|
HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 21/2026/NQ-HĐND
|
Hà Nội, ngày 02 tháng 6 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
THÔN, TỔ DÂN PHỐ; CHỨC DANH, SỐ LƯỢNG, CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG
KHÔNG CHUYÊN TRÁCH Ở THÔN, TỔ DÂN PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(thực hiện điểm c khoản 1 Điều 7 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16)
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thủ đô số 02/2026/QH16;
Căn cứ Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 47/2024/QH15
và Luật số 97/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số 59/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở;
Căn cứ Nghị định số 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức,
hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động
không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
Căn cứ Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND ngày 11 tháng 5 năm 2026 của Hội đồng
nhân dân thành phố Hà Nội quy định một số nội dung về xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật để tổ chức thi hành Luật Thủ
đô;
Xét Tờ trình số 200/TTr-UBND
ngày 30 tháng 5 năm 2026 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng
nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Nghị quyết quy định về tổ chức và hoạt động
của thôn, tổ dân phố; chức danh, số lượng, chế độ, chính sách đối với người hoạt
động không chuyên trách ở thôn, dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội; Báo cáo
thẩm tra số 58/BC-BPC ngày 30 tháng 5 năm 2026 của Ban Pháp chế Hội đồng nhân
dân thành phố Hà Nội; Báo cáo số 195/BC-UBND ngày 01 tháng 6 năm 2026 của Ủy
ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự thảo Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quy định về tổ chức, hoạt động của
thôn, tổ dân phố; chức danh, số lượng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động
không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội; Báo cáo số
199/BC-UBND ngày 02 tháng 6 năm 2026 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc
tiếp thu, giải trình thảo luận Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố về các nội
dung trình kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân Thành phố khóa XVII; ý kiến thảo luận
của đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội tại kỳ họp thứ 3;
Hội đồng nhân dân thành
phố Hà Nội ban hành Nghị quyết quy định về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ
dân phố; chức danh, số lượng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Nghị quyết này quy định
về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố; việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại,
giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; chức danh, số lượng và một số chế
độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2. Đối tượng áp dụng:
a) Thôn, tổ dân phố trên địa
bàn thành phố Hà Nội;
b) Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
c) Cộng đồng dân cư tại
thôn, tổ dân phố.
Điều
2. Thôn, tổ dân phố
1. Thôn, tổ dân phố là tổ
chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực thuộc
phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (xã, phường); là nơi thực hiện dân chủ trực
tiếp để phát huy các hình thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư; tổ chức
để Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước và nhiệm vụ do chính quyền địa phương cấp xã giao theo quy định; đặt
dưới sự lãnh đạo của cấp ủy và sự quản lý trực tiếp của chính quyền cấp xã.
2. Việc xác định loại hình
thôn, tổ dân phố và tên gọi cụ thể thực hiện theo quyết định của Hội đồng nhân
dân cấp xã, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật và Nghị quyết này.
3. Thôn được tổ chức ở xã,
tổ dân phố được tổ chức ở phường.
4. Đối với địa bàn có yếu
tố đặc thù của Thủ đô, căn cứ điều kiện cư trú, lịch sử hình thành cộng đồng
dân cư, mức độ đô thị hóa, quy hoạch, hạ tầng, phong tục, tập quán và yêu cầu
quản lý, có thể tổ chức thôn trong phường hoặc tổ dân phố trong xã để phù hợp với
thực tiễn quản lý cộng đồng dân cư. Việc tổ chức, sắp xếp các trường hợp đặc
thù này phải được lấy ý kiến Nhân dân, có ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp, tạo sự đồng thuận, ổn định đời sống cộng đồng và do Hội đồng nhân
dân cấp xã quyết định theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị quyết này.
5. Việc tổ chức thôn, tổ
dân phố theo khoản 4 Điều này không làm thay đổi bản chất tự quản của cộng đồng
dân cư và không làm thay đổi địa giới đơn vị hành chính cấp xã.
Điều
3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố
1. Tổ chức của thôn, tổ
dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hợp lý; hoạt động hiệu quả; phù hợp với quy mô
dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã.
2. Bảo đảm hoạt động của cộng
đồng dân cư thực hiện theo nguyên tắc tự quản; phát huy quyền làm chủ trực tiếp
của Nhân dân trong tổ chức đời sống cộng đồng; giữ gìn, phát huy các giá trị
văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương; bảo đảm sự lãnh đạo của cấp
ủy đảng và chấp hành sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp
xã.
3. Hoạt động của thôn, tổ
dân phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật,
hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch;
phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động
quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.
4. Hoạt động của thôn, tổ
dân phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
với Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố, các tổ chức
chính trị - xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ
chức tự quản trên địa bàn; phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo đảm an ninh,
trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng
dân cư.
5. Tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân
phố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi
cho Nhân dân trong tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và phối
hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại địa bàn.
Chương
II
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA
THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Điều
4. Tổ chức của thôn, tổ dân phố
1. Mỗi thôn có Trưởng thôn
và Phó Trưởng thôn; mỗi tổ dân phố có Tổ trưởng tổ dân phố và Phó Tổ trưởng tổ
dân phố.
2. Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố; Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố là người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định tại Nghị quyết này và quy định của
pháp luật có liên quan.
3. Căn cứ quy mô số hộ gia
đình, đặc điểm địa bàn, tính chất phức tạp và khối lượng công việc, mỗi thôn, tổ
dân phố được bố trí từ 01 đến 02 Phó Trưởng thôn hoặc Phó Tổ trưởng tổ dân phố,
cụ thể:
a) Đối với thôn có từ 800
hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân
phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn đặc biệt khó khăn được bố trí tối
đa 02 Phó Trưởng thôn hoặc Phó Tổ trưởng tổ dân phố;
b) Đối với thôn, tổ dân phố
không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này được bố trí 01 Phó Trưởng
thôn hoặc Phó Tổ trưởng tổ dân phố.
4. Phó Trưởng thôn, Phó Tổ
trưởng tổ dân phố là người giúp Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố triển khai
các công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
theo quy định. Việc lựa chọn, công nhận Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân
phố thực hiện theo Nghị quyết này, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân Thành phố và
quy định pháp luật có liên quan.
5. Trường hợp thôn, tổ dân
phố mới thành lập, được sắp xếp, tổ chức lại chưa bầu được Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố hoặc khuyết Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân cấp
xã thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã quyết định cử Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời để điều hành hoạt động của thôn, tổ dân phố
cho đến khi bầu được Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố mới.
Thời gian cử Trưởng thôn,
Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời không quá 12 tháng kể từ ngày có quyết định cử.
Trong thời gian này, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp với
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và cộng đồng dân cư chuẩn bị nhân sự, tổ
chức bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố mới khi đủ điều kiện; không kéo dài
thời gian lâm thời nếu đã bảo đảm điều kiện tổ chức bầu.
Việc bầu Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố mới thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số
59/2023/NĐ-CP và các Điều 8,
Điều 9, Điều 10, Điều 11 Nghị quyết này. Trường hợp khuyết do được công nhận
cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thì việc quyết định tiến hành bầu
Trưởng thôn, Tồ trưởng tổ dân phố mới thực hiện theo thời hạn quy định tại khoản 7 Điều 13 Nghị quyết này.
6. Nhiệm kỳ của Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 05 năm. Nhiệm kỳ của Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng
tổ dân phố theo nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tố trưởng tổ dân phố.
Trường hợp cần điều chỉnh
thời điểm bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để phục vụ việc thành lập, sắp
xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do sự kiện bất khả kháng như thiên tai,
dịch bệnh mà không thể tổ chức bầu đúng thời hạn, Ủy ban nhân dân cấp xã thống
nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã quyết định thời điểm tổ chức bầu phù hợp với
tình hình thực tế, bảo đảm đúng quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở
cơ sở, không làm gián đoạn hoạt động của cộng đồng dân cư và phải tổ chức bầu ngay sau khi đủ
điêu kiện.
Trường hợp phát sinh khó
khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân
Thành phố để được hướng dẫn theo quy định.
Điều
5. Hoạt động của thôn, tổ dân phố
1. Hoạt động tự quản của
thôn, tổ dân phố do cộng đồng dân cư bàn, quyết định và tổ chức thực hiện trên
cơ sở tự nguyện, dân chủ, công khai, minh bạch, phù hợp với quy định của pháp luật,
hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố, phong tục, tập quán, truyền thống và
điều kiện thực tế của từng thôn, tổ dân phố, gồm:
a) Bàn và quyết định chủ
trương, mức đóng góp của Nhân dân để xây dựng, sửa chữa, duy tu cơ sở hạ tầng,
công trình phúc lợi công cộng phục vụ đời sống cộng đồng trong phạm vi thôn, tổ
dân phố theo quy định của pháp luật;
b) Quyết định việc thu,
chi, quản lý các khoản đóng góp của Nhân dân ngoài các khoản đóng góp do pháp luật
quy định; quản lý, sử dụng các khoản kinh phí, tài sản do cộng đồng dân cư được
giao quản lý hoặc tiếp nhận từ các nguồn tài trợ, ủng hộ hợp pháp khác, bảo đảm
công khai, minh bạch;
c) Xây dựng, sửa đổi, bổ
sung hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; trình Ủy ban nhân dân cấp xã phê
duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt theo quy định của pháp luật;
d) Tổ chức các hoạt động tự
quản, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư bảo đảm giữ gìn an
ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường; phòng, chống các tệ nạn xã hội;
chăm lo sức khỏe cộng đồng; xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế, giảm
nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân
dân; phát huy truyền thống đoàn kết trong cộng đồng dân cư;
đ) Tổ chức thực hiện việc
bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; lựa chọn, cho thôi làm Phó
Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố theo quy định tại Nghị quyết này và quy định
pháp luật có liên quan; bầu, cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân,
Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy định của pháp luật về thực hiện dân
chủ ở cơ sở;
e) Tham gia ý kiến đối với
các nội dung liên quan trực tiếp đến đời sống của cộng đồng dân cư do chính quyền
địa phương cấp xã lấy ý kiến theo quy định của pháp luật;
g) Thực hiện các công việc
tự quản khác trong nội bộ cộng đồng dân cư không trái với quy định của pháp luật,
phù hợp với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.
2. Hoạt động phối hợp, hỗ
trợ chính quyền địa phương cấp xã tại địa bàn dân cư được thực hiện trên cơ sở
tôn trọng tính tự quản của cộng đồng dân cư, theo hướng dẫn của chính quyền địa
phương cấp xã; phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật, gồm:
a) Tuyên truyền, vận động
Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và
các phong trào, cuộc vận động do cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các tổ chức chính trị - xã hội phát động;
b) Tổng hợp, phản ánh ý kiến,
nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của Nhân dân; phối hợp với chính quyền địa
phương cấp xã xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống cộng
đồng dân cư tại địa bàn;
c) Hỗ trợ cung cấp, trao đổi
thông tin liên quan đến cộng đồng dân cư tại địa bàn để phục vụ công tác quản
lý hành chính nhà nước và quản trị địa phương theo quy định của pháp luật;
d) Phối hợp tuyên truyền,
hướng dẫn, tạo điều kiện để Nhân dân tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành
chính, dịch vụ công và các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người dân;
đ) Tham gia, phối hợp thực
hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và các hoạt động cộng đồng khác trên cơ sở vận động,
tạo sự đồng thuận của Nhân dân, phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn;
e) Tham gia hỗ trợ chuyển
đổi số tại cộng đồng dân cư; tuyên truyền, hướng dẫn Nhân dân sử dụng nền tảng
số, dịch vụ công trực tuyến và các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ đời sống
xã hội.
3. Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố chủ trì, phối hợp với Bí thư chi bộ, Ban công tác Mặt trận, các tổ
chức chính trị - xã hội và các tổ chức tự quản khác ở thôn, tổ dân phố xây dựng,
thực hiện quy chế phối hợp nhằm bảo đảm sự thống nhất, hiệu quả trong tổ chức
và hoạt động tại địa bàn; Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn, theo dõi việc thực
hiện quy chế phối hợp.
Điều
6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Nhiệm vụ trong tổ chức,
điều hành hoạt động của thôn, tổ dân phố:
a) Chủ trì hội nghị thôn,
tổ dân phố; tổ chức hội nghị định kỳ hoặc cuộc họp của cộng đồng dân cư theo
quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổ chức để cộng đồng dân
cư bàn, quyết định các nội dung thuộc phạm vi Nhân dân bàn và quyết định; tổ chức
để Nhân dân tham gia ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi phải lấy ý kiến
Nhân dân;
b) Tổ chức thực hiện và
theo dõi việc thực hiện các quyết định của cộng đồng dân cư đã được Nhân dân
trong thôn, tổ dân phố thông qua; tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã về kết
quả thực hiện;
c) Tổ chức triển khai các
hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật và hương ước,
quy ước của thôn, tổ dân phố;
d) Phân công nhiệm vụ cho
Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố; phối hợp với Bí thư chi bộ, Ban công tác Mặt trận, các tổ
chức chính trị - xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và
các tổ chức tự quản khác trong tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư;
đ) Thực hiện vai trò đại
diện của thôn, tổ dân phố trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của cộng đồng
dân cư theo quy định của pháp luật;
e) Báo cáo kết quả hoạt động
của thôn, tổ dân phố trước hội nghị thôn, tổ dân phố theo định kỳ hằng năm hoặc
khi cần thiết.
2. Nhiệm vụ theo quy định
của pháp luật và nhiệm vụ do chính quyền cấp xã giao:
a) Tuyên truyền, vận động
Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; thực hiện dân chủ ở cơ sở và các phong
trào, cuộc vận động tại địa bàn;
b) Nắm tình hình Nhân dân;
tập hợp, phản ánh với chính quyền địa phương cấp xã các kiến nghị, nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân; báo cáo kịp thời các vấn đề phát sinh tại địa bàn;
tham gia hòa giải ở cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư;
c) Vận động Nhân dân tham
gia giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và
phát triển cộng đồng dân cư tại địa bàn;
d) Phối hợp với Ban công
tác Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tự quản khác ở thôn, tổ
dân phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc hỗ trợ triển
khai nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã tại địa bàn;
đ) Phối hợp với Ban Thanh
tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Ban công tác Mặt trận và các tổ
chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức cho Nhân dân tham gia giám sát
các công trình, dự án, các khoản đóng góp của Nhân dân và việc thực hiện dân chủ
ở cơ sở tại địa bàn;
e) Tổ chức tuyên truyền, vận
động Nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, phòng thủ dân sự và bảo đảm
an ninh, trật tự tại địa bàn theo quy định của pháp luật;
g) Hỗ trợ chính quyền địa
phương cấp xã trong thực hiện chuyển đổi số, cập nhật thông tin, dữ liệu phục vụ
quản lý địa bàn; hướng dẫn, hỗ trợ Nhân dân tiếp cận, sử dụng nền tảng số, dịch
vụ công trực tuyến; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định;
h) Thực hiện các nhiệm vụ
khác theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn, phân công của chính quyền địa
phương cấp xã.
3. Quyền hạn:
a) Đại diện cho thôn, tổ
dân phố trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của cộng đồng dân cư theo quy
định của pháp luật; là người đại diện cho cộng đồng dân cư ký hợp đồng về xây dựng
công trình do Nhân dân trong thôn, tổ dân phố đóng góp kinh phí và đã được hội
nghị thôn, tổ dân phố thông qua theo quy định của pháp luật;
b) Được mời tham gia các
cuộc họp của chính quyền địa phương cấp xã liên quan đến việc triển khai các
công việc trực tiếp liên quan đến cộng đồng dân cư;
c) Được phân công nhiệm vụ
cho Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố;
d) Thực hiện các quyền hạn
khác theo quy định của pháp luật.
Điều
7. Tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và Phó Trưởng thôn, Phó Tổ
trưởng tổ dân phố
1. Là công dân Việt Nam,
cư trú thường xuyên tại thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã; từ 21
tuổi trở lên và không quá 70 tuổi, ưu tiên người trong độ tuổi lao động theo
quy định; trường hợp đặc biệt quá 70 tuổi do Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết
định; có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2. Có phẩm chất đạo đức tốt,
gương mẫu; có uy tín trong cộng đồng dân cư; được Nhân dân tín nhiệm; bản thân
và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, chấp hành tốt chủ trương của Đảng,
pháp luật của Nhà nước.
3. Có trình độ học vấn tốt
nghiệp trung học phổ thông, có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên phù hợp
với yêu cầu hoạt động của thôn, tổ dân phố. Trường hợp địa bàn có khó khăn về
nguồn nhân sự hoặc có yếu tố đặc thù về điều kiện dân cư, lịch sử, văn hóa,
phong tục, tập quán, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định người có trình
độ phù hợp với điều kiện thực tế nhưng phải bảo đảm uy tín, sức khỏe, năng lực
vận động Nhân dân và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.
4. Có khả năng hòa giải, xử
lý tình huống phát sinh trong cộng đồng dân cư; có năng lực lập kế hoạch, tổng
hợp, thống kê, báo cáo và phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ.
5. Không trong thời gian bị
xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành bản án, quyết
định của Tòa án; không thuộc trường hợp bị pháp luật cấm đảm nhiệm nhiệm vụ
theo quy định.
Điều
8. Công tác chuẩn bị bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Chậm nhất 20 ngày trước
ngày tổ chức cuộc họp của cộng đồng dân cư để bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân
phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định tổ chức bầu Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã xây dựng kế hoạch, hướng dẫn nghiệp vụ và tổ chức triển
khai kế hoạch bầu.
2. Chậm nhất 10 ngày trước
ngày tổ chức cuộc họp của cộng đồng dân cư để bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân
phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định thành lập Tổ bầu cử
sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Tổ bầu cử gồm đại diện Ban
công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố làm Tổ trưởng; thành viên là đại diện các
tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội và đại diện hộ gia đình ở thôn, tổ dân phố,
không phải là người ứng cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
3. Các quyết định quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được thông báo đến Nhân dân ở thôn, tổ dân
phố, niêm yết tại nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng của thôn, tổ dân phố và thông báo trên hệ thống
truyền thanh hoặc bằng hình thức khác phù hợp với điều kiện của địa phương chậm
nhất 07 ngày trước ngày bầu.
4. Trưởng Ban công tác Mặt
trận ở thôn, tổ dân phố tổ chức cuộc họp Ban công tác Mặt trận để dự kiến danh
sách người ứng cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; báo cáo cấp ủy chi bộ
thôn, tổ dân phố để thống nhất giới thiệu ít nhất 01 người ra ứng cử Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; tổ chức cuộc họp Ban công tác Mặt trận sau khi có ý
kiến của chi ủy chi bộ để quyết định danh sách chính thức những người ứng cử,
ít nhất 01 người.
Nội dung cuộc họp Ban công
tác Mặt trận phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 05 kèm theo Nghị định số 59/2023/NĐ-CP và gửi tới Ủy ban nhân dân cấp
xã chậm nhất 15 ngày trước ngày tổ chức cuộc họp của cộng đồng dân cư.
Trường hợp thôn, tổ dân phố
có số hộ gia đình lớn hoặc có địa bàn dân cư sinh sống rộng, không tập trung
thì việc tổ chức cuộc họp của cộng đồng dân cư theo từng cụm dân cư được thực
hiện theo phương án do Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định sau khi thống
nhất với Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố. Người chủ trì cuộc họp tại cụm
dân cư, việc báo cáo kết quả từng cụm dân cư và tổng hợp vào kết quả chung của
thôn, tổ dân phố thực hiện theo quy định của Luật
Thực hiện dân chủ ở cơ sở và Nghị định số 59/2023/NĐ-CP.
Điều
9. Tổ chức cuộc họp để bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Tổ bầu cử do Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập có trách nhiệm triệu tập và chủ trì cuộc
họp của cộng đồng dân cư để bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố. Thành phần
tham dự cuộc họp thực hiện theo quy định của Luật
Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Nghị định số 59/2023/NĐ-CP
và Nghị quyết này.
2. Việc tổ chức cuộc họp để
bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Tổ trưởng Tổ bầu cử
tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, thông qua chương trình cuộc họp; giới thiệu
người để cuộc họp biểu quyết cử làm thư ký cuộc họp. Thư ký cuộc họp được quyết
định khi có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp biểu quyết đồng ý;
b) Tổ trưởng Tổ bầu cử hoặc
người được phân công công bố các quyết định, văn bản liên quan đến việc bầu Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố theo chương trình cuộc họp;
c) Đại diện Ban công tác Mặt
trận ở thôn, tổ dân phố giới thiệu danh sách người ứng cử do Ban công tác Mặt
trận quyết định theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị quyết này;
đề nghị đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp tự ứng cử hoặc đề cử người có đủ
tiêu chuẩn, điều kiện để tham gia bầu Trưởng thôn, Tô trưởng tổ dân phố theo
quy định;
d) Đại diện hộ gia đình
tham dự cuộc họp thảo luận về danh sách người ứng cử. Kết thúc thảo luận, người
chủ trì cuộc họp tổng hợp ý kiến, đề xuất nội dung cần biểu quyết và phương án
biểu quyết bằng
hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín để người tham dự cuộc họp biểu quyết lựa chọn. Phương
án biểu quyết được lựa chọn khi có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp
biểu quyết đồng ý;
đ) Trường hợp biểu quyết bằng
hình thức giơ tay, kết quả biểu quyết được kiểm đếm ngay tại thời điểm biểu quyết
và ghi vào biên bản cuộc họp;
e) Trường hợp biểu quyết bằng
hình thức bỏ phiếu kín, người chủ trì cuộc họp đề xuất số lượng và danh sách
Ban kiểm phiếu từ 03 đến 05 người, gồm Trưởng ban và các thành viên, để đại diện
hộ gia đình tham dự cuộc họp biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Ban kiểm phiếu
được quyết định khi có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp biểu quyết
đồng ý. Ban kiểm phiếu hướng dẫn thể lệ, cách ghi phiếu, bỏ phiếu; tiến hành
phát phiếu, thu phiếu, kiểm phiếu; mời 02 đại diện hộ gia đình tham dự cuộc họp
không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu và lập biên bản kiểm phiếu theo quy định;
g) Người chủ trì cuộc họp
công bố kết quả biểu quyết và kết luận cuộc họp. Người được bầu làm Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là người được trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình
trong thôn, tổ dân phố tán thành. Trường hợp xác định được người trúng cử thì
người trúng cử ra mắt cuộc họp.
3. Chậm nhất 05 ngày làm
việc kể từ ngày kết thúc cuộc họp, người chủ trì cuộc họp có trách nhiệm hoàn
thiện hồ sơ cuộc họp; quyết định của cộng đồng dân cư được lập theo Mẫu số 03
kèm theo Nghị định số 59/2023/NĐ-CP đã được
cộng đồng dân cư biểu quyết thông qua phải được gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã
và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã theo quy định.
4. Trường hợp cuộc họp
không xác định được người trúng cử thì Tổ bầu cử lập biên bản, nêu rõ lý do
không bầu được Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã xem
xét, quyết định việc tổ chức bầu lại theo quy định. Việc bầu lại Trưởng thôn, Tổ
trưởng tổ dân phố thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều
8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Nghị quyết này.
Điều
10. Phát phiếu lấy ý kiến hộ gia đình trong trường hợp cuộc họp không đủ điều
kiện để đạt tỷ lệ thông qua
1. Trường hợp nội dung bầu
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố đã được tổ chức tại cuộc họp của cộng đồng
dân cư nhưng không có đủ đại diện hộ gia đình tham dự để có thể đạt tỷ lệ biểu
quyết tán thành theo quy định của Luật Thực hiện
dân chủ ở cơ sở và Điều 4 Nghị định số 59/2023/NĐ-CP thì thực hiện phát phiếu
lấy ý kiến hộ gia đình theo quy định của Luật
Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Nghị định số 59/2023/NĐ-CP
và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân Thành phố.
2. Việc xây dựng kế hoạch,
thành lập Tổ phát phiếu lấy ý kiến, công khai thông tin, mẫu phiếu, phát phiếu,
thu phiếu, kiểm
phiếu, lập biên bản và gửi kết quả thực hiện theo Điều 4 Nghị định số 59/2023/NĐ-CP
và quy định pháp luật có liên quan; không sử dụng phát phiếu lấy ý kiến như
phương thức thay thế ngay từ đầu cho cuộc họp của cộng đồng dân cư khi pháp luật
không cho phép.
3. Kết quả lấy ý kiến được
thông qua khi tổng hợp kết quả theo đúng quy định của pháp luật và có trên 50%
tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành.
Điều
11. Công nhận kết quả bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định đã được cộng đồng dân cư biểu quyết thông
qua, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định công nhận người trúng cử Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố hoặc quyết định bầu lại; trường hợp không ban hành quyết
định công nhận hoặc quyết định bầu lại thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ
lý do.
2. Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố chính thức hoạt động khi có quyết định công nhận của Ủy ban nhân dân
cấp xã.
Điều
12. Các trường hợp cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Việc cho thôi làm Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được quyết định tại cuộc họp của cộng đồng dân cư đối
với các trường hợp sau đây:
a) Người xin thôi làm Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố vì lý do sức khỏe, do hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý
do khác theo nguyện vọng cá nhân có đơn gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nêu
rõ lý do xin thôi;
b) Trưởng Ban công tác Mặt
trận ở thôn, tổ dân phố đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét cho
thôi trong trường hợp Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố không còn được Nhân dân
tín nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân, tham
nhũng, lãng phí, không phục tùng sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân cấp
xã, các quy định của cấp trên, vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc khi có ít nhất 50% tổng số hộ gia đình hoặc đại diện hộ
gia đình trong thôn, tổ dân phố kiến nghị.
2. Việc cho thôi làm Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 13 Nghị quyết này.
Điều
13. Tổ chức cuộc họp cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1. Trưởng Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố
triệu tập và chủ trì cuộc họp của cộng đồng dân cư để cho thôi làm Trưởng thôn,
Tổ trưởng tổ dân phố. Trường hợp Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố đồng thời là
Trưởng Ban công tác Mặt trận thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập và
chủ trì cuộc họp sau khi thống nhất với Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã.
2. Trình tự tổ chức cuộc họp
của cộng đồng dân cư để cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện
theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 59/2023/NĐ-CP.
3. Quyết định của cộng đồng
dân cư về việc cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được thông qua
khi có trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành.
4. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đã được cộng đồng dân cư biểu quyết
thông qua, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, ban hành quyết định công nhận kết quả
cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố. Trường hợp không ban hành quyết
định công nhận kết quả cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thì phải
trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trường hợp cuộc họp không
thống nhất được việc cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thì Ủy ban
nhân dân cấp xã xem xét, quyết định sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cấp xã.
5. Trường hợp cuộc họp của
cộng đồng dân cư về việc cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố không
có đủ đại diện hộ gia đình tham dự để có thể đạt tỷ lệ biểu quyết tán thành
theo quy định thì thực hiện phát phiếu lấy ý kiến hộ gia đình theo Điều 4 Nghị
định số 59/2023/NĐ-CP và quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
6. Trong thời hạn 60 ngày
kể từ ngày có quyết định công nhận cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân
phố, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc tiến hành bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng
tổ dân phố mới. Việc bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố mới thực hiện theo
quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Nghị quyết này.
7. Trong thời gian khuyết
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân cấp xã thống nhất với Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã quyết định cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
lâm thời để điều hành hoạt động của thôn, tổ dân phố cho đến khi bầu được Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố mới.
Chương
III
THÀNH LẬP, SẮP XẾP, TỔ
CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Điều
14. Nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ
dân phố
1. Tuân thủ quy định của
pháp luật; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kế thừa và phát huy các giá
trị lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp; phù hợp với điều kiện tự
nhiên, đặc điểm địa bàn, quy mô dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội của địa
phương; bảo đảm các điều kiện thiết yếu phục vụ tổ chức và hoạt động của cộng đồng
dân cư; không làm gián đoạn việc quản lý địa bàn, tiếp nhận, giải quyết thủ tục
hành chính và thực hiện chính sách liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp
pháp của Nhân dân trong quá trình thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể
thôn, tổ dân phố.
2. Việc thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại thôn, tổ dân phố phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hóa, truyền thống, điều kiện
đặc thù của đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp và mô hình tổ chức chính quyền
địa phương 02 cấp.
3. Thực hiện sắp xếp, tổ
chức lại đối với các thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định của
pháp luật hoặc theo yêu cầu quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa,
phân bố dân cư và yêu cầu tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư.
4. Việc sắp xếp, tổ chức lại
thôn, tổ dân phố phải xem xét kỹ các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, phong tục,
tập quán, đặc điểm dân cư, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nguyện vọng
của Nhân dân tại địa phương; bảo đảm thực hiện tốt công tác quân sự, quốc
phòng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo sự đồng thuận
trong Nhân dân, thuận lợi cho đời sống, sinh hoạt của người dân và nâng cao hiệu
quả quản lý, phục vụ Nhân dân của chính quyền cơ sở.
5. Việc giải thể thôn, tổ
dân phố được thực hiện trong trường hợp cần thiết do thay đổi các yếu tố địa
lý, địa hình, do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do thực hiện phương
án bồi thường, giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư.
6. Việc xác định loại hình
thôn, tổ dân phố và đặt tên thôn, tổ dân phố được thực hiện đồng thời trong quy
trình thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố.
7. Việc đặt tên thôn, tổ
dân phố phải bảo đảm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ viết, dễ phát âm, mang ý nghĩa lịch sử,
văn hóa, truyền thống tốt đẹp; thể hiện được bản sắc, truyền thống địa phương.
Ưu tiên kế thừa tên gọi hiện có hoặc tên gọi phù hợp với thực tiễn địa bàn; trường
hợp cần thiết có thể sử dụng số thứ tự để đặt tên.
8. Việc đổi tên thôn, tổ
dân phố được thực hiện trong trường hợp trùng tên thôn, tổ dân phố trong cùng một
đơn vị hành chính cấp xã hoặc theo nguyện vọng của Nhân dân ở thôn, tổ dân phố.
Điều
15. Thẩm quyền thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên
thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
1. Hội đồng nhân dân cấp
xã quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đối tên thôn, tổ
dân phố trên địa bàn; quyết định ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
theo quy định của Nghị quyết này.
2. Đối với trường hợp đặc
thù quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết này, Hội đồng
nhân dân cấp xã quyết định việc tổ chức thôn trong phường hoặc tổ dân phố trong
xã trên cơ sở đề án của Ủy ban nhân dân cấp xã, kết quả lấy ý kiến Nhân dân, ý
kiến của Ủy ban Mặt trận Tố quốc Việt Nam cùng cấp và bảo đảm phù hợp với điều
kiện thực tế của địa phương.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã
có trách nhiệm lập hồ sơ, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, tiếp thu, giải trình và
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định theo quy định.
Điều
16. Tiêu chí của thôn, tổ dân phố
1. Quy mô số hộ gia đình:
a) Thôn phải có từ 500 hộ
gia đình trở lên;
b) Tổ dân phố phải có từ
700 hộ gia đình trở lên.
2. Trường hợp Hội đồng
nhân dân cấp xã quyết định tổ chức hoặc sử dụng tên gọi cộng đồng dân cư theo khoản 2, khoản 4 Điều 2 Nghị quyết này thì áp dụng tiêu chí quy
mô số hộ gia đình tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố quy định tại khoản
1 Điều này; trường hợp tên gọi truyền thống không thuộc tên gọi thôn hoặc tổ
dân phố thì phải xác định rõ loại hình tương ứng để áp dụng tiêu chí, chế độ,
chính sách và trình tự, thủ tục quản lý thống nhất.
3. Đối với thôn, tổ dân phố
có yếu tố đặc thù như địa bàn miền núi, xã miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn; địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp,
giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; khu vực quy hoạch giải
phóng mặt bằng, di dân, tái định cư; khu dân cư biệt lập, cồn trên sông; địa
bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự hoặc trường hợp đặc thù khác của
Thủ đô cần được xem xét trên cơ sở yêu cầu quản lý và điều kiện thực tế của địa
bàn thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp thôn, tổ dân
phố chưa bảo đảm tiêu chí quy mô số hộ gia đình theo khoản 1 Điều này nhưng thuộc
trường hợp đặc thù quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải lập
phương án, báo cáo giải trình cụ thể về sự cần thiết, điều kiện thực tế, yêu cầu
quản lý, mức độ ổn định và gắn kết cộng đồng dân cư, ý kiến Nhân dân và gửi Hội
đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định theo thẩm quyền; không giao Ủy ban
nhân dân cấp xã tự quy định tiêu chí mới ngoài khung quy định tại Nghị quyết
này.
Điều
17. Thành lập thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc biệt
1. Trường hợp thành lập
phường từ xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức
lại thôn theo loại hình tổ dân phố để lấy ý kiến Nhân dân đồng thời trong hồ sơ
Đề án thành lập phường. Kể từ ngày Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
việc thành lập phường có hiệu lực thi hành, Hội đồng nhân dân phường quyết định
việc sắp xếp, tổ chức lại và sử dụng tên gọi tổ dân phố trên địa bàn, trừ trường
hợp cần thiết do yếu tố lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán hoặc yêu cầu thực
tiễn của địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định tiếp tục tổ chức
thôn trong phường hoặc sử dụng tên gọi truyền thống theo quy định tại Điều 2 và Điều 15 Nghị quyết này.
2. Trường hợp khi xây dựng
hồ sơ Đề án thành lập phường từ xã mà chưa xây dựng được phương án tổ chức tổ
dân phố thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể để
thực hiện việc sắp xếp, tổ chức lại tổ dân phố sau khi thành lập phường, bảo đảm
tiêu chí quy mô số hộ gia đình theo quy định của Nghị quyết này.
3. Trường hợp khu vực dân
cư mới hình thành chưa đủ điều kiện để thành lập thôn, tổ dân phố theo quy định
thì Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định
việc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có cho phù hợp, bảo đảm thuận lợi
trong công tác quản lý của chính quyền địa phương cấp xã và hoạt động của thôn,
tổ dân phố.
4. Đối với khu vực dân cư
hình thành từ lâu do yếu tố lịch sử, canh tác, cư trú trong cùng Thành phố
nhưng không làm thay đổi địa giới đơn vị hành chính cấp xã thì Ủy ban nhân dân
cấp xã có liên quan thống nhất phương án chuyển giao cộng đồng dân cư để thuận
tiện cho hoạt động quản lý và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Sau khi thống nhất
phương án chuyển giao:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi có thôn, tổ dân phố trước khi chuyển giao trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết
định giải thể thôn, tổ dân phố hoặc điều chỉnh phạm vi quản lý của thôn, tổ dân
phố có liên quan;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi tiếp nhận thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định việc
thành lập thôn, tổ dân phố mới nếu bảo đảm tiêu chí, điều kiện theo quy định của
Nghị quyết này; trường hợp không bảo đảm tiêu chí, điều kiện thì thực hiện việc
ghép vào thôn, tổ dân phố hiện có theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều
18. Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
1. Căn cứ tiêu chí, nguyên
tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo quy định của Nghị quyết
này, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại
thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã
có trách nhiệm công khai Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
và tổ chức lấy ý kiến Nhân dân bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật
về thực hiện dân chủ ở cơ sở để làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân
dân cấp xã xem xét, quyết định; thời gian lấy ý kiến tối thiểu là 07 ngày. Báo
cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến Nhân dân phải thể hiện rõ tổng số hộ
gia đình hoặc đại diện hộ gia đình được lấy ý kiến, số lượng, tỷ lệ đồng ý,
không đồng ý, ý kiến khác, nội dung tiếp thu, giải trình.
3. Hồ sơ thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại thôn, tổ dân phố gồm:
a) Tờ trình của Ủy ban
nhân dân cấp xã;
b) Đề án thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại thôn, tổ dân phố, gồm các nội dung chủ yếu: sự cần thiết; hiện trạng
quy mô số hộ gia đình; phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại; tên gọi của
thôn, tổ dân phố; điều kiện bảo đảm tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố;
phương án bố trí, giải quyết đối với người hoạt động không chuyên trách; phương
án bàn giao tài chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu, nhiệm vụ đang thực hiện;
phương án công khai thông tin để bảo đảm ổn định hoạt động của cộng đồng dân cư
và không làm gián đoạn việc giải quyết công việc liên quan đến Nhân dân;
c) Báo cáo tổng hợp, tiếp
thu, giải trình ý kiến Nhân dân;
d) Dự thảo Nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp xã.
4. Trên cơ sở hồ sơ do Ủy
ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết
về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Điều
19. Trình tự, thủ tục, hồ sơ giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân
cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
1. Trường hợp giải thể
thôn, tổ dân phố:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã
xây dựng Tờ trình về việc giải thể thôn, tổ dân phố, kèm theo danh sách các hộ
gia đình thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã
tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Tờ trình về việc giải thể thôn, tổ dân phố
theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở để làm cơ sở hoàn thiện
hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định; thời gian lấy ý kiến
tối thiểu là 07 ngày; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến tham gia của
Nhân dân;
c) Hồ sơ giải thể thôn, tổ
dân phố gồm: Tờ trình kèm theo danh sách các hộ gia đình thuộc thôn, tổ dân phố
thực hiện giải thể; phương án bàn giao tài chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu, nhiệm
vụ đang thực hiện và phương án bảo đảm ổn định sinh hoạt cộng đồng dân cư sau
giải thể; Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến Nhân dân; dự thảo Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã về việc giải thể thôn, tổ dân phố;
d) Trên cơ sở hồ sơ do Ủy
ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết
về giải thể thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
2. Trường hợp đổi tên thôn, tổ dân phố:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã
lập Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố, trong đó nêu rõ lý do đổi tên và tên của
thôn, tổ dân phố sau khi đổi tên;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã
tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố bằng hình thức
phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở để làm cơ sở
hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định; thời gian
lấy ý kiến tối thiểu là 07 ngày; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến
tham gia của Nhân dân;
c) Hồ sơ đổi tên thôn, tổ
dân phố gồm: Tờ trình và Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố; Báo cáo tổng hợp,
tiếp thu, giải trình ý kiến Nhân dân; dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cấp xã về việc đổi tên thôn, tổ dân phố;
d) Trên cơ sở hồ sơ trình
của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết
về đổi tên thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
3. Trường hợp ghép cụm dân
cư vào thôn, tổ dân phố hiện có:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã
lập Phương án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có, trong đó nêu rõ sự
cần thiết, phạm vi cụm dân cư được ghép, số hộ gia đình, thôn, tổ dân phố tiếp
nhận;
b) Ủy ban nhân dân cấp xã
tổ chức lấy ý kiến Nhân dân tại cụm dân cư được ghép và thôn, tổ dân phố tiếp
nhận bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở
cơ sở để làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết
định; thời gian lấy ý kiến tối thiểu là 07 ngày; tổng hợp, tiếp thu, giải trình
đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân;
c) Hồ sơ ghép cụm dân cư
vào thôn, tổ dân phố hiện có gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã; Phương
án ghép cụm dân cư, trong đó nêu rõ việc bàn giao, quản lý hồ sơ, tài liệu, tài
chính, tài sản, nhiệm vụ liên quan và trách nhiệm của thôn, tổ dân phố tiếp nhận;
Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến Nhân dân; dự thảo Nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp xã;
d) Trên cơ sở hồ sơ trình
của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết
ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.
Chương
IV
SỐ LƯỢNG, CHỨC DANH VÀ MỘT
SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH Ở THÔN, TỔ DÂN
PHỐ
Điều
20. Số lượng,
chức danh
1. Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm các chức danh: Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ
dân phố; Bí thư chi bộ; Trưởng Ban công tác Mặt trận; Phó Trưởng thôn hoặc Phó
Tổ trưởng tổ dân phố.
2. Số lượng người hoạt động
không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố không quá 05 người. Việc bố trí cụ thể
phải căn cứ quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn, tính chất phức tạp, khối lượng
công việc, yêu cầu tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư và không thực hiện
bình quân, cào bằng.
Điều
21. Quỹ phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ
dân phố
1. Căn cứ mức quỹ phụ cấp
theo quy định của Chính phủ, thẩm quyền đặc thù của Thành phố theo Luật Thủ đô và yêu cầu quản lý, quy mô dân cư,
tính chất hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn Thành phố, ngân sách
Thành phố bố trí phần kinh phí tăng thêm để bảo đảm quỹ phụ cấp hằng tháng đối
với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố cao hơn mức chung, cụ
thể như sau:
a) Đối với thôn có từ 800
hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân
phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn đặc biệt khó khăn được áp dụng
quỹ phụ cấp hằng tháng bằng 12,0 lần mức lương cơ sở, gồm mức quỹ phụ cấp theo
quy định của Chính phủ và phần kinh phí tăng thêm do ngân sách Thành phố bảo đảm.
Cơ cấu phụ cấp gồm: Bí thư chi bộ: 2,8 lần mức lương cơ sở; Trưởng thôn hoặc Tổ
trưởng tổ dân phố: 2,8 lần mức lương cơ sở; Trưởng Ban công tác Mặt trận: 2,4 lần
mức lương cơ sở; Phó Trưởng thôn hoặc Phó Tổ trưởng tổ dân phố: 2,0 lần mức
lương cơ sở/người, áp dụng đối với tối đa 02 người;
b) Đối với thôn, tổ dân phố
không thuộc quy định tại điểm a khoản này được áp dụng quỹ phụ cấp hằng tháng bằng
9,0 lần mức lương cơ sở, gồm mức quỹ phụ cấp theo quy định của Chính phủ và phần
kinh phí tăng thêm do ngân sách Thành phố bảo đảm. Cơ cấu phụ cấp gồm: Bí thư
chi bộ: 2,5 lần mức lương cơ sở; Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố: 2,5 lần
mức lương cơ sở; Trưởng Ban công tác Mặt trận: 2,15 lần mức lương cơ sở; 01 Phó
Trưởng thôn hoặc 01 Phó Tổ trưởng tổ dân phố: 1,85 lần mức lương cơ sở.
2. Quỹ phụ cấp hằng tháng
quy định tại khoản 1 Điều này là mức chi phụ cấp hằng tháng đối với các chức
danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; không bao gồm kinh
phí đóng, hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách
khác theo quy định của pháp luật.
3. Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được kiêm nhiệm không quá 01 chức danh người hoạt
động không chuyên trách khác ở thôn, tổ dân phố và được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm
bằng 100% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm. Việc bố trí kiêm nhiệm và chi
trả phụ cấp kiêm nhiệm phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng chức danh, phù hợp yêu
cầu nhiệm vụ, đúng nguồn kinh phí và không vượt quá phạm vi chế độ, chính sách
quy định tại Nghị quyết này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Kinh phí đóng, hỗ trợ
đóng bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
được thực hiện riêng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách hiện hành; không tính trong quỹ phụ
cấp hằng tháng quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
5. Việc quản lý, sử dụng,
thanh toán, quyết toán kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân
sách nhà nước và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Điều
22. Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và một số chế độ, chính sách đối với
người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
1. Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, phân công
nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã và quy định của pháp luật có
liên quan.
2. Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù
hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao; ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền, vận
động Nhân dân, hòa giải ở cơ sở, tổ chức hoạt động cộng đồng dân cư; ứng dụng
công nghệ thông tin, chuyển đổi số, sử dụng nền tảng số, cập nhật dữ liệu, khai
thác cơ sở dữ liệu và hỗ trợ Nhân dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến
theo quy định. Khi được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng thì được hưởng chế độ
theo quy định của pháp luật.
3. Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo
hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế và quy định của pháp luật hiện hành.
4. Người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế
nếu thuộc đối tượng, điều kiện theo quy định; việc xác định đối tượng, điều kiện,
trình tự, thủ tục, nguồn kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật hiện
hành.
Chương
V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều
23. Nguồn kinh phí thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên
trách ở thôn, tổ dân phố
1. Nguồn kinh phí để thực
hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ
dân phố do ngân
sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành. Riêng năm 2026, ngân
sách Thành phố bổ sung có mục tiêu phần kinh phí tăng thêm.
2. Nguồn kinh phí chi trả
bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
3. Quỹ Bảo hiểm xã hội chi
trả các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người hoạt động không chuyên trách ở
thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều
24. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
1. Ủy ban nhân dân Thành
phố:
a) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm
tra việc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn theo quy định tại
Nghị quyết này;
b) Bảo đảm các điều kiện
hoạt động và thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên
trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật;
c) Quy định, hướng dẫn cụ
thể các nội dung thuộc thẩm quyền để tổ chức, triển khai thực hiện Nghị quyết
này thống nhất trên địa bàn Thành phố;
d) Chỉ đạo công khai
phương án sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; hướng dẫn việc bàn giao tài
chính, tài sản, hồ sơ, tài liệu, nhiệm vụ đang thực hiện khi thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại, giải thể thôn, tổ dân phố; định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân Thành
phố và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố về kết quả thực hiện Nghị quyết
để phục vụ công tác giám sát, phản biện xã hội theo quy định;
đ) Tổ chức rà soát các văn
bản do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành có liên quan đến tổ chức, hoạt động của
thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên
trách ở thôn, tổ dân phố; kịp thời ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan
có thẩm quyền bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định không còn phù hợp,
bảo đảm thống nhất với Nghị quyết này và quy định của pháp luật có liên quan;
e) Nghiên cứu, báo cáo cấp
có thẩm quyền để tổ chức thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách về tổ chức
và hoạt động của thôn, tổ dân phố tại một số địa bàn đặc thù như: những tổ dân
phố có quy mô rất lớn tại đô thị; các thôn, tổ dân phố trong các khu đô thị đa
mục tiêu; thôn, tổ dân phố tại các xã, phường thực hiện thí điểm mô hình khác
theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; trên cơ sở đó sơ kết, tổng kết và báo cáo Hội
đồng nhân dân Thành phố để sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ
dân phố trên địa bàn Thành phố.
2. Sở Nội vụ hướng dẫn,
đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết này; việc thành lập, sắp
xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; hướng dẫn việc
công khai phương án, lấy ý kiến Nhân dân, tổng hợp, tiếp thu, giải trình, bàn
giao hồ sơ, tài liệu, tài chính, tài sản và nhiệm vụ liên quan; định kỳ tổng hợp,
đánh giá, tham mưu sơ kết, tổng kết, báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố và tham
mưu Ủy ban nhân dân Thành phố báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan
có thẩm quyền theo quy định.
3. Sở Tài chính tham mưu bảo
đảm nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt
động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo phân cấp ngân sách hiện hành;
hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng, thanh toán, quyết toán kinh phí theo
quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
4. Bảo hiểm xã hội thành
phố Hà Nội hướng dẫn, phối hợp thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định của
pháp luật và theo thẩm quyền.
5. Các sở, ngành Thành phố
căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm phối hợp hướng dẫn, kiểm
tra việc thực hiện các nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động của thôn, tổ
dân phố và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
6. Ủy ban nhân dân cấp xã trực
tiếp quản lý, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của thôn, tổ dân phố; tổ chức thực
hiện các chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn,
tổ dân phố; lập hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định các nội dung
thuộc thẩm quyền
theo quy định của Nghị quyết này; công khai phương án, tổ chức lấy ý kiến Nhân
dân, tiếp thu, giải trình đầy đủ, thực hiện bàn giao tài chính, tài sản, hồ sơ,
tài liệu, nhiệm vụ liên quan và bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động của cộng
đồng dân cư;
Việc quản lý, sử dụng kinh
phí phải bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, tiết kiệm,
hiệu quả và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền, Ủy ban Mặt trận
Tô quốc Việt Nam và Nhân dân.
7. Đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động,
giám sát việc thực hiện Nghị quyết; tham gia tạo sự đồng thuận xã hội trong quá
trình sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; phát huy vai trò của Ban công tác
Mặt trận trong việc dự kiến, giới thiệu nhân sự, phối hợp tổ chức cuộc họp cộng
đồng dân cư, giám sát việc lấy ý kiến Nhân dân, tiếp thu, giải trình ý kiến
Nhân dân và việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Điều
25. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Bãi bỏ:
a) Bãi bỏ khoản 2 Điều 2
và Điều 4 Nghị quyết số 18/2023/NQ-HĐND ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng
nhân dân thành phố Hà Nội;
b) Bãi bỏ điểm a khoản 1
Điều 5 Nghị quyết số 18/2023/NQ-HĐND ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng
nhân dân thành phố Hà Nội về mức hỗ trợ hằng tháng đối với Phó Trưởng thôn, Phó
Tổ trưởng tổ dân phố;
c) Kể từ ngày Nghị quyết
này có hiệu lực thi hành, các quy định về chế độ, chính sách đối với Phó Trưởng
thôn, Phó Tổ trưởng
tổ dân phố tại Nghị quyết số 18/2023/NQ-HĐND
ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội hết hiệu lực
thi hành; chế độ, chính sách đối với Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố
thực hiện theo Nghị quyết này.
3. Trường hợp các văn bản
quy phạm pháp luật được viện dẫn tại Nghị quyết này được sửa đổi, bổ sung, thay
thế thì áp dụng theo văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế đó.
Điều
26. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với các phường khi
thực hiện sắp xếp tổ dân phố, trường hợp có khu vực dân cư đặc thù chưa bảo đảm
tiêu chí để thành lập tổ dân phố nhưng có lịch sử hình thành, phong tục, tập
quán, phương thức sinh hoạt cộng đồng theo mô hình thôn thì được tiếp tục tổ chức
mô hình thôn thuộc phường cho đến khi đủ điều kiện sắp xếp, tổ chức lại theo
tiêu chí tổ dân phố hoặc khi có quyết định khác của Hội đồng nhân dân cấp xã
theo quy định tại Nghị quyết này.
2. Đối với các xã khi thực
hiện sắp xếp thôn, trường hợp có khu vực dân cư đặc thù có vai trò, vị trí quan
trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội; đạt mức độ đô thị hóa cao; trình độ
phát triển hạ tầng và không gian đô thị cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý khu vực
đô thị thì được tổ chức mô hình tổ dân phố thuộc xã theo quy định tại Nghị quyết
này và tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, điều kiện để đề nghị cấp có thẩm quyền công
nhận tiêu chuẩn đô thị theo quy định của pháp luật.
3. Người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã được bố trí về thôn, tổ dân phố từ ngày 01 tháng 7 năm
2025 đến trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 nghỉ do thực hiện sắp xếp, tổ chức lại
thôn, tổ dân phố thì được hưởng chính sách đối với người hoạt động không chuyên
trách ở cấp xã do sắp xếp theo quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế và
các quy định pháp luật có liên quan.
4. Trong giai đoạn từ ngày
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có hiệu lực thi
hành, ngày 01 tháng 7 năm 2025, đến trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi
hành, việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người hoạt động không chuyên
trách ở thôn, tổ dân phố được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chủ động rà soát, cân đối, bố trí
nguồn kinh phí để thực hiện đóng hoặc truy đóng đầy đủ, kịp thời, nhằm bảo đảm
quyền lợi cho đối tượng này.
5. Đối với chức danh Phó
Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố đang là người trực tiếp tham gia hoạt động
ở thôn, tổ dân phố trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, việc chuyển
sang chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được thực
hiện kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành. Chế độ phụ cấp, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác đối với chức danh Phó Trưởng
thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố được thực hiện theo Nghị quyết này và quy định của
pháp luật có liên quan kể từ thời điểm được bố trí, công nhận theo quy định.
6. Đối với các trường hợp
người đang giữ chức danh Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Phó Trưởng thôn,
Phó Tổ trưởng tổ dân phố trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa
đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn mới theo quy định tại Nghị quyết này thì tiếp tục thực
hiện nhiệm vụ cho đến khi thôi giữ chức vụ theo quy định hoặc đến khi cơ quan
có thẩm quyền thực hiện việc sắp xếp, bố trí, kiện toàn lại chức danh theo
phương án sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; Ủy ban nhân dân cấp xã có
trách nhiệm rà soát, hướng dẫn, bố trí, sắp xếp phù hợp, bảo đảm không làm gián
đoạn hoạt động của cộng đồng dân cư.
Nghị quyết này đã được
Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khóa XVII Kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 02
tháng 6 năm 2026./.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường
vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Cục KTVB và Tổ chức THPL-Bộ Tư pháp;
- Ban Thường vụ Thành ủy;
- Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội;
- Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội;
- Các Ban Đảng Thành ủy, Văn phòng Thành ủy;
- Các Ban của HĐND Thành phố;
- Các Đại biểu HĐND Thành phố;
- Các Văn phòng: Đoàn ĐBQH và HĐND TP, UBND TP;
- Các Sở, ban, ngành Thành phố;
- Thường trực HĐND, UBND các xã, phường;
- Trang TTĐT của Đoàn ĐBQH và HĐND TP;
- Trung tâm TT, DL và CNS Thành phố;
- Lưu: VT.
|
CHỦ TỊCH
Phùng Thị Hồng Hà
|