|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 31/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 13 tháng
3 năm 2026
|
LUẬT
KINH DOANH BẢO HIỂM
Luật Kinh doanh bảo
hiểm số 08/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2023, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 139/2025/QH15
ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật Kinh doanh bảo hiểm[1].
Chương
I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
1. Luật này quy định về
tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân tham gia bảo hiểm; quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Luật này không áp
dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo
hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.
Điều 2. Đối tượng áp
dụng
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung
cấp bảo hiểm vi mô.
2. Chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm
nước ngoài (sau đây gọi là chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam).
3. Văn phòng đại diện
của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước
ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam).
4. Bên mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm, người thụ hưởng.
5. Cơ quan quản lý nhà
nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
6. Tổ chức, cá nhân có
liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều 3. Áp dụng Luật
Kinh doanh bảo hiểm, luật khác có liên quan và tập quán quốc tế
1. Trường hợp luật khác
ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành cần quy định khác với quy định
của Luật này về hợp đồng bảo hiểm, thành lập, tổ chức hoạt động, hoạt động
nghiệp vụ, tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính, khả năng thanh
toán và biện pháp can thiệp đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi
mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện
hoặc không thực hiện theo quy định của Luật này.
2. Các bên tham gia hợp
đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập
quán quốc tế trong trường hợp có ít nhất một trong các bên tham gia là tổ chức,
cá nhân nước ngoài hoặc các bên tham gia là tổ chức Việt Nam, công dân Việt Nam
nhưng đối tượng bảo hiểm hoặc việc thực hiện hợp đồng ở nước ngoài. Nếu hậu quả
của việc áp dụng tập quán quốc tế trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.
3.[2] Tổ chức, cá nhân có
quyền tham gia góp vốn thành lập, quản lý, kiểm soát doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, trừ trường hợp tổ
chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam
theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Điều 4. Giải thích từ
ngữ
Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hoạt động kinh
doanh bảo hiểm bao gồm kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng
tái bảo hiểm và các hoạt động có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm
bao gồm đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.
2. Kinh doanh bảo
hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô chấp
nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo
hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô bồi thường, trả tiền bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Kinh doanh tái
bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam nhận một khoản phí tái bảo hiểm của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
khác, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài,
tổ chức bảo hiểm nước ngoài để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận
bảo hiểm.
4. Nhượng tái bảo
hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam chuyển giao một phần trách nhiệm đã nhận tái bảo
hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam khác, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm
nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài trên cơ sở thanh toán phí nhượng tái
bảo hiểm.
5. Hoạt động đại lý
bảo hiểm là một hoặc một số hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô, bao gồm: tư vấn sản phẩm bảo hiểm; giới thiệu sản phẩm
bảo hiểm; chào bán sản phẩm bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;
thu phí bảo hiểm; thu thập hồ sơ để phục vụ việc giải quyết bồi thường, trả
tiền bảo hiểm.
6. Hoạt động môi
giới bảo hiểm là hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm
về loại hình bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, chương trình bảo hiểm, điều kiện, điều
khoản, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam; các hoạt động liên quan đến việc đàm phán, thu
xếp giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm.
7. Dịch vụ phụ trợ
bảo hiểm bao gồm tư vấn, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám
định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm. Dịch vụ phụ trợ
bảo hiểm không bao gồm việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô tự
thực hiện để triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm
của chính tổ chức đó.
8. Tư vấn là
hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn về chương trình bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm,
quản trị rủi ro bảo hiểm, đề phòng, hạn chế tổn thất bảo hiểm.
9. Đánh giá rủi ro
bảo hiểm là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi
ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm
cơ sở tham gia bảo hiểm, tái bảo hiểm.
10. Tính toán bảo
hiểm là hoạt động thu thập, phân tích số liệu thống kê, tính phí bảo hiểm,
dự phòng nghiệp vụ, vốn, khả năng thanh toán, đánh giá kết quả hoạt động kinh
doanh, xác định giá trị doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài chính của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam,
tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
11. Giám định tổn
thất bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn
thất và tính toán phân bổ trách nhiệm bồi thường tổn thất làm cơ sở giải quyết
bồi thường bảo hiểm.
12. Hỗ trợ giải
quyết bồi thường bảo hiểm là hoạt động hỗ trợ bên mua bảo hiểm, người được
bảo hiểm, người thụ hưởng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi
mô thực hiện các thủ tục giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
13. Bảo hiểm nhân
thọ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc
chết.
14. Bảo hiểm phi
nhân thọ là loại hình bảo hiểm cho những thiệt hại về tài sản và những tổn
thất khác hoặc trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba.
15. Bảo hiểm sức
khỏe là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương
tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe.
16. Hợp đồng bảo
hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp
bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức
tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa
thuận trong hợp đồng.
17. Doanh nghiệp bảo
hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của
Luật này và luật khác có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo
hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe.
18. Doanh nghiệp tái
bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định
của Luật này và luật khác có liên quan để kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái
bảo hiểm.
19. Chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi
nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam.
20. Chi nhánh doanh
nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp tái bảo
hiểm nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp tái bảo hiểm
nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian
hoạt động tại Việt Nam.
21. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy
định của Luật này và luật khác có liên quan để thực hiện các hoạt động môi giới
bảo hiểm.
22. Bảo hiểm vi mô là
bảo hiểm hướng tới các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp nhằm bảo vệ họ
trước những rủi ro về tính mạng, sức khỏe và tài sản.
23. Tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô là tổ chức có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập,
do các thành viên hoặc tổ chức đại diện thành viên thành lập để triển khai bảo
hiểm vi mô không vì mục đích lợi nhuận nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa
các thành viên tham gia bảo hiểm trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ tài chính và
tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi tài sản hình thành từ hoạt
động bảo hiểm vi mô.
24. Bên mua bảo hiểm
là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung
cấp bảo hiểm vi mô và đóng phí bảo hiểm.
25. Người được bảo
hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, sức khỏe, tính
mạng, nghĩa vụ hoặc lợi ích kinh tế được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm.
26. Người thụ hưởng là
tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chỉ định để
nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
27. Sự kiện bảo hiểm
là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi
sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi
thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
28. Phí bảo hiểm là
khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo
hiểm vi mô theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận trong hợp
đồng bảo hiểm.
29. Đồng bảo hiểm là
trường hợp các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài cùng thống nhất giao kết với bên mua bảo hiểm trên một hợp đồng
bảo hiểm, trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài nhận phí bảo hiểm và bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo
tỷ lệ đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 5. Chính sách phát
triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Nhà nước bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ
chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô nghiên
cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động
kinh doanh bảo hiểm.
3. Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô đầu
tư trở lại nền kinh tế, tái đầu tư, xây dựng thị trường bảo hiểm.
4. Nhà nước khuyến
khích, tạo điều kiện đối với việc triển khai và tham gia các sản phẩm bảo hiểm
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các sản phẩm bảo hiểm vi mô và các sản
phẩm bảo hiểm vì mục tiêu an sinh, xã hội.
Điều 6. Nguyên tắc cung
cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm
1. Tổ chức, cá nhân tại
Việt Nam có nhu cầu tham gia bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ
chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được cấp giấy phép thành lập và hoạt động
tại Việt Nam, trừ trường hợp sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Chính phủ quy định
chi tiết việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới, dịch vụ môi
giới bảo hiểm qua biên giới[3] phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 7. Các loại hình
bảo hiểm
1. Các loại hình bảo
hiểm bao gồm:
a) Bảo hiểm nhân thọ;
b) Bảo hiểm sức khỏe;
c) Bảo hiểm phi nhân
thọ.
2. Chính phủ quy định
chi tiết các nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng với các loại hình bảo hiểm quy định
tại khoản 1 Điều này.
Điều 8. Bảo hiểm bắt
buộc
1. Bảo hiểm bắt buộc là
sản phẩm bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, môi trường và an toàn
xã hội.
2. Bảo hiểm bắt buộc
bao gồm:
a) Bảo hiểm bắt buộc
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;
b) Bảo hiểm cháy, nổ
bắt buộc;
c) Bảo hiểm bắt buộc
trong hoạt động xây dựng[4];
d) Bảo hiểm bắt buộc
quy định tại luật khác đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Tổ chức, cá nhân
thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ mua bảo hiểm bắt buộc và
được lựa chọn tham gia bảo hiểm bắt buộc tại doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai.
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển
khai bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán khi tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều
kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định
chi tiết về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu
đối với bảo hiểm bắt buộc quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 9. Các hành vi bị
nghiêm cấm
1. Hoạt động kinh doanh
bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm khi
không có giấy phép thành lập và hoạt động.
2. Hoạt động kinh doanh
bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm không
đúng phạm vi được cấp phép.
3. Hoạt động đại lý bảo
hiểm[5] khi không đáp ứng điều
kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.
4. Thực hiện các hành
vi gian lận bao gồm:
a) Thông đồng với người
thụ hưởng để giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
b) Giả mạo tài liệu, cố
ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
c) Giả mạo tài liệu, cố
ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện
bảo hiểm đã xảy ra;
d) Tự gây thiệt hại về
tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm.
5. Đe dọa, cưỡng ép
giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Điều
10. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Tổ chức xã hội -
nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thành lập, hoạt động theo
quy định của pháp luật về hội, có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật
về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và chịu sự giám sát của Bộ Tài chính.
2. Tổ chức xã hội -
nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm có trách nhiệm ban hành bộ quy
tắc đạo đức nghề nghiệp, các quy tắc, chuẩn mực để áp dụng chung cho các thành
viên của tổ chức; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Điều
11. Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Nhà nước đầu tư xây
dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ Tài chính chịu trách
nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo
hiểm nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của các bên trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, tổ chức
tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm cung cấp thông tin về bên mua
bảo hiểm, người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và thông tin
khác có liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
3. Việc thu thập, sử
dụng, lưu giữ và cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo
hiểm phải bảo đảm bảo mật, an ninh mạng[6], tuân thủ các quy định của pháp luật
về bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh
doanh.
Cơ quan nhà nước, tổ
chức khác, cá nhân phải sử dụng thông tin được cung cấp đúng mục đích và không
được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của bên mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật.
4. Cơ sở dữ liệu về
hoạt động kinh doanh bảo hiểm được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ
sở dữ liệu chuyên ngành khác.
5. Chính phủ quy định
chi tiết về xây dựng, thu thập, sử dụng, lưu giữ, quản lý và cung cấp thông tin
cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, việc kết nối giữa cơ sở dữ liệu
về hoạt động kinh doanh bảo hiểm với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ
liệu chuyên ngành khác.
Điều
12. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm mục đích sau đây:
a) Nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm: xây dựng, thiết kế sản phẩm bảo hiểm,
đánh giá rủi ro, thẩm định, giao kết hợp đồng, quản lý hợp đồng, giám định tổn
thất, giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm; quản trị doanh nghiệp và phương
thức cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm;
b) Hiện đại hóa công
tác thống kê, báo cáo; cắt giảm thủ tục hành chính; xây dựng hệ thống công nghệ
thông tin và cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phục vụ công
tác quản lý, giám sát, phân tích, dự báo về thị trường bảo hiểm và phòng, chống
gian lận bảo hiểm.
2. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ quy định của Luật
này, pháp luật về giao dịch điện tử, công nghệ thông tin, an ninh mạng, phòng,
chống rửa tiền và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Chính phủ quy định
những vấn đề mới phát sinh liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều
13. Yêu cầu về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm chủ động thiết lập, duy trì và vận hành hệ thống công nghệ thông
tin phù hợp với quy mô hoạt động và đáp ứng yêu cầu tối thiểu sau đây:
1. Có hệ thống máy chủ,
hệ thống phần mềm và các giải pháp kỹ thuật để cập nhật, thống kê, xử lý, lưu
trữ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng
yêu cầu an ninh mạng[7];
2. Có hệ thống công
nghệ thông tin tạo thuận lợi cho việc điều hành, kiểm soát rủi ro của doanh
nghiệp và công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý;
3. Có giải pháp về công
nghệ thông tin để dự phòng thảm họa và bảo đảm không bị gián đoạn hoạt động
kinh doanh.
Điều
14. Cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng
1. Tổ chức, cá nhân
được phép cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên
môi trường mạng bao
gồm:
a) Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô;
b) Đại lý bảo hiểm;
c) Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm.
2. Tổ chức, cá nhân
cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng thực hiện các quy định
sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được chủ động lựa chọn
các hình thức cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng;
b) Đại lý bảo hiểm chỉ
được cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng trong phạm vi hợp
đồng đại lý bảo hiểm;
c) Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, đại lý bảo hiểm,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô thực
hiện cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng phải chịu trách
nhiệm với bên mua bảo hiểm nếu hoạt động cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm đó
làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
d) Tổ chức, cá nhân
giao kết hợp đồng bảo hiểm trên môi trường mạng có trách nhiệm cung cấp trung
thực, chính xác các thông tin theo quy định tại Điều 22 của Luật
này.
3. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết Điều này.
Chương
II
HỢP
ĐỒNG BẢO HIỂM
Mục
1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Điều
15. Hợp đồng bảo hiểm
1. Các loại hợp đồng
bảo hiểm bao gồm:
a) Hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ;
b) Hợp đồng bảo hiểm
sức khỏe;
c) Hợp đồng bảo hiểm
tài sản;
d) Hợp đồng bảo hiểm
thiệt hại;
đ) Hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm.
Hợp đồng bảo hiểm quy
định tại các điểm c, d và đ khoản này thuộc loại hình bảo hiểm phi nhân thọ.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo
hiểm có thể thỏa thuận giao kết một loại hợp đồng bảo hiểm hoặc kết hợp nhiều
loại hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều này và bảo đảm phù hợp với quy
định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này.
3. Hợp đồng bảo hiểm
hàng hải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hàng hải; nội dung không quy
định tại Bộ luật Hàng hải thì thực hiện theo quy định của Luật này.
4. Nội dung liên quan
đến hợp đồng bảo hiểm không được quy định trong Luật này thì thực hiện theo quy
định của Bộ luật Dân sự.
Điều
16. Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Việc giao kết và thực
hiện hợp đồng bảo hiểm phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
và các nguyên tắc sau đây:
1. Nguyên tắc trung
thực tuyệt đối: các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm phải cung cấp thông tin,
thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách trung thực nhất, trên cơ sở tin tưởng
tuyệt đối lẫn nhau trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
2. Nguyên tắc quyền lợi
có thể được bảo hiểm: bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm
phù hợp với từng loại hợp đồng bảo hiểm theo quy định của Luật này;
3. Nguyên tắc bồi
thường: số tiền bồi thường mà người được bảo hiểm nhận được không vượt quá thiệt
hại thực tế trong sự kiện bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp
đồng bảo hiểm;
4. Nguyên tắc thế
quyền: người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển giao cho doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quyền yêu cầu
người thứ ba có hành vi gây thiệt hại chịu trách nhiệm bồi hoàn trong phạm vi
số tiền bồi thường bảo hiểm. Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe;
5. Nguyên tắc rủi ro
ngẫu nhiên: rủi ro được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, không lường
trước được.
Điều
17. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm
1. Hợp đồng bảo hiểm
phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Bên mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm, người thụ hưởng (nếu có), doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm
hoặc giá trị tài sản được bảo hiểm hoặc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm;
d) Phạm vi hoặc quyền
lợi bảo hiểm; quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
đ) Quyền và nghĩa vụ
của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài và bên mua bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm,
thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm,
phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Phương thức bồi
thường, trả tiền bảo hiểm;
i) Phương thức giải
quyết tranh chấp.
2. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ
và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe.
Điều
18. Hình thức, bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm phải
được lập thành văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng, giấy
chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm hoặc hình thức khác theo quy định của pháp
luật.
Điều
19. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
1. Điều khoản loại trừ
trách nhiệm bảo hiểm quy định các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền
bảo hiểm.
2. Trường hợp có điều khoản
loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm, phải
giải thích rõ ràng, đầy đủ và có bằng chứng xác nhận việc bên mua bảo hiểm đã
được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
giải thích đầy đủ và hiểu rõ nội dung này khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp có sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến bên mua bảo hiểm chậm thông
báo sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài không được áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo
hiểm về việc chậm thông báo.
Điều
20. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có các quyền sau
đây:
a) Thu phí bảo hiểm
theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
b) Yêu cầu bên mua bảo
hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực mọi thông tin có liên quan đến việc giao kết
và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
c) Hủy bỏ hợp đồng bảo
hiểm quy định tại khoản 2 Điều 22 hoặc đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 26 của Luật này;
d) Từ chối bồi thường,
trả tiền bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng
bảo hiểm;
đ) Yêu cầu bên mua bảo
hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Yêu cầu người thứ ba
bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ nước ngoài đã bồi thường cho người được bảo hiểm đối với thiệt hại về
tài sản; lợi ích kinh tế hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo
pháp luật; trách nhiệm dân sự do người thứ ba gây ra;
g) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có các nghĩa vụ
sau đây:
a) Cung cấp cho bên mua
bảo hiểm bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm,
đối tượng bảo hiểm, quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
b) Giải thích rõ ràng,
đầy đủ cho bên mua bảo hiểm về quyền lợi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng
bảo hiểm;
c) Cung cấp cho bên mua
bảo hiểm bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều
18 của Luật này;
d) Cấp hóa đơn thu phí
bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy
định của pháp luật có liên quan;
đ) Bồi thường, trả tiền
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
e) Giải thích bằng văn
bản lý do từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
g) Phối hợp với bên mua
bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt
hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
h) Lưu trữ hồ sơ hợp
đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật;
i) Bảo mật thông tin do
bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm cung cấp, trừ trường hợp theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được sự đồng ý của bên mua bảo hiểm, người
được bảo hiểm;
k) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
Điều
21. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
1. Bên mua bảo hiểm có
các quyền sau đây:
a) Lựa chọn doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài để
giao kết hợp đồng bảo hiểm;
b) Yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp bản
yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng
bảo hiểm, quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm và giải thích các điều kiện, điều
khoản bảo hiểm;
c) Yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp bằng
chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 18 của Luật
này;
d) Yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cấp hóa đơn
thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp
luật có liên quan;
đ) Hủy bỏ hợp đồng bảo
hiểm quy định tại khoản 3 Điều 22 và Điều 35 hoặc đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 26 của Luật
này;
e) Yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bồi thường,
trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
g) Chuyển giao hợp đồng
bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp
luật;
h) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Bên mua bảo hiểm có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Kê khai đầy đủ,
trung thực mọi thông tin có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
b) Đọc và hiểu rõ điều
kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm khi giao kết
hợp đồng bảo hiểm và nội dung khác của hợp đồng bảo hiểm;
c) Đóng phí bảo hiểm
đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
d) Thông báo cho doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài những
trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc giảm rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách
nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong
hợp đồng bảo hiểm;
đ) Thông báo cho doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài về
việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; phối hợp
với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài trong giám định tổn thất;
e) Áp dụng các biện
pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan;
g) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
Điều
22. Trách nhiệm và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin
1. Khi giao kết hợp
đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin liên quan
đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên
mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, trung thực thông
tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
2. Trường hợp bên mua
bảo hiểm cố ý cung cấp không đầy đủ thông tin hoặc cung cấp thông tin sai sự
thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được bồi thường, trả tiền bảo hiểm thì
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo
hiểm và phải hoàn lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm sau khi trừ đi các chi
phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm
phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài (nếu có).
3. Trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cố ý
không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin sai sự thật
nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng
bảo hiểm, được hoàn lại phí bảo hiểm đã đóng. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi thường thiệt hại phát
sinh cho bên mua bảo hiểm (nếu có).
Điều
23. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm
1. Khi có sự thay đổi
những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảo
hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền yêu
cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài thực hiện một trong các nội dung sau đây:
a) Giảm phí bảo hiểm
cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
b) Tăng số tiền bảo
hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
c) Kéo dài thời hạn bảo
hiểm;
d) Mở rộng phạm vi bảo
hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không
chấp nhận yêu cầu tại khoản 1 Điều này, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
3. Khi có sự thay đổi
những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng các rủi ro được bảo
hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thực hiện một
trong các nội dung sau đây:
a) Tính lại phí bảo
hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
b) Giảm số tiền bảo
hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
c) Rút ngắn thời hạn
bảo hiểm;
d) Thu hẹp phạm vi bảo
hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
4. Trường hợp bên mua
bảo hiểm không chấp nhận yêu cầu tại khoản 3 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho
bên mua bảo hiểm.
Điều
24. Giải thích hợp đồng bảo hiểm
Trường hợp hợp đồng bảo
hiểm có điều khoản không rõ ràng dẫn đến có cách hiểu khác nhau thì điều khoản
đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.
Điều
25. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu
1. Hợp đồng bảo hiểm vô
hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Bên mua bảo hiểm
không có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo
hiểm;
b) Không có đối tượng
bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm;
c) Tại thời điểm giao
kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
d) Mục đích, nội dung
hợp đồng bảo hiểm vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;
đ) Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo
hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm giả tạo;
e) Bên mua bảo hiểm là
người chưa thành niên; người mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
g) Hợp đồng bảo hiểm
được giao kết có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục
đích của việc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp mục đích giao kết hợp đồng của
các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho
mục đích của việc giao kết hợp đồng vẫn đạt được;
h) Hợp đồng bảo hiểm
được giao kết do bị lừa dối, trừ trường hợp quy định tại Điều 22
của Luật này;
i) Hợp đồng bảo hiểm
được giao kết do bị đe dọa, cưỡng ép;
k) Bên mua bảo hiểm
không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình khi giao kết hợp đồng bảo
hiểm;
l) Hợp đồng bảo hiểm
không tuân thủ quy định về hình thức quy định tại Điều 18 của Luật
này.
2. Khi hợp đồng bảo
hiểm vô hiệu thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua
bảo hiểm hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải
bồi thường.
Điều
26. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc bên mua bảo hiểm
có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp sau
đây:
1. Bên mua bảo hiểm
không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa
thuận hoặc sau thời gian gia hạn đóng phí;
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm
không chấp nhận yêu cầu về thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm quy định tại Điều 23 của Luật này;
3. Người được bảo hiểm
không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm quy định
tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;
4. Bên mua bảo hiểm không
đồng ý chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản
4 Điều 92 của Luật này.
Điều
27. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm
1. Trường hợp đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản
1 Điều 26 của Luật này thì thực hiện như sau:
a) Bên mua bảo hiểm vẫn
phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp
đồng bảo hiểm sức khỏe, trừ hợp đồng bảo hiểm nhóm;
b) Đối với hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm
cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm đến thời
điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
c) Đối với hợp đồng bảo
hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm,
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền
khấu trừ phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 26 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm hoàn phí bảo hiểm đã
đóng cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng
bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài có trách nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp
đồng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 26 của Luật này, đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có
giá trị hoàn lại, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị
hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
4. Trường hợp đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản
4 Điều 26 của Luật này, bên mua bảo hiểm được nhận lại giá trị hoàn lại
hoặc phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm
phù hợp với từng sản phẩm bảo hiểm. Trường hợp giá trị tài sản thấp hơn so với
dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, số tiền bên
mua bảo hiểm nhận lại được tính toán trên cơ sở tỷ lệ giữa giá trị tài sản và
dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.
Điều
28. Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm
1. Bên mua bảo hiểm có
quyền chuyển giao hợp đồng bảo hiểm. Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, việc
chuyển giao phải được sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm hoặc người
đại diện theo pháp luật của người được bảo hiểm.
2. Bên nhận chuyển giao
hợp đồng bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm, được kế thừa quyền và
nghĩa vụ của bên chuyển giao.
3. Việc chuyển giao hợp
đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản và
được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
đồng ý bằng văn bản, trừ trường hợp việc chuyển giao được thực hiện theo tập
quán quốc tế hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều
29. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chịu trách nhiệm
duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường
hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được từ chối hoặc trì
hoãn thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên mua bảo hiểm kể cả trường hợp
doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tái
bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận.
2. Doanh nghiệp, tổ
chức nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí
bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Bên mua bảo hiểm
không được yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm bồi thường, trả tiền
bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều
30. Thời hạn nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm
1. Thời hạn nộp hồ sơ
yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm là 01 năm kể từ
ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan không tính vào thời hạn nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền
bảo hiểm.
2. Trường hợp người
được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng chứng minh được rằng không biết thời điểm
xảy ra sự kiện bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ
ngày người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng biết việc xảy ra sự kiện bảo hiểm
đó.
3. Trường hợp người thứ
ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo
hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều
này được tính từ ngày người thứ ba yêu cầu.
Điều
31. Thời hạn bồi thường, trả tiền bảo hiểm
1. Khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thời hạn đã thỏa thuận trong
hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi
thường, trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ
sơ hợp lệ về yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
2. Trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chậm
bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì phải trả
lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất đối với
số tiền chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên theo quy định của Bộ
luật Dân sự.
Điều
32. Phương thức giải quyết tranh chấp
Tranh chấp về hợp đồng
bảo hiểm được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. Trường hợp không
thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải hoặc Trọng
tài hoặc Tòa án theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp
luật.
Mục
2. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ, HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM SỨC KHỎE
Điều
33. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức
khỏe
1. Đối tượng bảo hiểm
của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ, tính mạng con người.
2. Đối tượng bảo hiểm
của hợp đồng bảo hiểm sức khỏe là sức khoẻ con người.
Điều
34. Quyền lợi có thể được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo
hiểm sức khỏe
1. Bên mua bảo hiểm có
quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với những người sau đây:
a) Bản thân bên mua bảo
hiểm;
b) Vợ, chồng, cha, mẹ,
con của bên mua bảo hiểm;
c) Anh ruột, chị ruột,
em ruột hoặc người khác có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng với bên mua bảo hiểm;
d) Người có quyền lợi
về tài chính hoặc quan hệ lao động với bên mua bảo hiểm;
đ) Người được bảo hiểm
đồng ý bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm sức khỏe cho mình.
2. Tại thời điểm giao
kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Điều
35. Thời gian cân nhắc tham gia bảo hiểm
Đối với các hợp đồng
bảo hiểm có thời hạn trên 01 năm, trong thời hạn 21 ngày kể từ ngày nhận được
hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền từ chối tiếp tục tham gia bảo
hiểm. Trường hợp bên mua bảo hiểm từ chối tiếp tục tham gia bảo hiểm thì hợp
đồng bảo hiểm sẽ bị hủy bỏ, bên mua bảo hiểm được hoàn lại phí bảo hiểm đã đóng
sau khi trừ đi chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm.
Điều
36. Bảo hiểm tạm thời trong bảo hiểm nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm
cấp bảo hiểm tạm thời cho bên mua bảo hiểm kể từ thời điểm nhận được yêu cầu
bảo hiểm và phí bảo hiểm tạm tính của bên mua bảo hiểm. Thời hạn bảo hiểm, số
tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm tạm thời do doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua
bảo hiểm thỏa thuận. Bảo hiểm tạm thời kết thúc sau khi doanh nghiệp bảo hiểm
chấp nhận hoặc từ chối bảo hiểm hoặc trường hợp khác theo thỏa thuận.
Điều
37. Đóng phí bảo hiểm nhân thọ
1. Bên mua bảo hiểm có
thể đóng phí bảo hiểm một lần hoặc nhiều lần theo thời hạn, phương thức thỏa
thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp phí bảo
hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số kỳ phí bảo
hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì thời gian gia
hạn đóng phí là 60 ngày.
3. Các bên có thể thỏa
thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm đã bị đơn phương chấm dứt thực hiện
quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này trong thời hạn 02
năm kể từ ngày bị chấm dứt và bên mua bảo hiểm đã đóng số phí bảo hiểm còn
thiếu.
4. Trường hợp bên mua
bảo hiểm không đóng hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm
không được tự ý khấu trừ phí bảo hiểm từ giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm
khi chưa có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm và không được khởi kiện đòi bên mua
bảo hiểm đóng phí bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với bảo hiểm nhóm.
Điều
38. Không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
Trường hợp người được
bảo hiểm chết, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp
của người thứ ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài vẫn có nghĩa vụ bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa
thuận trong hợp đồng bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản
tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài đã trả cho người thụ hưởng. Người thứ ba vẫn phải chịu trách nhiệm
bồi thường cho người được bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Điều
39. Giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe cho trường
hợp chết của người khác
1. Khi bên mua bảo hiểm
giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe cho trường hợp
chết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi rõ
số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng.
2. Không được giao kết
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe cho trường hợp chết của
những người sau đây:
a) Người chưa thành
niên, trừ trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó đồng ý bằng văn
bản;
b) Người mất năng lực
hành vi dân sự;
c) Người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi;
d) Người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự.
Điều
40. Các trường hợp không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi
thường, trả tiền bảo hiểm trong trường hợp sau đây:
a) Người được bảo hiểm
chết do tự tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên
hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm khôi phục hiệu lực;
b) Người được bảo hiểm chết
do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này;
c) Người được bảo hiểm
bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính bản thân người được bảo hiểm hoặc
bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này;
d) Người được bảo hiểm
chết do bị thi hành án tử hình;
đ) Trường hợp khác theo
thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp có nhiều
người thụ hưởng, nếu một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay
thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn phải bồi thường, trả tiền bảo
hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp
đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ các chi phí hợp
lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều này. Nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải
quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Điều
41. Chỉ định, thay đổi người thụ hưởng
1. Bên mua bảo hiểm có
quyền chỉ định người thụ hưởng, trừ hợp đồng bảo hiểm nhóm. Trường hợp bên mua
bảo hiểm không đồng thời là người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải có sự
đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm khi chỉ định người thụ hưởng;
trường hợp người được bảo hiểm chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự
hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự thì việc chỉ định người thụ hưởng phải được người đại diện theo pháp
luật đồng ý.
2. Trường hợp có nhiều
người thụ hưởng, những người được quyền chỉ định người thụ hưởng theo quy định
của Luật này có thể xác định thứ tự hoặc tỷ lệ thụ hưởng của những người thụ
hưởng. Trường hợp thứ tự hoặc tỷ lệ thụ hưởng không được xác định thì tất cả
những người thụ hưởng được hưởng quyền lợi thụ hưởng theo tỷ lệ như nhau.
3. Bên mua bảo hiểm có
thể thay đổi người thụ hưởng nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người
được bảo hiểm và phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp người được bảo
hiểm chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc
thay đổi người thụ hưởng phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải
xác nhận tại hợp đồng bảo hiểm hoặc văn bản khác đính kèm hợp đồng bảo hiểm sau
khi nhận được thông báo của bên mua bảo hiểm.
Điều
42. Hợp đồng bảo hiểm nhóm
1. Hợp đồng bảo hiểm
nhóm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài để bảo hiểm cho những người được
bảo hiểm thuộc nhóm tham gia bảo hiểm trong cùng một hợp đồng bảo hiểm.
2. Nhóm tham gia hợp
đồng bảo hiểm phải là nhóm đã được hình thành không phải vì mục đích tham gia
bảo hiểm.
3. Bên mua bảo hiểm và
người được bảo hiểm có thể thỏa thuận cùng đóng phí bảo hiểm.
4. Người được bảo hiểm
có quyền chỉ định người thụ hưởng cho trường hợp chết của người được bảo hiểm.
5. Bên mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
có quyền sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm nhóm trong trường hợp sau đây:
a) Khi có ít nhất một
người được bảo hiểm không còn là thành viên của nhóm;
b) Phí bảo hiểm tính
cho từng người được bảo hiểm không được đóng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo
hiểm;
c) Trường hợp khác theo
thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
6. Ngoài những nội dung
quy định tại Điều 17 của Luật này, hợp đồng bảo hiểm nhóm
phải có các nội dung sau đây:
a) Điều kiện tham gia
bảo hiểm đối với người được bảo hiểm;
b) Điều kiện, thủ tục
chuyển đổi thành hợp đồng bảo hiểm cá nhân.
Mục
3. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN, HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THIỆT HẠI
Điều
43. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt
hại
1. Đối tượng bảo hiểm
của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Đối tượng bảo hiểm
của hợp đồng bảo hiểm thiệt hại là bất kỳ lợi ích kinh tế hoặc nghĩa vụ thực
hiện hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo pháp luật mà người được bảo hiểm phải gánh
chịu khi xảy ra tổn thất.
Điều
44. Quyền lợi có thể được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo
hiểm thiệt hại
1. Đối với hợp đồng bảo
hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm khi có quyền
sở hữu; quyền khác đối với tài sản; quyền chiếm hữu, quyền sử dụng của người
không phải là chủ sở hữu.
2. Đối với hợp đồng bảo
hiểm thiệt hại, bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm khi có quyền
lợi về tài chính; nghĩa vụ, trách nhiệm về tài chính; thiệt hại kinh tế đối với
đối tượng bảo hiểm.
3. Tại thời điểm xảy ra
tổn thất, bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải có quyền lợi có thể
được bảo hiểm.
Điều
45. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số
tiền mà bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để bảo hiểm cho
tài sản và thiệt hại trên cơ sở yêu cầu của bên mua bảo hiểm theo quy định của Luật
này.
Điều
46. Thông báo khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
1. Bên mua bảo hiểm
phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ nước ngoài khi biết sự kiện bảo hiểm xảy ra theo thời hạn thỏa thuận
trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp bên mua bảo hiểm không thực hiện hoặc chậm
thực hiện nghĩa vụ này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài có quyền giảm trừ số tiền phải bồi thường bảo hiểm
tương ứng với thiệt hại mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải chịu, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được áp
dụng quy định tại khoản 1 Điều này nếu hợp đồng bảo hiểm không có thỏa thuận về
trách nhiệm của bên mua bảo hiểm, các biện pháp chế tài trong việc không thực
hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thông báo về sự kiện bảo hiểm.
Điều
47. Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị
1. Hợp đồng bảo hiểm
tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị
trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua
bảo hiểm không được cố ý giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị.
2. Trường hợp hợp đồng
bảo hiểm tài sản trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm
thì thực hiện như sau:
a) Nếu chưa xảy ra sự
kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương
ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại
thời điểm giao kết hợp đồng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa
thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
b) Nếu xảy ra sự kiện
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với giá thị
trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra thiệt hại và phải hoàn
lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm
vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp
đồng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo
hiểm.
Điều
48. Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị
1. Hợp đồng bảo hiểm
tài sản dưới giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm thấp hơn giá thị
trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng
bảo hiểm tài sản dưới giá trị được giao kết, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại theo tỷ lệ tương ứng với số tiền bảo hiểm và giá thị trường của tài
sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hoặc thỏa thuận trong hợp đồng bảo
hiểm.
Điều
49. Hợp đồng bảo hiểm trùng
1. Hợp đồng bảo hiểm
trùng là trường hợp có từ hai hợp đồng bảo hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng
phạm vi, đối tượng, thời hạn và sự kiện bảo hiểm mà tổng số tiền bảo hiểm vượt
quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng
bảo hiểm.
2. Trường hợp các bên
giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, số tiền bồi
thường của mỗi hợp đồng bảo hiểm được tính tương ứng theo tỷ lệ giữa số tiền
bảo hiểm đã thoả thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà
bên mua bảo hiểm đã giao kết. Tổng số tiền bồi thường của các hợp đồng bảo hiểm
không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản.
Điều
50. Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản
Doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không chịu trách nhiệm
bồi thường trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất do hao mòn tự
nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác
trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều
51. Căn cứ bồi thường
1. Số tiền bồi thường
mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường
của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt
hại thực tế, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí
để xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm, chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả.
2. Số tiền bồi thường
mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Ngoài số tiền bồi
thường, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý
theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để đề phòng, hạn chế tổn thất và những
chi phí phát sinh mà bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải chịu để
thực hiện theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
Điều
52. Hình thức bồi thường
1. Bên mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
có thể thoả thuận một trong các hình thức bồi thường sau đây:
a) Sửa chữa tài sản bị
thiệt hại;
b) Thay thế tài sản bị
thiệt hại bằng tài sản khác;
c) Trả tiền bồi thường.
2. Trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên
mua bảo hiểm không thoả thuận được về hình thức bồi thường thì việc bồi thường
được thực hiện bằng tiền.
3. Trường hợp bồi
thường quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thu hồi tài
sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn bộ theo giá thị
trường của tài sản.
Điều
53. Giám định tổn thất
1. Khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài ủy quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác
định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chi phí giám định tổn thất do doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả.
2. Trường hợp các bên
không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể thỏa thuận thuê
giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo
hiểm. Trường hợp các bên không thoả thuận được việc thuê giám định viên độc lập
thì một trong các bên có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền hoặc Trọng tài
trưng cầu giám định viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có giá
trị bắt buộc đối với các bên.
Điều
54. Chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn
1. Khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm, trường hợp người thứ ba có trách nhiệm bồi thường do hành vi gây
thiệt hại cho người được bảo hiểm thì thực hiện như sau:
a) Sau khi doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả tiền bồi
thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp đã bồi thường;
b) Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền khấu trừ
số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm nếu người được bảo
hiểm từ chối chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
2. Khi doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện quyền
yêu cầu bồi hoàn đối với người thứ ba, người được bảo hiểm có trách nhiệm cung
cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài các tài liệu cần thiết và thông tin liên quan theo thỏa thuận trong
hợp đồng bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được yêu cầu
cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả
cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất.
Điều
55. Các quy định về an toàn
1. Người được bảo hiểm
phải thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động, vệ sinh
lao động và những quy định khác của pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm an toàn
cho đối tượng bảo hiểm.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền kiểm tra
các điều kiện bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu
người được bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro.
3. Trường hợp người
được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo
hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài có quyền ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các
biện pháp đó. Nếu hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không
được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ nước ngoài có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng bảo hiểm.
Điều
56. Không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm
Trường hợp xảy ra tổn
thất, người được bảo hiểm không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm và phải áp
dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn hoặc giảm thiểu
tổn thất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận
khác.
Mục
4. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM
Điều
57. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm
Đối tượng bảo hiểm của
hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối
với người thứ ba theo quy định của pháp luật.
Điều
58. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ nước ngoài
1. Trách nhiệm của
doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
chỉ phát sinh nếu người thứ ba yêu cầu người được bảo hiểm bồi thường do có
hành vi gây thiệt hại cho người thứ ba trong thời hạn bảo hiểm.
2. Người thứ ba không
có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Điều
59. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm
1. Giới hạn trách nhiệm
bảo hiểm là số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong
hợp đồng bảo hiểm.
2. Trong phạm vi giới
hạn trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm những khoản tiền
mà theo quy định của pháp luật người được bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường
cho người thứ ba.
3. Ngoài việc trả tiền
bồi thường quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài còn phải trả các chi phí liên
quan đến việc giải quyết tranh chấp về trách nhiệm đối với người thứ ba và lãi
phải trả cho người thứ ba do người được bảo hiểm chậm trả tiền bồi thường theo
chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài.
4. Tổng số tiền bồi
thường của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này không vượt quá giới hạn
trách nhiệm bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo
hiểm.
5. Trường hợp người
được bảo hiểm phải đóng tiền bảo lãnh hoặc ký quỹ để bảo đảm cho tài sản không
bị lưu giữ hoặc để tránh việc khởi kiện tại tòa án thì theo yêu cầu của người
được bảo hiểm và thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thực hiện việc bảo
lãnh hoặc ký quỹ trong phạm vi giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.
Điều
60. Quyền đại diện cho người được bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thay mặt người
được bảo hiểm để thương lượng với người thứ ba về mức độ bồi thường thiệt hại,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều
61. Phương thức bồi thường
Theo yêu cầu của người
được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài có thể bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm hoặc cho
người thứ ba bị thiệt hại.
Chương
III
DOANH
NGHIỆP BẢO HIỂM, DOANH NGHIỆP TÁI BẢO HIỂM, CHI NHÁNH NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Mục
1. GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
Điều
62. Các hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm
1. Công ty cổ phần.
2. Công ty trách nhiệm
hữu hạn.
Điều
63. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Nội dung hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh bảo hiểm,
kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm;
b) Quản lý các quỹ và
đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
c) Cung cấp dịch vụ phụ
trợ bảo hiểm;
d) Hoạt động khác liên
quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nội dung hoạt động
của doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài
bao gồm:
a) Kinh doanh tái bảo
hiểm; nhượng tái bảo hiểm;
b) Quản lý các quỹ và
đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm;
c) Hoạt động khác liên
quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ được phép
kinh doanh một loại hình bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 7
của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ kinh doanh bảo hiểm sức khỏe;
b)[8] Doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài kinh
doanh các sản phẩm thuộc loại hình bảo hiểm sức khỏe có thời hạn từ 01 năm trở
xuống và các sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có thời hạn từ 01 năm trở xuống;
c)[9] Doanh nghiệp bảo hiểm
sức khỏe kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có thời hạn từ 01 năm trở
xuống.
Điều
64. Điều kiện chung cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Điều kiện về cổ
đông, thành viên góp vốn thành lập:
a)[10] (được bãi bỏ)
b) Tổ chức có tư cách
pháp nhân, đang hoạt động hợp pháp; trường hợp tham gia góp từ 10% vốn điều lệ
trở lên thì phải kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liên tục gần nhất
tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép và đáp ứng các điều kiện về
tài chính theo quy định của Chính phủ;
c) Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động
tại Việt Nam góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
mới phải kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liên tục gần nhất tính đến
thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép và đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy
định của Luật này.
2. Điều kiện về vốn:
a) Vốn điều lệ được góp
bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ;
b) Cổ đông, thành viên
góp vốn thành lập không được sử dụng vốn vay, nguồn vốn ủy thác đầu tư của tổ
chức, cá nhân khác để tham gia góp vốn.
3. Điều kiện về nhân
sự: có Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Chuyên gia tính toán dự kiến
đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản lý, kinh nghiệm và chuyên môn
nghiệp vụ quy định tại Điều 81 của Luật này.
4.[11] (được bãi bỏ)
Điều
65. Điều kiện của thành viên góp vốn thành lập của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
Thành viên góp vốn
thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn phải là tổ chức, đáp ứng điều kiện chung quy định tại Điều 64 của Luật này và các điều kiện sau đây:
1. Điều kiện đối với tổ
chức thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài:
a) Là doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài;
b) Được cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định
của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm của nước nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính
trong thời hạn 03 năm liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị
cấp giấy phép;
c) Lĩnh vực dự kiến đề
nghị cấp giấy phép thực hiện tại Việt Nam là lĩnh vực mà doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài đang trực
tiếp thực hiện hoặc có công ty con thực hiện tối thiểu trong 07 năm liên tục
gần nhất;
d) Có tổng tài sản
không thấp hơn 02 tỷ Đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp
giấy phép thành lập và hoạt động;
đ) Cam kết hỗ trợ về
tài chính, công nghệ, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, điều hành, hoạt
động cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dự kiến thành lập tại
Việt Nam; bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm này thực
hiện các quy định về bảo đảm an toàn tài chính, quản trị rủi ro theo quy định
của Luật này;
e) Doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài đáp ứng điều
kiện quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản này có thể ủy quyền cho công ty
con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài để thành lập doanh nghiệp
bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm tại Việt Nam. Công ty con chuyên thực hiện
chức năng đầu tư ra nước ngoài phải đáp ứng điều kiện quy định tại điểm d khoản
này;
2. Điều kiện đối với tổ
chức kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam: có tổng tài sản
không thấp hơn 2.000 tỷ Đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề
nghị cấp giấy phép;
3. Căn cứ quy định tại điểm
d khoản 1 và khoản 2 Điều này, Chính phủ quy định cụ thể mức tổng tài sản tối
thiểu phù hợp với từng thời kỳ.
Điều
66. Điều kiện về cơ cấu cổ đông góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty cổ phần
Việc thành lập doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty cổ phần phải
đáp ứng điều kiện chung quy định tại Điều 64 của Luật này
và các điều kiện sau đây:
1. Có tối thiểu 02 cổ
đông là tổ chức và mỗi cổ đông đó đáp ứng điều kiện sau đây:
a) Phải góp từ 10% vốn điều
lệ trở lên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
b) Điều kiện quy định
tại Điều 65 của Luật này;
2. Một cổ đông cá nhân
không được góp vượt quá 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
tái bảo hiểm.
Điều
67. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài khi thành
lập chi nhánh tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có trụ sở chính tại
quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó đã ký kết các điều ước quốc tế, trong đó có
thỏa thuận về thành lập chi nhánh tại Việt Nam; cơ quan quản lý nhà nước về bảo
hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính đã ký kết thỏa thuận quốc tế
với Bộ Tài chính Việt Nam về quản lý, giám sát hoạt động của chi nhánh;
b) Được cơ quan quản lý
nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính cho phép
thành lập chi nhánh tại Việt Nam để hoạt động trong phạm vi các nghiệp vụ bảo
hiểm mà doanh nghiệp được phép kinh doanh;
c) Có ít nhất 07 năm
kinh nghiệm trong lĩnh vực dự kiến đề nghị cấp giấy phép thực hiện tại Việt Nam;
d) Có tổng tài sản tối
thiểu đáp ứng điều kiện quy định tại điểm d khoản 1 và khoản 3 Điều
65 của Luật này;
đ) Hoạt động kinh doanh
có lãi trong 03 năm tài chính liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ và
đáp ứng các điều kiện về tài chính theo quy định của Chính phủ;
e) Cam kết bảo đảm và
chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam.
2. Chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm
nước ngoài dự kiến thành lập và hoạt động tại Việt Nam phải đáp ứng các điều
kiện sau đây:
a) Có vốn được cấp bằng
Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ;
b) Nguồn vốn thành lập
chi nhánh là nguồn hợp pháp, không sử dụng vốn vay hoặc nguồn vốn ủy thác đầu
tư dưới bất kỳ hình thức nào;
c) Có Giám đốc chi
nhánh, Chuyên gia tính toán dự kiến đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực
quản lý, kinh nghiệm và chuyên môn nghiệp vụ quy định tại Điều
81 của Luật này.
3. Chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động được phép hoạt
động như doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được thành lập và
hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật này.
Điều
68. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
Nhà đầu tư nước ngoài
được sở hữu cổ phần, phần vốn góp đến 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Điều
69.[12] (được
bãi bỏ)
Điều
70. Thời hạn cấp giấy phép thành lập và hoạt động
1. Trong thời hạn 60
ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính cấp hoặc từ chối cấp giấy
phép thành lập và hoạt động. Trường hợp từ chối cấp giấy phép thì phải thông
báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Trường hợp cấp giấy
phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính đồng thời có văn bản chấp thuận về
nguyên tắc đối với người dự kiến được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội đồng quản trị
hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính
toán.
Điều
71. Thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và
hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động
1. Giấy phép thành lập
và hoạt động đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
2. Bộ Tài chính có thẩm
quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động,
đình chỉ một phần hoặc toàn bộ nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3.[13] (được bãi bỏ)
4. Chính phủ quy định
chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ một phần hoặc toàn bộ nội dung hoạt
động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam.
Điều
72. Công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động
1. Bộ Tài chính có
trách nhiệm công bố các nội dung của giấy phép thành lập và hoạt động của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
cấp giấy phép.
2. Ít nhất 30 ngày
trước ngày chính thức hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt
động phải công bố các nội dung của giấy phép và ngày dự kiến chính thức hoạt
động trên 01 tờ báo in trong 03 số liên tiếp hoặc trên báo điện tử của Việt
Nam.
Điều
73. Thời hạn chính thức hoạt động[14]
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải chính
thức hoạt động trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập
và hoạt động, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đối với trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
phải báo cáo bằng văn bản và được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản về việc
gia hạn thời gian chính thức hoạt động; thời gian gia hạn tối đa là 12 tháng.
Trước khi chính thức
hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam chủ động thực hiện các công việc sau: đóng đủ vốn điều lệ
hoặc vốn được cấp; bầu, bổ nhiệm người đại diện theo pháp luật; bầu, bổ nhiệm
các chức danh đã được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc; xây dựng cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý, kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và ban hành các quy
trình, quy chế theo quy định pháp luật; ký quỹ đầy đủ theo quy định của Luật
này tại ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thông
báo cho Bộ Tài chính về việc hoàn thành các công việc quy định tại khoản 1 Điều
này ít nhất 15 ngày trước ngày chính thức hoạt động; trường hợp có sự thay đổi
về các chức danh đã được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc thì thực hiện
theo quy định tại Điều 74 của Luật này. Bộ Tài chính có
quyền đình chỉ việc chính thức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khi chưa thực hiện các
quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều
74. Những thay đổi phải được chấp thuận hoặc phải thông báo
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được Bộ
Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thay đổi một trong các nội dung sau
đây:
a) Tên, địa điểm đặt
trụ sở chính;
b) Mức vốn điều lệ; vốn
được cấp;
c) Nội dung, phạm vi và
thời hạn hoạt động;
d) Chuyển nhượng cổ phần,
phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ
trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
đ) Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên
gia tính toán;
e) Chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;
g) Đầu tư ra nước
ngoài, bao gồm việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện
thương mại khác tại nước ngoài.
2. Trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1
Điều này, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung thay đổi trên Cổng
thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thông
báo cho Bộ Tài chính bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có những
thay đổi sau đây:
a) Thay đổi điều lệ
hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, quy chế tổ chức
và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b)[15] Mở, chấm dứt, thay đổi
tên, địa điểm chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm;
c) Mở, chấm dứt, thay
đổi địa điểm kinh doanh;
d) Thay đổi các chủ sở
hữu hưởng lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
4. Chính phủ quy định
chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các thay đổi quy định
tại khoản 1 và hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi nhận các thay đổi quy định tại điểm
b khoản 3 Điều này.
Điều
75. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
a) Hồ sơ đề nghị cấp
giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được
cấp giấy phép;
b) Quá thời hạn quy
định tại khoản 1 Điều 73 của Luật này mà không bắt đầu chính
thức hoạt động;
c) Bị chia, sáp nhập,
hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động;
d) Hoạt động không đúng
với nội dung tại giấy phép thành lập và hoạt động;
đ) Sau khi Tòa án quyết
định tuyên bố doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phá sản;
e) Doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép.
2. Đối với các trường
hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại các điểm a, c, d
và e khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải dừng ngay việc giao kết hợp đồng bảo hiểm,
hợp đồng tái bảo hiểm mới; doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thực hiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo
hiểm; việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm không áp dụng đối với các hợp
đồng bảo hiểm vô hiệu theo quy định của Luật này.
3. Quyết định thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được Bộ Tài chính công bố trên Cổng
thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
Điều
76. Văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo
hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được đặt văn phòng
đại diện tại Việt Nam. Văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ
thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước
ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
nước ngoài và không được thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.
2. Văn phòng đại diện
nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Làm chức năng văn
phòng liên lạc;
b) Nghiên cứu thị
trường;
c) Xúc tiến xây dựng
các dự án đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo
hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
d) Thúc đẩy và theo dõi
việc thực hiện các dự án do doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái
bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm nước ngoài tài trợ tại Việt Nam;
đ) Hoạt động khác phù
hợp với pháp luật Việt Nam.
3. Thời hạn hoạt động
của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam không quá 05 năm và có thể được
gia hạn.
4. Báo cáo hoạt động,
thông báo thay đổi và công bố thông tin của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt
Nam thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều
77. Cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt, thu hồi giấy phép đặt
văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo
hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài khi đặt văn phòng
đại diện nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Hoạt động tối thiểu
trong 05 năm gần nhất;
b) Được cơ quan quản lý
nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi đặt trụ sở chính cho phép đặt văn phòng đại
diện tại Việt Nam.
2. Chính phủ quy định
chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung,
gia hạn, chấm dứt, thu hồi giấy phép đặt văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt
Nam.
3. Bộ Tài chính có thẩm
quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép đặt văn phòng
đại diện nước ngoài tại Việt Nam, chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện
nước ngoài tại Việt Nam.
Mục
2. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
Điều
78. Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Tổ chức hoạt động ở
trong nước của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm bao gồm trụ sở
chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.
2. Tổ chức hoạt động ở
nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm bao gồm chi
nhánh, văn phòng đại diện hoặc các hình thức hiện diện thương mại khác theo quy
định của pháp luật.
3. Tổ chức hoạt động
của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bao gồm trụ sở chính, địa điểm kinh
doanh.
Điều
79. Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần
có quyền lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình sau đây:
a) Đại hội đồng cổ
đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Ban kiểm
soát có từ 03 đến 05 Kiểm soát viên theo quy định tại Điều lệ công ty;
b) Đại hội đồng cổ
đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, trong đó ít nhất 20% số
thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán
trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban
kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của Ủy ban kiểm
toán do Hội đồng quản trị ban hành.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được thành lập dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn có cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm Hội đồng thành viên, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm có thể
quyết định thành lập Ban kiểm soát bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều
80. Người quản lý, người kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Người quản lý của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm bao gồm các chức danh sau đây:
a) Chủ tịch Hội đồng
quản trị, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành
viên Hội đồng thành viên;
b) Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật;
c) Kế toán trưởng, Giám
đốc chi nhánh, Trưởng văn phòng đại diện, các trưởng bộ phận nghiệp vụ và các
chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ công ty.
2. Người quản lý của
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các chức danh sau đây:
a) Giám đốc, Phó giám
đốc;
b) Kế toán trưởng, các
trưởng bộ phận nghiệp vụ và các chức danh tương đương theo quy định tại quy chế
tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Người kiểm soát tại
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, bao gồm các chức danh sau đây:
a) Trưởng Ban kiểm
soát, Kiểm soát viên;
b) Trưởng bộ phận quản
trị rủi ro, Trưởng bộ phận kiểm soát tuân thủ, Trưởng bộ phận kiểm toán nội bộ;
c) Chuyên gia tính
toán.
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải bảo đảm
duy trì Giám đốc và Chuyên gia tính toán hoặc Tổng giám đốc và Chuyên gia tính
toán. Trường hợp có thay đổi, trong thời hạn 75 ngày kể từ ngày Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán thôi giữ chức vụ, doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải nộp hồ sơ hợp
lệ đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính
toán mới.
Điều
81. Điều kiện, tiêu chuẩn đối với người quản lý, người kiểm soát của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam[16]
Người quản lý, người
kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chung là không bị xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, không bị xử lý kỷ
luật dưới hình thức sa thải do vi phạm quy trình nội bộ trong 03 năm liên tục
trước thời điểm được bầu, bổ nhiệm; không bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố theo
quy định của pháp luật tại thời điểm được bầu, bổ nhiệm và các điều kiện, tiêu
chuẩn cụ thể sau đây:
1. Điều kiện, tiêu
chuẩn đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành
viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên:
a) Có bằng đại học trở
lên;
b) Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên có ít nhất 05 năm trực tiếp làm việc
trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc có ít nhất 03 năm giữ vị trí
là người quản lý, điều hành, kiểm soát tại tổ chức hoạt động trực tiếp trong
lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng. Thành viên Hội đồng quản trị, thành
viên Hội đồng thành viên có ít nhất 03 năm trực tiếp làm việc trong lĩnh vực
bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc có ít nhất 03 năm giữ vị trí là người quản
lý, điều hành, kiểm soát tại tổ chức hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực bảo
hiểm, tài chính, ngân hàng;
2. Điều kiện, tiêu
chuẩn đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật:
a) Có bằng đại học trở
lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có bằng đại học trở lên về
chuyên ngành bảo hiểm thì phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành kinh tế,
tài chính, ngân hàng, luật, quản trị kinh doanh, kế toán, kiểm toán trong đó có
môn học về bảo hiểm hoặc có bằng đại học trở lên về chuyên ngành khác và có
chứng chỉ bảo hiểm do các cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt động
hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp;
b) Có ít nhất 05 năm
kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, trong đó có
ít nhất 03 năm giữ vị trí là người quản lý, người kiểm soát của tổ chức hoạt
động trực tiếp trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng;
c) Cư trú tại Việt Nam
trong thời gian đương nhiệm;
3. Điều kiện, tiêu
chuẩn đối với người quản lý khác không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam:
a) Có bằng đại học trở
lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có bằng đại học trở lên về
chuyên ngành bảo hiểm thì phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành khác
trong đó có môn học về bảo hiểm hoặc có bằng đại học trở lên về chuyên ngành
khác và có chứng chỉ bảo hiểm phù hợp với loại hình bảo hiểm mà doanh nghiệp
được phép triển khai do các cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt
động hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp;
b) Có ít nhất 03 năm kinh
nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc lĩnh vực
chuyên môn dự kiến đảm nhiệm. Riêng đối với các trưởng bộ phận nghiệp vụ, có ít
nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm hoặc lĩnh vực chuyên
môn dự kiến đảm nhiệm;
c) Cư trú tại Việt Nam
trong thời gian đương nhiệm;
4. Người kiểm soát của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn khác theo quy định của Chính phủ;
5. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này, nội dung đào
tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp, thu hồi, cấp đổi chứng chỉ bảo hiểm do
cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước cấp.
Điều
82. Nguyên tắc đảm nhiệm chức vụ
1. Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành
viên Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
không được đồng thời làm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng
thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm khác hoạt động
trong cùng lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe
hoặc tái bảo hiểm tại Việt Nam.
2. Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam không được đồng thời làm việc cho doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài khác hoạt động trong cùng lĩnh
vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe hoặc tái bảo
hiểm tại Việt Nam.
3. Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chỉ được kiêm nhiệm tối đa Giám đốc của 01 chi
nhánh hoặc Trưởng 01 văn phòng đại diện hoặc Trưởng 01 bộ phận nghiệp vụ của
cùng một doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm. Giám đốc của chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam là người đại diện theo pháp luật và chỉ được kiêm
nhiệm tối đa Trưởng 01 bộ phận nghiệp vụ của chi nhánh đó.
4.[17] Các chức danh Chuyên
gia tính toán, Trưởng bộ phận quản trị rủi ro, Trưởng bộ phận kiểm soát tuân
thủ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam không được kiêm nhiệm bất kỳ chức danh quản lý nào tại cùng tổ
chức, trừ trường hợp Chuyên gia tính toán kiêm trưởng bộ phận định phí bảo
hiểm; không được đồng thời làm việc tại doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài khác hoạt động tại Việt Nam.
Chuyên gia tính toán
thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
5. Trưởng ban kiểm
soát, Kiểm soát viên không được kiêm nhiệm bất kỳ chức danh quản lý nào tại
cùng tổ chức. Trưởng Ban kiểm soát không được đồng thời là Kiểm soát viên,
người quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm khác hoạt
động tại Việt Nam.
6.[18] Kế toán trưởng, Trưởng
bộ phận kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được kiêm nhiệm bất kỳ chức danh nào
tại cùng tổ chức, trừ trường hợp Kế toán trưởng kiêm trưởng bộ phận tài chính
kế toán; không được đồng thời làm việc tại doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài khác hoạt động tại Việt Nam.
Điều
83. Đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia
tính toán
1. Bộ Tài chính có
quyền đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch Hội
đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc,
Chuyên gia tính toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam vi phạm nguyên tắc đảm nhiệm chức vụ quy định tại
Điều 82 của Luật này hoặc không còn đáp ứng điều kiện, tiêu
chuẩn quy định tại Điều 81 của Luật này.
2. Trong thời hạn 75
ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản đình chỉ, doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải nộp hồ sơ hợp
lệ đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội
đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán mới.
3. Người bị đình chỉ,
tạm đình chỉ quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm tham gia xử lý các
tồn tại và vi phạm có liên quan đến trách nhiệm cá nhân khi có yêu cầu của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam.
4. Chính phủ quy định
chi tiết việc đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch
Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc,
Chuyên gia tính toán quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Mục
3. KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM TOÁN NỘI BỘ, QUẢN TRỊ RỦI RO
Điều
84. Kiểm soát nội bộ
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực
hiện kiểm soát nội bộ để bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Hiệu quả, an toàn
trong hoạt động và trong bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản, các nguồn lực;
b) Trung thực, hợp lý,
đầy đủ, kịp thời trong hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý;
c) Tuân thủ pháp luật,
các quy chế, quy trình, quy định nội bộ.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thiết
lập các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục kiểm soát nội bộ; bảo đảm người quản lý,
người kiểm soát, người lao động hiểu rõ và nghiêm túc thực hiện.
3. Hoạt động kiểm soát
nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam phải được kiểm toán nội bộ đánh giá định kỳ hằng năm.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết Điều này.
Điều
85. Kiểm toán nội bộ
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phải thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ. Chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc sử
dụng bộ phận kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài.
2. Định kỳ hằng năm,
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam phải thực hiện kiểm toán nội bộ theo các nội dung sau đây:
a) Rà soát, đánh giá
độc lập, khách quan đối với hoạt động kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro;
b) Đánh giá độc lập về
tính thích hợp và sự tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình
đã được thiết lập trong doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
c) Đưa ra kiến nghị sửa
chữa, khắc phục sai sót, đề xuất biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam hoạt động an toàn,
hiệu quả, đúng pháp luật.
3. Kết quả kiểm toán
nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phải được báo cáo
kịp thời cho Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và gửi Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc của doanh nghiệp.
Kết quả kiểm toán nội
bộ của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được báo cáo kịp thời cho doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài
và gửi Giám đốc của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết Điều này.
Điều
86. Quản trị rủi ro
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách
nhiệm thiết lập hệ thống quản trị rủi ro nhằm xác định, đo lường, đánh giá, báo
cáo và kiểm soát một cách hiệu quả các rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh
doanh.
2. Quản trị rủi ro của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có khả năng xác định
và lượng hóa rủi ro phù hợp với tính chất, phạm vi và mức độ phức tạp của các
rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh, các tác động đến vốn, an toàn hoạt
động và an toàn tài chính;
b) Quy định rõ ràng vai
trò, trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong hoạt động quản trị rủi ro và
cơ cấu quản trị rủi ro;
c) Có chính sách quản
trị rủi ro rõ ràng, minh bạch, trong đó xác định rõ các loại rủi ro trọng yếu
và các rủi ro có liên quan phát sinh từ hoạt động kinh doanh, khẩu vị rủi ro và
cách thức quản lý đối với từng loại rủi ro. Chính sách quản trị rủi ro phải
được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm hoặc được doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài,
doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
thông qua;
d) Thiết lập đầy đủ các
giới hạn chấp nhận rủi ro đối với từng loại rủi ro trọng yếu và các rủi ro có
liên quan, mối tương quan giữa các rủi ro đó. Các giới hạn chấp nhận rủi ro
phải phù hợp với chính sách quản trị rủi ro, chiến lược kinh doanh, nguồn nhân
lực, điều kiện công nghệ thông tin;
đ) Thiết lập đầy đủ các
quy trình quản trị rủi ro, trong đó có quy trình giám sát, tiếp nhận và phản
hồi kịp thời bất kỳ thay đổi rủi ro nào.
3. Định kỳ hằng năm,
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và quản trị rủi ro,
trong đó đánh giá mức độ đầy đủ của quản trị rủi ro, khả năng thanh toán hiện
tại và dự kiến trong tương lai với khung thời gian thống nhất với kế hoạch kinh
doanh; xác định tổng thể các nguồn lực tài chính cần có để quản lý hoạt động
kinh doanh trong khả năng chấp nhận rủi ro và các kế hoạch kinh doanh; kiểm tra
sức chịu đựng và phân tích khả năng tiếp tục hoạt động.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết Điều này.
Mục
4. HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ
Điều
87. Xây dựng, thiết kế, phát triển và cung cấp sản phẩm bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được chủ động, tự
chịu trách nhiệm trong xây dựng, thiết kế và phát triển sản phẩm bảo hiểm.
2. Quy tắc, điều khoản,
biểu phí do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài xây dựng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Tuân thủ pháp luật,
phù hợp với thông lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hóa và phong tục, tập quán của
Việt Nam;
b) Ngôn ngữ sử dụng
trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác, cách diễn đạt đơn giản, dễ
hiểu, các thuật ngữ chuyên môn cần được định nghĩa rõ trong quy tắc, điều khoản
bảo hiểm;
c) Thể hiện rõ ràng,
minh bạch quyền lợi được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phạm vi và các rủi ro
được bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được bảo
hiểm, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, phương thức
trả tiền bảo hiểm, các quy định giải quyết tranh chấp;
d) Phí bảo hiểm phải
được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, tương ứng với điều kiện, trách nhiệm
bảo hiểm và bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
3.[19] Doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đăng ký và được Bộ
Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo
hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe.
3a.[20] Doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải
thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính trước khi áp dụng, thay đổi phương
pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới, trừ bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và phải thực hiện đúng phương pháp, cơ sở
tính phí bảo hiểm theo văn bản đã thông báo cho Bộ Tài chính.
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được chủ động
cung cấp sản phẩm bảo hiểm dưới các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp;
b) Thông qua đại lý bảo
hiểm hoặc môi giới bảo hiểm;
c) Thông qua đấu thầu;
d) Thông qua giao dịch điện
tử;
đ) Các hình thức khác
phù hợp với quy định của pháp luật.
5.[21] Chính phủ quy định chi
tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký và thông báo phương pháp, cơ sở tính phí
bảo hiểm quy định tại khoản 3 và khoản 3a Điều này.
6.[22] Bộ trưởng Bộ Tài chính
quy định chi tiết phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm quy định tại khoản 3 và khoản
3a Điều này, việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm quy định tại khoản 4 Điều này.
Điều
88. Sản phẩm bảo hiểm có sự hỗ trợ của Nhà nước
1. Việc triển khai và
tham gia các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và các sản
phẩm bảo hiểm vì mục tiêu an sinh, xã hội được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ,
tạo điều kiện thông qua một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Đơn giản hoá thủ tục
hành chính;
b) Tuyên truyền các
chính sách bảo hiểm;
c) Thiết lập các quỹ
rủi ro bảo hiểm;
d) Xây dựng cơ sở dữ
liệu, hỗ trợ ứng dụng công nghệ trong thiết kế, xây dựng sản phẩm bảo hiểm,
giám định tổn thất, bồi thường bảo hiểm;
đ) Thiết lập các kênh
phân phối theo chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp;
e) Hỗ trợ một phần phí
bảo hiểm, kinh phí hỗ trợ được bảo đảm từ nguồn ngân sách trung ương, ngân sách
địa phương và được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm hoặc các
nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;
g) Xây dựng cơ chế liên
kết hợp tác, chia sẻ thông tin quản lý, giám sát giữa các Bộ, ngành có liên
quan để triển khai liên kết, hợp tác về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Chính phủ quy định
chi tiết các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với định hướng
phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Điều
89. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm, Quỹ bảo hiểm xe cơ giới,
quỹ rủi ro bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể chia
sẻ rủi ro với các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh
nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo
hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài dưới hình thức tái bảo hiểm,
nhượng tái bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm
nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài
nhận tái bảo hiểm phải đạt kết quả xếp hạng của các tổ chức đánh giá tín nhiệm
quốc tế và các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể đồng bảo
hiểm trên cơ sở cùng thống nhất giao kết với bên mua bảo hiểm trên một hợp đồng
bảo hiểm, trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài nhận phí bảo hiểm và bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo
tỷ lệ đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tham gia đồng bảo hiểm
phải là doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của Luật
này.
3. Quỹ bảo hiểm xe cơ
giới được hình thành từ nguồn đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài triển khai bảo
hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và các nguồn hợp pháp khác
để thực hiện chi hỗ trợ nhân đạo và các hoạt động khác nhằm tăng cường thực
hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Quỹ bảo hiểm xe
cơ giới được quản lý tập trung; cơ chế quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm xe cơ giới
thực hiện theo quy định của Chính phủ.
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể thỏa
thuận thành lập quỹ rủi ro bảo hiểm để phân tán, chia sẻ bảo hiểm cho những rủi
ro lớn, rủi ro mang tính thảm họa hoặc rủi ro mới phát sinh chưa được hoặc ít
được bảo hiểm trên thị trường. Các thỏa thuận thành lập quỹ rủi ro bảo hiểm có
sự tham gia, hỗ trợ của Nhà nước thực hiện theo quy định của Chính phủ; trường
hợp có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước thì phải thực hiện theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước.
5. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết về tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm.
Điều
90. Hoạt động thuê ngoài
1. Hoạt động thuê ngoài
là việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam thỏa thuận giao kết hợp đồng thuê ngoài với tổ chức, cá nhân khác
để thực hiện một phần quy trình, hoạt động, trừ các hoạt động sau đây:
a) Kiểm soát nội bộ;
b) Kiểm toán nội bộ;
c) Quản trị rủi ro;
d) Tư vấn, giới thiệu,
chào bán sản phẩm bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp thực hiện
thuê ngoài đối với một phần quy trình, hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải chịu trách nhiệm cuối cùng và duy
nhất đối với bên mua bảo hiểm và có các nghĩa vụ sau đây:
a) Xây dựng quy chế
quản lý hoạt động thuê ngoài, trong đó có các quy định về phạm vi các hoạt động
có thể thuê ngoài, khung đánh giá rủi ro liên quan, tiêu chí phê duyệt các hợp
đồng thuê ngoài và điều kiện đối với bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài bảo đảm
tuân thủ quy định của pháp luật. Quy chế quản lý hoạt động thuê ngoài phải được
Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
tái bảo hiểm hoặc cấp có thẩm quyền của của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
phê duyệt;
b) Thiết lập quy trình
thuê ngoài, quy trình quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thuê
ngoài và thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm phòng ngừa, giảm thiểu và xử lý
kịp thời rủi ro phát sinh từ việc thuê ngoài, đặc biệt là rủi ro liên quan đến
quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm;
c) Tạm dừng thực hiện, điều
chỉnh hoặc chấm dứt hoạt động thuê ngoài trong trường hợp phát hiện hoạt động
thuê ngoài có ảnh hưởng bất lợi đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo
hiểm, người được bảo hiểm;
d) Có phương án dự
phòng bảo đảm hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn trong trường hợp bên cung
cấp dịch vụ thuê ngoài không thể thực hiện hoặc không thực hiện đúng trách
nhiệm đối với hoạt động thuê ngoài theo quy định tại hợp đồng thuê ngoài;
đ) Thường xuyên kiểm
tra, giám sát bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài trong quá trình thực hiện thỏa
thuận thuê ngoài nhằm bảo đảm chất lượng, tiến độ thực hiện theo quy định tại
hợp đồng thuê ngoài. Bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài phải bảo đảm tự thực hiện
tối thiểu 75% giá trị công việc nhận thuê ngoài; trường hợp thuê nhà thầu phụ
thực hiện một phần công việc thì phải được sự đồng ý trước bằng văn bản của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam và phải bảo đảm không làm thay đổi các trách nhiệm, nghĩa vụ của bên cung
cấp dịch vụ thuê ngoài;
e) Bảo mật dữ liệu và
thông tin của khách hàng theo quy định của pháp luật;
g) Theo dõi, hạch toán
tách biệt đối với hoạt động thuê ngoài.
3. Hợp đồng thuê ngoài
phải được lập thành văn bản và bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Phạm vi, nội dung
của hoạt động thuê ngoài;
b) Thời gian, địa điểm
thực hiện hoạt động thuê ngoài;
c) Quyền và nghĩa vụ
của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam và bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài;
d) Tiêu chuẩn, yêu cầu
về chất lượng kết quả thực hiện hoạt động thuê ngoài;
đ) Cơ chế, trách nhiệm
cung cấp thông tin, báo cáo của bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài đối với doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
trong quá trình thực hiện hoạt động thuê ngoài;
e) Phương án dự phòng,
khắc phục thiệt hại, bồi thường của bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài trong
trường hợp bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài không thể thực hiện hoặc thực hiện
không đúng thỏa thuận trong hợp đồng thuê ngoài;
g) Cơ chế giám sát,
kiểm soát và kiểm toán việc thực hiện hoạt động thuê ngoài của bên cung cấp
dịch vụ thuê ngoài; yêu cầu bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài theo dõi, hạch toán
tách biệt giữa hoạt động nhận thuê ngoài từ lĩnh vực bảo hiểm với các hoạt động
khác, giữa các hoạt động nhận thuê ngoài từ các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác nhau;
h) Quy định về việc hạn
chế ký hợp đồng thầu phụ; i) Cơ chế bảo mật dữ liệu và thông tin khách hàng;
k) Phương thức giải
quyết tranh chấp.
Mục
5. CHUYỂN GIAO DANH MỤC HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Điều
91. Các trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm
Việc chuyển giao toàn
bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm, tài sản
và trách nhiệm tương ứng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thực hiện trong trường hợp sau đây:
1. Theo yêu cầu của Bộ
Tài chính quy định tại điểm c và điểm d khoản 8 Điều 113 của Luật
này;
2. Thu hẹp nội dung,
phạm vi hoạt động;
3. Chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động;
4. Các trường hợp quy
định tại các điểm a, d và e khoản 1 Điều 75 của Luật này.
Điều
92. Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được nhận chuyển
giao danh mục hợp đồng bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đang kinh doanh
nghiệp vụ bảo hiểm nhận chuyển giao;
b) Bảo đảm tỷ lệ an
toàn vốn, khả năng thanh toán theo quy định của Luật này;
c) Bảo đảm điều kiện
triển khai nghiệp vụ bảo hiểm sau khi nhận chuyển giao.
2. Việc chuyển giao
danh mục hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các tài sản tương ứng
với dự phòng nghiệp vụ của toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.
3. Các quyền và nghĩa
vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay đổi cho đến khi hết thời
hạn hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm quy
định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này, nếu giá trị tài sản
thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển
giao, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài nhận chuyển giao phải thỏa thuận với bên mua bảo hiểm, người được bảo
hiểm về việc giảm số tiền bảo hiểm hoặc quyền lợi bảo hiểm và các nghĩa vụ khác
theo hợp đồng bảo hiểm.
4. Trường hợp không
đồng ý với việc chuyển giao, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng bảo hiểm.
Điều
93. Thủ tục chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chuyển giao danh mục
hợp đồng bảo hiểm phải có văn bản đề nghị chuyển giao danh mục hợp đồng bảo
hiểm gửi đến Bộ Tài chính, trong đó nêu rõ lý do chuyển giao, kèm theo kế hoạch
và hợp đồng chuyển giao. Việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm chỉ được
tiến hành sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
2. Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo
hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm phải công bố trên trang thông tin
điện tử của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài đó về việc chuyển giao và thông báo cho bên mua bảo hiểm bằng văn
bản.
3. Chính phủ quy định
chi tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm.
Mục
6. TÀI CHÍNH, HẠCH TOÁN KẾ TOÁN VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Điều
94. Vốn
1. Vốn điều lệ là tổng
số tiền do thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm
hữu hạn, là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi
thành lập công ty cổ phần và được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm.
2. Vốn được cấp của chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam là số vốn do doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài cấp cho chi nhánh tại Việt
Nam.
3. Vốn chủ sở hữu bao
gồm vốn điều lệ đã góp, vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, các
quỹ dự trữ, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ thuộc chủ sở hữu được
trích lập từ lợi nhuận sau thuế theo quy định.
4. Vốn thực có bao gồm
vốn chủ sở hữu và các nguồn khác được phép ghi nhận hoặc giảm trừ theo quy định
của Bộ Tài chính.
5. Vốn trên cơ sở rủi
ro được xác định dựa trên quy mô và lượng hóa tác động của các nhóm rủi ro đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm:
a) Rủi ro bảo hiểm bao
gồm các rủi ro phát sinh do biến động các yếu tố kỹ thuật tương ứng với loại
hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe;
b) Rủi ro thị trường
bao gồm các rủi ro phát sinh từ thị trường đối với hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
c) Rủi ro hoạt động bao
gồm các rủi ro phát sinh từ quy trình hoạt động, hệ thống, quản lý của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
d) Rủi ro khác bao gồm
các rủi ro phát sinh từ các đối tác khác hoặc các yếu tố khác chưa được tính
toán trong rủi ro bảo hiểm, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động.
6. Chính phủ quy định
chi tiết mức vốn điều lệ tối thiểu, vốn được cấp tối thiểu đối với từng loại
hình doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam.
Điều
95. Tỷ lệ an toàn vốn
1. Tỷ lệ an toàn vốn là
tỷ lệ giữa vốn thực có và vốn trên cơ sở rủi ro.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải luôn
duy trì tỷ lệ an toàn vốn không thấp hơn quy định.
3. Khi xác định tỷ lệ
an toàn vốn, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam không được tính vào vốn thực có số tiền đầu tư dưới hình
thức góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp bảo hiểm khác, doanh nghiệp tái bảo
hiểm khác, công ty con của doanh nghiệp bảo hiểm, công ty con của doanh nghiệp
tái bảo hiểm.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết về tỷ lệ an toàn vốn, vốn trên cơ sở rủi ro, vốn thực
có.
Điều
96. Ký quỹ
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải sử dụng
một phần vốn điều lệ, vốn được cấp để ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoạt
động tại Việt Nam.
2. Mức tiền ký quỹ bằng
02% vốn điều lệ tối thiểu, vốn được cấp tối thiểu tại thời điểm thành lập doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chỉ được sử
dụng tiền ký quỹ để đáp ứng các cam kết đối với bên mua bảo hiểm khi khả năng
thanh toán bị thiếu hụt và phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày sử dụng tiền ký quỹ, doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm bổ
sung tiền ký quỹ đã sử dụng.
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chỉ được rút
toàn bộ tiền ký quỹ khi chấm dứt hoạt động.
Điều
97. Dự phòng nghiệp vụ
1. Dự phòng nghiệp vụ
là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh
nước ngoài tại Việt Nam phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách
nhiệm bảo hiểm có thể phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.
2. Việc trích lập dự
phòng nghiệp vụ phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Trích lập riêng cho
từng nghiệp vụ bảo hiểm;
b) Tương ứng với phần
trách nhiệm đã cam kết theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
c) Tách biệt giữa các
hợp đồng bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt
Nam, kể cả trong cùng một nghiệp vụ bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác;
d) Luôn có tài sản
tương ứng với dự phòng nghiệp vụ đã trích lập, đồng thời tách biệt tài sản
tương ứng với dự phòng quy định tại điểm c khoản này;
đ) Sử dụng Chuyên gia
tính toán để tính toán, trích lập dự phòng nghiệp vụ;
e) Thường xuyên rà
soát, đánh giá việc trích lập dự phòng nghiệp vụ; kịp thời có các biện pháp
nhằm bảo đảm trích lập đầy đủ dự phòng để chi trả cho các trách nhiệm của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đăng ký
và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ.
4. Chính phủ quy định
chi tiết về việc trích lập dự phòng nghiệp vụ và hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng
ký phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ.
Điều
98. Quỹ dự trữ
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải trích
lập quỹ dự trữ bắt buộc để bổ sung vốn chủ sở hữu và bảo đảm khả năng thanh
toán.
2. Quỹ dự trữ bắt buộc
được trích hằng năm theo tỷ lệ 05% lợi nhuận sau thuế cho đến khi bằng mức tối
đa theo quy định của Chính phủ.
3. Ngoài quỹ dự trữ bắt
buộc, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam có thể lập các quỹ dự trữ khác từ lợi nhuận sau thuế của năm tài
chính theo quy định tại điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều
99. Quy định chung về đầu tư
1. Các nguồn đầu tư của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam bao gồm:
a) Vốn chủ sở hữu;
b) Phần vốn nhàn rỗi từ
dự phòng nghiệp vụ theo quy định của Chính phủ;
c) Các nguồn hợp pháp
khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc đầu tư của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm an toàn,
thanh khoản, hiệu quả; tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt
động đầu tư;
b) Dự phòng nghiệp vụ
chỉ được đầu tư tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 100 của Luật này;
c) Không được vay để
đầu tư, ủy thác đầu tư vào chứng khoán, kinh doanh bất động sản hoặc góp vốn
vào doanh nghiệp khác;
d) Không được đầu tư
quá 30% nguồn vốn đầu tư vào các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ
sở hữu lẫn nhau. Quy định này không áp dụng với việc gửi tiền vào các tổ chức
tín dụng và nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức thành lập doanh
nghiệp hoặc thành lập chi nhánh tại nước ngoài;
đ) Không được đầu tư
trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông, thành viên góp vốn hoặc người có
liên quan với cổ đông, thành viên góp vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp,
trừ tiền gửi tại các cổ đông, thành viên là tổ chức tín dụng;
e) Không được mua trái
phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ
của chính doanh nghiệp phát hành;
g) Trường hợp ủy thác
đầu tư, tổ chức nhận ủy thác phải được cấp phép thực hiện hoạt động nhận ủy
thác đầu tư phù hợp với nội dung nhận ủy thác đầu tư.
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được
phép thực hiện các hoạt động đầu tư sau đây:
a) Kinh doanh bất động
sản, trừ các trường hợp: mua cổ phiếu của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản
niêm yết trên thị trường chứng khoán, chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng; mua, đầu
tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc
hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ; cho thuê trụ
sở kinh doanh chưa sử dụng hết thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng; nắm giữ bất
động sản do xử lý trái phiếu có bảo đảm bằng bất động sản, do đối trừ công nợ
phải thu bằng bất động sản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nắm giữ;
b) Đầu tư kim khí quý,
đá quý;
c) Đầu tư tài sản cố
định vô hình, trừ trường hợp phục vụ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của
doanh nghiệp, chi nhánh;
d) Đầu tư chứng khoán
phái sinh hoặc hợp đồng phái sinh, trừ trường hợp chứng khoán phái sinh niêm
yết nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, tái bảo
hiểm và từ danh mục đầu tư chứng khoán doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đang nắm giữ.
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thực hiện
xác định giá trị tài sản đầu tư theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
5. Chính phủ quy định
chi tiết về hạn mức đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều
100. Đầu tư ra nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chỉ được đầu tư ra nước ngoài dưới các hình
thức sau đây:
a) Thành lập hoặc góp
vốn thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm ở nước ngoài; thành lập chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm ở nước ngoài; mở văn phòng đại diện
và hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài;
b) Mua, bán chứng
khoán, các giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng
khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài theo quy định của
Chính phủ.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được đầu tư ra nước ngoài từ các nguồn sau đây:
a) Phần vốn chủ sở hữu
còn lại sau khi trừ đi phần vốn đáp ứng yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn và khả năng
thanh toán theo quy định của Luật này;
b) Phần vốn nhàn rỗi từ
dự phòng nghiệp vụ của các hợp đồng bảo hiểm có quyền lợi liên kết với các chỉ
số đầu tư của nước ngoài và phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của các hợp
đồng bảo hiểm được giao kết với các tổ chức, cá nhân tại nước ngoài.
3. Việc đầu tư ra nước
ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phải bảo đảm tuân
thủ các quy định chung về đầu tư quy định tại Điều 99 của Luật
này và các quy định sau đây:
a) Bảo đảm tỷ lệ an
toàn vốn và khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm;
b) Tuân thủ quy định
pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về đầu tư, pháp luật về quản lý
ngoại hối;
c) Thực hiện dưới tên
của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đó;
d) Thực hiện quản lý và
theo dõi tách biệt nguồn vốn đầu tư, tài sản đầu tư, doanh thu, chi phí của
hoạt động đầu tư ra nước ngoài;
đ) Không được sử dụng
tiền, tài sản của bên mua bảo hiểm trong nước để bù đắp lỗ, thiếu hụt tiền của
hoạt động đầu tư ra nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
e) Được Bộ Tài chính
chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài.
4. Chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam không được đầu tư ra nước ngoài.
5. Chính phủ quy định
chi tiết về điều kiện, hạn mức, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc đầu tư
ra nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Điều
101. Tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm, phân chia thặng dư[23]
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực
hiện việc tách, ghi nhận và theo dõi riêng đối với nguồn vốn chủ sở hữu và
nguồn phí bảo hiểm sau đây:
a) Nguồn vốn chủ sở
hữu, nguồn phí bảo hiểm và tài sản tương ứng của từng nguồn vốn;
b) Doanh thu, chi phí,
kết quả từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư của nguồn vốn chủ sở
hữu và nguồn phí bảo hiểm;
c) Nguồn phí bảo hiểm
từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam;
doanh thu, chi phí, dự phòng nghiệp vụ, các khoản chi phí tương ứng từ hoạt
động kinh doanh bảo hiểm trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ phải đăng ký và thực hiện theo phương pháp đã được Bộ Tài chính
chấp thuận đối với nguyên tắc tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm,
nguyên tắc phân chia thặng dư đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có chia
lãi.
Doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải
thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính nguyên tắc tách nguồn vốn chủ sở hữu và
nguồn phí bảo hiểm trước khi thực hiện và phải thực hiện theo đúng văn bản đã
thông báo cho Bộ Tài chính.
3. Chính phủ quy định
chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký và thông báo quy định tại khoản 2 Điều
này.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết việc tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm,
nguyên tắc phân chia thặng dư đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có chia
lãi.
Điều
102. Chế độ tài chính
1. Chế độ tài chính của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
2. Chính phủ quy định
chi tiết về chế độ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều
103. Năm tài chính
1. Năm tài chính của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 cùng năm dương
lịch.
2. Năm tài chính đầu
tiên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam bắt đầu từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động và kết
thúc vào ngày cuối cùng của năm đó.
Điều
104. Chế độ kế toán
Chế độ kế toán áp dụng
đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam phải thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán.
Điều
105. Kiểm toán độc lập
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực
hiện kiểm toán độc lập hằng năm đối với báo cáo tài chính năm.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải có ý
kiến xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập đối với báo cáo đánh giá khả năng
thanh toán và quản trị rủi ro; báo cáo tách nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo
hiểm; báo cáo hoạt động của quỹ liên kết chung, quỹ liên kết đơn vị, quỹ hưu
trí.
3. Tổ chức kiểm toán
độc lập khi thực hiện kiểm toán, xác nhận đối với báo cáo quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này có trách nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ quy định
của pháp luật về kiểm toán độc lập;
b) Sử dụng Chuyên gia
tính toán khi kiểm toán tỷ lệ an toàn vốn, dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm; chuyên
gia về quản trị rủi ro khi kiểm toán quản trị rủi ro và các chuyên gia khác
tương ứng với nội dung kiểm toán độc lập;
c) Giải trình, cung cấp
thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động kiểm toán doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp
có yêu cầu của Bộ Tài chính;
d) Thông báo bằng văn
bản cho Bộ Tài chính khi phát hiện doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có sai phạm trọng yếu trong các báo cáo
được kiểm toán, xác nhận do không tuân thủ pháp luật, có gian lận bảo hiểm, có
giao dịch bất thường có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn tài chính hoặc
quyền lợi của người tham gia bảo hiểm;
đ) Bảo mật thông tin
theo quy định của pháp luật.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều
106. Báo cáo và cung cấp thông tin
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải gửi Bộ
Tài chính các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo tài chính;
trường hợp có ý kiến hoặc kết luận không phải là chấp nhận toàn phần của tổ
chức kiểm toán độc lập đối với bất kỳ báo cáo, hoạt động nào được kiểm toán,
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam phải báo cáo Bộ Tài chính nguyên nhân, thực trạng;
b) Báo cáo hoạt động
nghiệp vụ;
c) Báo cáo tách nguồn
vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm;
d) Báo cáo đánh giá khả
năng thanh toán và quản trị rủi ro;
đ) Báo cáo thay đổi về
vốn liên quan đến từng loại rủi ro.
2. Ngoài báo cáo quy
định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải báo cáo Bộ Tài chính trong trường hợp
sau đây:
a) Khi xảy ra những
diễn biến bất thường có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, uy tín của doanh
nghiệp, chi nhánh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
b) Khi không đáp ứng
yêu cầu về tài chính và các yêu cầu khác theo quy định.
3. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết về báo cáo và cung cấp thông tin quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này.
Điều
107. Chuyển lợi nhuận, tài sản ra nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được chuyển
lợi nhuận, tài sản ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy
định sau đây:
a) Chuyển số lợi nhuận
còn lại thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài sau khi đã trích lập các quỹ,
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính và bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn, khả năng
thanh toán theo quy định của Luật này;
b) Chuyển số tài sản
còn lại thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài sau khi kết thúc hoạt động tại
Việt Nam.
2. Việc chuyển tiền,
tài sản khác ra nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều
108. Quản trị tài chính
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam tự chủ về
tài chính, tự chịu trách nhiệm về việc quản lý, giám sát hiệu quả hoạt động;
thực hiện các nghĩa vụ, cam kết với bên mua bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân có
liên quan và Nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải xây
dựng chiến lược, quy trình, quy chế, thủ tục, cơ cấu tổ chức để thực hiện việc
quản lý, giám sát hoạt động tài chính, bảo đảm an toàn, hiệu quả, đúng pháp
luật; chủ động phòng, ngừa và giảm thiểu rủi ro.
Mục
7. KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
Điều
109. An toàn tài chính
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được coi là
bảo đảm an toàn tài chính khi đáp ứng các quy định về vốn, khả năng thanh toán
và đầu tư.
2. Trong quá trình hoạt
động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam phải chủ động rà soát các quy trình, quy chế, hệ thống quản trị
rủi ro, kế hoạch kinh doanh, đánh giá hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo
hiểm, hoạt động tài chính, bảo đảm an toàn hiệu quả và tuân thủ pháp luật nhằm
đáp ứng an toàn tài chính theo quy định của Luật này.
3. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định các trường hợp áp dụng biện pháp cải thiện, biện pháp can thiệp
sớm, biện pháp kiểm soát quy định tại các điều 111, 112 và 113
của Luật này để bảo đảm an toàn tài chính.
Điều
110. Khả năng thanh toán
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải duy trì
khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được coi là
có đủ khả năng thanh toán khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau đây:
a) Trích lập dự phòng
nghiệp vụ đầy đủ;
b) Bảo đảm tỷ lệ an
toàn vốn.
Điều
111. Biện pháp cải thiện
1. Trường hợp phải áp
dụng biện pháp cải thiện, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam chủ động lựa chọn, tổ chức triển khai thực hiện
một hoặc một số biện pháp cải thiện quy định tại khoản 2 Điều này và thông báo
bằng văn bản cho Bộ Tài chính về thực trạng, nguyên nhân, biện pháp cải thiện
được áp dụng.
2. Biện pháp cải thiện
bao gồm:
a) Tăng vốn điều lệ,
vốn được cấp;
b) Tăng cường hiệu quả
hoạt động kinh doanh bao gồm tập trung khai thác các sản phẩm bảo hiểm có hiệu
quả; rà soát phí bảo hiểm tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm; cơ
cấu lại chương trình tái bảo hiểm; giảm chi phí hoạt động, chi phí quản lý, chi
phí bán hàng; hạn chế chi trả thù lao, lương, thưởng đối với người quản lý;
c) Cơ cấu lại danh mục
đầu tư bao gồm tăng cường nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao; bán,
chuyển nhượng tài sản không hiệu quả hoặc có mức độ rủi ro cao;
d) Tăng cường quản trị
rủi ro; tổ chức lại bộ máy quản lý, nhân sự; hạn chế mua tài sản cố định; hạn
chế trích lập và sử dụng các quỹ;
đ) Biện pháp khác phù
hợp với quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình thực
hiện biện pháp cải thiện, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài, phân phối lợi nhuận, chi trả cổ tức;
b) Tăng nhận tái bảo
hiểm.
Điều
112. Biện pháp can thiệp sớm
1. Trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
có tỷ lệ an toàn vốn ở mức phải áp dụng biện pháp can thiệp sớm hoặc đã áp dụng
biện pháp cải thiện quy định tại Điều 111 của Luật này trong
thời gian 12 tháng liên tục mà vẫn không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn, Bộ
Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp can thiệp sớm.
2. Trong thời hạn 60
ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp can thiệp sớm,
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam có trách nhiệm xây dựng phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn theo quy định
tại khoản 4 Điều này và tổ chức triển khai thực hiện, đồng thời báo cáo Bộ Tài
chính về thực trạng, nguyên nhân, phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn. Bộ Tài
chính ban hành văn bản yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam điều chỉnh phương án khắc phục nếu xét
thấy cần thiết.
3. Thời hạn thực hiện
phương án khắc phục tối đa là 12 tháng kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản
áp dụng biện pháp can thiệp sớm.
4. Phương án khắc phục
bao gồm một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Biện pháp quy định
tại khoản 2 Điều 111 của Luật này;
b) Bãi nhiệm, miễn
nhiệm người quản lý;
c) Thu hẹp nội dung,
phạm vi hoạt động không hiệu quả; tạm dừng khai thác mới sản phẩm bảo hiểm hoặc
nghiệp vụ bảo hiểm không hiệu quả.
5. Trong quá trình thực
hiện biện pháp can thiệp sớm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Các hoạt động quy
định tại khoản 3 Điều 111 của Luật này;
b) Mua cổ phiếu quỹ;
c) Mở rộng nội dung,
phạm vi và thời hạn hoạt động.
6. Trong thời hạn quy
định tại khoản 2 Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục tỷ lệ
an toàn vốn hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà không khắc phục
được tỷ lệ an toàn vốn thì tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, Bộ Tài chính yêu
cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam thực hiện một hoặc một số biện pháp quy định tại khoản 4 Điều này.
7. Bộ Tài chính công
khai danh sách doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam phải áp dụng biện pháp can thiệp sớm trên Cổng thông tin
điện tử của Bộ Tài chính.
8. Bộ Tài chính xem
xét, quyết định ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp can thiệp sớm đối
với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Được tổ chức kiểm
toán độc lập xác nhận khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn;
b) Bị áp dụng biện pháp
kiểm soát quy định tại Điều 113 của Luật này.
Điều
113. Biện pháp kiểm soát
1. Trường hợp doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
có tỷ lệ an toàn vốn ở mức phải áp dụng biện pháp kiểm soát, Bộ Tài chính xem
xét, quyết định ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát và gửi văn bản áp
dụng biện pháp kiểm soát đến doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
2. Bộ Tài chính thông
báo về việc áp dụng biện pháp kiểm soát đến các chủ thể sau đây:
a) Chủ sở hữu, thành
viên góp vốn, cổ đông góp vốn từ 10% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài,
doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam;
b) Cơ quan quản lý nhà
nước về bảo hiểm nước ngoài có thẩm quyền quản lý công ty sở hữu 100% vốn điều
lệ, vốn được cấp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước
ngoài, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát, doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
phải thuê tổ chức kiểm toán độc lập rà soát, đánh giá thực trạng tài chính, xác
định giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp và khả năng thanh toán. Trường
hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam không hoàn thành việc thuê tổ chức kiểm toán độc lập trong thời hạn
quy định, Bộ Tài chính chỉ định tổ chức kiểm toán độc lập. Chi phí kiểm toán do
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam chi trả.
4. Trong thời hạn 120
ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát,
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam có trách nhiệm xây dựng phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn và tổ chức
triển khai thực hiện, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng, nguyên
nhân, phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn. Bộ Tài chính ban hành văn bản yêu
cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam điều chỉnh phương án khắc phục nếu xét thấy cần thiết.
5. Thời hạn thực hiện
phương án khắc phục tối đa là 18 tháng kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản
áp dụng biện pháp kiểm soát.
6. Phương án khắc phục
bao gồm một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Biện pháp quy định
tại khoản 4 Điều 112 của Luật này;
b) Dừng hoạt động có
thể dẫn đến không bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn.
7. Trong quá trình thực
hiện biện pháp kiểm soát, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Các hoạt động quy
định tại khoản 5 Điều 112 của Luật này;
b) Tham gia góp vốn
thành lập doanh nghiệp; mua bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm
làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ;
c) Đầu tư vào các tài
sản có mức độ rủi ro cao hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh làm giảm tỷ lệ
an toàn vốn.
8. Trong thời hạn quy
định tại khoản 4 Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục hoặc
hết thời hạn quy định tại khoản 5 Điều này mà không khắc phục được tỷ lệ an
toàn vốn thì tùy theo tính chất, mức độ, rủi ro, Bộ Tài chính thực hiện một
hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Đình chỉ một phần
hoặc toàn bộ nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b) Yêu cầu chia, tách,
sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
c) Yêu cầu chuyển giao
danh mục hợp đồng bảo hiểm;
d) Chỉ định doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác
góp vốn, mua cổ phần, nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm của doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bị
kiểm soát.
9. Trong thời gian bị
đình chỉ quy định tại điểm a khoản 8 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải thực hiện trích
lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; theo dõi chặt chẽ
các hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực; bảo đảm chi trả bồi thường, trả tiền bảo
hiểm kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của
pháp luật; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế; tiếp tục thanh toán các khoản
nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với bên mua bảo hiểm và người lao
động theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
10. Bộ Tài chính công
khai danh sách doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam phải áp dụng biện pháp kiểm soát trên Cổng thông tin điện tử
của Bộ Tài chính.
11. Bộ Tài chính xem
xét, quyết định ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp kiểm soát đối với
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị kiểm soát
được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn;
b) Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể;
c) Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không khắc
phục được tình trạng bị áp dụng biện pháp kiểm soát.
Điều
114. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp bị áp dụng biện pháp cải thiện,
can thiệp sớm, kiểm soát
Ngoài các trách nhiệm
quy định tại các điều 111, 112 và 113 của Luật này, doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
bị áp dụng biện pháp cải thiện, can thiệp sớm, kiểm soát còn có trách nhiệm sau
đây:
1. Thực hiện quản trị,
kiểm soát, điều hành hoạt động kinh doanh và bảo đảm an toàn tài sản;
2. Chịu trách nhiệm về
tính chính xác của các thông tin, tài liệu, hồ sơ, các vấn đề về tổ chức, hoạt
động và các vấn đề liên quan;
3. Báo cáo Bộ Tài chính
kết quả thực hiện và mức độ cải thiện theo định kỳ hằng tháng hoặc theo yêu cầu
của Bộ Tài chính;
4. Trách nhiệm khác
theo quy định của pháp luật.
Điều
115. Giải thể doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chấm dứt hoạt
động chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm giải thể; chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
chấm dứt hoạt động trong trường hợp sau đây:
a) Tự nguyện đề nghị
giải thể, chấm dứt hoạt động;
b) Khi hết thời hạn
hoạt động quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động;
c) Bị thu hồi giấy phép
thành lập và hoạt động quy định tại các điểm a, b, d và e khoản
1 Điều 75 của Luật này;
d) Chi nhánh nước ngoài
tại Việt Nam không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn sau thời gian áp dụng biện
pháp kiểm soát;
đ) Trường hợp khác theo
quy định của pháp luật.
2. Việc giải thể doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chấm dứt hoạt động chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
3. Chính phủ quy định
chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chấm dứt hoạt động chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam.
Điều
116. Phá sản doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Sau khi Bộ Tài chính
ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp kiểm soát quy định tại điểm c khoản 11 Điều 113 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản theo
quy định của Luật Phá sản; trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Bộ Tài chính nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản.
2. Khi nhận được yêu
cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản, tuyên bố doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phá sản và
áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
tái bảo hiểm mà không tổ chức hội nghị chủ nợ và thực hiện thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh.
3. Việc phân chia tài
sản của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm trong trường hợp phá
sản được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ
cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động;
c) Khoản trả tiền bồi
thường, trả tiền bảo hiểm đối với các yêu cầu đòi bồi thường, trả tiền bảo hiểm
đã được doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chấp thuận chi trả giá
trị hoàn lại, giá trị tài khoản hợp đồng bảo hiểm hoặc hoàn phí bảo hiểm;
d) Nghĩa vụ tài chính
đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách
chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm
không đủ thanh toán nợ;
đ) Chủ sở hữu, thành
viên góp vốn, cổ đông của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
4. Trường hợp giá trị
tài sản không đủ để thanh toán quy định tại khoản 3 Điều này thì các đối tượng
thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng
với số nợ.
5. Nội dung về phá sản
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm không được quy định tại Điều này
thì thực hiện theo quy định của Luật Phá sản.
Mục
8. CÔNG KHAI THÔNG TIN
Điều
117. Trách nhiệm công khai thông tin
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải công
khai các thông tin quy định tại các điều 118, 119 và 120 của Luật
này và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công khai.
Việc công khai thông tin phải chính xác, kịp thời, đầy đủ, dễ theo dõi và tuân
thủ quy định của pháp luật.
Trường hợp có thay đổi
nội dung thông tin đã công khai, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo
hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải cập nhật kịp thời, đầy đủ nội dung
thay đổi và lý do thay đổi so với thông tin đã công khai trước đó.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đăng
tải thông tin cần công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, chi
nhánh đó. Việc đăng tải thông tin thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài
chính. Thời hạn công khai thông tin thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trong thời hạn 07
ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn gửi báo cáo quy định tại Điều 118 của Luật này hoặc kể từ khi xảy ra một trong các sự
kiện liên quan tới các thông tin cần công khai quy định tại Điều
119 của Luật này;
b) Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện liên quan tới các thông
tin cần công khai quy định tại Điều 120 của Luật này.
3.[24] (được bãi bỏ)
4. Doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm là công ty đại chúng thực hiện công khai thông
tin theo quy định của Luật này và quy định của Luật Chứng khoán.
Điều
118. Thông tin công khai định kỳ
1. Báo cáo tài chính
năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính bán niên.
2. Báo cáo đánh giá khả
năng thanh toán và quản trị rủi ro.
3. Vốn thực có và tỷ lệ
an toàn vốn.
Điều
119. Thông tin công khai thường xuyên
1. Thông tin về hồ sơ
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam bao gồm:
a) Thông tin trong giấy
phép thành lập và hoạt động;
b) Thông tin về Chủ
tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc, người đại diện theo pháp luật và Chuyên gia tính toán;
c) Địa chỉ trụ sở
chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;
d) Đường dây nóng.
2. Thông tin về hoạt
động nghiệp vụ bao gồm:
a) Quy tắc, điều khoản,
biểu phí của từng sản phẩm bảo hiểm đang cung cấp, nội dung khách hàng cần lưu
ý đối với từng sản phẩm bảo hiểm;
b) Quy trình, hồ sơ yêu
cầu và thời hạn giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
c) Các mục tiêu, chính
sách quản lý đầu tư;
d) Các mục tiêu, chính
sách đánh giá tỷ lệ an toàn vốn.
Điều
120. Thông tin công khai bất thường
1. Thông tin công khai
bất thường bao gồm:
a) Việc tạm ngừng kinh
doanh hoặc bị đình chỉ nội dung hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt
động;
b) Việc chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, đầu tư ra nước
ngoài, thành lập, đóng cửa chi nhánh, văn phòng đại diện;
c) Chấm dứt hoạt động
của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
d) Việc thay đổi chính
sách kế toán áp dụng; kết quả điều chỉnh hồi tố báo cáo tài chính; ý kiến không
phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của tổ chức kiểm toán độc lập đối với báo
cáo tài chính; việc lựa chọn hoặc thay đổi tổ chức kiểm toán độc lập;
đ) Việc chuyển nhượng
cổ phần, phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều
lệ trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
e) Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
g) Bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
h) Quyết định của Tòa
án về mở thủ tục phá sản doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
i) Quyết định khởi tố
đối với doanh nghiệp, người quản lý, người kiểm soát liên quan đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam;
k) Sự kiện ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm;
l) Thông tin liên quan
đến doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam gây ảnh hưởng trọng yếu đến vốn, khả năng thanh toán, quản trị rủi ro
và quản trị doanh nghiệp;
m) Tổn thất tài sản có
giá trị từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên;
n) Chuyển giao danh mục
hợp đồng bảo hiểm;
o) Thông tin khác theo
quy định của pháp luật.
2. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết nội dung thông tin công khai bất thường tại điểm k và điểm
l khoản 1 Điều này.
Mục
9. ĐỀ PHÒNG, HẠN CHẾ TỔN THẤT, PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN BẢO HIỂM
Điều
121. Trách nhiệm trong việc đề phòng, hạn chế tổn thất và phòng, chống gian lận
bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm và các bên có liên quan có trách nhiệm trong việc đề phòng,
hạn chế tổn thất và phòng, chống gian lận bảo hiểm.
Điều
122. Đề phòng, hạn chế tổn thất
1. Đề phòng, hạn chế
tổn thất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc thực hiện các biện pháp để
phòng ngừa, giảm thiểu những tổn thất có thể xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm.
2. Bên mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm có trách nhiệm chủ động thực hiện các biện pháp đề phòng,
hạn chế tổn thất; thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm; thực
hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo
hiểm (nếu có).
3. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm
thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất sau đây:
a) Tổ chức tập huấn,
tuyên truyền, đào tạo; hỗ trợ công tác tổ chức tập huấn, tuyên truyền chính
sách về kinh doanh bảo hiểm;
b) Tài trợ, hỗ trợ các
phương tiện, vật chất để đề phòng, hạn chế rủi ro;
c) Hỗ trợ xây dựng các
công trình nhằm mục đích đề phòng, giảm nhẹ mức độ rủi ro cho các đối tượng bảo
hiểm;
d) Thuê các tổ chức, cá
nhân khác giám sát, đề phòng, hạn chế tổn thất.
4. Cơ quan, tổ chức có
liên quan hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền về việc thực hiện các biện pháp đề
phòng, hạn chế tổn thất.
Điều
123. Phòng, chống gian lận bảo hiểm
1. Phòng, chống gian
lận bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc thực hiện các biện
pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi gian lận trong quá trình giao kết,
thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhằm chiếm đoạt tiền, tài sản từ doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo
hiểm.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm
chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phòng ngừa, phát
hiện, giảm thiểu các hành vi gian lận bảo hiểm; tổ chức tuyên truyền về phòng,
chống gian lận bảo hiểm.
3. Bên mua bảo hiểm,
người được bảo hiểm chủ động tham gia vào công tác phòng, chống gian lận bảo
hiểm; trường hợp phát hiện các hành vi gian lận bảo hiểm thì kịp thời thông báo
cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài và các cơ quan có thẩm quyền.
4. Cơ quan, tổ chức có
liên quan phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm tổ chức công tác
phòng, chống gian lận bảo hiểm.
Chương
IV
ĐẠI
LÝ BẢO HIỂM, DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CUNG CẤP DỊCH VỤ
PHỤ TRỢ BẢO HIỂM
Mục
1. ĐẠI LÝ BẢO HIỂM
Điều
124. Đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là tổ
chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô ủy quyền trên cơ
sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm.
Điều
125. Điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm
1. Cá nhân hoạt động
đại lý bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam
thường trú tại Việt Nam;
b) Có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ;
c) Có chứng chỉ đại lý
bảo hiểm phù hợp theo quy định tại Điều 130 của Luật này.
2. Tổ chức hoạt động
đại lý bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập và
hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;
b) Đã đăng ký ngành,
nghề kinh doanh hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Đối với các tổ chức hoạt động trong ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì
giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận khác
(nếu có) của cơ quan có thẩm quyền có nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm;
c) Có nhân viên trực
tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản
1 Điều này;
d) Điều kiện về nhân sự
và điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
3. Tổ chức, cá nhân
không được giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm trong các trường hợp
sau đây:
a) Tổ chức là pháp nhân
thương mại đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tổ chức đang bị đình chỉ hoạt
động có thời hạn, đang bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc đang bị cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến bảo hiểm;
b) Cá nhân đang bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành hình phạt
cấm hành nghề liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm.
Điều
126. Nội dung hợp đồng đại lý bảo hiểm
Hợp đồng đại lý bảo
hiểm phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Tên, địa chỉ của đại
lý bảo hiểm;
2. Tên, địa chỉ trụ sở
chính của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
3. Quyền và nghĩa vụ
của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, đại lý bảo hiểm;
4. Nội dung và phạm vi
hoạt động đại lý bảo hiểm;
5. Hoa hồng đại lý bảo
hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và các quyền lợi khác (nếu có);
6. Thời hạn hợp đồng;
7. Phương thức giải
quyết tranh chấp.
Điều
127. Nguyên tắc hoạt động của đại lý bảo hiểm
1.[25] Cá nhân đang làm đại lý
bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không được đồng thời làm đại lý
bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ khác. Cá nhân đang làm đại lý bảo
hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài khác. Cá nhân đang làm đại lý bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm sức
khỏe không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm sức
khỏe khác. Cá nhân đang làm đại lý bảo hiểm cho một tổ chức tương hỗ cung cấp
bảo hiểm vi mô không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô khác.
2. Tổ chức không được
đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô khác
nếu không được chấp thuận bằng văn bản của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo
hiểm vi mô mà tổ chức đó đang làm đại lý.
3. Cá nhân hoạt động
đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm chỉ được
thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm đối với những sản phẩm bảo hiểm đã được đào
tạo.
4. Thông tin của cá
nhân hoạt động đại lý bảo hiểm và nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo
hiểm trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm phải được đăng ký và cập
nhật tại cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm quy định tại Điều 11 của Luật này.
5. Cá nhân đã được cấp
chứng chỉ đại lý bảo hiểm nhưng không hoạt động đại lý bảo hiểm trong thời hạn
03 năm liên tục phải thực hiện thi lấy chứng chỉ đại lý bảo hiểm mới trước khi
hoạt động đại lý.
Điều
128. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô trong
hoạt động đại lý bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô có các quyền sau đây:
a) Tổ chức hệ thống đại
lý bảo hiểm phù hợp với chiến lược kinh doanh;
b) Tuyển dụng đại lý
bảo hiểm và giao kết hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Quyết định mức chi
trả hoa hồng đại lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và quyền lợi khác
trong hợp đồng đại lý bảo hiểm không vượt quá mức tối đa theo quy định của Bộ
trưởng Bộ Tài chính;
d) Nhận và quản lý tiền
ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của đại lý bảo hiểm nếu có thỏa thuận trong hợp
đồng đại lý bảo hiểm;
đ) Yêu cầu đại lý bảo
hiểm thanh toán phí bảo hiểm thu được theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
e) Kiểm tra, giám sát
việc thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm, đánh giá chất lượng tư vấn, giới thiệu
sản phẩm bảo hiểm của đại lý bảo hiểm và nhân viên trong tổ chức hoạt động đại
lý bảo hiểm;
g) Được hưởng quyền,
lợi ích hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm;
h) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chịu trách nhiệm về
việc tổ chức, quản lý, sử dụng đại lý bảo hiểm;
b) Tổ chức đào tạo và
cập nhật kiến thức cho đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật;
c) Hướng dẫn và cung
cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến hoạt động
đại lý bảo hiểm;
d) Thực hiện các trách
nhiệm phát sinh theo hợp đồng đại lý bảo hiểm đã giao kết;
đ) Thanh toán, chi trả
hoa hồng đại lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và quyền lợi khác theo
thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm không vượt quá mức tối đa theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
e) Hoàn trả cho đại lý
bảo hiểm tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp theo thỏa thuận;
g) Chịu trách nhiệm
thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo
hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết.
Trường hợp đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm
vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo
hiểm vi mô vẫn phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận
trong hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết;
h) Chịu sự kiểm tra,
giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động đại lý bảo hiểm;
i) Bảo đảm và không
được cản trở các quyền, lợi ích hợp pháp của đại lý bảo hiểm theo thỏa thuận
trong hợp đồng đại lý bảo hiểm và quy định của pháp luật;
k) Báo cáo về việc đào
tạo và sử dụng đại lý bảo hiểm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
l) Đăng ký và cập nhật
thông tin của cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm và nhân viên trong tổ chức hoạt
động đại lý bảo hiểm trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm tại cơ sở dữ
liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm quy định tại Điều 11 của Luật
này;
m) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
Điều
129. Quyền và nghĩa vụ của đại lý bảo hiểm
1. Đại lý bảo hiểm có
các quyền sau đây:
a) Lựa chọn và giao kết
hợp đồng đại lý bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo
quy định của pháp luật;
b) Được cung cấp thông
tin và điều kiện cần thiết để thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Hưởng hoa hồng đại
lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và các quyền lợi khác từ hoạt động
đại lý bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
d) Yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức
tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô hoàn trả tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp
theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
đ) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Đại lý bảo hiểm có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện nghĩa vụ
trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
b) Ký quỹ hoặc thế chấp
tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô nếu có thỏa thuận trong
hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
d) Tư vấn, giới thiệu,
chào bán sản phẩm bảo hiểm; cung cấp các thông tin về sản phẩm bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ
chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô đầy đủ, chính xác cho bên mua bảo hiểm và
giải thích rõ ràng, đầy đủ về quyền lợi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; không được tự ý kê khai
thông tin cho bên mua bảo hiểm khi chưa có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm; thực
hiện các nghĩa vụ khác theo phạm vi được ủy quyền trong hợp đồng đại lý bảo
hiểm;
đ) Tham dự các khóa đào
tạo, cập nhật kiến thức do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô tổ chức;
e) Chịu sự kiểm tra,
giám sát của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
g) Bồi hoàn cho doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ
chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm,
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung
cấp bảo hiểm vi mô đã bồi thường cho người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm
trong trường hợp đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo
hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp
của người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm;
h) Thực hiện đúng tiêu
chuẩn hoạt động đại lý bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi
mô quy định;
i) Giữ bí mật thông tin
khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng đúng mục đích và không được cung cấp
cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ trường hợp cung
cấp theo quy định của pháp luật;
k) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
3. Đại lý bảo hiểm
không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Thông tin, quảng cáo
sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo
hiểm vi mô, điều kiện và điều khoản bảo hiểm làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp
pháp của bên mua bảo hiểm;
b) Ngăn cản bên mua bảo
hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hoặc xúi giục bên
mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không kê khai các thông tin liên quan đến hợp
đồng bảo hiểm;
c) Tranh giành khách
hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc
khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, đại lý bảo hiểm,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác;
d) Xúi giục khách hàng
hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực dưới mọi hình thức.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết điểm d khoản 2 Điều này.
Điều
130. Chứng chỉ đại lý bảo hiểm
1. Chứng chỉ đại lý bảo
hiểm bao gồm:
a) Chứng chỉ đại lý bảo
hiểm nhân thọ;
b) Chứng chỉ đại lý bảo
hiểm phi nhân thọ;
c) Chứng chỉ đại lý bảo
hiểm sức khỏe.
2. Nội dung chủ yếu đào
tạo chứng chỉ đại lý bảo hiểm bao gồm:
a) Kiến thức chung về
bảo hiểm; các nguyên lý về nghiệp vụ bảo hiểm phù hợp với từng loại chứng chỉ
đại lý bảo hiểm;
b) Quy tắc đạo đức, ứng
xử nghề nghiệp đại lý bảo hiểm;
c) Quyền và nghĩa vụ
của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, đại lý bảo hiểm trong hoạt
động đại lý bảo hiểm;
d) Pháp luật Việt Nam
về hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
đ) Kỹ năng và thực hành
hành nghề đại lý bảo hiểm.
3. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết về các loại chứng chỉ đại lý bảo hiểm; nội dung đào
tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp, thu hồi, cấp đổi chứng chỉ đại lý bảo
hiểm.
Mục
2. DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM
Điều
131. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Hoạt động môi giới
bảo hiểm gốc, hoạt động môi giới tái bảo hiểm.
2. Cung cấp dịch vụ phụ
trợ bảo hiểm.
3. Hoạt động khác liên
quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
Điều
132. Nguyên tắc hoạt động môi giới bảo hiểm
1. Trung thực, khách
quan, minh bạch; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
2. Tuân theo quy tắc
đạo đức nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành.
3. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm phải thỏa thuận bằng văn bản với khách hàng khi thực hiện cung
cấp dịch vụ môi giới bảo hiểm.
Điều
133. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm
1. Điều kiện về cổ
đông, thành viên góp vốn thành lập bao gồm:
a)[26] (được bãi bỏ)
b) Tổ chức có tư cách
pháp nhân, đang hoạt động hợp pháp và đáp ứng các điều kiện về tài chính theo
quy định của Chính phủ.
2. Điều kiện về vốn bao
gồm:
a) Vốn điều lệ được góp
bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ;
b) Cổ đông, thành viên
góp vốn không được sử dụng vốn vay, nguồn vốn ủy
thác đầu tư của tổ
chức, cá nhân khác để tham gia góp vốn.
3. Điều kiện về nhân
sự: có Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật dự kiến đáp ứng các điều
kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản lý, kinh nghiệm và chuyên môn nghiệp vụ theo
quy định tại Điều 138 của Luật này.
4.[27] (được bãi bỏ)
5. Tổ chức thành lập
theo pháp luật nước ngoài tham gia góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp
từ 10% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng các điều
kiện sau đây:
a) Là tổ chức được
thành lập theo pháp luật nước ngoài đang trực tiếp thực hiện hoặc có công ty
con thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm trong 05 năm liên tục gần nhất tính
đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động;
b) Được cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài cho phép thành lập doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt
Nam và xác nhận không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về môi
giới bảo hiểm của nước nơi tổ chức đặt trụ sở chính trong 03 năm liên tục gần
nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động.
Điều
134. Cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm[28]
Chính phủ quy định chi
tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động
của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Điều
135. Tổ chức và hoạt động
Các quy định về tổ chức
và hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao gồm: hình thức tổ chức hoạt
động; tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài; thời hạn cấp giấy phép thành lập
và hoạt động; thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép
thành lập và hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động; công bố nội dung giấy phép
thành lập và hoạt động; thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động được thực hiện
theo quy định tại các điều 62, 68, 70, 71,
72 và khoản 1, khoản 3 Điều 75 của Luật này.
Điều
136. Những thay đổi phải được chấp thuận hoặc phải thông báo
1. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thay đổi
một trong các nội dung sau đây:
a) Tên, địa điểm đặt
trụ sở chính;
b) Mức vốn điều lệ;
c) Nội dung, phạm vi và
thời hạn hoạt động;
d) Chuyển nhượng cổ phần,
phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ
trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
đ) Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;
e) Chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp; mở chi nhánh, văn
phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài.
2. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm phải thông báo cho Bộ Tài chính bằng văn bản trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày có những thay đổi sau đây:
a) Thay đổi điều lệ
hoạt động;
b) Mở, chấm dứt, thay
đổi địa điểm chi nhánh, văn phòng đại diện.
3. Trong thời hạn 10
ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi quy định tại khoản 1 Điều
này, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung thay đổi trên Cổng thông
tin điện tử của Bộ Tài chính.
4. Chính phủ quy định
chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các thay đổi quy định
tại khoản 1 Điều này và hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi nhận quy định tại điểm b khoản
2 Điều này.
Điều
137. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm có các quyền sau đây:
a) Hưởng hoa hồng môi
giới bảo hiểm gốc, hoa hồng môi giới tái bảo hiểm theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Tài chính;
b) Thu từ cung cấp dịch
vụ phụ trợ bảo hiểm;
c) Thu từ thực hiện các
công việc khác liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo
hiểm;
d) Quyền khác theo quy
định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm có các nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo mật thông tin do
khách hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam cung cấp, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hoặc được sự đồng ý của khách hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b) Bồi thường thiệt hại
cho khách hàng do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra;
c) Công khai thông tin
cho khách hàng các nội dung theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
d) Hạch toán và theo
dõi tách biệt các khoản thu hộ, chi hộ doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
đ) Mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp phù hợp với hoạt động môi giới bảo hiểm;
e) Nghĩa vụ khác theo
quy định của pháp luật.
3. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Ngăn cản bên mua bảo
hiểm, người được bảo hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo
hiểm hoặc xúi giục bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không kê khai các chi
tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm;
b) Khuyến mại dưới hình
thức hứa hẹn cung cấp các quyền lợi bất hợp pháp để xúi giục khách hàng giao
kết hợp đồng bảo hiểm;
c) Xúi giục bên mua bảo
hiểm hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực để mua hợp đồng bảo hiểm mới;
d) Tư vấn cho khách
hàng mua bảo hiểm tại một doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài với các điều kiện, điều khoản kém cạnh tranh hơn
so với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài khác nhằm thu được hoa hồng môi giới cao hơn;
đ) Cung cấp cho khách
hàng thông tin sai lệch, không phù hợp nội dung điều kiện, điều khoản bảo hiểm
của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài.
Điều
138. Nhân sự, vốn, tài chính, chế độ kế toán và báo cáo tài chính của doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành
viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp
luật, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, trưởng bộ phận
nghiệp vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn
về văn bằng, chứng chỉ, kinh nghiệm và các điều kiện khác theo quy định của
Chính phủ.
2. Người trực tiếp thực
hiện hoạt động môi giới bảo hiểm phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành
bảo hiểm hoặc có chứng chỉ bảo hiểm phù hợp với loại hình bảo hiểm hoặc chứng
chỉ môi giới bảo hiểm do các cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp
trong nước hoặc ngoài nước cấp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
3. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm phải duy trì vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu không thấp hơn mức vốn
điều lệ tối thiểu và thực hiện chế độ tài chính theo quy định của Chính phủ.
3a.[29] Việc đầu tư của doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, thanh khoản, hiệu
quả; tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được đầu tư dưới mọi hình thức cho các cổ
đông, thành viên góp vốn hoặc người có liên quan với cổ đông, thành viên góp
vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trừ tiền gửi tại các cổ đông, thành
viên là tổ chức tín dụng.
4. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm thực hiện năm tài chính, chế độ kế toán quy định tại Điều 103 và Điều 104 của Luật này và thực hiện kiểm toán độc
lập hằng năm đối với báo cáo tài chính.
5. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm phải thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài
chính đối với các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo tài chính;
b) Báo cáo hoạt động
nghiệp vụ định kỳ, báo cáo đột xuất, cung cấp thông tin, số liệu khác.
6. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép chuyển lợi nhuận, chuyển tài
sản ra nước ngoài quy định tại Điều 107 của Luật này.
7. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm thực hiện quản trị tài chính quy định tại Điều
108 của Luật này.
8. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm thực hiện công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp
các thông tin về báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán và những thay đổi phải
được Bộ Tài chính chấp thuận quy định tại khoản 1 Điều 136 của Luật
này và thông tin quy định tại các điểm a, b và e khoản 1 Điều
120 của Luật này. Trách nhiệm công khai thông tin thực hiện theo quy định
tại Điều 117 của Luật này.
Điều
139. Chứng chỉ môi giới bảo hiểm
1. Nội dung đào tạo môi
giới bảo hiểm chủ yếu bao gồm:
a) Kiến thức chung về
bảo hiểm và nghiệp vụ bảo hiểm;
b) Nguyên tắc, trách
nhiệm, đạo đức hành nghề môi giới bảo hiểm;
c) Pháp luật Việt Nam
về hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
d) Kỹ năng và thực hành
hành nghề môi giới bảo hiểm.
2. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết nội dung đào tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp,
thu hồi, cấp đổi chứng chỉ môi giới bảo hiểm do cơ sở đào tạo về bảo hiểm được
thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước cấp.
Mục
3. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CUNG CẤP DỊCH VỤ PHỤ TRỢ BẢO HIỂM
Điều
140. Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được cung cấp
dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm,
chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức
tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
2. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm được cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và các tổ chức, cá nhân
khác.
3. Tổ chức khác có tư
cách pháp nhân được cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
4. Cá nhân được cung
cấp dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô.
Điều
141. Nguyên tắc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Trung thực, khách
quan, minh bạch; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
2. Tuân theo tiêu chuẩn
trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm.
3. Tuân theo quy tắc
đạo đức nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành.
4. Hợp đồng cung cấp
dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải được lập thành văn bản.
Điều
142. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Giữ bí mật thông tin
khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng đúng mục đích và không được cung cấp
cho người thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ trường hợp cung
cấp theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp môi
giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm cho hợp
đồng bảo hiểm mà doanh nghiệp đó thực hiện thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm.
3. Tổ chức cung cấp
dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo
hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà tổ chức
đó đồng thời là bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
4. Cá nhân cung cấp
dịch vụ tư vấn phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc cung cấp dịch
vụ tư vấn; tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.
Điều
143.[30] (được
bãi bỏ)
Chương
V
BẢO
HIỂM VI MÔ
Điều
144. Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm vi mô
Sản phẩm bảo hiểm vi mô
có các đặc điểm cơ bản sau đây:
1. Được thiết kế ngắn
gọn, dễ hiểu, có thủ tục thẩm định bảo hiểm đơn giản hoặc không cần thẩm định
bảo hiểm;
2. Chỉ bao gồm các
quyền lợi nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ cơ bản trước các rủi ro về tính mạng, sức
khỏe và tài sản của người tham gia bảo hiểm với thời hạn bảo hiểm không quá 05
năm;
3. Số tiền bảo hiểm trên
từng hợp đồng và phí bảo hiểm hằng năm cho từng người được bảo hiểm của một hợp
đồng không vượt quá mức tối đa theo quy định của Chính phủ.
Điều
145. Xây dựng, thiết kế, phát triển sản phẩm bảo hiểm vi mô
1. Việc triển khai và
tham gia các sản phẩm bảo hiểm vi mô được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều
kiện thông qua một hoặc một số biện pháp quy định tại các điểm
a, b, d và e khoản 1 Điều 88 của Luật này.
2. Tổ chức cung cấp bảo
hiểm vi mô phải đăng ký và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính
phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm vi mô.
3. Chính phủ quy định
chi tiết các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với định hướng
phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; hồ sơ, trình tự,
thủ tục đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí của các sản phẩm bảo hiểm vi mô.
4. Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chi tiết phương pháp, cơ sở tính phí của các sản phẩm bảo hiểm
vi mô.
Điều
146. Tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức cung cấp bảo
hiểm vi mô bao gồm:
a) Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thành lập và hoạt
động tại Việt Nam;
b) Tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
2. Chính phủ quy định
về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép
thành lập và hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động của tổ chức tương hỗ cung
cấp bảo hiểm vi mô.
3. Bộ Tài chính có thẩm
quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt
động, đình chỉ nội dung hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Điều
147. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được quyền chủ
động cung cấp bảo hiểm vi mô phù hợp với nghiệp vụ bảo hiểm được phép triển
khai dưới các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp;
b) Thông qua đại lý bảo
hiểm;
c) Thông qua cá nhân là
nhân viên hoặc thành viên của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, hợp tác xã được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài ủy quyền để tư vấn, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo
hiểm vi mô cho chính các thành viên của tổ chức đó;
d) Hình thức khác theo
quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo
hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải theo dõi,
tách và hạch toán riêng doanh thu, chi phí của hoạt động cung cấp bảo hiểm vi
mô với các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Điều
148. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô chỉ được cung cấp bảo hiểm vi mô cho chính các thành
viên của mình. Thành viên tham gia bảo hiểm vừa là chủ sở hữu của tổ chức tương
hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, vừa là bên mua bảo hiểm.
2. Hợp đồng bảo hiểm
giữa tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và các thành viên tham gia bảo
hiểm tuân thủ các quy định chung về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe và hợp đồng bảo hiểm tài sản quy định tại Chương
II của Luật này.
3. Chính phủ quy định
chi tiết việc cung cấp bảo hiểm vi mô của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi
mô.
Điều
149. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tương hỗ cung
cấp bảo hiểm vi mô
1. Điều kiện về thành
viên sáng lập bao gồm:
a) Cá nhân là công dân
Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và là thành viên của tổ chức dự kiến
thành lập tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
b) Là tổ chức đại diện
thành viên theo quy định của pháp luật.
2. Vốn thành lập được
góp bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính
phủ.
3. Có nhân sự dự kiến
làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện
theo pháp luật, Chuyên gia tính toán bảo hiểm vi mô đáp ứng các điều kiện, tiêu
chuẩn theo quy định của Chính phủ.
4. Có kế hoạch triển
khai bảo hiểm vi mô phù hợp với số lượng thành viên, mạng lưới của tổ chức.
5. Có dự thảo điều lệ
phù hợp với mục tiêu hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và
quy định của Chính phủ.
6. Có hệ thống công
nghệ thông tin phù hợp, bảo đảm hỗ trợ, theo dõi đến từng hợp đồng bảo hiểm vi
mô, theo dõi tài chính, kế toán của hoạt động bảo hiểm vi mô.
Điều
150. Nguyên tắc hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm trước pháp
luật trong phạm vi tài sản hình thành từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô.
2. Tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm quản lý, giám sát hiệu quả hoạt động, tuân
thủ các quy định về chế độ tài chính nhằm bảo đảm an toàn tài chính, bảo đảm
thực hiện các nghĩa vụ, cam kết với các thành viên tham gia bảo hiểm, các tổ
chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức tương hỗ
cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm thực hiện quản trị rủi ro nhằm kiểm soát
một cách hiệu quả các rủi ro phát sinh từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô.
4. Toàn bộ lợi nhuận
thu được từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo
hiểm vi mô được sử dụng để phục vụ lợi ích cho các thành viên tham gia bảo hiểm
thông qua việc giảm trừ phí bảo hiểm, gia tăng quyền lợi bảo hiểm của người
được bảo hiểm, hỗ trợ cho các thành viên và các mục tiêu khác theo điều lệ của
tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
5. Chính phủ quy định
chi tiết về tổ chức hoạt động, quản trị rủi ro, hoạt động nghiệp vụ, công khai
thông tin, chế độ tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính của tổ chức
tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Chương
VI
QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
Điều
151. Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Chính phủ thống nhất
quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Bộ Tài chính chịu
trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành, trình cơ
quan có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược, đề án và chính sách
phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
b) Thực hiện thống kê,
dự báo về thị trường bảo hiểm;
c) Giám sát doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam,
tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thông
qua hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, quản trị
rủi ro và việc chấp hành pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giám sát
hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;
d) Giám sát hoạt động
đại lý bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thông qua doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
đ)[31] Kiểm tra chuyên ngành
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm,
văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;
e) Hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực bảo hiểm;
g) Giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều
152. Cơ chế phối hợp trong quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Bộ Tài chính phối
hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài trong việc quản lý,
giám sát, kiểm tra chuyên ngành[32] đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo
quy định của Chính phủ.
2. Bộ Tài chính thiết
lập cơ chế chia sẻ thông tin quản lý, giám sát với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
các Bộ, ngành khác và tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.
3. Bộ Tài chính phối
hợp với các Bộ, ngành có liên quan để triển khai liên kết, hợp tác giữa hoạt
động kinh doanh bảo hiểm và bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế do Nhà nước thực
hiện.
4. Cơ quan đăng ký kinh
doanh không được chấp thuận trong tên doanh nghiệp có sử dụng cụm từ hoặc thuật
ngữ “bảo hiểm”, “tái bảo hiểm” hoặc các cụm từ, thuật ngữ khác nếu việc sử dụng
cụm từ, thuật ngữ này có thể gây nhầm lẫn đó là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
5. Cơ quan đăng ký kinh
doanh không được chấp thuận trong tên doanh nghiệp có sử dụng cụm từ hoặc thuật
ngữ “môi giới bảo hiểm”, “môi giới tái bảo hiểm” hoặc các cụm từ, thuật ngữ
khác nếu việc sử dụng cụm từ, thuật ngữ này có thể gây nhầm lẫn đó là doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm.
Điều
153. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của Bộ Tài chính trong kiểm tra chuyên
ngành[33], xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Trong quá trình kiểm
tra chuyên ngành[34], xử lý vi phạm hành chính về hoạt
động kinh doanh bảo hiểm, ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp
luật về kiểm tra chuyên ngành[35], pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính và quy định khác của pháp luật có liên quan, Bộ Tài chính còn có các
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Yêu cầu các cổ đông,
thành viên góp vốn, người quản lý, người kiểm soát, nhân viên của doanh nghiệp
bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm giải thích và cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu có
liên quan đến nội dung kiểm tra chuyên ngành[36];
b) Yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thông tin, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến nội dung kiểm
tra chuyên ngành[37] hoạt động kinh doanh bảo hiểm cung cấp thông
tin, tài liệu, dữ liệu đó hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân giải trình, đến làm
việc liên quan đến nội dung kiểm tra chuyên ngành[38];
c) Yêu cầu tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản
của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại
Việt Nam, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức cung cấp
dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, công ty quản lý quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm, văn
phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân có dấu hiệu thực
hiện các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 9 của Luật này
hoặc vi phạm các quy định về tỷ lệ an toàn vốn, hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam,
an toàn tài chính, khả năng thanh toán quy định tại các điều
95, 99, 100, 109 và 110 của Luật này. Trình tự, thủ tục
yêu cầu và cung cấp thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân
hàng.
2. Việc yêu cầu tổ
chức, cá nhân phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu, giải trình, đến
làm việc theo quy định tại Điều này phải được thực hiện bằng văn bản, nêu rõ mục
đích, căn cứ, nội dung, phạm vi yêu cầu.
3. Các thông tin do tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức, cá nhân cung cấp theo
quy định tại Điều này phải được bảo mật theo quy định của pháp luật và chỉ được
sử dụng cho mục đích kiểm tra chuyên ngành[39], xử lý vi phạm hành chính của tổ chức, cá
nhân có liên quan.
Điều
154. Thanh tra, kiểm tra chuyên ngành hoạt động kinh doanh bảo hiểm[40]
1. Cơ quan quản lý nhà
nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành
hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Khi xét thấy cần
thiết, để thực hiện kiểm tra chuyên ngành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cơ
quan quy định tại khoản 1 Điều này có quyền thuê tổ chức kiểm toán độc lập,
công ty tư vấn hoặc chuyên gia đánh giá, có ý kiến về chuyên môn đối với một số
nội dung sau đây có dấu hiệu ảnh hưởng tới sự an toàn, lành mạnh của đối tượng
kiểm tra và phải bảo đảm tính độc lập, khách quan, không xung đột lợi ích:
a) Dự phòng nghiệp vụ;
b) Khả năng thanh toán;
c) Tái bảo hiểm;
d) Đầu tư;
đ) Tách nguồn vốn chủ
sở hữu và nguồn phí bảo hiểm, phân chia thặng dư;
e) Quy tắc, điều khoản,
biểu phí bảo hiểm.
3. Tổ chức kiểm toán
độc lập, công ty tư vấn hoặc chuyên gia được thuê chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của số liệu, tài liệu đánh giá,
ý kiến về các nội dung đưa ra.
4. Thanh tra hoạt động
kinh doanh bảo hiểm thực hiện theo quy định của pháp luật thanh tra; kiểm tra
chuyên ngành hoạt động kinh doanh bảo hiểm thực hiện theo Luật này và quy định
của pháp luật về kiểm tra chuyên ngành.
Chương
VII
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH[41]
Điều
155.[42] (được
bãi bỏ)
Điều
156. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2.[43] Khoản 3 Điều 86, khoản
4 và khoản 5 Điều 94, Điều 95, khoản 3 và khoản 4 Điều 99 của Luật này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 01 năm 2028. Các điều 109, 110, 111, 112, 113, 114 và 116 của Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2031.
3. Luật Kinh doanh bảo
hiểm số 24/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, trừ trường hợp sau đây:
a) Khoản
1 Điều 157 của Luật này;
b)[44] Điều 94 của Luật Kinh
doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31
tháng 12 năm 2027;
c)[45] Các điều 77, 78, 79,
80, 81, 83 và 98 của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 có hiệu
lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2030.
4.[46] Từ ngày 01 tháng 01 năm
2028 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2030, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo dõi, quản lý vốn, tính toán tỷ lệ
an toàn vốn và có phương án lộ trình tăng vốn theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Tài chính.
Điều 157. Điều khoản
chuyển tiếp
1. Các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày
Luật này có hiệu lực và còn thời hạn hợp đồng thì tiếp tục thực hiện theo quy
định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các
bên tham gia hợp đồng bảo hiểm có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng
để phù hợp với Luật này và để áp dụng quy định của Luật này.
2.[47] Chứng chỉ đại lý bảo hiểm được cấp
trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 30 tháng 6
năm 2026. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết việc chuyển đổi chứng chỉ
đại lý bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực sang chứng chỉ đại lý
bảo hiểm theo quy định của Luật này.
3. Chứng chỉ bảo hiểm, chứng chỉ môi giới bảo
hiểm, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực
được tiếp tục sử dụng.
4. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, doanh
nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài dừng
trích nộp Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm.
5. Việc xử lý số dư Quỹ bảo vệ người được bảo
hiểm quy định tại Điều 97 của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14
được thực hiện như sau:
a) Toàn bộ số dư của Quỹ bảo vệ người được bảo
hiểm được Bộ Tài chính quản lý để sử dụng cho mục đích bảo vệ quyền lợi của
người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh
toán hoặc phá sản;
b) Chính phủ quy định chi tiết về quản lý và sử
dụng số dư của Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP
NHẤT
|
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ
(để đăng Công báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ Tư pháp (để đăng trên CSDL Quốc gia về
VBPL);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|