|
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 22-NQ/TW
|
Hà Nội, ngày 28 tháng
7 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
VỀ CHIẾN LƯỢC AN NINH QUỐC GIA
-----
I- TÌNH HÌNH
1. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò
của lực lượng vũ trang nhân dân, sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn
dân, công tác bảo vệ an ninh quốc gia đạt nhiều kết quả quan trọng có tính đột
phá. Các nguy cơ, thách thức về an ninh truyền thống, phi truyền thống cơ bản
được nhận diện, phòng ngừa, xử lý hiệu quả; thế trận, vành đai bảo vệ an ninh
quốc gia từ xa được củng cố; sức mạnh bảo vệ an ninh quốc gia được tăng cường;
tư duy, biện pháp, nghệ thuật an ninh có bước phát triển mới theo hướng kết hợp
truyền thống và hiện đại. Lợi ích quốc gia - dân tộc, thành quả cách mạng, chế
độ xã hội chủ nghĩa, an ninh trên các lĩnh vực, địa bàn và trật tự, an toàn xã
hội được bảo đảm; môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo điều kiện thuận
lợi để xây dựng, phát triển và nâng cao vị thế đất nước.
Tuy nhiên, việc quán triệt,
cụ thể hoá và triển khai thực hiện ở một số nơi còn chưa đầy đủ, thiếu quyết liệt,
hiệu quả chưa cao. Kết hợp giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm
an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa thật chặt chẽ; còn tình trạng mất cảnh
giác, coi trọng lợi ích kinh tế trước mắt, chưa quan tâm đầy đủ yêu cầu bảo vệ
an ninh quốc gia và lợi ích lâu dài. Năng lực tham mưu chiến lược có thời điểm
chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác bảo đảm an ninh trên một số lĩnh vực còn sơ hở,
thiếu sót; an ninh tại các địa bàn chiến lược và ở cơ sở còn tiềm ẩn nhiều yếu
tố phức tạp; ứng phó với một số vấn đề an ninh phi truyền thống chưa chủ động;
còn thiếu nhiều quy định cụ thể về bảo vệ an ninh trên các không gian, lĩnh vực
mới. Nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, tiềm lực bảo đảm an ninh
chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
2. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, hiện
thực hoá tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập
cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đi cùng với sự phát triển của đất nước,
các nguy cơ, thách thức đối với an ninh quốc gia từ bên ngoài, bên trong, trên
các lĩnh vực trọng điểm, địa bàn chiến lược và các không gian mới ngày càng gia
tăng, diễn biến phức tạp. Tình hình mới đòi hỏi tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư
duy, phương thức và biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ và bảo đảm cao nhất
lợi ích quốc gia - dân tộc, nhận diện, đẩy lùi, xử lý hiệu quả mọi nguy cơ,
thách thức, tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao mọi
mặt đời sống Nhân dân, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ
trương chiến lược của Đảng.
II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm chỉ đạo
- Công tác bảo vệ an ninh
quốc gia đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản
lý thống nhất của Nhà nước; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân; người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền chịu trách nhiệm chính
và trước hết trong xử lý vấn đề an ninh ở lĩnh vực, địa phương mình; lực lượng
Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt.
- Giữ vững an ninh quốc
gia là điều kiện tiên quyết cho hòa bình, ổn định, phát triển nhanh, bền vững
và nâng cao mọi mặt đời sống Nhân dân; an ninh phải góp phần kiến tạo nguồn lực,
động lực mới cho phát triển; phát triển là nền tảng của an ninh bền vững; an
ninh để phát triển. Tăng cường khả năng bảo vệ an ninh quốc gia gắn với giữ vững
và tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước.
- An ninh trong kỷ nguyên
mới không chỉ là bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, thể chế và chủ quyền
quốc gia, mà mở rộng bảo vệ các yếu tố cấu thành năng lực phát triển quốc gia,
bảo đảm sự vận hành ổn định của toàn bộ hệ thống kinh tế, xã hội, công nghệ, cần
chủ động nhận diện, dự báo và quản lý rủi ro từ sớm và trong suốt quá trình
phát triển. Nâng cao năng lực tự chủ và sức chống chịu quốc gia là yêu cầu trọng
yếu trong bảo vệ an ninh quốc gia. Mọi chiến lược phát triển phải góp phần tăng
cường năng lực bảo vệ quốc gia, không đánh đổi an ninh lấy tăng trưởng.
- Thực hiện an ninh tổng
thể, toàn diện, an ninh chủ động, an ninh bao trùm, an ninh kiến tạo. Trong đó,
an ninh chế độ là trọng yếu; an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh thông tin truyền
thông, tạo nền tảng củng cố niềm tin, duy trì đồng thuận xã hội là đặc biệt
quan trọng; an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh
nguồn nước, an ninh lương thực là cơ sở; an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh
công nghệ là trung tâm; an ninh con người là mục đích.
- Gắn kết chặt chẽ giữa sức
mạnh cứng và sức mạnh mềm, giữa kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về phương
pháp, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, với nội lực là
quyết định, ngoại lực là quan trọng. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa bảo vệ an
ninh quốc gia với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và đối ngoại
để phát huy sức mạnh mềm, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước. Tích hợp an
ninh ngay từ đầu trong từng chính sách, từng lĩnh vực và từng giai đoạn phát
triển; lấy an ninh là tiêu chí quan trọng trong lựa chọn mô hình phát triển, hoạch
định chính sách và tổ chức thực hiện. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, xử lý
nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước các hành vi, đối tượng
xâm phạm an ninh quốc gia. Trong đó, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia được
xác định là vấn đề an ninh quốc gia.
- Bảo vệ an ninh trong kỷ
nguyên mới kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại; giữa “xây” và “chống”,
lấy “xây” làm cơ bản, “chống” làm thường xuyên; từ “bảo vệ lĩnh vực” sang “bảo
vệ hệ thống”; từ “quản lý từng nguy cơ” sang “quản trị tương tác giữa các nguy
cơ”; từ “không để xảy ra bằng mọi giá” sang “không để rủi ro vượt ngưỡng kiểm
soát, không để khủng hoảng lan rộng và biến thành tổn thất chiến lược”, tận dụng
mọi điều kiện để biến “nguy” thành “cơ”. Bảo đảm vững chắc an ninh cơ sở, giải
quyết mọi yếu tố gây mất an ninh, trật tự từ gốc rễ, từ sớm, không để tích tụ,
lan rộng thành “điểm nóng”. Nhận diện, xử lý đúng đắn và vận dụng sáng tạo quan
điểm về đối tượng, đối tác, nỗ lực thúc đẩy hợp tác, giảm bất đồng, xung đột để
đạt lợi ích cao nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng
quát: Bảo vệ vững chắc thành quả cách
mạng, bảo vệ và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà
nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và tạo nền tảng thực hiện thành
công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các mục tiêu và chủ
trương chiến lược của Đảng. Bảo vệ nền văn hóa, uy tín, vị thế quốc tế của đất
nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh chế độ, an
ninh thể chế, an ninh trên các lĩnh vực, không gian; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm
các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, từ không gian mạng, không
gian vũ trụ, không gian tầm thấp, không gian biển và đại dương. Chủ động ứng
phó với các mối đe dọa tổng hợp, vấn đề an ninh phi truyền thống, hình thái xâm
phạm an ninh mới; đẩy lùi nguy cơ khủng hoảng; đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại
âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Qua đó, góp phần xây dựng
xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, củng cố niềm tin của
Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, gia tăng đóng góp duy trì hòa
bình ở khu vực và thế giới, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
b) Mục tiêu cụ thể
- Bảo vệ, củng cố vững chắc
nền tảng tư tưởng, vai trò, vị trí hạt nhân lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu
của Đảng, sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ tuyệt đối an ninh,
an toàn lãnh tụ, yếu nhân; tăng cường bảo vệ cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ
nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ.
- Tổ chức bảo vệ an ninh
trên mọi lĩnh vực phát triển, trên các không gian theo nguyên tắc “phát triển đến
đâu, an ninh đến đó”. Nâng tầm bảo vệ an ninh con người, an ninh chính trị nội
bộ, an ninh kinh tế, an ninh công nhân, an ninh mạng, an ninh hạ tầng số, an
ninh dữ liệu, an ninh biên giới. Tăng cường bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức,
cá nhân Việt Nam ở nước ngoài.
- Triển khai đối ngoại và
hội nhập quốc tế về an ninh tầm cao mới. Phát huy vai trò tiên phong của hợp
tác an ninh trong củng cố và tăng cường lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với
các đối tác, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, phát hiện tiềm năng, cơ hội, thúc đẩy
mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác. Nâng cao năng lực bảo vệ an ninh từ bên
ngoài; xây dựng Việt Nam trở thành đối tác của hòa bình, ổn định, hợp tác và
phát triển.
- Xây dựng nền an ninh
nhân dân, thế trận an ninh nhân dân hiện đại, đa tầng, liên hoàn, toàn diện
trên các không gian, lĩnh vực trên nền tảng thế trận lòng dân vững chắc, gắn kết
chặt chẽ với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Nâng cao cảnh
giác, huy động sự tham gia của toàn xã hội trong bảo vệ an ninh quốc gia. Phấn
đấu giảm mạnh tội phạm, kiềm chế, kéo giảm các tai nạn đặc biệt nghiêm trọng,
tiến tới xây dựng xã hội không có tội phạm, không có tai nạn, tệ nạn, không có
tiêu cực, thực sự văn minh, hạnh phúc. Phát huy lòng yêu nước trở thành nguồn lực
củng cố đồng thuận xã hội, hỗ trợ bảo vệ an ninh chế độ và phát triển đất nước.
- Tăng cường năng lực bảo
vệ an ninh đủ sức ứng phó với mọi thách thức an ninh truyền thống và phi truyền
thống, các tình huống khủng hoảng, các mối đe dọa tổng hợp và các hình thái xâm
phạm an ninh mới. Tự chủ chiến lược về an ninh, xây dựng công nghiệp quốc
phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.
- Đến năm 2030,
hoàn thành cải cách quản trị quốc gia hiện đại, lấy người dân làm trung tâm;
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế bảo đảm an ninh quốc gia, hệ thống giám
sát rủi ro và cảnh báo sớm về an ninh; xây dựng lực lượng Công an nhân dân và lực
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện
đại; hoàn thành chuyển đổi mật mã kháng lượng tử cho hạ tầng số trọng yếu; xây
dựng mạng chủ quyền quốc gia; bảo vệ mạng lưới truyền thông, hệ thống dữ liệu bằng
mật mã kháng lượng tử.
- Đến năm 2045, phát triển toàn diện năng lực của hệ thống an ninh quốc
gia; an ninh quốc gia được bảo vệ vững chắc từ sớm, từ xa trên mọi lĩnh vực,
không gian, trở thành nguồn lực, động lực quan trọng của phát triển; bảo vệ an
ninh con người thuộc nhóm dẫn đầu của khu vực và thế giới, tạo nền tảng xây dựng
thành công xã hội xã hội chủ nghĩa. Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt,
cùng với các lực lượng khác đủ năng lực phòng ngừa, đẩy lùi, giải quyết mọi
nguy cơ, thách thức đối với an ninh, ứng phó với các tình huống khủng hoảng,
các mối đe dọa tổng hợp, các hình thái xâm phạm an ninh mới, khẳng định vị thế,
vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế
thực hiện phương thức Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ
quan nhà nước, gắn với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương
2 cấp, bảo đảm thực hiện nghiêm quy định của Hiến pháp, pháp luật về an ninh quốc
gia và bảo vệ an ninh quốc gia; đồng thời, tích hợp yêu cầu an ninh ngay từ đầu
trong từng chiến lược, quy hoạch, chính sách, giải pháp, quy trình, dự án phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và đối ngoại.
Các cấp uỷ đảng, chính
quyền từ Trung ương đến cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát
việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược an ninh quốc gia phù hợp
với địa bàn, lĩnh vực được phân công. Quy định rõ trách nhiệm chính trị, pháp
lý của cấp uỷ, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể
các cấp và cán bộ, đảng viên trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.
2. Bảo vệ vững chắc an ninh chế độ, an ninh thể chế, không
để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống
Bảo vệ an ninh chế độ là
nhiệm vụ chiến lược, sống còn của quốc gia. Tập trung bảo vệ vai trò lãnh đạo,
nền tảng tư tưởng và sự vững mạnh của Đảng, Nhà nước; bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng,
Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự
lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong xây dựng, thi hành pháp luật và sự
lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng Quân đội và
Công an.
Tổ chức bảo vệ tuyệt đối
an ninh, an toàn lãnh tụ, yếu nhân; tăng cường quản lý, bảo vệ cán bộ cấp chiến
lược, đội ngũ tinh hoa, nhất là trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế
theo hướng đa tầng, chủ động, toàn diện. Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống, nhất là tình huống khủng hoảng. Thường
xuyên rà soát, phòng ngừa, triệt tiêu mọi mầm mống làm phát sinh nguy cơ, mối
đe dọa đối với an ninh chế độ, an ninh thể chế; quyết liệt đấu tranh phòng, chống
các âm mưu, hoạt động chống phá đe dọa sự vững mạnh của chế độ.
Xây dựng thể chế vững chắc,
đồng bộ, minh bạch và thích ứng, đủ sức phòng ngừa, xử lý các nguy cơ từ tham
nhũng, lạm quyền, xung đột lợi ích, tác động từ môi trường quốc tế, ngăn chặn
chuyển hóa thành khủng hoảng. Triển khai quyết liệt các biện pháp bảo vệ Hiến
pháp, pháp luật; ngăn chặn hoạt động tác động thể chế, chính sách, pháp luật của
các thế lực thù địch, các loại tội phạm. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, suy thoái,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Đổi mới công tác tuyên
giáo, dân vận, tuyên truyền, giáo dục nhằm phát huy vai trò của Nhân dân trong
bảo vệ an ninh chế độ, bảo vệ Đảng, bảo đảm người dân nhận biết, chủ động cung
cấp thông tin liên quan đến các vụ việc, dấu hiệu xâm hại, đe dọa xâm hại an
ninh chế độ.
3. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược; chủ động đẩy lùi
nguy cơ, thách thức, bảo vệ an ninh từ sớm, từ xa
Kiên định đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; kiên trì, nhất
quán nguyên tắc “không chọn bên” và chính sách quốc phòng “bốn không”, bảo đảm
sự cân bằng chiến lược trong quan hệ đối ngoại.
Tiếp tục nâng cao năng lực
ngoại giao chủ động, chuẩn bị các công cụ ngoại giao, pháp lý, truyền thông đối
ngoại để giữ quyền chủ động trong các vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia -
dân tộc. Có các giải pháp cụ thể phát huy nguồn lực cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài tham gia bảo vệ an ninh quốc gia. Tăng cường tự chủ chiến lược và sức
chống chịu quốc gia, gắn chặt vai trò của Việt Nam vào các chuỗi cung ứng then
chốt để hình thành cơ chế ngăn ngừa xung đột gián tiếp.
Hình thành hệ thống thu
thập, phân tích xử lý thông tin hiện đại, kết nối dữ liệu đa ngành, đa tầng, có
khả năng phân tích, nhận diện sớm những thay đổi trong môi trường, cấu trúc chiến
lược toàn cầu, dự báo sớm các rủi ro, nguy cơ an ninh. Xây dựng các địa bàn,
khu vực dự phòng chiến lược quốc gia với nền tảng phát triển chất lượng cao và
an ninh ở cấp độ cao; dự phòng các ngành sản xuất then chốt; bảo đảm khả năng
duy trì, phục hồi và phát triển các năng lực cốt lõi quốc gia, là an toàn khu
trong các tình huống khủng hoảng.
4. Chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các yếu
tố tiềm ẩn phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở, trên các lĩnh vực, địa
bàn
Nâng tầm công tác đấu
tranh phòng, chống gián điệp, mở rộng từ lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại
giao đến các lĩnh vực công nghệ, cơ sở hạ tầng trọng yếu, nghiên cứu khoa học.
Nâng cao ý thức cảnh giác và huy động cán bộ, đảng viên, Nhân dân tích cực phát
hiện, tố giác các hành vi có dấu hiệu xâm phạm an ninh quốc gia của tổ chức, cá
nhân; mở rộng đối tượng bảo vệ bí mật sang lĩnh vực kinh tế, công nghệ, hạ tầng
trọng yếu.
Thực hiện nghiêm các quy
định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ nội bộ, bảo vệ chính trị nội bộ.
Hoàn thiện các quy định để tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ, quản lý
bộ phận cơ mật, thiết yếu; cán bộ trực tiếp tham mưu các chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ban hành cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc sử
dụng các thiết bị di động thông minh của các lực lượng trọng yếu, cơ mật. Tăng
cường các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh thông tin đối
với cơ quan nhà nước, trụ sở cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; bảo đảm an
ninh đối với các thiết bị, sản phẩm công nghệ tiềm ẩn nguy cơ an ninh. Thường
xuyên tổ chức rà soát và khắc phục lỗ hổng bảo mật trong các hệ thống thông
tin, cơ sở dữ liệu quan trọng của Đảng, Nhà nước. Thiết lập và tăng cường bảo vệ
vành đai an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các công trình, trụ sở
quan trọng về chính trị, an ninh, quốc phòng.
Củng cố thế trận an ninh
vùng, trọng tâm là các vùng chiến lược, biên giới, hải đảo phù hợp với tình
hình mới, tránh rơi vào thế bị động, bất ngờ. Tăng cường năng lực phòng, chống khủng
bố; đổi mới công tác quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu,
sân bay, đường mòn, lối mở, không để các đối tượng phản động, tội phạm xâm nhập.
Tăng cường bảo đảm an
ninh tôn giáo, an ninh dân tộc, an ninh cơ sở theo phương châm “bốn tại chỗ”.
Tiếp tục triển khai các đề án, kế hoạch phòng, chống phản động, kích động ly
khai, tự trị; giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp, khiếu kiện. Chủ động các
phương án bảo vệ an ninh, trật tự trước mọi tình huống bất thường, nhất là trước
tác động tiêu cực từ tình hình thế giới, khu vực và âm mưu, hoạt động của các
thế lực thù địch, phản động kích động tiến hành bạo loạn lật đổ, khủng bố phá
hoại.
5. Bảo đảm an ninh các không gian, lĩnh vực mới nổi; chủ động
ứng phó với các hình thái xâm phạm an ninh mới, các tình huống khủng hoảng
Ưu tiên đầu tư phát triển
hạ tầng bảo mật, hệ thống an ninh mạng quốc gia đủ mạnh bảo vệ các hạ tầng kỹ
thuật, thông tin trọng yếu, bảo đảm chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu, quản trị
dòng dữ liệu xuyên biên giới. Phát triển năng lực tấn công, phòng thủ mạng chủ
động; phát triển hệ thống Internet nội bộ được bảo mật bằng mật mã kháng lượng
tử, xây dựng mạng chủ quyền quốc gia. Ban hành quy định về bảo đảm an ninh
trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), bảo đảm quản trị
AI theo vòng đời, tích hợp yêu cầu an ninh ngay từ khâu thiết kế, phát triển và
triển khai. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm quốc gia về lừa đảo trực tuyến,
trung tâm điều hành chống lừa đảo trực tuyến; thiết lập cơ chế điều tra, phong
tỏa tài sản khẩn cấp ngay khi phát hiện hành vi nghi ngờ lừa đảo để kịp thời
ngăn chặn thiệt hại.
Xây dựng cơ chế huy động
nguồn lực và mô hình phối hợp hiệu quả giữa các lực lượng an ninh, quân sự và
dân sự trong ứng phó với các thách thức trên không gian mạng. Phát huy vai trò
của Ban Chỉ đạo An ninh mạng quốc gia và đơn vị chuyên trách điều phối toàn quốc
trong phòng ngừa, ứng phó chiến tranh mạng trong mọi trạng thái sẵn sàng, trong
đó cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có trách nhiệm bảo vệ an ninh, an
toàn hạ tầng số trọng yếu theo quy định.
Xây dựng, củng cố năng lực
bảo đảm an ninh dữ liệu. Xây dựng tiêu chí lĩnh vực dữ liệu nhằm bảo vệ lợi
ích, an ninh quốc gia. Đầu tư phát triển mật mã kháng lượng tử; xây dựng các
quy định áp dụng mật mã kháng lượng tử đối với hệ thống Chính phủ điện tử, tài
chính, ngân hàng và cơ sở hạ tầng trọng yếu. Xây dựng năng lực bảo đảm an ninh
mạng kháng lượng tử để bảo vệ chủ quyền số, hạ tầng số. Đổi mới công tác cơ yếu
đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu trong quá trình chuyển đổi
số quốc gia.
Xây dựng Chiến lược bảo vệ
an ninh trong các không gian mới (vũ trụ, tầm thấp, ngầm, biển và đại dương).
Rà soát, lập danh mục và phân loại hạ tầng trọng yếu trong từng không gian. Bổ
sung nội dung bảo vệ an ninh trong các không gian mới vào các chương trình quốc
gia, chiến lược, quy hoạch. Nghiên cứu thiết lập cơ chế điều phối liên ngành về
bảo đảm an ninh các không gian mới ở cấp quốc gia, phân công rõ vai trò của bộ,
ngành, chính quyền địa phương và doanh nghiệp.
Tăng cường bảo đảm an
ninh văn hóa tư tưởng; chủ động ngăn chặn, đẩy lùi chiến tranh nhận thức, chiến
tranh thông tin. Làm tốt công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa xã hội,
lý tưởng cách mạng, lấy đây là nội dung trọng tâm của giáo dục quốc phòng, an
ninh, giáo dục công dân trong mọi cấp học. Chú trọng tuyên truyền, giáo dục kiến
thức, nâng cao khả năng tự đề kháng, phản biện dựa trên bằng chứng của toàn xã
hội đối với thông tin xấu độc, sai sự thật. Bảo đảm sự nhất quán của truyền
thông chính thống và người dân được tiếp cận thông tin chính xác, tin cậy. Xây
dựng Chiến lược quốc gia về truyền thông số; thiết lập nền tảng xác thực thông
tin quốc gia; cơ chế tương tác, đối thoại và trách nhiệm giải trình của chính
quyền các cấp về các chính sách, quy định có liên quan đến người dân.
Chủ động ứng phó với các
tình huống khủng hoảng. Thiết lập mô hình Trung tâm điều phối khủng hoảng; xây
dựng phương án xử lý nhanh tình huống khủng hoảng, bao gồm thành lập Lực lượng
Phản ứng khẩn cấp và cơ chế hợp tác dân sự - an ninh - quân sự; bảo đảm liên lạc
bảo mật, thông suốt cho hoạt động của lãnh đạo các cấp, cơ quan nhà nước và lực
lượng trọng yếu, cơ mật; cơ chế truyền thông nhà nước - báo chí - mạng xã hội,
bảo đảm thông tin chính thống chính xác, nhất quán, kịp thời phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch. Triển khai các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phục hồi
nội địa sau khủng hoảng, năng lực ứng phó với mối đe dọa hỗn hợp, phi truyền thống
của toàn xã hội. Xây dựng cơ chế quản lý an ninh quốc gia linh hoạt, nhạy bén,
có khả năng điều chỉnh và tối ưu hóa để thích ứng với các tình huống khủng hoảng,
xu hướng, thách thức an ninh mới.
6. Bảo vệ vững chắc an ninh kinh tế, an ninh năng lượng,
an ninh nguồn nước, tạo đột phá trong bảo vệ an ninh môi trường, chủ động ngăn
ngừa khủng hoảng kinh tế, ứng phó với chiến tranh thương mại
Tập trung củng cố vững chắc
những vấn đề cốt lõi về an ninh quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, tạo nền tảng
nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy lùi nguy
cơ khủng hoảng kinh tế. Tăng cường bảo đảm an ninh tài chính - tiền tệ; xử lý
triệt để các dự án đang tồn đọng. Xây dựng Chiến lược dự trữ quốc gia, chủ động
ứng phó khủng hoảng, huy động sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước và tư nhân,
kết hợp dự trữ vật chất, khả năng mua bổ sung khẩn cấp và năng lực điều phối
trong các tình huống.
Đổi mới mô hình phát triển
đất nước, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhà
nước trở thành điểm tựa về an ninh và chủ quyền kinh tế, kinh tế tư nhân là động
lực quan trọng nhất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là
động lực chính. Có chính sách thúc đẩy nâng cao giá trị gia tăng, tiêu dùng
hàng hóa nội địa; đa dạng hoá nguồn cung ứng chủ động và có chọn lọc; tăng cường
bảo đảm an ninh đối với công nghệ và dữ liệu trong các ngành chiến lược.
Chuyển mạnh tư duy, biện
pháp bảo đảm an ninh năng lượng từ “đủ cung” sang “an toàn - ổn định - tự chủ -
bền vững”. Nâng cao tính linh hoạt, năng lực chống chịu của hệ thống năng lượng,
giảm phụ thuộc nhiên liệu nhập khẩu; tăng cường bảo vệ hạ tầng năng lượng, hệ
thống lưu trữ, logistics và nền tảng điều hành; kiểm soát chặt chẽ mức độ phụ
thuộc công nghệ và chuỗi cung ứng năng lượng. Ưu tiên nghiên cứu, phát triển
công nghệ hạt nhân tiên tiến, các lò phản ứng modul nhỏ (SMR) đa mục tiêu.
Xây dựng cơ chế quản lý
và ứng phó nguy cơ cạn kiệt tài nguyên; tối ưu hoá giá trị đất đai phục vụ phát
triển đất nước, bảo đảm diện tích đất cho phát triển nông nghiệp và môi trường;
bảo vệ an ninh, an toàn nguồn nước, an ninh lương thực, thực phẩm; quản lý chặt
chẽ khai thác, xuất khẩu đất hiếm; nghiên cứu, phát triển công nghệ vật liệu mới
để giảm khai thác tài nguyên làm vật liệu xây dựng thông thường. Khai thác hiệu
quả, bền vững tài nguyên biển, đảo phục vụ phát triển kinh tế kết hợp bảo đảm
quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền đất nước; ban hành cơ chế vượt trội, hành
lang pháp lý đồng bộ để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế
không gian tầm thấp, ngành công nghiệp hàng không, vũ trụ. Thiết lập cơ sở dữ
liệu quốc gia về tài nguyên khoáng sản và quỹ dự trữ khoáng sản chiến lược để
quản lý, bảo vệ và khai thác, sử dụng hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả thực
thi các hiệp định thương mại đã ký kết. Tiếp tục mở rộng và tạo thế đan xen lợi
ích kinh tế, thúc đẩy hợp tác với các đối tác trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc
tế và cùng có lợi. Xây dựng thế trận an ninh công nhân, huy động sự vào cuộc của
cả hệ thống chính trị chăm lo xây dựng giai cấp công nhân, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho công nhân. Phòng, chống âm mưu, hoạt động lợi dụng hợp tác
phát triển kinh tế để trục lợi chính sách, cài cắm nội gián, tạo lệ thuộc, thúc
đẩy hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nội địa, kích động biểu tình, bạo
loạn. Chủ động nhận diện, ứng phó với các hình thái chiến tranh thương mại.
Tăng cường bảo vệ tài sản chiến lược, chuỗi cung ứng, doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp đầu tàu trước mối đe dọa tài chính, gián điệp kinh tế, thâu tóm từ
nước ngoài.
7. Nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh con người, phát huy sức
mạnh lòng dân thật sự trở thành trụ cột của Chiến lược An ninh quốc gia
Xây dựng và hoàn thiện
khung chiến lược quốc gia về an ninh con người làm nền tảng điều phối các chính
sách liên quan. Xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên, các chiến lược phát triển cần
thể chế hoá nội dung an ninh con người, ứng dụng khoa học, công nghệ, tạo đột
phá trong xây dựng văn hoá tuân thủ pháp luật, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật
và kỷ cương xã hội.
Tăng cường bảo vệ an ninh
con người trước thách thức an ninh phi truyền thống và trên không gian mạng. Ưu
tiên đầu tư hạ tầng thích ứng và phát triển các cơ chế bảo vệ xã hội linh hoạt.
Kiềm chế, kéo giảm bền vững tội phạm; giảm thiểu tai nạn giao thông, tai nạn
cháy, nổ; kiểm soát, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm, an toàn sản
xuất, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát triển các nền tảng mạng xã hội quốc
gia, bảo vệ và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm an ninh con người, an ninh văn
hoá trên không gian mạng.
Hoàn thiện hệ thống an
sinh xã hội theo hướng thực chất, hiệu quả, mở rộng diện bao phủ, bảo đảm mọi
người dân đều được tiếp cận các dịch vụ xã hội, chính sách hỗ trợ cơ bản, trước
hết là các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương. Tăng chi ngân sách cho an sinh xã
hội, lương hưu và các chính sách đầu tư vào con người. Triển khai các chủ
trương, chính sách để tăng cường ủng hộ, niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo
của Đảng, Nhà nước và sự ổn định của chế độ; duy trì hệ thống chính trị liêm
chính, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng mỗi người dân là một “mắt
xích” an ninh.
Đổi mới tư duy, điều chỉnh
phương pháp, tạo bước đột phá trong thực hiện công tác dân vận, phong trào toàn
dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phù hợp với mô hình phát triển đất nước. Phát huy
vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội. Tăng cường đầu
tư nguồn lực, đổi mới cơ chế, chính sách để nâng tầm lực lượng tham gia bảo vệ
an ninh, trật tự ở cơ sở thật sự đáp ứng yêu cầu là một trong các lực lượng
nòng cốt của phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.
8. Triển khai đối ngoại và hội nhập quốc tế về an ninh tầm
cao mới, góp phần tạo thế và lực cho xây dựng và phát triển đất nước
Mở rộng hợp tác an ninh
cân bằng, linh hoạt; thúc đẩy hợp tác thực chất với các đối tác quan trọng. Duy
trì thường xuyên, hiệu quả các kênh đối thoại an ninh với các đối tác; tích cực
tham gia các cơ chế, diễn đàn khu vực và quốc tế về an ninh, ưu tiên hợp tác
trong các lĩnh vực an ninh phi truyền thống.
Phát huy các cơ chế hợp
tác quốc phòng, an ninh, tình báo, cảnh sát để xác lập vai trò dẫn dắt và điều
phối về đối thoại phòng ngừa xung đột, kiểm soát khủng hoảng trong khu vực;
trung gian, hoà giải khi có mâu thuẫn, bất đồng trên một số lĩnh vực Việt Nam
có thế mạnh như an ninh mạng, cứu nạn, cứu hộ, gìn giữ hoà bình. Nghiên cứu
thúc đẩy các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả, khả năng ứng phó của ASEAN
trước các thách thức an ninh của khu vực.
Chủ động tham vấn, phối hợp
với các nước thành viên ASEAN nghiên cứu, đề xuất các ý tưởng, sáng kiến chung
nhằm thúc đẩy thiết lập các cơ chế bảo đảm an ninh khu vực đối với các vấn đề
an ninh mới nổi. Thúc đẩy bộ quy tắc, tiêu chuẩn, quy chuẩn về quản trị AI,
không gian mạng, chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới của ASEAN; các
cơ chế hợp tác về chuẩn mực, an toàn và đạo đức trong phát triển khoa học, công
nghệ, lấy con người làm trung tâm. Tích cực tổ chức đối thoại, diễn tập an ninh
mạng quốc tế tại Việt Nam và tham gia tập trận, hợp tác phòng thủ trên không
gian mạng của các nước và tổ chức quốc tế. Nghiên cứu, đề xuất phát triển các
trung tâm điều phối an ninh, chính trị khu vực đặt tại Việt Nam; chủ động kết nối,
thúc đẩy các mô hình “cùng dẫn dắt”, “dẫn dắt gián tiếp” trong ASEAN và giữa
ASEAN với các đối tác.
Đẩy mạnh triển khai các lực
lượng quân sự, dân sự và công an ra nước ngoài tham gia hoạt động gìn giữ hoà
bình, các cơ chế hợp tác đa phương. Mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu
tranh với các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm
mạng. Thúc đẩy hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm tăng cường bảo đảm lợi
ích, an ninh, an toàn cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tranh thủ tối
đa nguồn lực, sự hỗ trợ từ đối tác nước ngoài để nâng cao tiềm lực an ninh quốc
gia và phát triển công nghiệp an ninh.
9. Nâng cao năng lực bảo vệ an ninh quốc gia đủ sức ứng
phó với mọi vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống
Hoàn thiện hệ thống pháp
luật, cơ chế, chính sách bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người, xác định
đây là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực bảo vệ an ninh trong kỷ nguyên mới.
Sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật để thể chế hoá đầy
đủ quan điểm của Đảng về Chiến lược An ninh quốc gia.
Xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, “Kỷ luật nhất - Trung
thành nhất - Gần dân nhất”. Xây dựng và phát triển lực lượng chuyên trách bảo vệ
an ninh trên các không gian, lĩnh vực mới. Nghiên cứu ban hành các cơ chế vượt
trội tạo đột phá trong đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các
lĩnh vực chiến lược, nhất là an ninh mạng, dữ liệu và công nghệ lõi. Xây dựng,
thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi nghề phù hợp thống nhất, bảo đảm tương xứng với
tính chất nhiệm vụ, mức độ phức tạp, nguy hiểm của công tác bảo vệ an ninh quốc
gia trong giai đoạn mới.
Rà soát, thiết lập cơ chế
tài chính đột phá cho an ninh. Nghiên cứu sử dụng các nguồn lực bảo đảm hiện đại
hoá lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia và tăng cường năng lực bảo vệ
an ninh quốc gia; nghiên cứu cơ chế ngân sách địa phương hỗ trợ 100% vốn thực
hiện các dự án đầu tư hiện đại hoá và tăng cường tiềm lực an ninh; đổi mới cơ cấu
chi ngân sách an ninh; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư cơ sở
vật chất cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia.
Tập trung nguồn lực hiện
đại hoá các công cụ bảo vệ an ninh quốc gia, trọng tâm là lĩnh vực an ninh,
tình báo, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, giám sát rủi ro tài chính, cảnh báo sớm
và quản trị khủng hoảng; ưu tiên phát triển các hệ thống cảnh báo đa tầng, kiểm
soát sinh trắc học tại ga tàu, sân bay, cửa khẩu quốc tế, hệ thống định vị nội
địa giám sát khu vực biên giới và địa bàn chiến lược, công nghệ chống gian lận
và phòng thủ mạng; xây dựng năng lực “hậu cần có chiều sâu”, điều chỉnh danh mục
trang cấp đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia phù hợp với
yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Xây dựng công nghiệp quốc
phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở
thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Phát triển mạnh mẽ công nghiệp đóng tàu và các ngành công nghiệp phụ trợ, tạo nền
tảng tăng cường bảo vệ an ninh không gian biển và đại dương. Xác định sản xuất,
cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh là ngành
nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư; thực hiện đặt hàng, chỉ định thầu theo quy định
pháp luật trong nghiên cứu, sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp
quốc phòng, công nghiệp an ninh. Ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển hạ
tầng lưỡng dụng, xác định rõ các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm, lộ trình phát
triển các mô hình hạ tầng lưỡng dụng tích hợp quốc phòng - an ninh - dân sự;
tăng nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển công nghệ, trang thiết bị lưỡng dụng.
Chú trọng tổng kết thực
tiễn, phát triển lý luận về nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia; hoàn thiện học
thuyết bảo vệ an ninh quốc gia của Việt Nam. Làm sáng tỏ hệ thống khoa học lý
luận về an ninh phi truyền thống, các mối đe dọa tổng hợp, các hình thái xâm phạm
an ninh mới và giải pháp phòng ngừa, ứng phó.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Chính trị trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực
hiện Nghị quyết. Nghị quyết này ban hành thay thế Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày
05/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia.
2. Đảng uỷ Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh để triển khai thực hiện Chiến lược An ninh quốc
gia; tăng cường giám sát đối với thực hiện pháp luật về an ninh quốc gia và bảo
vệ an ninh quốc gia.
3. Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, xây dựng Chương trình hành động;
phối hợp với Đảng uỷ Quốc hội thể chế hoá kịp thời, đầy đủ nội dung Chiến lược
An ninh quốc gia; bố trí ngân sách, huy động nguồn lực bảo đảm thực hiện Chiến
lược An ninh quốc gia.
4. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, cơ quan, ban đảng ở Trung ương và đảng
uỷ các bộ, ngành xây dựng Kế hoạch hành động, tổ chức triển khai hiệu quả Nghị
quyết; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết.
5. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với
Đảng uỷ Công an Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban
Bí thư tổ chức quán triệt, nghiên cứu, học tập Nghị quyết.
6. Đảng uỷ Công an Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sơ kết,
tổng kết, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư việc thực hiện Nghị quyết.
|
Nơi nhận:
- Các cơ quan, ban đảng
Trung ương;
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung
ương;
- Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|