ỦY
BAN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG
--------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số:
516/QĐ-UBND
|
Rạch
Giá, ngày 12 tháng 04 năm 2006
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH VIỆC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TIẾP
CÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và
UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật khiếu nại, tố cáo
năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004; Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005;
Căn cứ Nghị định số:
53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật khiếu nại,
tố cáo;
Theo đề nghị của Chánh Thanh
tra tỉnh Kiên Giang tại Tờ trình số: 12 /TTr-TT ngày 11 tháng 4 năm 2006.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Nay
ban hành kèm theo quyết định này quy định việc tổ chức và quản lý công tác tiếp
công dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Điều 2: Quyết
định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số:
1113/2000/QĐ-UB ngày 05/5/2000 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc ban hành quy định
việc tổ chức tiếp công dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Điều 3:
Các ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chánh Thanh tra tỉnh, Thủ trưởng các sở,
ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và xã, phường,
thị trấn chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
QUY ĐỊNH
VỀ VIỆC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 516/QĐ-UBND ngày 12/4/2006 của UBND tỉnh
Kiên Giang)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Thủ trưởng các cơ quan Nhà nước, các cơ quan, đơn vị (kể cả lực lượng vũ trang)
theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức tiếp
công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh những công việc có liên
quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức.
Điều 2.
Việc tiếp công dân nhằm mục đích tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánh
những vấn đề trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, công tác quản lý của cơ quan, đơn vị; tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo
thuộc thẩm quyền; hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng
chính sách, pháp luật, đúng cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Điều 3.
Việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, đưa đơn khiếu nại, tố cáo phải được
tiến hành tại nơi tiếp công dân (không được tiếp công dân tại nhà riêng). Nơi
tiếp công dân phải được bố trí tại địa điểm thuận tiện; đảm bảo các điều kiện cần
thiết để công dân trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Điều 4.
Cán bộ được giao nhiệm vụ tiếp công dân phải là người có phẩm chất, đạo đức tốt,
có năng lực chuyên môn, nắm vững chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, có quan điểm quần chúng, được nhân
dân tín nhiệm.
Điều 5.
Công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại nơi tiếp công
dân phải chấp hành và tuân thủ nội quy tiếp công dân, lắng nghe cán bộ tiếp
công dân hướng dẫn, giải thích một bước về chính sách pháp luật khiếu nại, tố
cáo; không được lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối trật tự ở nơi tiếp
công dân, vu cáo, xúc phạm cơ quan Nhà nước, người thi hành công vụ.
Chương II
TIẾP CÔNG DÂN
Điều 6.
Các sở, ban, ngành cấp tỉnh: Thanh tra, Công an, Quốc phòng, Thương mại, Kế hoạch
và Đầu tư, Xây dựng, Tài chính, Lao động – Thương binh và xã hội, Nội vụ, Giao
thông - Vận tải, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức tiếp công dân thường
xuyên tại trụ sở làm việc.
Các cơ quan khác của Nhà nước
căn cứ vào quy định của Luật về khiếu nại, tố cáo và tình hình khiếu nại, tố
cáo liên quan đến ngành, lĩnh vực của mình quản lý để bố trí thời gian tiếp
công dân.
Điều 7.
Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định sau: Chủ tịch
UBND cấp xã, mỗi tuần ít nhất một ngày; Chủ tịch UBND cấp huyện, mỗi tháng ít
nhất hai ngày; Chủ tịch UBND cấp tỉnh, mỗi tháng ít nhất một ngày. Ngoài việc
tiếp công dân theo định kỳ, Chủ tịch UBND các cấp phải tiếp dân khi có yêu cầu
khẩn thiết.
Điều 8.
Thủ trưởng các cơ quan ban, ngành cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp công dân mỗi
tháng ít nhất một ngày.
Ngoài việc tiếp công dân theo định
kỳ, Thủ trưởng các cơ quan ban, ngành cấp tỉnh phải tiếp dân khi có yêu cầu khẩn
thiết.
Riêng Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại
biểu Quốc hội tiếp dân theo quy định tại Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội, được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ ba thông qua ngày
07/7/1993; Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân theo quy định tại Mục 2
Chương V Quy chế hoạt động của Hội đồng Nhân dân (ban hành kèm theo Nghị quyết
số: 753/2005/NQUBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI).
Điều 9.
Tại nơi tiếp công dân phải niêm yết lịch tiếp công dân thường xuyên của cơ
quan, lịch tiếp công dân định kỳ của Thủ trưởng cơ quan và nội quy tiếp công
dân. Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có trách nhiệm ban hành nội quy tiếp công dân,
lịch tiếp công dân. Lịch tiếp công dân phải được ghi cụ thể thời gian, chức vụ
người tiếp công dân. Nội quy tiếp công dân phải ghi rõ trách nhiệm của người tiếp
công dân, quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo.
Chương III
VIỆC BỐ TRÍ ĐỊA ĐIỂM TIẾP
DÂN CHUNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI
DIỆN TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ
Điều 10.
Chủ tịch UBND tỉnh có trách nhiệm bố trí Phòng Tiếp công
dân chung để Tỉnh ủy, HĐND - UBND tỉnh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tiếp công dân đến
khiếu nại, tố cáo; cử một Phó Văn phòng UBND tỉnh phụ trách chỉ đạo hoạt động của
Phòng Tiếp công dân và các thành viên gồm: Chuyên viên Văn phòng Tỉnh ủy,
Chuyên viên Văn phòng HĐND tỉnh, Chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh, Đại diện Đoàn
đại biểu Quốc hội, Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc. Về tổ chức, biên chế, kinh
phí, hoạt động thực hiện theo Quyết định số: 1936/2000/QĐ-UB ngày 26/9/2000 của
UBND tỉnh (Trụ sở tiếp công dân đặt tại số 06 đường Nguyễn Công Trứ, phường
Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá).
Điều 11.
Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố (gọi chung là cấp
huyện) có trách nhiệm bố trí Tổ Tiếp công dân chung để Huyện ủy, HĐND - UBND
huyện tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo; cử một Phó Văn phòng UBND cấp huyện
phụ trách chỉ đạo hoạt động của Tổ Tiếp công dân; các thành viên gồm: Chuyên
viên Văn phòng Huyện ủy, Chuyên viên Văn phòng HĐND và UBND huyện, Đại diện Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc. Về tổ chức, biên chế, kinh phí, hoạt động do Chủ tịch
UBND huyện quyết định (Trụ sở tiếp công dân đặt tại trụ sở UBND cấp huyện).
Điều 12.
Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) chỉ đạo trực tiếp
công tác tiếp công dân ở cấp mình, bố trí một cán bộ tiếp công dân thường xuyên
theo cách luân chuyển giữa HĐND, Địa chính, Tư pháp. Việc bàn giao công tác tiếp
công dân từ bộ phận này sang bộ phận khác phải được thể hiện trên sổ sách tiếp
công dân.
Chương IV
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
THỦ TRƯỞNG, CÁN BỘ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TIẾP CÔNG DÂN, VIỆC XỬ LÝ ĐƠN TẠI NƠI TIẾP
CÔNG DÂN
Điều 13.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan Nhà nước
1. Thủ trưởng cơ quan Nhà nước
khi tiếp công dân, đối với những khiếu nại thuộc thẩm quyền mà vụ việc rõ ràng,
cụ thể, có cơ sở giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan Nhà nước phải trả lời ngay
cho công dân biết; nếu vụ việc phức tạp cần nghiên cứu, xem xét thì phải nói rõ
thời hạn giải quyết, người cần liên hệ tiếp để biết kết quả giải quyết.
2. Việc tiếp công dân của Thủ
trưởng cơ quan Nhà nước phải được ghi chép vào sổ tiếp công dân và được lưu giữ
tại nơi tiếp công dân.
Điều 14.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ tiếp công dân
1. Cán bộ tiếp công dân phải có
sổ để ghi chép, theo dõi việc tiếp công dân thường xuyên của cơ quan, đơn vị, địa
phương và việc tiếp công dân của Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cơ quan,
đơn vị.
2. Tiếp nhận và xử lý đơn khiếu
nại, tố cáo theo Điều 15 quy định này.
3. Yêu cầu công dân trình bày đầy
đủ, rõ ràng những nội dung khiếu nại, tố cáo; lý do và những yêu cầu giải quyết;
cung cấp các tài liệu liên quan việc khiếu nại, tố cáo, bằng chứng của việc khiếu
nại, tố cáo. Ghi lời trình bày của công dân về các nội dung trên khi cần thiết,
tham gia gặp gỡ đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại
theo chỉ đạo của cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
4. Giải thích chính sách, pháp
luật liên quan nội dung khiếu nại, tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại,
tố cáo; trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo; động viên người khiếu nại rút đơn
đối với khiếu nại không đúng chính sách, pháp luật (nếu có).
5. Báo cáo Thủ trưởng cơ quan
Nhà nước xem xét thụ lý đơn hoặc không thụ lý đơn theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo; nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan,
đơn vị, địa phương tiếp dân định kỳ.
6. Từ chối không tiếp những người
đang trong tình trạng say rượu, tâm thần; những người vi phạm nội quy nơi tiếp
công dân, các trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối trật tự
nơi tiếp công dân, vu cáo, xúc phạm cơ quan Nhà nước, người thi hành công vụ và
các hành vi khác vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
7. Cán bộ tiếp công dân tại nơi
tiếp dân chung ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, và 6
điều này còn có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn thực hiện các quy định của
pháp luật đối với khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết, việc khiếu nại
đã được Tòa án thụ lý để giải quyết; chuyển trả đơn và các giấy tờ, tài liệu
kèm theo đơn cho người khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền chuyển đơn đó hoặc tham
mưu cho Thủ trưởng cơ quan chỉ đạo các cơ quan được ủy quyền ra văn bản chỉ dẫn,
trả lời người khiếu nại.
Tham mưu cho Chủ tịch UBND cùng
cấp tiếp nhận hoặc chỉ đạo các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết thụ
lý đơn thư khiếu nại mà trong quá trình giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật
hoặc phát sinh tình tiết mới; đơn thư khiếu nại đã hết thời hạn giải quyết theo
quy định của pháp luật mà không được giải quyết. Đối với vụ việc khiếu nại quyết
định giải quyết khiếu nại lần hai, cán bộ tiếp dân tại nơi tiếp dân chung có
trách nhiệm đối thoại hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng đối thoại về
chính sách, pháp luật, các bằng chứng làm căn cứ giải quyết khiếu nại để người
khiếu nại chấm dứt việc khiếu nại.
Điều 15.
Xử lý khiếu nại tại nơi tiếp công dân
1. Đối với đơn khiếu nại thuộc
thẩm quyền và đủ điều kiện để thụ lý giải quyết thì trong thời hạn 10 ngày cán
bộ tiếp công dân phải tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan ra Thông báo thụ lý,
Thông báo thụ lý phải ghi rõ thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo. Trường hợp vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu thì phải thông báo bằng văn bản cho người giải quyết khiếu nại lần đầu biết.
2. Đối với đơn khiếu nại thuộc
thẩm quyền giải quyết nhưng không đủ các điều kiện để thụ lý giải quyết thì cán
bộ tiếp công dân có trách nhiệm báo cáo Thủ trưởng cơ quan xem xét ra Thông báo
không thụ lý, Thông báo không thụ lý phải ghi rõ lý do không thụ lý theo quy định
của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
3. Đối với đơn khiếu nại không
thuộc thẩm quyền giải quyết, đơn khiếu nại về vụ việc đã có quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai, việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý để giải quyết thì cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền nhận được đơn không có trách nhiệm thụ lý, nhưng
cán bộ tiếp công dân phải có trách nhiệm giải thích cho người khiếu nại hiểu rõ
và tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan ra văn bản chỉ dẫn, trả lời người khiếu nại.
Việc chỉ dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại;
trong trường hợp người khiếu nại gửi kèm các giấy tờ, tài liệu là bản gốc liên
quan đến vụ việc khiếu nại thì cán bộ tiếp công dân phải trả lại các giấy tờ,
tài liệu đó cho người khiếu nại.
4. Đối với đơn khiếu nại thuộc
thẩm quyền giải quyết của cấp dưới đã có văn bản thụ lý, nhưng quá thời hạn quy
định mà chưa được giải quyết thì cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm tham mưu với
Thủ trưởng cơ quan Nhà nước cấp trên tùy theo tình hình cụ thể xử lý: yêu cầu cấp
dưới giải quyết, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới hoặc
thụ lý giải quyết theo Điều 39 Luật khiếu nại, tố cáo; người có thẩm quyền giải
quyết thiếu trách nhiệm hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại đó, tùy
theo tính chất, mức độ phải bị xem xét kỷ luật theo quy định của pháp luật hiện
hành.
5. Đối với đơn khiếu nại có chữ
ký của nhiều người thì cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu
nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại. Trường hợp nhiều người
khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì cán bộ tiếp công dân phải hướng dẫn
họ cử người đại diện để trình bày khiếu nại, tố cáo.
Đối với đơn vừa có nội dung khiếu
nại, vừa có nội dung tố cáo thì cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm xử lý nội
dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này, còn nội
dung tố cáo thì xử lý theo quy định tại Điều 16 quy định này.
Điều 16.
Xử lý đơn tố cáo tại nơi tiếp công dân
1. Người tiếp công dân nhận được
đơn tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau:
a) Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền
giải quyết của cơ quan mình thì phải tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan ra Thông
báo thụ lý để giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật khiếu nại,
tố cáo và Nghị định số: 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ;
b) Nếu tố cáo không thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan mình thì chậm nhất trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được phải chuyển đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo và các tài liệu,
chứng cứ liên quan (nếu có) cho người có thẩm quyền giải quyết;
c) Không xem xét, giải quyết những
tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp
chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại
nhưng không có bằng chứng mới;
d) Nếu tố cáo hành vi phạm tội
thì chuyển cho Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát xử lý theo quy định tại Điều 71
của Luật khiếu nại, tố cáo.
2. Trường hợp hành vi bị tố cáo
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước,
của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân; thông tin về người tố cáo bị đe dọa,
trù đập, trả thù thì người tiếp công dân nhận được đơn phải tham mưu cho Thủ
trưởng cơ quan báo ngay cho cơ quan chức năng để có biện pháp ngăn chặn.
3. Trong trường hợp người tố cáo
trình bày trực tiếp thì người tiếp công dân phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ
tên, địa chỉ người tố cáo; khi cần thiết thì ghi âm lời tố cáo. Bản ghi nội
dung tố cáo phải cho người tố cáo đọc lại, nghe lại và ký xác nhận.
4. Khi tiếp nhận thông tin, tài
liệu do người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì
người tiếp công dân phải làm giấy biên nhận, có chữ ký của người tiếp nhận và
người cung cấp.
Chương V
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
CÔNG DÂN KHI ĐẾN NƠI TIẾP CÔNG DÂN
Điều 17.
Công dân đến khiếu nại có các quyền sau đây.
1. Công dân đến nơi tiếp dân để
trình bày khiếu nại, tố cáo hoặc đưa đơn khiếu nại, tố cáo được hướng dẫn, giải
thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, được
hướng dẫn, giải thích, trả lời về những nội dung mình trình bày; thẩm quyền, thủ
tục giải quyết khiếu nại lần đầu, lần thứ hai, cơ chế khởi kiện vụ án hành
chính tại Tòa án; thẩm quyền, thủ tục giải quyết tố cáo.
2. Công dân được khiếu nại, tố
cáo về những hành vi sai trái, cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu của người tiếp
công dân.
Điều 18.
Công dân đến khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây.
1. Công dân đến nơi tiếp công
dân để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phải xuất trình giấy tờ
tùy thân, giấy mời, giấy tờ xác nhận là người đại diện theo pháp luật hoặc giấy
ủy quyền hợp pháp.
2. Việc trình bày khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc đưa đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại nơi tiếp
công dân phải có nội dung đầy đủ, rõ ràng; có tài liệu liên quan hoặc bằng chứng
chứng minh về vụ việc khiếu nại, tố cáo của mình khi được yêu cầu cung cấp.
Điều 19.
Công dân đến khiếu nại, tố cáo có hành vi gây rối, ảnh hưởng đến hoạt động bình
thường của cơ quan Nhà nước, lăng mạ, xúc phạm danh dự cơ quan Nhà nước, nhân
phẩm người thi hành công vụ phải bị xử lý theo Điều 11 Nghị định số: 38/2005/NĐ-CP
ngày 18/3/2005, Điều 7 Nghị định số: 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính
phủ.
Chương VI
MỐI QUAN HỆ GIỮA NƠI TIẾP
CÔNG DÂN VỚI CÁC CƠ QUAN GIÁM SÁT, CƠ QUAN THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG VÀ TRỤ SỞ TIẾP
CÔNG DÂN CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Điều 20.
Khi nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
của công dân do trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, các cơ
quan dân cử (Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Đại
biểu Hội đồng nhân dân), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc chuyển đến thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải
quyết phải xem xét, giải quyết kịp thời đúng thời hạn do Luật khiếu nại, tố cáo
quy định. Trường hợp đã có quyết định hoặc kết luận giải quyết thì trả lời cho
đương sự, đồng thời thông báo cho nơi tiếp công dân đã chuyển vụ việc đó biết
theo thời hạn pháp luật về khiếu nại, tố cáo quy định.
Điều 21.
Khi nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân do các cơ
quan báo, đài chuyển đến thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết
phải xem xét, giải quyết và thông báo cho cơ quan đã chuyển đơn đến biết việc
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chương VII
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 22.
1. Chủ tịch
UBND các cấp, Thủ trưởng các cơ quan ban, ngành cấp tỉnh có trách nhiệm triển
khai và tổ chức thực hiện quy định này.
2. Giao cho Thanh tra tỉnh có
trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn và theo dõi thực hiện quy định này, định kỳ 6
tháng, năm tham mưu cho UBND tỉnh sơ tổng kết rút kinh nghiệm trong tổ chức thực
hiện việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật.
Điều 23.
Quá trình thực hiện quy định này, cơ quan, đơn vị, cá nhân có thành tích sẽ được
biểu dương, khen thưởng kịp thời.
Cơ quan, đơn vị và cá nhân vi phạm
các quy định của pháp luật về công tác tiếp công dân thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật theo pháp luật hiện hành./.