản ánh của Ban
Giám sát đầu tư của cộng đồng trước khi gửi cơ quan có thẩm quyền; đôn đốc việc
giải quyết kiến nghị của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng;
đ) Động viên Nhân dân ở địa phương tích cực tham
gia kiểm tra, giám sát tại cộng đồng và ủng hộ, hỗ trợ hoạt động của Ban Giám
sát đầu tư của cộng đồng;
e) Hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Giám sát đầu
tư của cộng đồng. Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng
đồng được sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước theo dự toán, kế hoạch hằng năm của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, do ngân sách nhà nước cấp xã bảo đảm.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau
đây:
a) Bố trí địa điểm làm việc để Ban Giám sát đầu
tư của cộng đồng tổ chức các cuộc họp và lưu trữ tài liệu phục vụ hoạt động kiểm
tra, giám sát;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu cần thiết theo yêu cầu của
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng;
c) Xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, thông báo kết quả giải quyết trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị;
d) Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động của
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, người có hành vi trả thù, trù dập thành viên
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy định của pháp luật.
3. Chủ chương trình, chủ đầu tư, ban quản lý
chương trình, dự án có trách nhiệm sau đây:
a) Cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời tài liệu
liên quan đến việc triển khai thực hiện chương trình, dự án theo yêu cầu của
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng;
b) Tạo điều kiện thuận lợi cho Ban Giám sát đầu
tư của cộng đồng thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật;
c) Tiếp thu ý kiến, kiến nghị kiểm tra, giám sát
của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và thông báo kết quả thực hiện đến Ban
Giám sát đầu tư của cộng đồng.
4. Chính phủ quy định chi tiết tổ chức và hoạt động
của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng.
Chương III
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ
QUAN, ĐƠN VỊ
Mục 1. CÔNG KHAI THÔNG TIN Ở
CƠ QUAN, ĐƠN VỊ
Điều 46. Những nội dung người
đứng đầu cơ quan, đơn vị phải công khai
Trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật
công tác hoặc thông tin chưa được công khai theo quy định của pháp luật, người
đứng đầu cơ quan, đơn vị phải công khai trong nội bộ cơ quan, đơn vị các nội
dung sau đây:
1. Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước liên quan đến tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị;
2. Kế hoạch công tác hằng năm, hằng quý, hằng
tháng của cơ quan, đơn vị;
3. Số liệu, báo
cáo thuyết minh dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền quyết định
và các nguồn tài chính khác; tình hình thực hiện dự toán ngân sách và quyết
toán ngân sách hằng năm của cơ quan, đơn vị; kết quả thực hiện các kiến nghị của
Kiểm toán nhà nước (nếu có);
4. Tiêu chuẩn, định
mức, thủ tục hành chính về tài sản công; tình hình đầu tư xây dựng, mua sắm,
giao, thuê, sử dụng, thu hồi, điều chuyển, chuyển đổi công năng, bán, thanh lý,
tiêu hủy và hình thức xử lý khác đối với tài sản công; tình hình khai thác nguồn
lực tài chính từ tài sản công được giao quản lý, sử dụng;
5. Nguyên tắc, tiêu chí, định mức
phân bổ vốn đầu tư công; nguyên tắc, tiêu chí, căn cứ xác định danh mục dự án
trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; kế hoạch, chương trình đầu tư
công của cơ quan, đơn vị, vốn bố trí theo từng năm, tiến độ thực hiện và giải
ngân vốn chương trình đầu tư công; kế hoạch phân bổ vốn đầu tư công trung hạn
và hằng năm gồm danh mục dự án và mức vốn đầu tư công cho từng dự án; tình hình
huy động các nguồn lực và nguồn vốn khác tham gia thực hiện dự án đầu tư công;
tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án; tiến độ thực hiện
và giải ngân của dự án; kết quả nghiệm thu, đánh giá chương trình, dự án; quyết
toán vốn đầu tư công;
6. Việc tuyển
dụng, tiếp nhận, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân
chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, quy hoạch, chuyển đổi vị trí công tác;
hợp đồng làm việc, thay đổi chức danh nghề nghiệp, thay đổi vị trí việc làm, chấm
dứt hợp đồng làm việc; đi công tác nước ngoài; giải quyết chế độ, nâng bậc
lương, nâng ngạch, đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động;
khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động; các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch và việc xây dựng các
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, đơn vị;
7. Kết luận của cấp có thẩm quyền về vụ việc
tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị; bản kê khai tài sản, thu
nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo quy định của pháp luật;
8. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị trong nội bộ cơ quan, đơn vị;
9. Nội quy, quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị;
quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, đơn vị;
10. Kết quả tổng hợp ý kiến và giải trình, tiếp
thu ý kiến của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về những nội dung
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến quy định tại Điều 53 của Luật này;
11. Văn bản chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản
lý cấp trên liên quan đến hoạt động của cơ quan, đơn vị;
12. Nội dung khác theo quy định của pháp luật và
quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị.
Điều 47. Hình thức và thời
điểm công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị
1. Các hình thức công khai thông tin bao gồm:
a) Niêm yết thông tin;
b) Thông báo qua hệ thống thông tin nội bộ hoặc
đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn
vị;
c) Thông báo tại hội nghị cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị;
d) Thông báo bằng văn bản đến toàn thể cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động tại cơ quan, đơn vị;
đ) Thông qua người phụ trách các bộ phận của cơ
quan, đơn vị để thông báo đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động;
e) Thông báo bằng văn bản đến tổ chức đảng, Ban
Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị để thông báo đến cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động tại cơ quan, đơn vị;
g) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật
và quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị.
2. Nội dung thông
tin quy định tại Điều 46 của Luật này phải được công khai
chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định, văn bản của cơ quan có
thẩm quyền về nội dung cần công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Điều 48.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện việc công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị
1. Trường hợp cơ quan, đơn vị đã
có trang thông tin điện tử nội bộ hoặc hệ thống thông tin điện tử nội bộ thì
người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức đăng tải các thông tin
quy định tại Điều 46 của Luật này trên trang thông tin điện
tử nội bộ hoặc hệ thống thông tin điện tử nội bộ ít nhất là 20 ngày liên
tục kể từ ngày bắt đầu đăng tin hoặc gửi thông tin, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
2. Trường hợp cơ quan, đơn vị chưa
có trang thông tin điện tử nội bộ hoặc hệ thống thông tin điện tử nội bộ thì
người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức niêm yết các thông tin
quy định tại Điều 46 của Luật này tại trụ sở của cơ
quan, đơn vị và nơi làm việc của các đơn vị, bộ phận có liên quan
trực tiếp ít nhất là 20 ngày liên tục kể từ ngày niêm yết, trừ trường hợp
đã sử dụng hình thức thông báo bằng văn bản đến
toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại cơ quan, đơn vị
hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Cùng với việc thực hiện công
khai thông tin bằng các hình thức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, căn
cứ vào đặc điểm, tính chất hoạt động và nội dung cần công
khai, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thể quyết định lựa chọn
thêm các hình thức công khai khác quy định tại khoản
1 Điều 47 của Luật này phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan,
đơn vị, bảo đảm để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tiếp cận
thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, thuận lợi.
4. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị
có trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin theo yêu cầu của cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động đối với những thông tin trong thời hạn công khai mà
chưa được công khai, thông tin đã hết thời hạn công khai hoặc thông tin đang được
công khai nhưng vì lý do bất khả kháng mà người yêu cầu không thể tiếp cận được.
5. Cơ quan, đơn vị có thể xác định
thêm các nội dung thông tin cần công khai, hình thức công khai, việc áp dụng
các hình thức công khai đối với từng loại nội dung thông tin nhất định và cách
thức thực hiện, việc cung cấp thông tin theo yêu cầu trong quy chế thực hiện
dân chủ của cơ quan, đơn vị phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động, điều kiện
thực tế của cơ quan, đơn vị mình và không trái với quy định tại Mục này.
6. Trường hợp pháp luật có quy định
khác về hình thức, cách thức thực hiện công khai đối với nội dung thông tin cụ
thể thì áp dụng theo quy định đó.
Mục 2. CÁN BỘ, CÔNG CHỨC,
VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG BÀN VÀ QUYẾT ĐỊNH
Điều 49. Những
nội dung cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn và quyết định
1. Bầu, cho thôi
làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị.
2. Việc thu, chi,
quản lý, sử dụng các khoản đóng góp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động tại cơ quan, đơn vị ngoài các khoản đã được pháp luật quy định.
3. Nội dung nghị
quyết hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
4. Các công việc
tự quản khác trong nội bộ cơ quan, đơn vị không trái với quy định của pháp luật,
phù hợp với đạo đức xã hội.
Điều 50. Hình
thức cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn và quyết định
1. Cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động tại cơ quan, đơn vị bàn và quyết định các nội
dung quy định tại Điều 49 của Luật này tại hội nghị
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên cơ sở đề xuất của Ban Chấp
hành Công đoàn cơ quan, đơn vị, người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc khi có ít
nhất một phần ba tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ
quan, đơn vị cùng đề nghị.
2. Trường hợp không thể tổ chức
hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị vì lý
do bất khả kháng hoặc hội nghị đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn
không có đủ số người tham dự quy định tại điểm c khoản 2 Điều
51 của Luật này thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị sau khi đã thống nhất với
Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị quyết định tổ chức gửi phiếu lấy ý kiến
của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị.
Điều 51. Tổ chức hội nghị
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
1. Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người
lao động do người đứng đầu cơ quan, đơn vị chủ trì, phối hợp với Công đoàn cơ
quan, đơn vị tổ chức.
Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần sau khi kết thúc năm công tác của cơ
quan, đơn vị nhưng không chậm hơn 03 tháng của năm công tác tiếp theo do người
đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định sau khi lấy ý kiến của Công đoàn cơ quan,
đơn vị.
Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động được tổ chức bất thường khi có đề xuất của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này.
2. Thành phần dự hội nghị cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động được quy định như sau:
a) Đối với cơ quan, đơn vị có tổng số cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động ít hơn 100 người, thì tổ chức hội nghị
toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị, trừ
trường hợp quy định tại điểm b và điểm đ khoản này;
b) Đối với cơ quan, đơn vị có tổng số cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động từ 100 người trở lên hoặc có ít hơn 100
người nhưng làm việc phân tán trên địa bàn rộng hoặc vì lý do nghiệp vụ không
thể bỏ vị trí làm việc, thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị thống nhất với Công
đoàn cơ quan, đơn vị quyết định thành phần tham dự hội nghị là toàn thể cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động hoặc đại biểu cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động phù hợp với đặc điểm tình hình của cơ quan, đơn vị;
c) Hội nghị được tổ chức hợp lệ khi có ít nhất
là hai phần ba tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ
quan, đơn vị hoặc ít nhất là hai phần ba
tổng số đại biểu được triệu tập có mặt. Nghị quyết, quyết định của hội nghị được
thông qua khi có trên 50% tổng số người dự hội nghị tán thành và nội dung không
trái với quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội;
d) Đối với các cơ quan, đơn vị có đơn vị trực
thuộc, khi tổ chức hội nghị có thể mời người đứng đầu và đại diện Ban Chấp hành
Công đoàn của các cơ quan, đơn vị trực thuộc nếu thấy cần thiết;
đ) Cơ quan, đơn vị có từ 07 cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động trở xuống có thể tổ chức hội nghị cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động nếu thấy cần thiết.
3. Nội dung của hội nghị cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động bao gồm:
a) Kiểm điểm việc thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị;
b) Kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết hội nghị
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước đó và những quy định về thực
hiện dân chủ tại cơ quan, đơn vị;
c) Đánh giá, tổng kết và kiểm điểm trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện kế hoạch công tác hằng năm;
d) Tổng kết phong trào thi đua, xét khen thưởng
và bàn, thống nhất nội dung thi đua năm tiếp theo; thống nhất nội dung giao ước
thi đua;
đ) Thảo luận và quyết định các nội dung quy định
tại Điều 49 của Luật này;
e) Thực hiện các nội dung về công khai thông
tin; lấy ý kiến của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về những nội
dung quy định tại Điều 53 của Luật này;
g) Thực hiện các công việc khác theo quyết định
của hội nghị.
4. Trình tự tổ chức hội nghị được thực hiện như
sau:
a) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị trình bày báo
cáo về các nội dung quy định tại điểm a và điểm c khoản 3 Điều này;
b) Đại diện Công đoàn cơ quan, đơn vị báo cáo về
các nội dung quy định tại điểm b khoản 3 Điều này; kết quả giám sát, hỗ trợ cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị;
c) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
tham dự hội nghị thảo luận, tham gia ý kiến, đề xuất, kiến nghị (nếu có);
d) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Công
đoàn cơ quan, đơn vị tiếp thu, giải đáp thắc mắc, kiến nghị của cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động đối với các nội dung thuộc thẩm quyền, bàn các biện
pháp cải tiến điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị, các biện pháp thực hiện kế hoạch
công tác năm tiếp theo của cơ quan, đơn vị;
đ) Đại diện Ban Thanh tra nhân dân trình bày báo
cáo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong năm và chương trình công tác năm
tiếp theo;
e) Hội nghị quyết định các nội dung quy định tại
Điều 49 của Luật này (nếu có);
g) Tổ chức khen thưởng cá nhân, tập thể của cơ
quan, đơn vị có thành tích trong công tác; phát động phong trào thi đua;
h) Ký kết giao ước thi đua giữa người đứng đầu
cơ quan, đơn vị với tổ chức công đoàn;
i) Thông qua nghị quyết hội nghị.
Điều 52.
Trách nhiệm trong việc tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
bàn, quyết định và thực hiện quyết định của tập thể cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động
1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị
có trách nhiệm phối hợp cùng Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị thống nhất
chủ trương, xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động hoặc tổ chức gửi phiếu lấy ý kiến để cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động bàn, quyết định các nội dung quy định tại Điều
49 của Luật này.
2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị
phối hợp cùng Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị phổ biến, hướng dẫn, đôn
đốc việc thực hiện nghị quyết của hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người
lao động, quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị và các nội dung khác đã
được cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thống nhất, quyết định; cử đầu
mối để phối hợp, theo dõi, đề xuất xử lý kịp thời những phát sinh trong quá
trình tổ chức thực hiện.
3. Định kỳ 06
tháng một lần, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phối hợp với
Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết hội
nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; thông
báo kết quả kiểm tra, đánh giá đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn
vị.
4. Đảng viên, cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tích cực, gương
mẫu tham gia bàn và quyết định các nội dung quy định tại Điều
49 của Luật này và nghiêm túc thực hiện các quyết định đã được tập thể thống
nhất; trường hợp nhận thấy quyết định của tập thể cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động không bảo đảm trình tự, thủ tục hoặc có nội dung trái với quy định
của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì có quyền kiến nghị, phản ánh đến Ban Chấp
hành Công đoàn cấp trên, lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan, đơn vị hoặc
cơ quan khác có thẩm quyền.
Mục 3. CÁN BỘ, CÔNG CHỨC,
VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG THAM GIA Ý KIẾN
Điều 53. Những nội dung cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến trước khi người đứng đầu
cơ quan, đơn vị quyết định
1. Giải pháp thực hiện chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan, đơn vị.
2. Kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan, đơn vị.
3. Tổ chức phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị.
4. Báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan, đơn vị.
5. Các biện pháp cải tiến tổ chức, hoạt động và
lề lối làm việc; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí, chống quan liêu, phiền hà, sách nhiễu Nhân dân.
6. Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức; bầu cử, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.
7. Thực hiện chế độ, chính sách liên quan đến
quyền và lợi ích của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
8. Dự thảo quy chế
thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị.
9. Dự thảo quy chế chi tiêu
nội bộ của cơ quan, đơn vị (nếu có).
10. Các dự thảo
nội quy, quy chế khác của cơ quan, đơn vị.
11. Các nội dung khác theo quy định của pháp luật
và quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị.
Điều 54. Hình thức cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến
Căn cứ đặc điểm, tính chất hoạt động và nội dung
tham gia ý kiến, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có thể tham gia ý
kiến thông qua một hoặc một số hình thức sau đây:
1. Tham gia ý kiến trực tiếp với người đứng đầu
cơ quan, đơn vị hoặc thông qua người phụ trách các bộ phận của cơ quan, đơn vị;
2. Thông qua hội nghị cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động và các cuộc họp, hội nghị khác của cơ quan, đơn vị;
3. Thể hiện ý kiến qua phiếu lấy ý kiến trực tiếp
hoặc dự thảo văn bản do cấp có thẩm quyền gửi;
4. Tham gia ý kiến qua hòm thư góp ý, đường dây
nóng, hệ thống thông tin nội bộ hoặc cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện
tử của cơ quan, đơn vị;
5. Thông qua Công đoàn và các tổ chức đoàn thể
khác tại cơ quan, đơn vị;
6. Các hình thức khác không trái với quy định của
pháp luật và được quy định trong quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị.
Điều 55.
Trách nhiệm trong việc tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
tham gia ý kiến
1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị
có kế hoạch tổ chức lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về
các nội dung quy định tại Điều 53 của Luật này, trong đó
xác định rõ nội dung lấy ý kiến, hình thức lấy ý kiến, cách thức, thời hạn triển
khai và trách nhiệm tổ chức thực hiện; chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tiếp nhận,
tổng hợp ý kiến, thông tin phản hồi của cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động; nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến tham gia và thực hiện việc công
khai nội dung giải trình, tiếp thu đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động.
2. Ban Chấp hành Công đoàn cơ
quan, đơn vị phối hợp với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện kế
hoạch tổ chức lấy ý kiến; giám sát việc lập và tổ chức thực
hiện kế hoạch tổ chức lấy ý kiến, quá trình lấy ý kiến, kết quả giải trình, tiếp
thu và tổ chức thực hiện các nội dung cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
đã tham gia ý kiến; tham gia ý kiến trước khi người đứng đầu cơ quan, đơn vị
quyết định ban hành quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị.
3. Đảng viên, cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tích cực, gương
mẫu đóng góp, tham gia ý kiến làm cơ sở cho cấp có thẩm quyền quyết định; theo
dõi, đánh giá, giám sát việc tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến đối với các
nội dung đã được đưa ra lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
và quá trình tổ chức thực hiện quyết định về các nội dung này.
Mục 4. CÁN BỘ, CÔNG CHỨC,
VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT
Tiểu mục 1. NỘI DUNG,
HÌNH THỨC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
Điều 56. Nội
dung cán bộ, công chức, viên chức, người lao động kiểm tra, giám sát
1. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
kiểm tra việc thực hiện các nội dung mà tập thể cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động đã bàn và quyết định quy định tại Điều 49 của Luật này.
2. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
giám sát việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở và việc thực hiện chính sách,
pháp luật của người đứng đầu, ban lãnh đạo, người có thẩm quyền của cơ quan,
đơn vị, hành vi hành chính của người thực thi công vụ, nhiệm vụ tại cơ quan,
đơn vị.
Điều 57. Hình
thức cán bộ, công chức, viên chức, người lao động kiểm tra, giám sát
1. Cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động trực tiếp thực hiện việc kiểm tra, giám sát thông qua:
a) Hoạt động học tập, công tác, sinh hoạt của
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở cơ quan, đơn vị;
b) Quan sát, tìm hiểu, giao tiếp với người có chức
vụ, quyền hạn, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khác trong cơ quan,
đơn vị;
c) Tiếp cận các thông tin được công khai; các
thông tin, báo cáo của cơ quan, đơn vị hoặc người được giao quản lý, thực hiện
các nội dung cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã bàn và quyết định;
d) Tham dự hội nghị cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động.
2. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
thực hiện việc kiểm tra, giám sát thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân
dân ở cơ quan, đơn vị.
Điều 58. Xử lý kết quả kiểm
tra, giám sát của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
1. Thông qua việc kiểm tra, giám sát trực tiếp,
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia nhận xét, góp ý kiến về
phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả
thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu, ban lãnh đạo, người quản lý, phụ trách
trực tiếp, những người có thẩm quyền khác tại cơ quan, đơn vị; tích cực tham
gia ý kiến góp phần xây dựng nội bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.
2. Khi phát hiện hành vi, nội dung có dấu hiệu
vi phạm, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có quyền khiếu nại, tố
cáo theo quy định của pháp luật hoặc kiến nghị, phản ánh đến người đứng đầu cơ
quan, đơn vị, đến tổ chức Công đoàn hoặc các tổ chức đoàn thể khác mà mình là thành
viên được thành lập và hoạt động ở cơ quan, đơn vị hoặc phản ánh, đề nghị Ban
Thanh tra nhân dân xem xét, thực hiện kiểm tra, giám sát theo chức năng, nhiệm
vụ.
3. Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị thay
mặt cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện kiểm tra, giám sát
theo quy định tại Tiểu mục 2 của Mục này.
Điều 59.
Trách nhiệm trong việc bảo đảm để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
thực hiện kiểm tra, giám sát
1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị
có trách nhiệm sau đây:
a) Phối hợp cùng Ban Chấp hành
Công đoàn cơ quan, đơn vị, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, đặc điểm, tính chất tổ
chức, hoạt động và điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, xây dựng và ban hành
quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị để quy định cụ
thể hơn nội dung, cách thức thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị
mình làm cơ sở để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động kiểm tra, giám
sát việc thực hiện. Nội dung của quy chế thực hiện dân chủ của cơ quan, đơn vị
có thể mở rộng hơn phạm vi thực hiện dân chủ của cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động nhưng không được trái hoặc hạn chế việc thực hiện các nội dung
đã được quy định trong Luật này;
b) Tạo lập cơ chế tiếp nhận góp ý,
kiến nghị, phản ánh của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại cơ
quan, đơn vị; thực hiện việc đối thoại, giải trình với cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động theo quy định của pháp luật; sử dụng nội dung nhận xét,
góp ý của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong quá trình thực hiện
đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại
cơ quan, đơn vị;
c) Xem xét, giải quyết, giải trình
và trả lời kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động, kiến nghị của Công đoàn và các tổ chức đoàn thể khác
tại cơ quan, đơn vị; kịp thời báo cáo, chuyển thông tin đến cơ quan có thẩm quyền
đối với những vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;
d) Tạo điều kiện và bảo đảm để Ban
Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo
quy định của pháp luật;
đ) Xử lý người có hành vi cản trở
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện quyền kiểm tra, giám sát
hoặc người có hành vi trả thù, trù dập người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh theo quy định của pháp luật;
e) Thực hiện các biện pháp
phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng, tiêu cực; xử lý
và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý người có hành vi tham
nhũng, tiêu cực; nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra tham
nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị thì bị xử lý theo
quy định của pháp luật.
2. Các cơ quan, đơn vị, tổ
chức, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 58 của Luật này có
trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động theo thẩm quyền hoặc thực hiện
việc thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.
3. Cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động chịu trách nhiệm về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của mình; chủ động, tích cực phối hợp với Ban Thanh tra nhân dân và các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc xác minh, kiểm tra, giám sát đối
với các nội dung mà mình đã kiến nghị, đề nghị.
Tiểu mục 2. BAN THANH TRA
NHÂN DÂN Ở CƠ QUAN, ĐƠN VỊ
Điều 60. Tổ chức Ban Thanh
tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị
1. Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị do hội
nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bầu gồm từ 03 đến 09 thành
viên theo đề nghị của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị.
Trường hợp cơ quan, đơn vị có tính chất đặc thù
hoặc hoạt động phân tán thì hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
có thể quyết định số lượng thành viên Ban Thanh tra nhân dân nhiều hơn để bảo đảm
hoạt động có hiệu quả.
Trường hợp cơ quan, đơn vị có từ 07 cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động trở xuống hoặc trong các trường hợp đặc thù thì
không tổ chức Ban Thanh tra nhân dân.
2. Thành viên Ban Thanh tra nhân dân là người
đang công tác trong cơ quan, đơn vị, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong
cơ quan, đơn vị, có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ; có hiểu biết về chính
sách, pháp luật và tự nguyện tham gia Ban Thanh tra nhân dân; không đồng thời
là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, kế toán trưởng của cơ quan, đơn
vị.
3. Nhiệm kỳ của Ban Thanh tra nhân dân là 02
năm. Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết thành viên hoặc thành viên Ban Thanh tra nhân
dân không hoàn thành nhiệm vụ, không còn được tín nhiệm hoặc xin thôi làm nhiệm
vụ thì Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị đề nghị hội nghị cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động quyết định cho thôi làm nhiệm vụ và bầu
người khác thay thế.
4. Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị gồm
Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Trưởng ban chịu trách nhiệm chung về
hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; Phó Trưởng ban có trách nhiệm giúp Trưởng
ban thực hiện nhiệm vụ; các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo sự phân
công của Trưởng ban.
Điều 61. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị
1. Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quyết định
của tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; giám sát việc thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc thực
hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở tại cơ quan, đơn vị.
2. Kiến nghị cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền
xử lý theo quy định của pháp luật khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
và giám sát việc thực hiện kiến nghị đó.
3. Yêu cầu người đứng đầu cơ quan, đơn vị cung cấp
thông tin, tài liệu có liên quan để phục vụ việc xác minh, kiểm tra, giám sát.
4. Xem xét, xác minh vụ việc cụ thể theo đề nghị
của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở cơ quan, đơn vị.
5. Kiến nghị người đứng đầu cơ quan, đơn vị khắc
phục hạn chế, thiếu sót được phát hiện qua việc kiểm tra, giám sát; bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động;
biểu dương những đơn vị, cá nhân có thành tích. Trường hợp phát hiện người có
hành vi vi phạm pháp luật thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét,
xử lý.
6. Tham dự các cuộc họp của cơ quan, đơn vị có nội
dung liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Ban Thanh tra
nhân dân.
7. Tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động có liên quan đến phạm vi kiểm tra, giám
sát của Ban Thanh tra nhân dân.
Điều 62. Hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị
1. Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị do
Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động.
2. Căn cứ vào nghị quyết hội nghị cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị và sự chỉ đạo, hướng dẫn của
Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị, Ban Thanh tra nhân dân xây dựng chương
trình công tác theo từng quý, 06 tháng và hằng năm.
3. Ban Thanh tra nhân dân có trách nhiệm báo cáo
về hoạt động của mình với Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị và tại hội
nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị.
Điều 63. Trách nhiệm trong
việc bảo đảm hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị
1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm
sau đây:
a) Thông báo cho Ban Thanh tra nhân dân về những
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chủ yếu liên
quan đến tổ chức, hoạt động của cơ quan, đơn vị; báo cáo kết quả công tác hằng
năm và mục tiêu, phương hướng công tác năm tiếp theo của cơ quan, đơn vị;
b) Trực tiếp đối thoại, cung cấp thông tin hoặc
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp đầy đủ, kịp thời thông
tin, tài liệu cần thiết theo yêu cầu của Ban Thanh tra nhân dân;
c) Xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của
Ban Thanh tra nhân dân, thông báo kết quả giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được kiến nghị;
d) Thông báo cho Ban Thanh tra nhân dân kết quả
giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở
cơ quan, đơn vị;
đ) Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động của
Ban Thanh tra nhân dân, người có hành vi trả thù, trù dập thành viên Ban Thanh
tra nhân dân theo quy định của pháp luật.
2. Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị có
trách nhiệm sau đây:
a) Giới thiệu nhân sự để hội nghị cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động bầu làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân; công
nhận kết quả bầu thành viên Ban Thanh tra nhân dân; đề nghị cho thôi làm thành
viên Ban Thanh tra nhân dân; tổ chức cuộc họp của Ban Thanh tra nhân dân để bầu
Trưởng ban, Phó Trưởng ban và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên;
b) Hướng dẫn Ban Thanh tra nhân dân xây dựng
chương trình, kế hoạch, nội dung công tác; xem xét báo cáo hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân và hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân;
tham gia hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân khi xét thấy cần thiết;
c) Xem xét, giải quyết kiến nghị của Ban Thanh
tra nhân dân; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của Ban Thanh tra
nhân dân gửi đến người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc cấp có thẩm quyền;
d) Vận động cán bộ, công chức, viên chức, người
lao động ở cơ quan, đơn vị phối hợp và tích cực hỗ trợ hoạt động của Ban Thanh
tra nhân dân;
đ) Hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Thanh tra
nhân dân;
e) Thực hiện các nhiệm vụ của Ban Thanh tra nhân
dân ở cơ quan, đơn vị không tổ chức Ban Thanh tra nhân dân theo quy định của
pháp luật.
3. Chính phủ quy định chi tiết tổ chức và hoạt động
của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị.
Chương IV
THỰC HIỆN DÂN CHỦ
Ở TỔ CHỨC CÓ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Mục 1. THỰC
HIỆN DÂN CHỦ Ở DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Tiểu mục 1.
CÔNG KHAI THÔNG TIN Ở DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Điều 64. Những nội dung
doanh nghiệp nhà nước phải công khai
1. Trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật
kinh doanh hoặc thông tin chưa được công khai theo quy định của pháp luật,
doanh nghiệp nhà nước phải công khai trong nội bộ doanh nghiệp các nội dung sau
đây:
a) Tình hình sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình
hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp
luật khác có liên quan;
b) Nội quy lao động, thang lương, bảng lương, định
mức lao động, nội quy, quy chế và các quy định khác của doanh nghiệp liên quan
đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của người lao động;
c) Các thỏa ước lao động tập thể mà doanh nghiệp
đã ký kết, tham gia;
d) Việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ
phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có);
đ) Việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;
e) Tình hình thực hiện công tác thi đua, khen
thưởng, kỷ luật, giải quyết kiến nghị, phản ánh liên quan đến quyền, lợi ích và
nghĩa vụ của người lao động;
g) Quy chế thực hiện dân chủ của doanh nghiệp;
h) Các nội dung khác về thông tin tài chính, quản
lý tài sản công, về công tác cán bộ theo quy định của pháp luật và quy chế thực
hiện dân chủ tại doanh nghiệp.
2. Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước công khai
các thông tin về việc bảo đảm đạo đức, văn hóa kinh doanh, việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Điều 65. Hình thức và thời
điểm công khai thông tin ở doanh nghiệp nhà nước
1. Các hình thức công khai thông tin bao gồm:
a) Niêm yết thông tin;
b) Thông báo tại hội nghị người lao động; tại hội
nghị đối thoại giữa người sử dụng lao động và Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh
nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao động tại cơ sở (nếu
có); tại các cuộc họp, giao ban của đơn vị, bộ phận của doanh nghiệp;
c) Thông báo bằng văn bản đến toàn thể người lao
động;
d) Thông qua người phụ trách các đơn vị, bộ phận
của doanh nghiệp để thông báo đến người lao động;
đ) Thông báo bằng văn bản đến Ban Chấp hành Công
đoàn ở doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở
cơ sở (nếu có) để thông báo đến người lao động;
e) Thông báo qua hệ thống thông tin nội bộ hoặc
đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của doanh nghiệp;
g) Thông qua mạng viễn thông, mạng xã hội hoạt động
hợp pháp theo quy định của pháp luật và được sự thống nhất của Ban Chấp hành
Công đoàn ở doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao
động ở cơ sở (nếu có);
h) Các hình thức chuyển tải thông tin khác không
vi phạm quy định của pháp luật và được quy định trong quy chế thực hiện dân chủ
của doanh nghiệp.
2. Nội dung thông
tin quy định tại Điều 64 của Luật này phải được công khai
chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày có quyết định, văn bản của người có thẩm quyền
về nội dung cần công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 66.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện việc công khai thông tin ở doanh nghiệp nhà nước
1. Trường hợp doanh nghiệp nhà nước
có trang thông tin điện tử nội bộ hoặc hệ thống thông tin điện tử nội bộ thì
người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước có
trách nhiệm tổ chức đăng tải các thông tin quy định tại Điều 64
của Luật này trên trang thông tin điện tử nội bộ hoặc hệ thống thông tin điện
tử nội bộ ít nhất là 20 ngày liên tục kể từ ngày bắt đầu
đăng tin hoặc gửi thông tin, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Trường hợp doanh nghiệp nhà nước
chưa có trang thông tin điện tử nội bộ hoặc hệ thống thông tin điện tử nội bộ
thì người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp có trách
nhiệm tổ chức niêm yết các thông tin quy định tại Điều 64 của
Luật này tại trụ sở của doanh nghiệp và nơi làm việc của
các đơn vị, bộ phận có liên quan trực tiếp ít nhất là 20 ngày liên tục kể
từ ngày niêm yết, trừ trường hợp đã sử dụng hình thức thông
báo bằng văn bản đến toàn thể người lao động tại doanh nghiệp hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Cùng với việc thực hiện
công khai thông tin bằng các hình thức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này,
căn cứ vào đặc điểm, tính chất hoạt động và nội dung cần
công khai, người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước
có thể quyết định lựa chọn thêm các hình thức công khai
khác quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này phù hợp
với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, bảo đảm để người lao động tiếp cận
thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, thuận lợi.
4. Người đại diện có thẩm quyền của
doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin theo yêu cầu của
người lao động đối với những thông tin trong thời hạn công khai mà chưa được
công khai, thông tin đã hết thời hạn công khai hoặc thông tin đang được công
khai nhưng vì lý do bất khả kháng mà người yêu cầu không thể tiếp cận được.
5. Doanh nghiệp nhà nước có thể
xác định thêm các nội dung thông tin cần công khai, hình thức công khai thông
tin, việc áp dụng các hình thức công khai đối với từng loại nội dung thông tin
nhất định và cách thức thực hiện, việc cung cấp thông tin theo yêu cầu trong
quy chế thực hiện dân chủ phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động, điều kiện thực
tế của doanh nghiệp mình và không trái với quy định tại Mục
này.
6. Trường hợp pháp luật có quy định
khác về hình thức, cách thức thực hiện công khai đối với nội dung thông tin cụ
thể thì áp dụng theo quy định đó.
Tiểu mục 2. NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC BÀN VÀ QUYẾT ĐỊNH
Điều 67. Những
nội dung người lao động bàn và quyết định
1. Nội dung thương lượng tập
thể đã đạt được theo quy định của pháp luật.
2. Việc lập các loại quỹ và thu,
chi, quản lý, sử dụng các khoản từ thu nhập, đóng góp của người lao động.
3. Việc bầu,
cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân.
4. Nội dung nghị quyết của
hội nghị người lao động.
5. Các nội dung tự quản khác trong
nội bộ doanh nghiệp nhà nước không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với
đạo đức xã hội.
Điều 68. Hình
thức người lao động bàn và quyết định
1. Người lao động
bàn và quyết định các nội dung quy định tại các khoản 2, 3, 4
và 5 Điều 67 của Luật này tại hội nghị người lao động trên cơ sở đề
xuất của Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp, tổ chức đại diện khác của người
lao động ở cơ sở (nếu có), người đại diện có thẩm quyền của doanh
nghiệp nhà nước hoặc khi có ít nhất là một phần ba tổng số người lao động
của doanh nghiệp cùng đề nghị.
2. Trường hợp không thể tổ chức
hội nghị người lao động vì lý do bất khả kháng hoặc hội nghị đã được triệu tập
đến lần thứ hai nhưng vẫn không có đủ số người tham dự quy định tại điểm c khoản 2 Điều 69 của Luật này thì người đại diện có thẩm
quyền của doanh nghiệp nhà nước, sau khi đã thống nhất với
Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác
của người lao động ở cơ sở (nếu có), quyết định tổ chức gửi phiếu lấy ý kiến của
toàn thể người lao động trong doanh nghiệp.
3. Việc bàn và quyết định nội
dung quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật này thực hiện
theo quy định của pháp luật về lao động.
Điều 69. Tổ chức hội nghị
người lao động
1. Hội nghị người lao động do ban lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước và Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp,
ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở (nếu có) phối
hợp tổ chức.
Hội nghị người lao động được tổ chức định kỳ mỗi
năm một lần sau khi kết thúc năm tài chính của doanh nghiệp nhưng không chậm
hơn 03 tháng của năm tiếp theo do người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp
quyết định sau khi lấy ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp, ban đại
diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở (nếu có).
Hội nghị người lao động được tổ chức bất thường
khi có đề xuất của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 68 của
Luật này.
2. Thành phần dự hội nghị người lao động tại
doanh nghiệp nhà nước được quy định như sau:
a) Đối với doanh nghiệp có sử dụng ít hơn 100
người lao động, thì tổ chức hội nghị toàn thể người lao động của doanh nghiệp,
trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Đối với doanh nghiệp có sử dụng từ 100 người
lao động trở lên hoặc có dưới 100 người lao động nhưng làm việc phân tán trên địa
bàn rộng hoặc vì lý do nghiệp vụ không thể bỏ vị trí làm việc, thì người đại diện
có thẩm quyền của doanh nghiệp thống nhất với Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh
nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở (nếu
có) quyết định thành phần tham dự hội nghị là toàn thể người lao động hoặc đại
biểu người lao động phù hợp với đặc điểm tình hình của doanh nghiệp;
c) Hội nghị được tổ chức hợp lệ khi có ít nhất
là hai phần ba tổng số người lao động của doanh nghiệp hoặc ít nhất là hai phần
ba tổng số đại biểu được triệu tập có mặt. Nghị quyết, quyết định của hội nghị
được thông qua khi có trên 50% tổng số người dự hội nghị tán thành và nội dung
không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội.
3. Nội dung, thành phần tham gia, thời điểm tổ
chức, địa điểm, trình tự, trách nhiệm tổ chức hội nghị người lao động thực hiện
theo quy định của Chính phủ.
Điều 70.
Trách nhiệm trong việc tổ chức để người lao động bàn, quyết định và thực hiện
quyết định của tập thể người lao động
1. Người đại diện có thẩm quyền của
doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm phối hợp cùng Ban Chấp hành Công đoàn ở
doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở
(nếu có) thống nhất chủ trương, xây dựng kế hoạch tổ chức
hội nghị người lao động hoặc tổ chức gửi phiếu lấy ý kiến để người lao động
bàn, quyết định các nội dung quy định tại Điều 67 của Luật này.
2. Người đại diện có thẩm quyền của
doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm phối hợp cùng Ban Chấp hành Công đoàn ở
doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở
(nếu có) phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện nghị
quyết của hội nghị người lao động, quy chế thực hiện dân chủ của doanh nghiệp
và các nội dung khác đã được người lao động thống nhất, quyết định; cử đầu mối
để phối hợp, theo dõi, đề xuất xử lý kịp thời những phát sinh trong quá trình tổ
chức thực hiện.
3. Định kỳ 06
tháng một lần, người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà
nước có trách nhiệm phối hợp cùng Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp, ban đại
diện của tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở (nếu có) tổ chức
kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết hội nghị người
lao động; thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá đến toàn thể người lao động trong doanh nghiệp.
4. Đảng viên, đoàn viên công đoàn,
người lao động trong doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm
tích cực tham gia bàn và quyết định các nội dung quy định tại Điều
67 của Luật này và nghiêm túc thực hiện các quyết định đã được tập thể thống
nhất; trường hợp nhận thấy quyết định của tập thể người lao động không bảo đảm
trình tự, thủ tục hoặc có nội dung trái với quy định của pháp luật, trái đạo đức
xã hội thì có quyền kiến nghị, phản ánh đến Ban Chấp hành Công đoàn cấp trên trực
tiếp hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Tiểu mục 3. NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THAM GIA Ý KIẾN
Điều 71. Những nội dung người
lao động tham gia ý kiến
1. Những nội dung người lao động tham gia ý kiến
trước khi doanh nghiệp nhà nước quyết định bao gồm:
a) Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung nội quy, quy chế
và các quy định nội bộ khác của doanh nghiệp có liên quan
đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;
b) Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung thang lương,
bảng lương, định mức lao động;
c) Việc tổ chức thực hiện giải pháp cải thiện điều
kiện làm việc, bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy nổ; phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực;
d) Dự thảo quy trình, thủ tục nội bộ về giải quyết
tranh chấp lao động, xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và các nội
dung khác liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động mà doanh
nghiệp thấy cần tham khảo ý kiến;
đ) Dự thảo quy chế
thực hiện dân chủ của doanh nghiệp;
e) Các nội dung khác liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động theo quy định của pháp luật và quy chế thực hiện dân chủ của doanh nghiệp.
2. Những nội dung người lao động
tham gia ý kiến theo đề nghị của tổ chức đại diện người lao động bao gồm:
a) Nội dung, hình thức thỏa
ước lao động tập thể;
b) Nội dung, hình thức đối
thoại tại doanh nghiệp nhà nước.
Điều 72. Hình thức người
lao động tham gia ý kiến
Căn cứ đặc điểm, tính chất hoạt động và nội dung
tham gia ý kiến, người lao động tại doanh nghiệp nhà nước có thể tham gia ý kiến
thông qua một hoặc một số hình thức sau đây:
1. Tham gia ý kiến trực tiếp hoặc thông qua người
trực tiếp phụ trách của đơn vị, bộ phận của doanh nghiệp;
2. Thông qua tổ chức đại diện người lao động,
nhóm đại diện đối thoại của người lao động;
3. Thông qua hội nghị đối thoại tại doanh nghiệp;
4. Tham gia ý kiến qua hòm thư góp ý, đường dây
nóng, hệ thống thông tin nội bộ hoặc cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện
tử của doanh nghiệp;
5. Các hình thức khác không trái với quy định của
pháp luật và được quy định trong quy chế thực hiện dân chủ của doanh nghiệp.
Điều 73. Tổ chức đối thoại
tại nơi làm việc
1. Doanh nghiệp nhà nước có
trách nhiệm tổ chức hội nghị đối thoại với người lao động, tổ chức đại diện người
lao động tại doanh nghiệp theo định kỳ hằng năm; tổ chức đối thoại theo yêu cầu
của một hoặc các bên hoặc trong các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
để chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến giữa người sử dụng
lao động với người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động về những vấn đề
liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của các bên tại nơi làm việc nhằm
tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, cùng nỗ lực hướng tới giải pháp các bên cùng
có lợi.
2. Việc tổ chức đối thoại tại nơi làm việc thực
hiện theo quy định của pháp luật về lao động và quy chế thực hiện dân chủ của doanh nghiệp.
Điều 74.
Trách nhiệm trong việc tổ chức để người lao động tham gia ý kiến
1. Ban lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến người lao động
về các nội dung quy định tại Điều 71 của Luật này; chịu
trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp ý kiến, thông tin phản hồi
của người lao động; nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến tham gia và thực hiện
việc công khai nội dung giải trình, tiếp thu đến người lao động.
2. Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh
nghiệp, tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở (nếu có) tham gia phối hợp thực hiện việc tổ chức lấy ý kiến; giám sát việc
lấy ý kiến của người lao động, kết quả giải trình, tiếp thu và tổ
chức thực hiện các nội dung người lao động đã tham gia ý kiến; tham gia ý kiến
trước khi doanh nghiệp quyết định ban hành quy chế thực hiện dân chủ của doanh
nghiệp.
3. Đảng viên, đoàn viên công đoàn,
người lao động tại doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm
tích cực đóng góp, tham gia ý kiến với doanh nghiệp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền,
lợi ích của người lao động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, góp
phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp; theo
dõi, đánh giá, giám sát việc tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến đối với các
nội dung đã được đưa ra lấy ý kiến người lao động và quá trình tổ chức thực hiện
quyết định về các nội dung này.
Tiểu mục 4. NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
Điều 75. Nội
dung người lao động kiểm tra, giám sát
1. Người lao động ở doanh nghiệp nhà nước kiểm
tra việc thực hiện các nội dung mà tập thể người lao động đã bàn và quyết định
quy định tại Điều 67 của Luật này.
2. Người lao động giám sát việc thực hiện pháp
luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở của doanh nghiệp nhà nước,
việc thực hiện chính sách, pháp luật của người đại diện có thẩm quyền, ban lãnh
đạo, điều hành và những người có thẩm quyền khác của doanh nghiệp.
Điều 76. Hình
thức người lao động kiểm tra, giám sát
1. Người lao động trực tiếp
thực hiện việc kiểm tra, giám sát tại doanh nghiệp nhà nước
thông qua:
a) Hoạt động lao động, sản xuất, sinh hoạt của
người lao động ở doanh nghiệp;
b) Quan sát, tìm hiểu, giao tiếp với người có chức
vụ, quyền hạn, người lao động khác trong doanh nghiệp;
c) Tiếp cận các thông tin được công khai; các
thông tin, báo cáo của doanh nghiệp hoặc người được giao
quản lý, thực hiện các nội dung người lao động đã bàn và quyết định;
d) Tham dự hội nghị người lao động, hội nghị đối
thoại tại nơi làm việc, các hoạt động hội họp, sinh hoạt tập thể khác tại nơi
làm việc.
2. Người lao động thực hiện việc kiểm tra, giám
sát thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp
nhà nước.
Điều 77. Tổ chức Ban Thanh
tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước
1. Ban Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước
do hội nghị người lao động bầu gồm từ 03 đến 09 thành viên theo đề nghị của Ban
Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp, tổ chức đại diện khác của người lao động ở
cơ sở (nếu có).
Trường hợp doanh nghiệp nhà nước có tính chất đặc
thù hoặc hoạt động phân tán thì hội nghị người lao động có thể quyết định số lượng
thành viên Ban Thanh tra nhân dân nhiều hơn để bảo đảm hoạt động có hiệu quả.
2. Thành viên Ban Thanh tra nhân dân là người
đang làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín
trong doanh nghiệp, có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ; có hiểu biết về
chính sách, pháp luật và tự nguyện tham gia Ban Thanh tra nhân dân; không đồng
thời là người đại diện có thẩm quyền, thành viên ban lãnh đạo, điều hành, kế
toán trưởng của doanh nghiệp.
3. Nhiệm kỳ của Ban Thanh tra nhân dân là 02
năm. Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết thành viên hoặc thành viên Ban Thanh tra nhân
dân không hoàn thành nhiệm vụ, không còn được tín nhiệm hoặc xin thôi làm nhiệm
vụ thì Ban Chấp hành Công đoàn ở doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện
khác của người lao động ở cơ sở (nếu có) đề nghị hội nghị người lao động quyết
định cho thôi làm nhiệm vụ và bầu người khác thay thế.
4. Ban Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước
gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Trưởng ban chịu trách nhiệm
chung về hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; Phó Trưởng ban có trách nhiệm
giúp Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ; các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo
sự phân công của Trưởng ban.
Điều 78. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Ban Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước
1. Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quyết định
của tập thể người lao động; giám sát việc thực hiện pháp luật về thực hiện dân
chủ ở cơ sở của doanh nghiệp nhà nước.
2. Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý
theo quy định của pháp luật khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và giám
sát việc thực hiện kiến nghị đó.
3. Yêu cầu người đại diện có thẩm quyền, ban
lãnh đạo, điều hành của doanh nghiệp cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan
để phục vụ việc xác minh, kiểm tra, giám sát.
4. Xem xét, xác minh vụ việc cụ thể theo đề nghị
của người lao động ở doanh nghiệp.
5. Kiến nghị ban lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp
khắc phục hạn chế, thiếu sót được phát hiện qua việc kiểm tra, giám sát; bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; biểu dương những đơn
vị, cá nhân có thành tích. Trường hợp phát hiện người có hành vi vi phạm pháp
luật thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý.
6. Tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của người lao động
có liên quan đến phạm vi kiểm tra, giám sát của Ban Thanh tra nhân dân.
Điều 79. Hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước
1. Ban Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước
do Ban Chấp hành Công đoàn tại doanh nghiệp trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động.
2. Căn cứ vào nghị quyết hội nghị người lao động
của doanh nghiệp nhà nước và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chấp hành Công đoàn,
Ban Thanh tra nhân dân xây dựng chương trình công tác theo từng quý, 06 tháng
và hằng năm.
3. Ban Thanh tra nhân dân có trách nhiệm báo cáo
về hoạt động của mình với Ban Chấp hành Công đoàn và tại hội nghị người lao động
của doanh nghiệp nhà nước.
Điều 80. Xử lý kết quả kiểm
tra, giám sát của người lao động
1. Thông qua việc kiểm tra, giám sát trực tiếp,
người lao động tham gia ý kiến đóng góp với người có thẩm quyền của doanh nghiệp
nhà nước để kịp thời khắc phục các bất cập, hạn chế trong công tác tổ chức, quản
lý; ngăn ngừa tiêu cực, vi phạm pháp luật; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của người lao động và đóng góp giải pháp nhằm phát triển doanh nghiệp.
2. Khi phát hiện hành vi, nội dung có dấu hiệu
vi phạm, người lao động có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật
hoặc kiến nghị, phản ánh đến người đại diện có thẩm quyền, ban lãnh đạo, điều
hành của doanh nghiệp nhà nước; kiến nghị, phản ánh đến cơ
quan quản lý nhà nước có liên quan, Công đoàn, tổ chức đại diện khác của người
lao động, tổ chức đoàn thể tại doanh nghiệp mà mình là thành viên, hội viên hoặc
phản ánh, đề nghị Ban Thanh tra nhân dân xem xét, thực hiện kiểm tra, giám sát
theo chức năng, nhiệm vụ.
3. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại
khoản 2 Điều này có trách nhiệm tiếp
nhận, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người lao động
theo thẩm quyền hoặc thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, giám
sát theo quy định của pháp luật.
Điều 81.
Trách nhiệm trong việc bảo đảm để người lao động thực hiện kiểm tra, giám sát
1. Ban lãnh đạo doanh nghiệp
nhà nước có trách nhiệm sau đây:
a) Phối hợp cùng Ban Chấp hành
Công đoàn ở doanh nghiệp, ban đại diện của tổ chức đại diện khác của người lao
động ở cơ sở (nếu có), căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, đặc
điểm, tính chất tổ chức, hoạt động và điều kiện thực tế của doanh nghiệp, xây dựng
và ban hành quy chế thực hiện dân chủ để quy định cụ
thể hơn nội dung, cách thức thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp mình
làm cơ sở để người lao động kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Nội dung của quy
chế thực hiện dân chủ của doanh nghiệp có thể mở rộng hơn phạm vi thực hiện dân
chủ của người lao động nhưng không được trái hoặc hạn chế việc thực hiện các nội
dung đã được quy định trong Luật này;
b) Tạo lập cơ chế tiếp nhận góp ý,
kiến nghị, phản ánh của người lao động tại doanh nghiệp; thực hiện việc đối thoại,
giải trình với người lao động theo quy định của pháp luật;
c) Xem xét, giải quyết, giải trình
và trả lời kịp thời kiến nghị, phản ánh của người lao động, kiến nghị của Công
đoàn, tổ chức đại diện khác của người lao động ở cơ sở (nếu có) và các tổ chức đoàn
thể khác tại doanh nghiệp; chuyển thông tin đến cơ quan có thẩm quyền đối với
những vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;
d) Tạo điều kiện và bảo đảm để Ban Thanh tra
nhân dân thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật bằng
cách thông báo cho Ban Thanh tra nhân dân về chính sách, pháp luật chủ yếu liên
quan đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức cung cấp đầy đủ và kịp thời
các thông tin, tài liệu cần thiết theo yêu cầu của Ban Thanh tra nhân dân; xem
xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân, thông báo kết
quả giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị; thông báo
cho Ban Thanh tra nhân dân kết quả giải quyết kiến nghị, phản ánh và việc thực
hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp mình;
đ) Xử lý người có hành vi cản trở
người lao động thực hiện quyền kiểm tra, giám sát; người có hành vi trả thù,
trù dập người lao động thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; người
có hành vi cản trở hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, trả thù, trù dập thành
viên Ban Thanh tra nhân dân theo quy định của pháp luật.
2. Ban Chấp hành Công đoàn ở
doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm sau đây:
a) Giới thiệu nhân sự để hội nghị người lao động
bầu làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân; công nhận kết quả bầu thành viên Ban
Thanh tra nhân dân; đề nghị cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân;
b) Hướng dẫn Ban Thanh tra nhân dân xây dựng
chương trình, kế hoạch, nội dung công tác; xem xét báo cáo hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân và chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân;
tham gia hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân khi xét thấy cần thiết;
c) Xem xét, giải quyết kiến nghị của Ban Thanh
tra nhân dân; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của Ban Thanh tra
nhân dân gửi đến người đại diện có thẩm quyền, ban lãnh đạo, điều hành của
doanh nghiệp hoặc cấp có thẩm quyền;
d) Vận động người lao động phối hợp và tích cực
hỗ trợ hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân;
đ) Hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Thanh tra
nhân dân.
3. Người lao động chịu trách nhiệm
về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình; chủ động, tích cực
phối hợp với Ban Thanh tra nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm trong việc xác minh, kiểm tra, giám sát đối với các nội dung mà mình đã
kiến nghị, đề nghị.
4. Chính phủ quy định chi tiết tổ chức và hoạt động
của Ban Thanh tra nhân dân ở doanh nghiệp nhà nước.
Mục 2. THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở
DOANH NGHIỆP, TỔ CHỨC KHÁC CÓ THUÊ MƯỚN, SỬ DỤNG LAO ĐỘNG THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
THUỘC KHU VỰC NGOÀI NHÀ NƯỚC
Điều 82. Thực
hiện dân chủ ở doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp
đồng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước
1. Việc thực hiện dân chủ ở
doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
thuộc khu vực ngoài Nhà nước thực hiện theo quy định chung tại Chương I của Luật
này và các quy định cụ thể về thực hiện dân chủ tại nơi làm việc theo pháp luật
về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng
lao động theo hợp đồng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước, tùy theo đặc điểm,
tính chất tổ chức, hoạt động và điều kiện thực tế của tổ chức, được quyền lựa
chọn áp dụng các quy định về thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước quy định
tại Mục 1 Chương này tại doanh nghiệp, tổ chức mình; thông báo đến tổ chức Công
đoàn tại doanh nghiệp, tổ chức và công khai nội dung áp dụng để người lao động
được biết.
3. Trong quá trình xây dựng và ban hành quy chế
thực hiện dân chủ tại nơi làm việc của doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn,
sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước, khuyến
khích các doanh nghiệp, tổ chức mở rộng hơn phạm vi, nội dung, cách thức thực
hiện dân chủ mà pháp luật quy định nhưng không được trái hoặc hạn chế quyền thực
hiện dân chủ của người lao động được quy định trong Luật này và
pháp luật khác có liên quan.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
Điều 83.
Trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
1. Chính phủ thống
nhất quản lý nhà nước về thực hiện dân chủ ở cơ sở và thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Ban hành theo
thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về thực
hiện dân chủ ở cơ sở;
b) Thực hiện các
biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về quyền
và trách nhiệm của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở;
c) Hướng dẫn cơ quan, tổ chức, công dân trong việc thực hiện
pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở;
d) Thanh tra, kiểm
tra việc thi hành pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ
sở;
đ) Theo dõi, đôn
đốc, kiểm tra việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Bộ Nội vụ có
trách nhiệm sau đây:
a) Giúp Chính phủ
quản lý nhà nước về thực hiện dân chủ tại xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Theo dõi, kiểm
tra, tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện dân chủ
ở cơ sở.
3. Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội có trách nhiệm sau đây:
a) Giúp Chính phủ
quản lý nhà nước về thực hiện dân chủ ở tổ chức có sử dụng lao động;
b) Phối hợp với Bộ
Nội vụ báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện dân chủ ở tổ
chức có sử dụng lao động.
4. Bộ Tài chính
hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí về thực hiện
dân chủ ở cơ sở và việc cấp kinh phí cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để hỗ trợ kinh phí hoạt động cho
Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng.
5. Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, căn cứ vào quy định của
Luật này, quy định việc thực hiện dân chủ trong nội bộ các cơ quan của Quân đội
nhân dân, Công an nhân dân.
6. Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
chịu trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Điều 84.
Trách nhiệm của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, các cơ
quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc
hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức
thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, căn
cứ vào quy định của Luật này, quy định việc thực hiện dân chủ trong nội bộ các
cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của
Hội đồng nhân dân các cấp phù hợp với tính chất đặc thù trong tổ chức và hoạt động
của các cơ quan, đơn vị này.
Điều 85.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện
1. Tổ chức
thi hành pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn.
2. Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định các biện pháp
bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn.
3. Báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tình hình thực hiện dân chủ
ở cơ sở trên địa bàn khi được yêu cầu.
Điều 86.
Trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Hội đồng nhân
dân cấp xã có trách nhiệm sau đây:
a) Quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong phạm
vi địa bàn cấp xã;
b) Giám sát
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn cấp xã trong việc
thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Ủy ban nhân
dân cấp xã có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức thực
hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn cấp xã;
b) Giữ mối liên hệ
chặt chẽ với Nhân dân và cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã;
c) Xem xét, giải quyết và trả lời kịp thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị
của công dân, kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã;
d) Kịp thời báo
cáo cơ quan nhà nước cấp trên về những vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết
của mình;
đ) Thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
3. Tại nơi không
có đơn vị hành chính cấp xã, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện thực
hiện các nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của
Luật này.
4. Tại nơi không
tổ chức Hội đồng nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân
dân cấp huyện về kết quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn. Hội đồng nhân
dân cấp huyện tại nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh tại nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp xã và Hội đồng nhân
dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 87.
Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
1. Tổ chức vận động
Nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hương ước, quy ước của cộng đồng dân
cư; tổ chức các phong trào thi đua về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Tham gia, hỗ
trợ, hướng dẫn Nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở.
3. Tiếp nhận, tổng
hợp khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của Nhân dân về thực hiện dân chủ ở
cơ sở để chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định; giám sát quá
trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của Nhân dân.
4. Thực hiện giám
sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hiện
dân chủ ở cơ sở.
5. Thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 88.
Trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam các cấp
1. Tổ chức vận động
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổ chức
các phong trào thi đua về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
2. Tham gia, hỗ
trợ, hướng dẫn cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện dân chủ ở
cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động.
3. Tiếp nhận, tổng
hợp khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động về thực hiện dân chủ ở cơ sở để chuyển đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; theo dõi, giám sát quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản
ánh, kiến nghị của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
4. Thực hiện giám
sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở của đoàn viên công đoàn.
5. Thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 89.
Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội khác
1. Tuyên truyền,
phổ biến, nâng cao nhận thức của hội viên, đoàn viên và Nhân dân về thực hiện
dân chủ ở cơ sở.
2. Tham gia, phối
hợp với cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện dân
chủ ở cơ sở.
3. Thực hiện giám
sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở của hội viên, đoàn viên.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH[4]
Điều 90. Hiệu
lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2023.
2. Pháp lệnh số
34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Nghị quyết số 55/1998/NQ-UBTVQH10
ngày 30 tháng 8 năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành quy chế
thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành.
Điều 91. Áp dụng
pháp luật và quy định chuyển tiếp
1. Trường hợp luật
khác ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có quy định cụ thể về nội
dung, hình thức, thời hạn, trình tự, thủ tục công khai thông tin, lấy ý kiến
tham gia của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các
lĩnh vực cụ thể thì thực hiện theo quy định của luật đó.
2. Cơ quan trung ương của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, trên cơ sở các nguyên
tắc được quy định tại Luật này, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên
quan và Điều lệ của tổ chức mình, quy định việc thực hiện dân chủ trong nội bộ cơ
quan, đơn vị của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội.
3. Hương ước, quy ước của cộng đồng
dân cư, các quyết định khác của cộng đồng dân cư được công nhận,
thông qua trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện cho đến
khi được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ theo quy định./.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số
47/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.”.
[2] Cụm từ “quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch xây dựng
xã và điểm dân cư nông thôn; quy hoạch chung được lập cho thị trấn, đồ án quy
hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết được lập cho các khu vực thuộc phạm vi thị
trấn” được thay bằng cụm từ “quy hoạch chung huyện, quy hoạch chung xã và quy
hoạch chi tiết khu vực xây dựng được xác định trong quy hoạch chung huyện, quy
hoạch chung xã; quy hoạch chung thị trấn, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết
được lập cho khu vực thuộc phạm vi huyện, xã, thị trấn” theo quy định tại điểm
a khoản 3 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm
b khoản 3 Điều 57 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Điều 58 của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số
47/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều
58. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
2. Luật Quy hoạch đô thị số
30/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 77/2015/QH13, Luật
số 35/2018/QH14, Luật số 40/2019/QH14, Luật số 61/2020/QH14 và Điều 29 của Luật
số 35/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.