HIỆP ĐỊNH EVFTA

Bản dịch này thuộc bản quyền THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Bạn được khai thác sử dụng cho công việc của riêng mình, nhưng không được sao chép, đăng lại trên bất cứ phương tiện nào.

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ, ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

ĐIỀU KHOẢN MIỄN TRỪ: Không phương hại.

Chương I Các điều khoản chung

Chương II Đầu tư

Chương III Cung cấp dịch vụ xuyên biên giới

Chương IV Sự hiện diện tạm thời của các thể nhân vì mục đích công tác

Chương V Khung quy định áp dụng

Chương VI Thương mại điện tử

Chương VII Các ngoại lệ

CHƯƠNG I

CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều (...)

Mục tiêu, phạm vi áp dụng và giải thích từ ngữ

1. Nhằm tái khẳng định các cam kết của mình trong Hiệp định WTO và cam kết tạo ra môi trường phát triển thương mại và đầu tư giữa các Bên, các Bên đề ra các kế hoạch nhằm thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ, đầu tư và hợp tác trong lĩnh vực thương mại điện tử.

2. Theo các điều khoản trong Tiêu đề này, mỗi Bên bảo lưu quyền công bố, duy trì và áp dụng thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm theo đuổi các mục tiêu chính sách hợp pháp như chính sách bảo vệ xã hội, môi trường và sức khỏe cộng đồng, chính sách bảo vệ tính toàn vẹn và ổn định của hệ thống tài chính, chính sách bảo đảm an ninh và an toàn và chính sách phát huy và bảo vệ sự đa dạng văn hóa.

3. Quy định trong Tiêu đề này sẽ không áp dụng đối với các biện pháp có ảnh hưởng đến các thể nhân muốn tiếp cận thị trường lao động của một Bên cũng như không áp dụng đối với các biện pháp liên quan đến quyền công dân, vấn đề cư trú hoặc việc làm mang tính chất dài hạn.

Không điều khoản nào tại Tiêu đề này có thể ngăn cản một Bên áp dụng các biện pháp nhằm kiểm soát việc nhập cảnh hay cư trú tạm thời của các thể nhân trên lãnh thổ của mình, bao gồm các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình cũng như nhằm bảo đảm trật tự đối với việc xuất nhập cảnh của các thể nhân qua biên giới của mình, miễn sao các biện pháp đó không vô hiệu hóa hay tổn hại đến các lợi ích1 của bất kỳ Bên nào theo đúng với từng cam kết trong Chương này và các Phụ lục kèm theo.

4. Trong Tiêu đề này,

 (a) ‘thể nhân của Liên minh châu Âu’ là cá nhân mang quốc tịch của một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu theo quy đinh pháp luật của quốc gia đó và ‘thể nhân của Việt Nam’ là cá nhân mang quốc tịch Việt Nam theo quy định pháp luật của Việt Nam;

 (b) “pháp nhân” là bất kỳ chủ thể pháp lý được thành lập hoặc tổ chức theo quy định pháp luật hiện hành nhằm mục đích lợi nhuận hay bất kỳ mục đích nào khác và thuộc sở hữu của tư nhân hay chính phủ, trong đó bao gồm các doanh nghiệp, quỹ tín thác, công ty hợp danh, liên doanh, tự doanh hoặc hiệp hội;

 (c) ‘pháp nhân của Liên minh châu Âu’ hoặc ‘pháp nhân của Việt Nam’ là pháp nhân được thành lập theo quy định pháp luật của quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu hoặc của Việt Nam tương ứng và tham gia vào các hoạt động kinh doanh2 tương ứng trong lãnh thổ của Liên minh châu Âu và của Việt Nam;

 (d) Trường hợp khoản nêu trên không có quy định nào khác, các công ty vận tải biển được thành lập bên ngoài lãnh thổ Liên minh châu Âu hoặc Việt Nam và được điều hành của các cá nhân mang quốc tịch của một nước thành viên Liên minh châu Âu hoặc Việt Nam tương ứng phải được quy định trong các điều khoản của Tiêu mục này, ngoại trừ Mục 2 (Bảo hộ đầu tư) và Mục 3 (Giải quyết tranh chấp trong đầu tư) nếu tàu thủy của họ được đăng ký tại quốc gia thành viên đó hoặc tạiViệt Nam và mang quốc tịch của một nước thành viên hoặc của Việt Nam theo đúng quy định pháp luật liên quan tương ứng;

 (…) Pháp nhân:

 (i) “thuộc sở hữu” của các thể nhân hoặc pháp nhân của một trong các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu và của Việt Nam nếu các thể nhân của quốc gia thành viên đó hoặc một quốc gia thành viên nào đó hoặc của Việt Nam tương ứng là chủ sở hữu thụ hưởng của nhiều hơn 50 phần trăm số vốn góp vào pháp nhân đó;

 (ii) “bị kiểm soát” bởi các thể nhân hoặc pháp nhân của một trong các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu và của Việt Nam nếu các thể nhân hoặc pháp nhân đó có đủ thẩm quyền bổ nhiệm phần lớn các giám đốc hoặc bằng cách nào khác để điều hành các hoạt động của pháp nhân này một cách hợp pháp.

(e) ‘doanh nghiệp’ là một pháp nhân, chi nhánh3 hoặc văn phòng đại diện được thành lập mới theo quy định tại điều này;

(f) ‘công ty con’ của một pháp nhân của một Bên là một pháp nhân được kiểm soát bởi một pháp nhân khác của Bên đó theo đúng với các quy định pháp luật của Bên đó4;

(g) ‘thành lập mới doanh nghiệp’5 là việc hình thành, bao gồm việc thâu tóm một pháp nhân khác và/hoặc việc tạo lập một chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam hoặc tại Liên minh châu Âu tương ứng;

 (h) ‘các hoạt động kinh tế’ bao gồm các hoạt động mang tính chất công nghiệp, thương mại và nghề nghiệp cùng với các hoạt động mang tính chất thủ công, nhưng không bao gồm các hoạt động nhằm thực hiện quyền quản lý nhà nước;

 (i) ‘khai thác’6 dự án đầu tư bao gồm việc tổ chức quản lý, duy trì, khai thác, tận dụng, bán hoặc chuyển nhượng vốn/ dự án đầu tư khác;

 (j) ‘các dịch vụ’ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ các dịch vụ được cung cấp trong quá trình thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước;

 (k) ‘Dịch vụ được cung cấp và các hoạt động được thực hiện thông qua việc thực hiện quyền quản lý nhà nước’ là các dịch vụ được cung cấp hoặc các hoạt động được thực hiện không vì mục đích thương mại lẫn cạnh tranh với một hoặc một số nhà điều hành kinh tế;

 (l) cung cấp dịch vụ xuyên biên giới là việc cung cấp một loại hình dịch vụ:

 (i) từ lãnh thổ của Bên này sang lãnh thổ của Bên kia

 (ii) trong lãnh thổ của Bên này cho khách hàng sử dụng dịch vụ trên lãnh thổ của Bên kia;

 (m) “nhà cung cấp dịch vụ” của một Bên là bất kỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào của một Bên thực hiện việc cung cấp một loại hình dịch vụ nào đó;

 (n) “biện pháp” là bất kỳ biện pháp nào của một Bên được thể hiện dưới hình thức là các luật, quy định, quy tắc, quy trình, quyết định, biện pháp hành chính hoặc bất kỳ hình thức nào khác;

 (o) ‘các biện pháp do một Bên ban hành hoặc duy trì’ là các biện pháp được áp dụng bởi:

 (i) chính quyền hoặc cơ quan quản lý cấp trung ương, khu vực hoặc địa phương; và

 (ii) các cơ quan phi chính phủ trong quá trình thực hiện thẩm quyền do chính quyền hoặc cơ quan quản lý cấp trung ương, khu vực hoặc địa phương phân cấp;

 (p) ‘vốn/dự án đầu tư’7 là bất kỳ loại tài sản nào do các nhà đầu tư của một Bên đang hoạt động trong lãnh thổ8 của Bên kia trực tiếp hay gián tiếp sở hữu và quản lý mà mang đặc điểm của một hoạt động đầu tư, bao gồm những đặc điểm như có cam kết về vốn hoặc nguồn lực khác, kỳ vọng về mức doanh thu hay lợi nhuận, việc chịu trách nhiệm với các rủi ro và được thực hiện trong thời hạn nhất định. Các hình thức đầu tư có thể bao gồm:

 (i) tài sản hữu hình hoặc vô hình, tài sản di động hoặc bất động cũng như các quyền khác có liên quan đến các tài sản như tài sản cho thuê, thế chấp, cầm cố và bảo lãnh;

 (ii) doanh nghiệp, cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác vào một doanh nghiệp, kể cả các quyền phát sinh tương ứng;

 (iii) trái phiếu, tín phiếu, các khoản vay và các công cụ nợ khác, kể cả các quyền phát sinh tương ứng;

 (iv) chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất, nhượng quyền, chia sẻ doanh thu và các hợp đồng tương tự khác;

 (v) quyền yêu cầu trả tiền hoặc tài sản khác hoặc quyền yêu cầu phải thực hiện hợp đồng có giá trị kinh tế;

Nhằm giải thích rõ hơn, “quyền yêu cầu trả tiền” không bao gồm các quyền yêu cầu thanh toán tiền chỉ phát sinh từ các hợp đồng bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ thực hiện bởi một thể nhân hoặc pháp nhân trên lãnh thổ của một Bên cho một thể nhân hoặc pháp nhân trên lãnh thổ của Bên kia, hoặc phát sinh từ hoạt động cấp vốn của hợp đồng này nhưng không phải là khoản vay theo quy định tại điểm (iii), hoặc bất kỳ lệnh, quyết định hoặc phán quyết của tòa án liên quan.

 (vii) quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Chương Y của Hiệp định này [Sở hữu trí tuệ] và danh tiếng; doanh thu được giữ lại để đầu tư phải được xem như là các khoản đầu tư và bất kỳ việc thay đổi hình thức đầu tư hoặc tái đầu tư tài sản không làm ảnh hưởng đến tính chất như một khoản đầu tư của các tài sản này.

 (q) ‘nhà đầu tư’ là một thể nhân hoặc pháp nhân của một Bên đang cố gắng thực hiện9 , đang thực hiện hoặc đã thực hiện đầu tư trong lãnh thổ của Bên kia.

 (r) ‘doanh thu’ là toàn bộ số tiền thu được hoặc có nguồn gốc từ hoạt động đầu tư hoặc tái đầu tư, bao gồm lợi nhuận, tiền lãi cổ phần, lãi vốn, tiền bản quyền, tiền lãi vay và các khoản thanh toán liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, các khoản thanh toán bằng hiện vật và toàn bộ các khoản thu nhập hợp pháp khác.

 (s) Ngoài các quy định trong Chương II, Mục 2 về bảo hộ đầu tư, vấn đề mua sắm chính phủ được quy định tại Chương về mua sắm công và không có quy định nào trong Đề mục nào được hiểu là nhằm giới hạn các nghĩa vụ của các Bên quy định tại Chương X về mua sắm công hoặc nhằm áp đặt thêm nghĩa vụ đối với vấn đề mua sắm chính phủ. Nhằm giải thích rõ hơn, các biện pháp liên quan đến vấn đề mua sắm chính phủ tuân thủ theo quy định tại Chương mua sắm công sẽ không bị xem như là vi phạm các điều khoản nêu tại Mục II về Bảo hộ Đầu tư.

 (t) các biện pháp trợ giá được thực hiện theo quy định tại Chương cạnh tranh và trợ cấp nhà nước. Các điều khoản quy định tại Đề mục này, trừ các quy định tại Điều (Các tiêu chí thực hiện) và Chương II, Mục 2 về Bảo hộ Đầu tư, sẽ không được áp dụng đối với các khoản trợ cấp của các Bên10.

Nhằm giải thích rõ hơn, quyết định của một Bên không ban hành, gia hạn hoặc duy trì một biện pháp trợ cấp hoặc hỗ trợ nào đó

 (i) trong trường hợp không có bất kỳ cam kết cụ thể của Bên đó đối với nhà đầu tư theo quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận ban hành, gia hạn hoặc duy trì một biện pháp trợ cấp hoặc hỗ trợ nào đó; hoặc

 (ii) theo đúng với các điều khoản thỏa thuận về ban hành, gia hạn hoặc duy trì biện pháp trợ cấp hoặc hỗ trợ đó, không cấu thành hành vi vi phạm các quy định của Điều (Các tiêu chí thực hiện) hoặc bất kỳ quy định của Chương II, Mục 2 về Bảo hộ Đầu tư.

CHƯƠNG II

ĐẦU TƯ

MỤC 1

TỰ DO HÓA ĐẦU TƯ

Điều 1

Phạm vi áp dụng và giải thích thuật ngữ

1. Chương này áp dụng đối với các biện pháp do một Bên áp dụng và duy trì có ảnh hưởng đến việc thành lập một doanh nghiệp hoặc hoạt động đầu tư của nhà đầu tư của Bên kia trên lãnh thổ của Bên đề cập phía trước.

2. Các điều khoản quy định trong Mục này không áp dụng đối với:

 (a) các dịch vụ âm thanh – hình ảnh;

 (b) khai thác, sản xuất và chế biến11 nguyên liệu hạt nhân;

 (c) sản xuất hoặc thương mại vũ khí, đạn dược và khí tài quân sự;

 (d) vận tải hàng hải nội địa12

 (e) dịch vụ vận tải hàng không nội địa và quốc tế, bất kể là có hay không có lộ trình, hoặc các dịch vụ có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các thương quyền trong vận tải hàng không không phải các dịch vụ sau đây:

 (i) dịch vụ sửa chữa và bảo trì tàu bay mà trong thời gian đó tàu bay không được phép hoạt động;

 ‘dịch vụ sửa chữa và bảo trì tàu bay mà trong thời gian thực hiện dịch vụ đó tàu bay không được phép hoạt động’ là các hoạt động được thực hiện trên tàu bay hoặc một bộ phận nào đó của tàu bay trong thời gian tàu bay đó không được khai thác để cung cấp dịch vụ và không bao gồm dịch vụ bảo dưỡng ngoại trường.

 (ii) hoạt động bán và tiếp thị các dịch vụ vận tải hàng không;

 ‘chào bán và tiếp thị các dịch vụ vận tải hàng không’ là các cơ hội cho các đơn vị vận tải hàng không liên quan được tự do bán và tiếp thị các dịch vụ vận tải hàng không của mình, bao gồm toàn bộ các hình thức tiếp thị như nghiên cứu thị trường, quảng cáo và phân phối. Các hoạt động này không bao gồm việc định giá cho các dịch vụ vận tải hàng không hoặc ban hành các điều kiện áp dụng.

 (iii) các dịch vụ hệ thống đặt giữ chỗ trên máy tính;

 ‘dịch vụ hệ thống đặt giữ chỗ trên máy tính’ là các dịch vụ được cung cấp qua hệ thống điện toán chứa các thông tin về lịch bay, vé trống, giá vé và các quy định liên quan đến vé của các tổ chức vận tải hàng không mà thông qua đó việc đặt vé và giữ chỗ trên chuyến bay có thể được thực hiện.

 (iv) các dịch vụ khai thác mặt đất;

 ‘Dịch vụ khai thác mặt đất’ là các dịch vụ được cung cấp tại sân bay gồm đại diện, quản lý và giám sát các hãng hàng không; dịch vụ hành khách; dịch vụ hành lý; các dịch vụ sân đỗ; dịch vụ phục vụ ăn uống; bốc dỡ hàng hóa và bưu phẩm hàng không; nạp nhiên liệu cho tàu bay; bảo dưỡng và vệ sinh tàu bay; vận tải mặt đất; dịch vụ khai thác bay, quản lý đội bay và lập kế hoạch bay.

Dịch vụ khai thác mặt đất không bao gồm dịch vụ an ninh, bảo trì, sửa chữa tàu bay; quản lý hoặc khai thác các cơ sở hạ tầng cảng hàng không thiết yếu được quản lý một cách tập trung như các thiết bị dọn tuyết, phá băng, các hệ thống phân phối nhiên liệu, các hệ thống xếp dỡ hành lý và hệ thống vận tải cố định bên trong sân bay.

 (v) các dịch vụ khai thác cảng hàng không;

 ‘dịch vụ khai thác cảng hàng không’ là việc cung cấp các dịch vụ khai thác nhà ga, sân bay và các cở sở hạ tầng khác có thu phí hoặc ký kết hợp đồng. Các dịch vụ khai thác cảng hàng không không bao gồm các dịch vụ điều hướng hàng không.

Điều 2

Tiếp cận thị trường

1. Đối với việc tiếp cận thị trường theo hình thức thành lập và duy trì hoạt động, mỗi Bên được phép áp dụng cơ chế đối xử không ít ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử quy định tại các điều khoản, hạn mức và tiêu chí đã được thỏa thuận cụ thể trong Biểu các cam kết cụ thể nêu tại các Phụ lục [….] (các danh sách cam kết về tự do hóa đầu tư).

2. Trong các lĩnh vực có cam kết tiếp cận thị trường, các biện pháp mà một Bên sẽ không duy trì hoặc áp dụng đối với một cấp đơn vị hành chính của vùng hoặc của toàn lãnh thổ, trong trường hợp không được quy định cụ thể trong biểu các cam kết cụ thể nêu tại các Phụ lục [….] (danh mục các cam kết về tự do hóa đầu tư), được xác định như sau:

 (a) các hạn mức về số lượng doanh nghiệp có thể thực hiện một hoạt động kinh tế cụ thể nào đó, bất kể là dưới hình thức hạn ngạch bằng số, các chính sách quản lý tập trung, sở hữu độc quyền hoặc các tiêu chí đối với kiểm tra nhu cầu kinh tế;

 (b) các hạn mức về tổng giá trị các giao dịch hoặc tài sản dưới hình thức các hạn ngạch bằng số hoặc tiêu chí kiểm tra nhu cầu kinh tế;

 (c) hạn mức về tổng số lượng các hoạt động hoặc tổng sản lượng đầu ra được thể hiện bằng đơn vị đo lường số lượng quy định dưới hình thức các hạn ngạch hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế;

 (d) hạn mức về việc góp vốn nước ngoài liên quan đến giới hạn tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối đa của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổng giá trị các dự án đầu tư nước ngoài riêng lẻ hoặc tổng thể;

 (e) các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu đối với các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc các liên doanh mà qua đó nhà đầu tư của Bên kia có thể thực hiện một hoạt động kinh tế.

 (f) hạn mức về tổng số lượng các thể nhân có thể được tạo việc làm trong một lĩnh vực cụ thể hoặc có thể được nhà đầu tư tuyển dụng làm việc và các thể nhân cần thiết cho hoặc liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hoạt động kinh tế dưới hình thức các hạn ngạch bằng số hoặc tiêu chí kiểm tra nhu cầu kinh tế.

Điều 3

Đối xử quốc gia

1. Trong các lĩnh vực được quy định trong biểu các cam kết cụ thể tại các Phụ lục [….] (danh mục các cam kết tự do hóa đầu tư của cả hai Bên) và căn cứ theo các điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp quy định tai đây, mỗi Bên phải đối xử với các nhà đầu tư của Bên kia và các dự án đầu tư của họ đối với việc thành lập hoạt động đầu tư trong lãnh thổ của mình không ít ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử đối với các nhà đầu tư của mình và các hoạt động đầu tư của họ trong các hoàn cảnh tương tự.

2. Bên tham gia Hiệp định phải đối xử các nhà đầu tư của Bên quy định tại Điều 13.1. (i) [(Mục 2 – Bảo hộ đầu tư, Điều khoản về phạm vi áp dụng] và các dự án đầu tư của họ quy định tại Điều 13.1 (ii) [(Mục 2 – Bảo hộ đầu tư, Điều khoản về phạm vi áp dụng] đối với việc khai thác các dự án đầu tư của họ không ít ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử dành cho các nhà đầu tư của mình và các dự án đầu tư của họ trong hoàn cảnh tương tự.

3. Ngoài các quy định tại khoản 2 và căn cứ theo quy định tại Phụ lục X (Phụ lục về cơ chế đối xử quốc gia) áp dụng đối với Việt Nam, một Bên có thể triển khai áp dụng hoặc duy trì bất kỳ biện pháp nào đối với việc vận hành, quản lý, tổ chức thực hiện, duy trì, khai thác, tận dụng, bán hoặc chuyển nhượng vốn/dự án đầu tư quy định tại Điều 13.1. (ii) [Mục 2 – Bảo hộ đầu tư, Điều khoản về phạm vi áp dụng] mà không trái với các cam kết nêu tại các Phụ lục [….] (danh mục các cam kết về tự do hóa đầu tư của cả hai Bên) trong trường hợp biện pháp đó là:

 (a) biện pháp được ban hành vào đúng hoặc trước thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành;

 (b) biện pháp được quy định tại điểm (a) đang được tiếp tục thực hiện, thay thế hoặc sửa đổi sau thời điểm Hiệp định này có hiệu lực thi hành với điều kiện là biện pháp đó không kém phù hợp hơn với quy định tại khoản 2 sau khi đã được phép tiếp tục triển khai thực hiện, thay thế hoặc sửa đổi so với biện pháp tồn tại trước quá trình tiếp tục triển khai thực hiện, thay thế hoặc sửa đổi đó; hoặc

 (c) biện pháp không thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định tại điểm (a) hoặc (b) với điều kiện là biện pháp đó không được áp dụng đối với hoặc theo một cách mà có thể gây ra thất thoát hoặc tổn hại13 đến các dự án đầu tư được thực hiện trong pham vi lãnh thổ của Bên đó trước khi biện pháp này bắt đầu có hiệu lực thi hành.

Điều 4

Đối xử tối huệ quốc

1. Mỗi Bên phải đối xử với các nhà đầu tư của Bên kia và các dự án đầu tư của họ đối với việc thành lập doanh nghiệp trong lãnh thổ của mình không kém thuận lợi hơn so với cơ chế đối xử dành cho các nhà đầu tư và các dự án đầu tư của họ theo hiệp định thương mại tự do mà Bên được đề cập đầu tiên đang tiến hành đàm phán vào ngày [17/07/2015] trong những hoàn cảnh tương tự.

2. Mỗi Bên phải đối xử với các nhà đầu tư của Bên kia và các dự án đầu tư của họ đối với việc khai thác hoạt động trong lãnh thổ của mình không kém thuận lợi hơn so với cơ chế đối xử dành cho các nhà đầu tư và các dự án đầu tư của bất kỳ một Bên không tham gia Hiệp định trong những hoàn cảnh tương tự.

3. Khoản 1 và 2 sẽ không có hiệu lực áp dụng đối với các lĩnh vực sau đây:

- Các dịch vụ thông tin, ngoại trừ các dịch vụ bưu chính (theo phân loại sản phẩm trung tâm (CPC)…) và các dịch vụ viễn thông (CPC…);

- Các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí;

- Khai thác và nuôi trồng thủy sản;

- Khai thác lâm sản và săn bắt động vật;

- Khai khoáng, bao gồm khai thác dầu khí.

4. Các quy định trong khoản 2 không được xem như là buộc một Bên phải dành cho các nhà đầu tư của Bên kia hoặc các dự án đầu tư của họ những ưu đãi từ các cơ chế đối xử được áp dụng theo các hiệp định song phương, khu vực và/hoặc quốc tế mà đã có hiệu lực thi hành trước thời điểm hiệu lực của Hiệp định này.

5. Các quy định trong các khoản 1 và 2 không được xem như là buộc một Bên phải dành cho các nhà đầu tư của Bên kia hoặc các dự án đầu tư của họ những ưu đãi từ:

 (a) bất kỳ cơ chế đối xử nào được áp dụng như một phần quy trình hội nhập kinh tế, bao gồm các cam kết hủy bỏ hầu hết các rào cản đầu tư giữa các bên tham gia vào quy trình này cùng với việc ước lượng khối lượng quy chế pháp lý của các bên đối với nhiều vấn đề khác nhau thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này14.

 (b) bất kỳ cơ chế đối xử nào xuất phát từ bất kỳ hiệp định quốc tế về tránh đánh thuế hai lần hoặc hiệp định hay thỏa thuận quốc tế khác có liên quan hoàn toàn hoặc liên quan chủ yếu đến thuế.

 (c) bất kỳ cơ chế đối xử nào xuất phát từ các biện pháp quy định về việc công nhận bằng cấp, chứng chỉ hoặc các biện pháp bảo đảm an toàn theo đúng quy định tại Điều VII của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ hoặc Phụ lục về Dịch vụ tài chính.

6. Nhằm giải thích rõ hơn, ‘cơ chế đối xử’ quy định tại các khoản 1 và 2 không bao gồm các trình tự thủ tục hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế tương tự như những trình tự thủ tục hoặc cơ chế nêu tại Mục 3 theo các hiệp định song thương, khu vực và/hoặc quốc tế. Các nghĩa vụ trọng yếu nêu trong các hiệp định này không tự hình thành cơ chế đối xử và vì thế không thể được xét đến khi đánh giá một trường hợp vi phạm quy định của Điều này. Các cơ chế đối xử của một Bên phù hợp với các nghĩa vụ trọng yếu đó phải được xem như là cơ chế đối xử. Quy định của Điều này phải được giải thích phù hợp với Phụ lục XX (Tối huệ quốc)

Điều 5

Biểu cam kết cụ thể

Các lĩnh vực thuộc diện cam kết được tự do hóa của mỗi Bên theo quy định tại Mục này và các điều khoản, hạn mức, điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp quy định tại các Điều 3 và 4 được xác định trong các biểu cam kết tại các Phụ lục [danh mục các cam kết về tự do hóa đầu tư].

Điều 6

Các tiêu chí thực hiện

1. Trong các lĩnh vực được quy định trong biểu các cam kết cụ thể tại các Phụ lục [….] (danh mục các cam kết tự do hóa đầu tư của cả hai Bên) và căn cứ theo các điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp quy định trong Hiệp định này, không Bên nào có quyền áp đặt hoặc áp dụng bất kỳ các tiêu chí mà theo các quy định của luật pháp hoặc các quyết định hành chính của mỗi quốc gia có tính chất bắt buộc Bên khác phải có các nghĩa vụ liên quan đến việc thành lập hoặc thực hiện một dự án đầu tư của nhà đầu tư của Bên tham gia Hiệp định hoặc của Bên không tham gia Hiệp định trong phạm vi lãnh thổ của mình như sau:

 (a) phải xuất khẩu được một mức hoặc tỷ lệ hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định;

 (b) phải đạt được mức hoặc tỷ lệ hàm lượng nội địa nhất định;

 (c) phải mua, sử dụng hoặc ưu tiên hàng hóa được sản xuất hoặc các dịch vụ được cung cấp trong phạm vi lãnh thổ của mình, hoặc phải mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ các thể nhân hoặc doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ của mình;

 (d) phải tìm cách cân đối giữa khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu với khối lượng hoặc giá trị xuất khẩu hoặc với lượng dòng ngoại tệ vào liên quan đến dự án đầu tư đó;

 (e) phải hạn chế doanh số bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp bởi dự án đầu tư đó trong phạm vi lãnh thổ của mình bằng cách tìm biện pháp để cân đối doanh số này với khối lượng hoặc giá trị xuất khẩu hoặc với thu nhập bằng ngoại tệ.

 (f) phải chuyển giao công nghệ, quy trình sản xuất hoặc kiến thức độc quyền cho thể nhân hoặc các doanh nghiệp khác trong phạm vi lãnh thổ của mình; hoặc

 (g) chỉ được cung ứng hàng hóa, dịch vụ của dự án đầu tư từ lãnh thổ của Bên tham gia Hiệp định cho một thị trường khu vực hoặc thế giới cụ thể.

2. Trong các lĩnh vực được quy định trong biểu các cam kết cụ thể tại các Phụ lục (danh mục các cam kết tự do hóa đầu tư của cả hai Bên) và căn cứ theo các điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp quy định trong Hiệp định này, không Bên nào có quyền đòi hỏi Bên khác phải đáp ứng các yêu cầu nêu dưới đây để nhận được hoặc tiếp tục nhận được chế độ ưu đãi liên quan đến việc thành lập hoặc thực hiện một dự án đầu tư của nhà đầu tư của Bên tham gia Hiệp định hoặc của Bên không tham gia Hiệp định trong phạm vi lãnh thổ của mình:

 (a) phải đạt được một mức hoặc tỷ lệ hàm lượng nội địa nhất định;

 (b) phải mua, sử dụng hoặc ưu tiên hàng hóa sản xuất trong lãnh thổ của mình, hoặc phải mua hàng hóa từ các nhà sản xuất trong lãnh thổ của mình;

 (c) bằng cách nào đó phải cân đối khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu với khối lượng hoặc giá trị xuất khẩu hoặc với lượng dòng ngoại tệ vào liên quan đến dự án đầu tư đó;

 (d) phải hạn chế doanh số bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp bởi dự án đầu tư đó trong phạm vi lãnh thổ của mình bằng mọi cách để cân đối doanh số này với khối lượng hoặc giá trị xuất khẩu hoặc với thu nhập bằng ngoại tệ.

3. Các quy định trong khoản 1 không có hiệu lực ngăn không cho một Bên tham gia Hiệp định có thể đặt ra điều kiện để nhận hoặc tiếp tục nhận chế độ ưu đãi liên quan đến bất kỳ dự án đầu tư thực hiện trên lãnh thổ của mình là phải tuân thủ theo theo yêu cầu như phải có cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ, đào tạo hoặc tuyển dụng công nhân, xây dựng hoặc mở rộng cơ sở vật chất, hoặc thực hiện công tác nghiên cứu và phát triển trong lãnh thổ của mình.

Các điều khoản quy định trong khoản 1(f) không được hiểu như là biện pháp ngăn cản việc áp dụng các yêu cầu hoặc cam kết thực hiện do tòa án, hội đồng tài phán hành chính hoặc cơ quan quản lý cạnh tranh ban hành nhằm khắc phục hành vi vi phạm các quy định pháp luật về cạnh tranh.

3. Các quy định của điểm (a), (b), (c) khoản 1, điểm (a) và (b) khoản 2 không áp dụng đối với các điều kiện về chứng nhận đạt tiêu chuẩn đối với hàng hóa và dịch vụ liên quan đến việc tham gia vào các chương trình xúc tiến xuất khẩu và viện trợ nước ngoài.

4. Chính xác hơn, các điểm 2(a) và 2(b) không áp dụng đối với các điều kiện do Bên nhập khẩu đặt ra liên quan đến tính chất của hàng hóa mà cần thiết để có thể được hưởng các ưu đãi thuế quan hoặc ưu đãi hạn ngạch nhập khẩu.

5. Chính xác hơn, các quy định trong khoản 1 không áp dụng đối với bất kỳ điều kiện nào khác với điều kiện được đặt ra tại khoản này.

6. Các điều khoản quy định trong điều này không áp dụng đối với các biện pháp do một Bên tham gia Hiệp định ban hành hoặc duy trì theo quy định tại Điều III.8 (b) của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)

MỤC 2

BẢO HỘ ĐẦU TƯ

Điều 13

Phạm vi áp dụng

1. Các điều khoản quy định trong Mục này áp dụng đối với:

 (i) các dự án đầu tư của các nhà đầu tư của Bên này đang triển khai trên lãnh thổ của Bên kia đến ngày bắt đầu hiệu lực của Hiệp định này, hoặc các dự án đầu tư được triển khai thực hiện hoặc được mua lại kể từ sau ngày nói trên, hoặc các dự án đầu tư được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành15.

 (ii) các nhà đầu tư của Bên này mà đã tiến hành đầu tư theo hình thức quy định tại (i) trong phạm vi lãnh thổ của Bên kia đối với hoạt động khai thác dự án đầu tư đó.

Điều 13bis

Biện pháp/ mục tiêu đầu tư và điều hành

1. Các Bên tái khẳng định quyền điều hành trong phạm vi lãnh thổ của mình để đạt được các mục tiêu chính sách pháp lý như bảo vệ sức khỏe cộng đồng, an toàn, môi trường hoặc các chuẩn mực đạo đức xã hội, bảo vệ xã hội và người tiêu dùng, hoặc tăng cường và bảo vệ tính đa dạng văn hóa

2. Chính xác hơn, các điều khoản quy định trong mục này không được xem như là một cam kết của một Bên tham gia Hiệp định, qua đó Bên này cam kết sẽ không thay đổi khung pháp lý và quy định áp dụng, kể cả những cam kết mà có thể gây tác động tiêu cực đến hoạt động khai thác các dự án đầu tư quy định trong Hiệp định hoặc những kỳ vọng về lợi nhuận của nhà đầu tư.

3. Chính xác hơn, không quy định nào trong Mục này có thể được xem như là để ngăn một Bên tham gia Hiệp định không được đình chỉ biện pháp trợ cấp, hỗ trợ16 và/hoặc yêu cầu bồi hoàn, hoặc là để buộc Bên đó phải bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư do việc hủy bỏ này trong trường hợp biện pháp này đã được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền của Bên đó theo quy định cụ thể tại Phụ lục x.

Điều 14

Cơ chế đối xử đối với đầu tư

1. Mỗi Bên phải dành cho các dự án đầu tư và nhà đầu tư của Bên kia đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của mình cơ chế đối xử công bằng và bình đẳng cùng các biện pháp bảo vệ, bảo đảm an toàn một cách toàn diện theo quy định từ khoản 2 đến khoản 7.

2. Bên tham gia Hiệp định sẽ vi phạm các nghĩa vụ trong nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng theo quy định trong khoản 1 nếu có một biện pháp hoặc nhiều biện pháp được xem như là

a. Hành vi từ chối công lý trong tố tụng hình sự, dân sự hoặc hành chính; hoặc

b. Hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc bảo đảm trình tự thủ tục pháp lý trong quá trình tố tụng tư pháp và hành chính;

c. Hành vi đối xử không công bằng một cách lộ liễu; hoặc

d. Hành vi phân biệt đối xử đối với một nhóm đối tượng nào đó mà ngụy biện bằng các lý do hoàn toàn sai trái như giới tính, sắc tộc hoặc tín ngưỡng tôn giáo; hoặc

e. hành vi đối xử có tính chất xúc phạm như cưỡng ép, lạm dụng quyền lực hoặc các hành vi bội tín tương tự; hoặc

f. Hành vi vi phạm các nội dung của nghĩa vụ của nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng khác do các Bên đặt ra theo đúng quy định tại khoản 3 của Điều này.

3. Cơ chế đối xử không được quy định cụ thể tại khoản 2 cũng có thể được xem như là hành vi vi phạm nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng nếu các Bên đã thỏa thuận về việc này phù hợp với các quy trình thủ tục quy định tại Điều X.6 (Các trường hợp sửa đổi, bổ sung).

4. Chính xác hơn, ‘biện pháp bảo vệ và bảo đảm an toàn một cách toàn diện” là các nghĩa vụ mà một Bên phải thực hiện trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn cho nhà đầu tư và các dự án đầu tư theo quy định.

5. Nếu Bên này đã ký kết văn bản thỏa thuận với các nhà đầu tư của Bên kia hoặc các dự án đầu tư quy định tại Điều 13 [Phạm vi áp dụng của mục II Bảo hộ đầu tư] mà đáp ứng tất cả các điều kiện dưới đây, Bên đó sẽ không bị xem như là vi phạm thỏa thuận này trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Các điều kiện bao gồm:

 (i) văn bản thỏa thuận đã ký và bắt đầu có hiệu lực sau ngày Hiệp định này có hiệu lực17;

 (ii) nhà đầu tư căn cứ vào văn bản thỏa thuận đó để quyết định tiến hành thực hiện hoặc duy trì hoạt động đầu tư quy định trong điều khoản tại Điều

13.1 (i) [Phạm vi áp dụng của mục II Bảo hộ đầu tư] không phải điều khoản quy định tại chính văn bản thỏa thuận này và hành vi vi phạm này khiến cho hoạt động đầu tư đó phải chịu mức bồi thường thiệt hại thực tế;

 (iii) văn bản thỏa thuận18 hình thành nên cơ chế trao đổi quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động đầu tư nói trên và có tính chất ràng buộc các Bên; và

 (iv) văn bản thỏa thuận không có điều khoản giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia ký kết thỏa thuận đó thông qua quá trình tài phán quốc tế.

6. Khi áp dụng các điều khoản đối xử công bằng và bình đẳng nêu trên, hội đồng tài phán sẽ xét xem liệu Bên tham gia Hiệp định đã đề xuất nhà đầu tư thành lập dự án đầu tư quy định tại Điều 13.1 (i) [Phạm vi áp dụng của Mục II Bảo hộ đầu tư], qua đó tạo nên sự kỳ vọng chính đáng nơi nhà đầu tư đó và trên cơ sở đề xuất đó mà nhà đầu tư đã quyết định là thực hiện hoặc duy trì dự án đầu tư của mình nhưng sau đó thì Bên này đã không thực hiện đúng theo cam kết của mình.

7. Việc vi phạm bất kỳ điều khoản nào khác của Hiệp định này hoặc của một hiệp định quốc tế riêng biệt nào đó sẽ không chứng minh được rằng hành vi vi phạm đó cũng chính là hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

Điều 15

Bồi thường thiệt hại

1. Các nhà đầu tư của Bên tham gia Hiệp định mà việc đầu tư của họ phải chịu tổn thất do nguyên nhân chiến tranh, xung đột vũ trang, biến cố, tình trạng khẩn cấp cấp quốc gia, bạo loạn, đảo chính và tình hình bất ổn diễn ra trong phạm vi lãnh thổ của Bên kia sẽ được Bên sở tại dành cho chế độ đối xử liên quan đến chính sách bồi thường tổn thất, thiệt hại hoặc hình thức giải quyết khác không kém ưu đãi hơn so với chế độ đối xử của Bên sở tại đó dành cho các nhà đầu tư của mình hoặc nhà đầu tư của bất kỳ quốc gia thứ ba nào khác.

2. Đối với trường hợp không được quy định tại khoản 1 của Điều này, các nhà đầu tư phải chịu tổn thất trong bất kỳ hoàn cảnh nào nêu tại khoản đó trong phạm vi lãnh thổ của Bên kia mà các tổn thất này có nguyên nhân từ:

 (a) việc các lực lượng vũ trang hoặc các cơ quan có thẩm quyền của Bên sở tại trưng dụng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư của họ, hoặc

 (b) việc các lực lượng vũ trang hoặc các cơ quan có thẩm quyền của Bên sở tại phá dỡ toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư của họ mà không phải do tính cấp thiết của hoàn cảnh;

phải được hưởng chính sách bồi thường thiệt hại đúng lúc, đầy đủ và hiệu quả từ Bên kia.

Điều 16

Thu hồi tài sản

1. Không Bên nào được quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quốc hữu hóa, thu hồi hoặc áp dụng các biện pháp có tính chất tương tự như việc quốc hữu hóa hoặc thu hồi (sau đây gọi là ‘thu hồi’) các dự án của nhà đầu tư của Bên khác trừ trường hợp:

 (a) phục vụ cho mục đích công ích;

 (b) đảm bảo đúng trình tự thủ tục của pháp luật;

 (c) căn cứ trên cơ sở không phân biệt đối xử; và

 (d) phục vụ mục đích thanh toán tiền bồi thường thiệt hại đúng lúc, đầy đủ và hiệu quả.

Chính xác hơn, quy định của khoản này được giải thích cụ thể tại Phụ lục X về thu hồi tài sản.

2. Số tiền bồi thường thiệt hại phải tương đương với giá trị thị trường thực tế của khoản vốn đầu tư tại thời điểm trước khi việc thu hồi tài sản hoặc kế hoạch thu hồi tài sản được thông báo rộng rãi ra công chúng, tùy theo trường hợp nào đến trước, cộng với tiền lãi tính theo lãi suất thương mại hợp lý được áp dụng từ ngày tiến hành thu hồi tài sản cho đến ngày thanh toán tiền bồi thường. Khoản bồi thường này phải có khả năng được thực hiện một cách hiệu quả và tự do chuyển nhượng theo quy định tại Điều 17 (Chuyển nhượng tài sản) trên cơ sở không trì hoãn.

3. Ngoài trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2, nếu Việt Nam là Bên thực hiện thu hồi, bất kỳ biện pháp thu hồi trực tiếp nào liên quan đến đất đai phải được áp dụng đề i) phục vụ cho mục đích phù hợp với các quy định pháp luật trong nước hiện hành19 và ii) thanh toán tiền bồi thường thiệt hại theo giá trị thị trường trong quá trình thông qua các quy định pháp luật trong nước hiện hành của mình.

4. Việc cấp các giấy phép bắt buộc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ không được xem như là một phần của quá trình thu hồi tài sản để phục vụ cho các mục đích quy định tại khoản 1) của Điều này nếu như việc cấp giấy phép đó phù hợp với Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ tại Phụ lục 1C của các Hiệp định WTO (Hiệp định TRIPS).

5. Nhà đầu tư bị ảnh hưởng có quyền được Bên thực hiện thu hồi tài sản kịp thời xác minh các yêu cầu, khiếu kiện và việc định giá dự án đầu tư của mình theo quy định của luật pháp của Bên thực hiện thu hồi tài sản thông qua cơ quan xét xử hoặc cơ quan độc lập khác của Bên đó.

Điều 17

Chuyển nhượng tài sản

Mỗi Bên phải cho phép thực hiện các giao dịch chuyển nhượng tài sản liên quan đến đầu tư trên cơ sở sử dụng đơn vị tiền tệ được lưu thông tự do, không hạn chế hoặc trì hoãn và theo tỷ giá hối đoái trên thị trường được xác định vào thời điểm thực hiện chuyển nhượng. Các giao dịch chuyển nhượng tài sản bao gồm:

 (a) các khoản vốn góp như các nguồn vốn chính và bổ sung nhằm duy trì, phát triển hoặc tăng thêm vốn đầu tư;

 (b) lợi nhuận, tiền lãi cổ phần, doanh thu từ vốn và các khoản thu nhập khác, các khoản thu nhập từ việc bán toàn bộ hoặc một phần dự án đầu hoặc việc thanh lý một phần hay toàn bộ dự án đầu tư;

 (c) tiền lãi vay, tiền bản quyền, phí quản lý, phí dịch hỗ trợ kỹ thuật và các loại phí khác;

 (d) các khoản thanh toán theo hợp đồng mà nhà đầu tư hoặc các dự án đầu tư đã ký kết, kể cả các khoản thanh toán theo hợp đồng vay vốn;

 (e) các khoản thu nhập và thù lao khác của nhân viên làm việc ở nước ngoài liên quan đến dự án đầu tư.

 (f) các khoản thanh toán được thực hiện theo điều X [‘Thu hồi tài sản’] và Y [‘Bồi thường thiệt hại’].

 (g) các khoản tiền bồi thường thiệt hại theo quyết định của hội đồng tài phán được quy định tại Chương X Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với Chính phủ.

Điều 18

Nguyên tắc thế quyền

Nếu Bên này hoặc đại diện của Bên này thực hiện thanh toán theo cam kết bồi thường thiệt hại, cam kết bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo hiểm mà mình đã ký kết đối với dự án đầu tư do một trong số các nhà đầu tư trên lãnh thổ của Bên kia thực hiện, Bên kia đó phải cho phép thực hiện nguyên tắc thế quyền hoặc chuyển quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền lợi hợp pháp đối với dự án đầu tư đó. Bên tham gia Hiệp định hoặc đại diện của mình có quyền thực thi quyền hoặc lợi ích hợp pháp nhận thế quyền hoặc chuyển nhượng tương tự như đối với quyền hoặc lợi ích hợp pháp ban đầu của nhà đầu tư. Các quyền lợi này chỉ có thể được thực thi bởi Bên đó hoặc qua đại diện của mình hoặc bởi nhà đầu tư trong phạm vi quyền hạn mà Bên đó hoặc đại diện của mình được giao.

Điều 19

Chấm dứt hiệu lực

Trong trường hợp Hiệp định hiện hành chấm dứt hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều X [16-Thời hạn áp dụng] tại Chương [các điều khoản cuối cùng]], các điều khoản quy định của Mục này và của Chương II Mục 3 (Giải quyết tranh chấp trong đầu tư) sẽ được gia hạn thêm 15 năm kể từ ngày chấm dứt hiệu lực đối với các hoạt động đầu tư được thực hiện trước ngày chấm dứt hiệu lực của Hiệp định hiện hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Điều 20

Mối liên hệ với các Hiệp định khác

1. Vào thời điểm Hiệp định này, kể cả Chương này, bắt đầu có hiệu lực thi hành, các hiệp định giữa các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu và Việt Nam được liệt kê cụ thể tại Phụ lục (Y) (Các Bên chuẩn bị danh mục các Hiệp ước Đầu tư song phương và các điều khoản duy trì hiệu lực), bao gồm quyền và nghĩa vụ liên quan quy định trong các hiệp định này, sẽ không còn hiệu lực và được thay thế bởi Hiệp định này20.

2. Trường hợp áp dụng tạm thời theo đúng quy định tại khoản 4 của Điều X.15 (Hiệu lực thi hành) của Hiệp định này, bao gồm Chương này, việc áp dụng các điều khoản của các hiệp định liệt kê tại Phụ lục (Y) cùng với các quyền và nghĩa vụ phát sinh liên quan sẽ bị đình chỉ kể từ ngày thực hiện áp dụng tạm thời. Trường hợp việc áp dụng tạm thời Hiệp định này chấm dứt nhưng Hiệp định này vẫn chưa có hiệu lực thi hành, việc đình chỉ đó sẽ kết thúc và các hiệp định liệt kê tại Phụ lục Y sẽ bắt đầu có hiệu lực thực hiện.

3. Ngoài quy định tại các khoản 1 và 2, quá trình khiếu kiện có thể được tiến hành theo các điều khoản của một trong số các hiệp định được liệt kê tại Phụ lục (Y) tuân thủ theo các nguyên tắc và trình tự thủ tục quy định trong hiệp định đó với điều kiện là:

 (i) việc khiếu kiện đó phát sinh từ hành vi có dấu hiệu vi phạm các điều khoản của hiệp định đó mà xảy ra trước thời điểm đình chỉ thực hiện hiệp định này theo quy định tại khoản 2, hoặc xảy ra trước ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thực hiện trong trường hợp hiệp định đó không bị đình chỉ hiệu lực theo quy định tại khoản 2, và

 (ii) việc khiếu kiện phải thực hiện trong thời hạn không quá ba (3) năm kể từ ngày hiệp định đó bị đình chỉ hiệu lực theo đúng quy định tại khoản 2, hoặc kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành cho đến ngày nộp hồ sơ khiếu kiện trong trường hợp hiệp định đó không bị đình chỉ hiệu lực theo quy định tại khoản 2.

4. Ngoài các quy định tại khoản 1 và 2, nếu việc áp dụng tạm thời Hiệp định này, kể cả Chương này, chấm dứt và Hiệp định này, kể cả Chương này, không bắt đầu có hiệu lực thi hành thì quá trình khiếu kiện có thể được tiến hành theo các điều khoản của Hiệp định này và tuân thủ theo các nguyên tắc và trình tự thủ tục quy định trong Hiệp định này với điều kiện là:

 (i) việc khiếu kiện phát sinh từ hành vi có dấu hiệu vi phạm các điều khoản của Hiệp định này được tiến hành trong thời gian áp dụng tạm thời Hiệp định này, và

 (ii) việc khiếu kiện phải thực hiện trong thời hạn không quá ba (3) năm kể từ ngày kết thúc việc áp dụng tạm thời cho đến ngày nộp hồ sơ khiếu kiện.

5. Nhằm giải thích rõ hơn, quá trình khiếu kiện có thể sẽ không được phép tiến hành theo các điều khoản của Hiệp định này hoặc tuân thủ theo các nguyên tắc và trình tự thủ tục quy định trong Hiệp định này (i) nếu việc khiếu kiện phát sinh từ hành vi có dấu hiệu vi phạm các điều khoản của Hiệp định này được tiến hành trước ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành, hoặc (ii) trong trường hợp tạm áp dụng Hiệp định này, nếu quá trình khiếu kiện phát sinh từ hành vi có dấu hiệu vi phạm các điều khoản của Hiệp định này xảy ra trước thời điểm tạm áp dụng Hiệp định này.

6. Trong quy định tại Điều này, cụm từ “hiệu lực thi hành của Hiệp định này” quy định tại khoản 4 (d) Điều X.15 (Hiệu lực thi hành) sẽ không có ý nghĩa áp dụng.

CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục[]

Đối xử quốc gia

Ngoài các quy định tại khoản 2 và 3 của Điều ….(Đối xử quốc gia) đối với lĩnh vực, ngành nghề hoặc hoạt động liệt kê dưới đây, Việt Nam có quyền ban hành hoặc duy trì áp dụng bất kỳ biện pháp nào liên quan đến vận hành, quản lý, tổ chức thực hiện, duy trì, khai thác, tận dụng, bán hoặc chuyển nhượng dự án đầu tư quy định tại Điều 13.1. (ii) [Mục 2 – Bảo hộ đầu tư, Điều khoản về phạm vi áp dụng] mà không phù hợp với quy định của khoản 2 với điều kiện là biện pháp đó không trái với các cam kết quy định tại các Phụ lục [….] (danh mục các cam kết tự do hóa đầu tư của cả hai Bên tham gia Hiệp định). Dù thực hiện bất kỳ biện pháp nào được ban hành sau ngày Hiệp định này có hiệu lực và được quy định trong Phụ lục này, Việt Nam không được phép yêu cầu nhà đầu tư thuộc Liên minh châu Âu bán hoặc chuyển nhượng dự án đầu tư đã hình thành vào thời điểm biện pháp đó bắt đầu có hiệu lực vì lý do liên quan đến quốc tịch của nhà đầu tư đó.

1. Các tờ báo và cơ quan thu thập tin tức, in ấn, xuất bản, cơ quan phát thanh và truyền hình

2. Sản xuất và phân phối văn hóa phẩm, bao gồm các tư liệu hình ảnh

3. Sản xuất, phân phối và trình chiếu các chương trình truyền hình và các tác phẩm điện ảnh

4. Điều tra và anh ninh

5. Đo đạc và vẽ bản đồ

6. Dịch vụ giáo dục tiểu học và trung học

7. Khảo sát, thăm dò và khai thác dầu khí, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên

8. Thủy điện và điện hạt nhân; truyền tải và/hoặc phân phối điện

9. Dịch vụ vận tải đường biển nội địa

10. Khai thác và nuôi trồng thủy sản

11. Khai thác lâm sản và săn bắt động vật

12. Kinh doanh xổ số, cá cược và đánh bạc

13. Dịch vụ hành chính tư pháp, bao gồm như không giới hạn các dịch vụ liên quan đến quốc tịch

14. Thi hành án dân sự

15. Sản xuất vật tư hoặc trang thiết bị quân sự

16. Vận hành, khai thác và quản lý cảng sông, cảng biển và cảng hàng không

17. Hoạt động trợ cấp, hỗ trợ

Ghi chú về quy trình rà soát theo quy định: Danh mục sẽ được rà soát với sự hiện diện của các chuyên viên đàm phán đầu tư nhằm tránh xảy ra tình trạng trùng lắp, chồng chéo với các trường hợp ngoại lệ trong văn bản Hiệp định.

Phụ lục []

Đối xử tối huệ quốc

Điều … (MFN) phải được trình bày phù hợp với quy định tại Điều … (Phạm vi áp dụng và giải thích từ ngữ) và nguyên tắc cùng loại.

Phụ lục []

Phụ lục về các cơ quan có thẩm quyển quy định tại khoản 4 điều 13bis (Biện pháp/ mục tiêu Đầu tư và Điều hành)

Đối với Liên minh châu Âu, các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thực hiện các biện pháp nêu tại khoản 3 điều 13bis là Ủy ban châu Âu, tòa án hoặc hội đồng tài phán của một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu khi áp dụng quy định pháp luật của Liên minh châu Âu đối với chính sách hỗ trợ nhà nước. Đối với Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thực hiện các biện pháp nêu tại khoản 3 điều 13 bis là Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ hoặc tòa án có thẩm quyền.

Phụ lục []

Thỏa thuận về việc áp dụng khoản 5 điều x [Cơ chế đối xử đối với đầu tư]

1. Ngoài điều kiện quy định tại khoản 5 (i) điều 14 [Cơ chế đối xử đối với đầu tư], bất kỳ nhà đầu tư nào quy định tại khoản 3 (a) (i) mà phát sinh tranh chấp thuộc phạm vi quy định tại Mục 3 với Bên đã ký văn bản thỏa thuận với nhà đầu tư đó và việc thỏa thuận đó đã có hiệu lực thực hiện trước thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực áp dụng có thể yêu cầu được hưởng các quyền lợi nêu tại khoản 5 Điều 14 [Cơ chế đối xử đối với đầu tư] theo đúng với các quy trình và điều kiện quy định tại phụ lục này.

2. Văn bản thỏa thuận được ký kết và đã có hiệu lực thực hiện trước ngày có hiệu lực của Hiệp định này và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản này có thể được thông báo trong thời hạn 1 năm kể từ ngày bắt đầu có hiệu lực của Hiệp định này:

a. Các văn bản thỏa thuận này phải đáp ứng các điều kiện quy định từ điểm ii) đến iv) khoản 5 Điều 14 [Cơ chế đối xử đối với đầu tư]; và

b. Các văn bản thỏa thuận này có sự tham gia ký kết của:

 (i) Việt Nam và các nhà đầu tư của các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu theo khoản 8 hoặc các dự án đầu tư của họ theo quy định tại Điều 13. [Phạm vi áp dụng của Mục II Bảo hộ đầu tư]; hoặc

 (ii) một trong các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu theo khoản 8 và các nhà đầu tư hoặc các dự án đầu tư của Việt Nam theo quy định tại Điều 13. [Phạm vi áp dụng của Mục II Bảo hộ đầu tư].

3. Trình tự thủ tục thông báo các văn bản thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 phải được thực hiện như sau:

a. Nội dung thông báo phải bao gồm:

 (i) tên, quốc tịch và địa chỉ nhà đầu tư là một bên tham gia ký kết văn bản thỏa thuận quy định tại khoản 1 và là đối tượng được thông báo, tính chất đầu tư của nhà đầu tư đó cùng với địa điểm nơi văn bản thỏa thuận được ký kết thông qua dự án đầu tư của nhà đầu tư đó, tên, địa chỉ và địa điểm thành lập dự án đầu tư đó;

 (ii) bản sao văn bản thỏa thuận, bao gồm toàn bộ các tài liệu liên quan.

b. Các văn bản thỏa thuận phải được thông báo bằng văn bản đến cơ quan chức năng quy định như sau:

 (i) đối với Việt Nam, cơ quan đó chính là Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

 (ii) đối với Liên minh châu Âu, cơ quan đó chính là Ủy ban châu Âu.

4. Bản thông báo quy định tại khoản 1 không có vai trò thiết lập nên các quyền cơ bản đối với nhà đầu tư là bên tham gia ký kết văn bản thỏa thuận đã thông báo hoặc dự án đầu tư của bên đó.

5. Các cơ quan chức năng sẽ lập danh sách các văn bản thỏa thuận mà đã được thông báo phù hợp với trình tự thủ tục ở trên.

6. Nếu một vụ tranh chấp nào đó phát sinh liên quan đến một trong số các văn bản thỏa thuận đã thông báo ở trên, cơ quan có thẩm quyền liên quan phải xác minh để đảm bảo văn bản thỏa thuận đó đáp ứng các điều kiện được quy định từ điểm ii) đến iv) khoản 5 Điều 14 [Cơ chế đối xử đối với đầu tư] và các thủ tục quy định tại Phụ lục này.

7. Căn cứ vào việc xác minh đó, trường hợp không thỏa mãn các tiêu chí đưa ra tại khoản 6 của Phụ lục này, yêu cầu áp dụng các quy định tại khoản 5 Điều 14 đối với văn bản thỏa thuận này sẽ không được chấp nhận.

8. Các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu trong thỏa thuận này chính là NL (Hà Lan), RO (Romania), UK (Vương quốc Anh), AT (Áo), DE (Đức), ES (Tây Ban Nha)

Phụ lục [ ] Cơ chế thu hồi tài sản

Các Bên khẳng định cùng nhau nhận thức về các vấn đề như sau:

1. Chế độ thu hồi tài sản theo quy định tại Điều 16.1 có thể được thực hiện theo phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp:

a) phương thức thu hồi tài sản trực tiếp được áp dụng đối với trường hợp một dự án đầu tư được quốc hữu hóa hoặc thu hồi trực tiếp thông qua hoạt động chuyển nhượng chính thức đối với quyền sở hữu tài sản hoặc tịch thu toàn bộ tài sản.

b) phương thức thu hồi tài sản gián tiếp được áp dụng đối với trường hợp một hoặc nhiều biện pháp của Bên tham gia Hiệp định có tính chất tương đương với phương thức thu hồi trực tiếp mà qua đó Bên này chỉ chủ yếu ngăn không cho nhà đầu tư sở hữu các thuộc tính cơ bản của tài sản trong dự án đầu tư của mình, bao gồm quyền sử dụng và chuyển nhượng dự án đầu tư mà không thông qua hoạt động chuyển nhượng chính thức đối với quyền sở hữu tài sản hoặc tịch thu toàn bộ tài sản.

2. Việc xác định liệu một hoặc nhiều biện pháp của một Bên tham gia Hiệp định trong từng tình huống thực tiễn cụ thể có được xem như là một biện pháp thu hồi gián tiếp hay không còn tùy thuộc vào quá trình thanh tra từng sự vụ hoặc thanh tra dựa trên số liệu thực tế mà có xét đến các yếu tố sau đây:

a) Ảnh hưởng kinh tế của một hoặc nhiều biện pháp đó, bất chấp thực tế là một hoặc nhiều biện pháp đó mà một Bên tham gia Hiệp định thực hiện có tác động tiêu cực lên giá trị kinh tế của một dự án đầu tư, nếu xét trên phương diện độc lập, không thể giúp xác định được phương thức thu hồi gián tiếp đó đã được thực hiện;

b) Thời hạn hiệu lực hoặc thời gian ảnh hưởng của một hoặc nhiều biện pháp đó mà một Bên tham gia Hiệp định đã thực hiện;

c) Nội dung của một hoặc nhiều biện pháp đó, cụ thể như mục tiêu, bối cảnh và mục đích thực hiện.

3. Chính xác hơn, ngoại trừ trong một vài tình huống nếu mức độ ảnh hưởng của một hoặc nhiều biện pháp đó là quá nghiêm trọng đến mức dễ dàng nhận thấy so với mục đích thực hiện của những biện pháp đó, các biện pháp hoặc nhóm các biện pháp không phân biệt đối xử do Bên đó thực hiện nhằm bảo vệ các mục tiêu chính sách công hợp pháp không được xem như là biện pháp thu hồi gián tiếp.

Phụ lục [] Nợ công

1. Không được phép nộp hồ sơ khiếu nại cáo buộc việc thực hiện tái cơ cấu nợ của một Bên tham gia Hiệp định này là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Mục 2 [Bảo hộ đầu tư], hoặc trong trường hợp đã nộp thì phải thực hiện theo trình tự pháp lý quy định tại Mục 3 [Giải quyết tranh chấp trong đầu tư và Hệ thống tòa án đầu tư] nếu quá trình tái cơ cấu đó là quá trình được thực hiện theo thỏa thuận vào thời điểm nộp hồ sơ, hoặc nếu quá trình đó trở thành quá trình tái cơ cấu theo thỏa thuận sau thời điểm nộp hồ sơ đó.

2. Ngoài quy định tại [Điều 6 Nộp hồ sơ khiếu kiện, Mục quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư và hệ thống tòa án đầu tư] và căn cứ theo quy định tại khoản 1 của Phụ lục này, nhà đầu tư không được quyền nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Mục 3 [giải quyết tranh chấp đầu tư và hệ thống tòa án đầu tư] mà cáo buộc việc thực hiện tái cơ cấu nợ của một Bên tham gia Hiệp định này là hành vi vi phạm các quy định của các Điều X [Đối xử quốc gia] hoặc X [Tối huệ quốc] tại Mục 1 [Tự do hóa đầu tư]21 hoặc theo nghĩa vụ quy định tại Mục 2 [Bảo hộ đầu tư] trong thời hạn 270 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu tiến hành đàm phán của bên nguyên đơn theo quy định tại [Điều 4 Đàm phán giải quyết tranh chấp].

3. Trong Phụ lục này:

- ‘tái cơ cấu theo thỏa thuận’ là quá trình tái cơ cấu hoặc gia hạn nợ của một Bên mà bị tác động bởi (i) quá trình sửa đổi, bổ sung các công cụ nợ theo quy định trong các điều khoản thỏa thuận của các công cụ này cùng với các quy định của luật được áp dụng, hoặc (ii) hoạt động giao dịch nợ hoặc quy trình thực hiện khác tương tự mà trong đó những chủ sở hữu của tối thiểu 66% tổng số nợ gốc chưa thanh toán thuộc đối tượng tái cơ cấu, ngoại trừ các khoản nợ mà Bên đó hoặc các thực thể thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của Bên đó đang nắm giữ, đã tán thành với hoạt động giao dịch nợ hoặc các quy trình thực hiện đó.

- “luật được áp dụng” của một công cụ nợ có nghĩa là khung quy định pháp lý của một quốc gia áp dụng cho công cụ nợ đó.

4. Để giải thích rõ hơn, “nợ của một Bên” trong trường hợp của Liên minh châu Âu sẽ bao gồm nợ của chính phủ của quốc gia thành viên hoặc của chính quyền cấp trung ương, cấp vùng hoặc cấp địa phương của quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu.

Phụ lục []

Các thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu và Việt Nam

Mục 3

 Giải quyết tranh chấp trong đầu tư

TIỂU MỤC 1

PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

Điều 1

Phạm vi áp dụng

1. Mục này áp dụng đối với trường hợp tranh chấp giữa nguyên đơn của Bên này và Bên kia liên quan đến bất kỳ biện pháp nào22 có dấu hiệu vi phạm các quy định tại:

 (a) Mục 2 (Bảo hộ đầu tư),

 (b) Khoản 2 Điều 3 (nguyên tắc đối xử quốc gia đối với việc thực hiện các dự án đầu tư) và khoản 2 Điều 4 (nguyên tắc đối xử tối huệ quốc đối với việc thực hiện các dự án đầu tư) trong Mục 1 đối với việc thực hiện các dự án đầu tư quy định tại Điều 13(1)(i) (Phạm vi áp dụng) trong Mục 2 (Bảo hộ đầu tư) mà có thể gây ra tổn thất hoặc thiệt hại cho bên nguyên đơn, hoặc cho công ty tại bản địa nếu hồ sơ khiếu kiện do đại diện của một công ty tại bản địa thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của bên nguyên đơn nộp.

2. Nhằm giải thích rõ hơn, bên nguyên đơn không được quyền nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Mục này nếu hoạt động đầu tư của họ đã được thực hiện bằng các hành vi kê khai gian lận, bao che, tham nhũng hoặc hành vi cấu thành tội lạm dụng quyền lực tố tụng.

3. Hội đồng tài phán có quyền không đưa ra quyết định đối với các vụ kiện ngoài phạm vi áp dụng của Điều này.

Điều 2

Giải thích thuật ngữ

Các định nghĩa nêu tại Chương 1, Điều X (Các mục tiêu, phạm vi và giải thích từ ngữ) cũng được áp dụng cho Mục này.

 “vụ kiện” nếu như không có quy định cụ thể nào khác thì có nghĩa là vụ kiện được xét xử bởi hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm theo quy định tại Mục này;

 “các bên tranh chấp” bao gồm bên nguyên đơn và bên bị đơn;

 “nguyên đơn của một Bên" là:

 (a) “nhà đầu tư” của Bên tham gia Hiệp định được xác định theo quy định tại Điều 13 (ii) Mục 2 (Phạm vị áp dụng) đại diện cho chính mình; hoặc

 (b) “nhà đầu tư” của Bên tham gia Hiệp định đại diện cho công ty tại bản địa thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của Bên đó. Nhằm giải thích rõ hơn, hồ sơ khiếu kiện được nộp theo quy định tại (b) phải được xem như có liên quan đến trường hợp tranh chấp giữa quốc gia ký kết hợp đồng này với công dân của quốc gia ký kết hợp đồng khác theo quy định tại Điều 25 (1) của Công ước ICSID.

 “Bên không tranh chấp” chính là Việt Nam nếu bên bị đơn là Liên minh châu Âu hoặc quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, và là Liên minh châu Âu nếu Việt Nam là bên bị đơn.

 “bên bị đơn” là Việt Nam hoặc, trong trường hợp của Liên minh châu Âu, là Liên minh châu Âu hoặc quốc gia thành viên liên quan như đã thông báo tại Điều 6.

“công ty tại bản địa” là một pháp nhân được thành lập trong phạm vi lãnh thổ của một Bên tham gia Hiệp định và thuộc quyền sở hữu và quản lý của nhà đầu tư của Bên khác.

 “vốn cấp bởi Bên thứ ba” là vốn do thể nhân hoặc pháp nhân không tham gia vào tranh chấp nhưng ký kết thỏa thuận với bên tranh chấp để cấp một phần hoặc toàn bộ chi phí xét xử để thanh toán tiền công tùy theo kết quả giải quyết tranh chấp đó hoặc dưới hình thức trợ cấp hoặc tài trợ.

 “Nguyên tắc minh bạch theo UNCITRAL” là các nguyên tắc của UNCITRAL về vấn đề minh bạch trong tố tụng trọng tài giữa nhà đầu tư và chính phủ dựa trên Hiệp ước.

TIỂU MỤC 2

CÁC CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THAY THẾ VÀ ĐÀM PHÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Điều 3

Giải quyết tranh chấp trên tinh thần thiện chí

Bất kỳ tranh chấp nào nếu có thể nên được giải quyết trên tinh thần hợp tác, thiện chí giữa các bên thông qua đàm phán hoặc hòa giải và trong trường hợp cần thiết thì nên tiến hành trước khi gửi văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán theo quy định tại Điều 4. Cơ chế giải quyết tranh chấp này có thể được các bên thống nhất áp dụng bất kỳ thời điểm nào, kể cả sau khi đã bắt đầu tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Mục này.

Điều 4

Đàm phán giải quyết tranh chấp

1. Nếu không thể giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 3 (Giải quyết tranh chấp trên tinh thần thiện chí), bên nguyên đơn của Bên này thực hiện tố cáo hành vi vi phạm các quy định tại Điều 1 (1) (Phạm vi áp dụng) phải gửi cho Bên kia văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp. Văn bản yêu cầu phải bao gồm các thông tin sau:

 (a) tên và địa chỉ bên nguyên đơn và đối với trường hợp thay mặt công ty tại bản địa gửi thì phải nêu rõ tên, địa chỉ và trụ sở chính của công ty đó;

 (b) các quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng) được cho là đã bị vi phạm;

(c) cơ sở pháp lý và thực tế của hồ sơ khiếu kiện, kể cả các biện pháp được cho là đã vi phạm các điều khoản quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng).

 (d) kiến nghị các biện pháp khắc phục và khoản bồi thường thiệt hại ước tính và

 (e) bằng chứng chứng minh bên nguyên đơn là nhà đầu tư của Bên kia và có sở hữu hoặc quản lý dự án đầu tư, bao gồm công ty tại bản địa (nếu có), mà bên nguyên đơn đó gửi văn bản yêu cầu tiến hành đàm phán tranh chấp liên quan đến dự án đó.

Nếu nhiều hơn một bên nguyên đơn hoặc đại diện của nhiều hơn một công ty tại bản địa gửi văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp, thông tin nêu tại (a) và (e) sẽ không được gửi cho mỗi bên nguyên đơn hoặc công ty tại bản địa tùy theo từng trường hợp cụ thể.

2. Văn bản yêu cầu tiến hành đàm phán giải quyết tranh chấp phải được gửi trong thời hạn:

 (a) 3 năm kể từ sau ngày bên nguyên đơn hoặc công ty tại bản địa (nếu có) phải là đối tượng đầu tiên hoặc đáng lý phải là đối tượng đầu tiên biết được về biện pháp được cho là trái với các quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng) cũng như biết được rằng bên nguyên đơn (đối với các trường hợp khiếu kiện do chính nhà đầu tư tiến hành) hoặc công ty tại bản địa (đối với các trường hợp khiếu kiện do nhà đầu tư đại diện cho một công ty tại bản địa tiến hành) đã chịu tổn thất hoặc thiệt hại bởi hành vi làm trái đó gây ra; hoặc

 (b) 2 năm kể từ sau ngày bên nguyên đơn hoặc công ty tại bản địa (nếu có) thôi không tiếp tục theo đuổi vụ kiện hoặc không yêu cầu tiến hành thủ tục xét xử trước hội đồng tài phán hoặc tòa án theo quy định của pháp luật tại quốc gia sở tại. Ngoài ra, trong bất kỳ trường hợp nào thì cũng phải gửi yêu cầu đó trong thời hạn không quá thời hạn 7 năm kể từ sau thời điểm bên nguyên đơn phải là đối tượng đầu tiên hoặc đáng lý phải là đối tượng đầu tiên biết được về biện pháp được cho là trái với các quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng) cũng như biết được rằng bên nguyên đơn (đối với các trường hợp khiếu kiện do chính nhà đầu tư tiến hành) hoặc công ty tại bản địa (đối với các trường hợp khiếu kiện do nhà đầu tư đại diện cho một công ty tại bản địa tiến hành) đã chịu tổn thất hoặc thiệt hại bởi hành vi làm trái đó gây ra.23

3. Nếu các bên tranh chấp không có thỏa thuận khác, các buổi đàm phán giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra tại các địa điểm như sau:

a. Hà Nội, đối với trường hợp các cuộc đàm phán có liên quan đến các biện pháp từ phía Việt Nam; hoặc

b. Brussels, đối với trường hợp các cuộc đàm phán có liên quan đến các biện pháp từ phía Liên minh châu Âu; hoặc

c. thủ đô của một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu có liên quan, đối với trường hợp văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán chỉ có liên quan đến các biện pháp từ phía quốc gia thành viên đó.

Các cuộc đàm phán cũng có thể được tiến hành bằng hình thức họp trực tuyến hoặc hình thức họp khác, cụ thể là đối với trường hợp có liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ.

4. Nếu các bên tranh chấp không thống nhất được về việc gia hạn thêm thời gian thì các cuộc đàm phán sẽ được thực hiện trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi thông báo yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán đó.

5. Trong trường hợp bên nguyên đơn không nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 7 trong vòng 18 tháng kể từ ngày gửi thông báo yêu cầu tiến hành đàm phán, bên nguyên đơn sẽ được xem như là đã rút khỏi vụ kiện theo quy định tại Mục này và không có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Mục này. Thời hạn tiến hành đàm phán nêu trên có thể được gia hạn trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên liên quan.

6. Các thời hạn quy định tại các khoản 2 và 5 không khiến các hồ sơ khiếu kiện bị từ chối nếu bên nguyên đơn có thể chứng minh rằng việc không yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp hoặc không nộp hồ sơ khiếu kiện có nguyên nhân bởi bên nguyên đơn đó không còn năng lực thực hiện do gánh chịu hậu quả của những hành vi cố ý từ Bên liên quan nhưng bên nguyên đơn phải đảm bảo là sẽ thực hiện theo những thủ tục nói trên ngay khi điều kiện thực hiện cho phép.

7. Trong trường hợp văn bản yêu cầu tiến hành đàm phán giải quyết tranh chấp có liên quan đến hành vi có dấu hiệu vi phạm thỏa thuận của Liên minh châu Âu hoặc một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu thì văn bản đó sẽ được gửi đến cho Liên minh châu Âu. Nếu đã xác định được các biện pháp do một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu ban hành áp dụng, văn bản yêu cầu đó cũng sẽ được chuyển cho quốc gia thành viên có liên quan.

Điều 5

Hòa giải

1. Tại bất kỳ thời điểm nào, các bên tranh chấp đều có thể thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế hòa giải.

2. Việc áp dụng cơ chế hòa giải trong giải quyết tranh chấp là quá trình mang tính chất tự nguyện và không gây phương hại đến tư cách pháp lý của bất kỳ một Bên tranh chấp nào.

3. Việc áp dụng cơ chế hòa giải trong giải quyết tranh chấp có thể bị điều chỉnh bởi các nguyên tắc quy định tại Phụ lục I. Bất kỳ thời hạn nào được đề cập đến trong Phụ lục I có thể được bổ sung, thay đổi bởi các thỏa thuận giữa các bên tranh chấp.

4. Bên trung gian hòa giải sẽ do các bên tranh chấp chỉ định. Việc chỉ định này có thể bao gồm cả việc chỉ định bên trung gian hòa giải là một trong các thành viên của hội đồng tài phán mà được chỉ định theo quy định tại Điều 12(2) hoặc các thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm được chỉ định theo quy định tại Điều 13(3) (Hội đồng tài phán phúc thẩm). Các bên tranh chấp cũng có quyền yêu cầu Chủ tịch hội đồng tài phán chỉ định một người đóng vai trò trung gian hòa giải từ các thành viên của tòa mà người này không mang quốc tịch của Liên minh châu Âu lẫn Việt Nam.

5. Khi các Bên tranh chấp đã thống nhất áp dụng cơ chế hòa giải trong giải quyết tranh chấp, các khoảng thời hạn đặt ra tại Điều 4(2), 4(5), 27(6) và 28(5) sẽ được phép gián đoạn giữa ngày các bên thống nhất áp dung cơ chế đó và ngày mà một trong hai bên tham gia tranh chấp quyết định chấm dứt quá trình hòa giải bằng cách gửi văn bản thông báo đến bên trung gian hòa giải và bên tranh chấp kia. Căn cứ theo đề xuất của cả hai bên tranh chấp, trong trường hợp đã thành lập một đơn vị trực thuộc hội đồng tài phán theo quy định tại Điều 12 (Hội đồng tài phán), đơn vị đó phải thực hiện tạm đình chỉ thủ tục xét xử cho đến ngày mà một trong hai bên tham gia tranh chấp có quyết định chấm dứt quá trình trung gian hòa giải đó bằng việc gửi văn bản thông báo đến bên trung gian hòa giải và bên tranh chấp kia.

TIỂU MỤC 3

 NỘP HỒ SƠ KHIẾU KIỆN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT

Điều 6

Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện

1. Trường hợp tranh chấp không được giải quyết trong vòng 90 ngày kể từ ngày gửi yêu cầu tiến hành đàm phán giải quyết tranh chấp, bên nguyên đơn được phép gửi văn bản thông báo dự định nêu rõ dự định sẽ nộp hồ sơ khiếu kiện để giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều này. Thông báo có các nội dung sau:

 (a) tên và địa chỉ bên nguyên đơn và đối với trường hợp thay mặt công ty tại bản địa gửi thì phải nêu rõ tên, địa chỉ và trụ sở chính của công ty đó;

 (b) dẫn chiếu các quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng) được cho là đã bị vi phạm;

 (c) cơ sở pháp lý và thực tế của hồ sơ khiếu kiện, kể cả các biện pháp được cho là đã vi phạm các điều khoản quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng);

 (d) kiến nghị các biện pháp khắc phục và khoản bồi thường thiệt hại ước tính.

Tùy theo trường hợp cụ thể, văn bản thông báo dự định này phải được gửi đến Liên minh châu Âu hoặc Việt Nam. Trong trường hợp xác định được biện pháp là của quốc gia thành viên Liên minh châu Âu nào thì bản thông báo đó cũng sẽ được gửi cho quốc gia thành viên đó.

2. Sau khi Liên minh châu Âu đã nhận được văn bản thông báo dự định, Liên minh châu Âu phải tiến hành xác minh bên bị đơn và, sau khi hoàn tất việc xác minh, phải thông báo cho bên nguyên đơn biết trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận thông báo về dự định đó, trong đó xác định rõ xem Liên minh châu Âu hoặc một quốc gia thành viên nào đó của Liên minh châu Âu sẽ là bên bị đơn.

3. Bên nguyên đơn có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 7 căn cứ trên kết quả của quá trình xác minh đó.

4. Trong trường hợp sau khi xác minh theo quy định tại khoản 2 đã xác định được là hoặc Liên minh châu Âu hoặc một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu là bên bị đơn, Liên minh châu Âu và quốc gia thành viên liên quan đó đều không có quyền chối bỏ hồ sơ khiếu kiện đó, không có quyền khẳng định rằng mình thiếu thẩm quyền tài phán hoặc không có quyền khẳng định rằng hồ sơ khiếu kiện đó hoặc quyết định bồi thường của tòa là không có cơ sở hoặc không có giá trị pháp lý khi cho rằng bên bị đơn phải là Liên minh châu Âu chứ không phải là quốc gia thành viên đó hoặc ngược lại.

5. Hội đồng tài phán và hội đồng tài phán phúc thẩm có nghĩa vụ tiến hành xác minh theo quy định tại khoản 2.

6. Không có quy định nào theo Hiệp định này hoặc các nguyên tắc giải quyết tranh chấp có thể ngăn cản việc trao đổi các thông tin liên quan đến một trường hợp tranh chấp xảy ra giữa Liên minh châu Âu với quốc gia thành viên liên quan.

Điều 7

Nộp hồ sơ khiếu kiện

1. Trong trường hợp tranh chấp không thể giải quyết trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu tiến hành đàm phán và sau thời gian tối thiểu là 3 tháng kể từ ngày gửi thông báo về dự định nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 6 (Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện), bên nguyên đơn mà đã đảm bảo các tiêu chí đặt ra trong Điều 9 (Tiêu chí về trình tự thủ tục hoặc tiêu chí khác đối với việc nộp hồ sơ khởi kiện) có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện lên hội đồng tài phán được thành lập theo quy định tại Điều 12.

2. Hồ sơ khiếu kiện có thể được nộp cho hội đồng tài phán theo quy định của một trong các nhóm nguyên tắc giải quyết tranh chấp sau đây:

 (a) Công ước về việc giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia thành viên và các công dân của các quốc gia thành viên khác được ký kết vào ngày 18 tháng 3 năm 1965 (ICSID);

 (b) Công ước về việc giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia thành viên và các công dân của các quốc gia thành viên khác được ký kết vào ngày 18 tháng 3 năm 1965 (ICSID) tuân thủ theo các nguyên tắc về năng lực bổ sung đối với việc quản lý hành chính trong tố tụng của Ban thư ký của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư, trong trường hợp không áp dụng các điều kiện tiến hành quy trình xét xử vụ kiện theo quy định của khoản (a);

 (c) các quy tắc trọng tài của Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL); hoặc

 (d) bất kỳ các quy tắc nào khác về thỏa thuận của các bên tranh chấp. Trong trường hợp bên nguyên đơn đưa ra đề xuất về một bộ quy tắc giải quyết tranh chấp cụ thể và nếu các bên tranh chấp đó không có văn bản thông nhất về các quy tắc đó, hoặc nếu bên bị đơn không có văn bản trả lời cho bên nguyên đơn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề xuất đó, bên nguyên đơn có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện theo các quy tắc quy định tại các điểm (a), (b) và (c).

3. Tất cả các yêu cầu bồi thường do bên nguyên đơn đưa ra trong quá trình nộp hồ sơ khởi kiện của mình theo quy định tại Điều này phải dựa trên cơ sở là các biện pháp được xác định trong văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp theo Điều 4(1)(c).

4. Các quy tắc giải quyết tranh chấp quy định tại khoản 2 phải được áp dụng phù hợp với các quy tắc được đặt ra trong Chương này và theo đúng với nội dung đã được bổ sung bởi bất kỳ quy tắc nào do Ủy ban thương mại, hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm ban hành.

5. Một hồ sơ khiếu kiện được xem như là đã được nộp theo quy định tại Điều này khi bên nguyên đơn đã tiến hành các thủ tục pháp lý theo các quy tắc về giải quyết tranh chấp hiện hành.

6. Các hồ sơ khiếu kiện được nộp theo nhóm gồm nhiều bên nguyên đơn không rõ danh tính, hoặc được nộp để tiến hành các thủ tục pháp lý bởi một bên đại diện cho quyền lợi của nhiều bên nguyên đơn xác định hoặc không xác định được danh tính mà ủy quyền cho bên đại diện đó được toàn quyền đưa ra các quyết định liên quan đến thủ tục pháp lý đó, sẽ không được chấp nhận.

Điều 8

Các hồ sơ khiếu kiện khác

1. Bên nguyên đơn không có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện lên hội đồng tài phán nếu bên nguyên đơn đó đã nộp hồ sơ khởi kiện đang chờ được xét xử trước tòa án quốc gia hoặc quốc tế hoặc hội đồng tài phán liên quan đối với cùng một biện pháp tương tự như biện pháp mà đã bị cáo buộc là trái với các quy định nêu tại Điều 1(1)(Phạm vi áp dụng) và đối với cùng một tổn thất hoặc thiệt hại, nếu bên nguyên đơn đó chưa rút lại hồ sơ khiếu kiện đang chờ xét xử đó.

2. Bên nguyên đơn không có quyền tự nộp hồ sơ khiếu kiện lên hội đồng tài phán nếu bất kỳ đối tượng nào có quyền sở hữu một phần đối với hoặc thuộc quyền kiểm soát của bên nguyên đơn đó, bất kể là dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, đã nộp hồ sơ khởi kiện đang chờ được xét xử trước hội đồng tài phán này hoặc bất kỳ tòa án quốc gia hoặc quốc tế khác hoặc hội đồng tài phán đối với cùng một biện pháp tương tự như biện pháp mà đã bị cáo buộc là trái với các quy định nêu tại Điều 1(1)(Phạm vi áp dụng) và đối với cùng một tổn thất hoặc thiệt hại, nếu đối tượng nộp hồ sơ này chưa rút lại hồ sơ khiếu kiện đang chờ xét xử đó.

3. Bên nguyên đơn đóng vai trò đại diện cho một công ty tại bản địa không có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện lên hội đồng tài phán nếu bất kỳ người nào có quyền sở hữu một phần đối với hoặc thuộc quyền kiểm soát của công ty tại bản địa này, bất kể là dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, đã nộp hồ sơ khởi kiện đang chờ được xét xử trước hội đồng tài phán này hoặc bất kỳ tòa án quốc gia hoặc quốc tế khác hoặc hội đồng tài phán liên quan đến cùng một biện pháp tương tự như biện pháp mà đã bị cáo buộc là trái với các quy định nêu tại Điều 1(1)(Phạm vi áp dụng) và liên quan đến cùng một tổn thất hoặc thiệt hại, nếu người này chưa rút lại hồ sơ khiếu kiện đang chờ xét xử đó.

4. Trước khi nộp hồ sơ khởi kiện, bên nguyên đơn phải cung cấp:

 (a) bằng chứng chứng minh rằng bên nguyên đơn đó và trong trường hợp bất kỳ người nào có quyền sở hữu một phần đối với hoặc thuộc quyền kiểm soát của bên nguyên đơn đó hoặc công ty tại bản địa, bất kể là dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp, theo như quy định tại khoản 2 và 3 nêu trên, đã rút lại hồ sơ khiếu kiện đang chờ xét xử theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3.

 (b) chứng thư từ bỏ quyền và công ty tại bản địa (nếu có) nhằm tiến hành khiếu kiện theo quy định tại khoản 1.

5. Điều này phải được áp dụng thực hiện song song với quy định tại Phụ lục III.

6. Chứng thư từ bỏ quy định tại khoản 4(b) sẽ không còn giá trị thực hiện nếu hồ sơ khiếu kiện bị từ chối do không phù hợp với các yêu cầu về quốc tịch để có thể tiến hành khiếu kiện theo đúng quy định trong Hiệp định này.

7. Các quy định tại khoản từ 1 đến 4 của Điều này, kể cả quy định tại Phụ lục III, sẽ không được áp dụng nếu các hồ sơ khiếu kiện nộp lên tòa án hoặc hội đồng tài phán quốc gia chỉ nhằm mục đích là để yêu cầu các cơ quan xét xử này ra quyết định về các biện pháp khắc phục tạm thời hoặc tuyên bố về quyền lợi của các bên nhưng không yêu cầu thanh toán tiền bồi thường thiệt hại.

8. Nếu các hồ sơ khiếu kiện được nộp theo đúng quy định tại Mục này và Mục XX [Giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia] hoặc thỏa thuận quốc tế khác liên quan đến cơ chế đối xử tương tự như cơ chế đối xử bị cáo buộc là trái với các quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng), một đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán được thành lập theo quy định tại Mục này phải xét đến các thủ tục xét xử trong thời gian sớm nhất ngay sau khi lắng nghe các bên tranh chấp trình bày ý kiến của mình theo quy định tại Mục X [Giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia] hoặc theo thỏa thuận quốc tế khác trong khi đưa ra quyết định hoặc phán quyết của mình. Đơn vị này cũng có quyền tạm đình chỉ thủ tục xét xử vụ kiện nếu thấy cần thiết. Để thực hiện theo đúng quy định này, hội đồng tài phán phải tuân thủ quy định tại Điều 27(6) (Quyết định tạm thời).

Điều 9

Các tiêu chí tố tụng và các tiêu chí khác đối với việc nộp hồ sơ khiếu kiện

1. Hồ sơ khiếu kiện chỉ được phép nộp cho hội đồng tài phán theo quy định tại Mục này trong các trường hợp sau:

 (a) nếu có đính kèm theo văn bản đồng ý đối với việc giải quyết tranh chấp thông qua hội đồng tài phán theo các trình tự thủ tục quy định tại Mục này và nếu bên nguyên đơn xác định rõ một trong những bộ quy tắc nêu tại Điều 7(2) (Nộp hồ sơ khiếu kiện) sẽ được đưa ra áp dụng trong giải quyết tranh chấp;

 (b) sau thời hạn tối thiểu là 6 tháng kể từ ngày gửi yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 4 (Đàm phán giải quyết tranh chấp) và tối thiểu trong thời gian là 3 tháng kể từ ngày gửi thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy đinh tại Điều 6 (Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện);

 (c) Văn bản yêu cầu tiến hành đàm phán giải quyết tranh chấp và thông báo dự định đã đáp ứng với các tiêu chí quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 4 (Đàm phán giải quyết tranh chấp) và khoản 1 Điều 6 (Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện) tương ứng;

 (d) Căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn của vụ tranh chấp đã đúng với các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp trước đó theo quy định tại Điều 4 (Đàm phán giải quyết tranh chấp)

 (e) tất cả hồ sơ khiếu kiện được xác định trong quá trình khởi kiện lên hội đồng tài phán theo quy định tại Điều 7 (Nộp hồ sơ khiếu kiện) phải tùy thuộc vào biện pháp hoặc các biện pháp được xác định trong văn bản thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 6 (Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện);

 (f) Đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện đặt ra tại Điều 8 (các vụ khiếu kiện khác).

2. Quy định tại Điều này không được phép gây phương hại đến các tiêu chí tài phán khác phát sinh từ các quy tắc giải quyết tranh chấp liên quan.

Điều 10

Chấp thuận

1. Bên bị đơn đồng ý với việc nộp hồ sơ khởi kiện theo quy định của Mục này.

2. Bên nguyên đơn phải gửi văn bản đồng ý theo trình tự thủ tục quy định tại Mục này vào thời điểm nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 7.

3. Việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại các khoản 1 và 2 có nghĩa là:

 (a) các bên tranh chấp phải chấm dứt việc thi hành quyết định mà cơ quan xét xử đã đưa ra theo quy định tại Mục này trước khi quyết định đó trở thành quyết định cuối cùng theo quy định tại Điều 29; và

 (b) các bên tranh chấp phải chấm dứt hành động yêu cầu phúc thẩm, tái thẩm, hủy bỏ, thay đổi hoặc tiến hành các thủ tục tố tụng tương tự trước tòa án hoặc hội đồng tài phán quốc tế hoặc quốc gia liên quan đến một phán quyết nào đó theo quy định tại Mục này.24

4. Việc bồi thường thiệt hại theo quy định trong khoản 1 và việc nộp hồ sơ khởi kiện theo quy định trong Mục này phải đáp ứng các tiêu chí đặt ra tại:

 (a) Quy định tại Điều 25 của Công ước ICSID và các quy tắc về năng lực bổ sung của ICSID đối với văn bản chấp thuận của các bên tranh chấp; và

 (b) Điều II của Công ước New York về việc công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài đối với việc “thỏa thuận bằng văn bản”.

Điều 11

Vốn cấp bởi bên thứ ba

1. Trong trường hợp có sự cấp vốn từ bên thứ ba, bên tranh chấp thụ hưởng phải thông báo cho bên tranh chấp kia và cho đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán, hoặc nếu chưa thành lập đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán thì phải thông báo cho Chủ tịch hội đồng tài phán về sự tồn tại và tính chất của thỏa thuận cấp vốn, tên và địa chỉ của bên thứ ba cấp vốn.

2. Việc thông báo này phải được gửi vào thời điểm nộp hồ sơ khiếu kiện, hoặc trong trường hợp thỏa thuận cấp vốn đã được ký kết hoặc việc trợ cấp hoặc hỗ trợ được thực hiện sau thời điểm nộp hồ sơ khiếu kiện thì việc thông báo đó phải được gửi ngay khi ký kết thỏa thuận hoặc ngay khi thực hiện việc trợ cấp hoặc hỗ trợ đó.

3. Trong quá trình thực hiện quy định tại Điều 22 (Biện pháp bảo đảm đối với chi phí), hội đồng tài phán phải xét đến trường hợp có bên thứ ba cấp vốn. Khi ban hành quyết định về chi phí tiến hành thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 27(4) (Phán quyết tạm thời), hội đồng tài phán phải xét xem liệu các tiêu chí quy định tại các khoản 1 và 2 đã được đảm bảo.

TIỂU MỤC 4

HỆ THỐNG HỘI ĐỒNG TÀI PHÁN VỀ ĐẦU TƯ

Điều 12

Hội đồng tài phán

1. Hội đồng tài phán được thành lập để giải quyết các vụ kiện theo quy định tại Điều 7 (Nộp hồ sơ khiếu kiện).

2. Căn cứ theo quy định tại Điều 34(2)(a), Ủy ban Thương mại phải chỉ định chín thành viên tham gia hội đồng tài phán vào thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành. Ba thành viên hội đồng là người mang quốc tịch của quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, ba thành viên khác là người mang quốc tịch Việt Nam và ba thành viên còn lại là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba.25

3. Ủy ban Thương mại có quyền quyết định tăng hoặc giảm số lượng thành viên của hội đồng tài phán bằng bội số của ba. Các trường hợp phải chỉ định thêm thành viên thì cũng phải căn cứ theo đúng quy định tại khoản 2.

4. Các thành viên của hội đồng tài phán phải là những người có bằng cấp chuyên môn để có thể đảm nhận các vị trí công việc tại phòng tư pháp hoặc phải là những luật gia có năng lực chuyên môn được công nhận tại quốc gia của họ. Các thành viên này phải chứng minh là họ hội đủ kiến thức và năng lực chuyên môn trong lĩnh vực công pháp quốc tế. Trong trường hợp lý tưởng nhất, các thành viên này nên có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực luật pháp cụ thể, luật đầu tư quốc tế, luật thương mại quốc tế và giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan tuân thủ theo các thỏa thuận đầu tư và thương mại quốc tế.

5. Các thành viên của hội đồng tài phán được bổ nhiệm theo quy định tại Mục này sẽ công tác theo nhiệm kỳ bốn năm và có thể được một lần gia hạn nhiệm kỳ. Tuy nhiên, việc gia hạn thêm 6 năm đối với nhiệm kỳ của năm trong số chín thành viên được bổ nhiệm ngay sau ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực sẽ được thực hiện bằng hình thức rút thăm. Phải bổ nhiệm người vào đảm nhận nếu còn các vị trí còn trống phát sinh khác. Người được chỉ định thay cho người chưa kết thúc nhiệm kỳ công tác phải tiếp tục nhiệm kỳ còn lại của người tiền nhiệm. Người đang đảm nhiệm vai trò trong một đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán khi kết thúc nhiệm kỳ của mình được phép tiếp tục công việc tại đơn vị đó nếu nhận được sự phê chuẩn của Chủ tịch hội đồng tài phán cho đến khi kết thúc quá trình tố tụng của đơn vị đó và nếu chỉ để phục vụ cho mục đích đó thì người này phải được xem như vẫn tiếp tục đảm nhiệm vị trí thành viên của hội đồng tài phán.

6. Hội đồng tài phán sẽ tiến hành xét xử các vụ kiện tại các đơn vị gồm ba thành viên, trong đó một thành viên là người mang quốc tịch của quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, một thành viên khác là người mang quốc tịch Việt Nam và một thành viên còn lại là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba. Thành viên là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba đảm nhiệm vị trí chủ tịch của đơn vị xét xử này.

7. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 7, Chủ tịch của hội đồng tài phán được quyền bổ nhiệm các thành viên cho đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán để tiến hành luân phiên xét xử các vụ kiện và đảm bảo thành phần tham gia vào các đơn vị xét xử này phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên và không được biết trước nhằm tạo cơ hội công bằng cho tất cả các thành viên có thể tham gia.

8. Chủ tịch và Phó Chủ tịch hội đồng tài phán phải phụ trách các vấn đề về tổ chức và sẽ giữ nhiệm kỳ 2 năm và lựa chọn theo hình thức rút thăm trong số các thành viên là người mang quốc tịch của các quốc gia thứ ba. Họ phải thực hiện nhiệm vụ một cách luân phiên thông qua hình thức rút thăm do Ủy ban Thương mại chủ trì. Phó Chủ tịch sẽ là người thay thế cho Chủ tịch trong trường hợp Chủ tịch vắng mặt.

9. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 6, các bên tranh chấp được phép thỏa thuận với nhau để xác định xem vụ kiện sẽ được giải quyết bởi một thành viên duy nhất là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba mà do Chủ tịch hội đồng tài phán quyết định lựa chọn. Bên bị đơn phải thể hiện tinh thần thiện chí hợp tác đối với văn bản yêu cầu của bên nguyên đơn, đặc biệt trong trường hợp bên nguyên đơn là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc khoản tiền bồi thường tổn thất hoặc thiệt hại có giá trị tương đối thấp. Văn bản yêu cầu phải được gửi cùng lúc với hồ sơ khiếu kiện theo quy định tại Điều 7.

10. Hội đồng tài phán có quyền soạn thảo quy trình làm việc riêng của mình. Quy trình làm việc này phải phù hợp với các quy tắc giải quyết tranh chấp hiện hành và các quy định của Mục này. Nếu hội đồng này quyết định thực hiện việc soạn thảo này, Chủ tịch hội đồng tài phán phải soạn ra bản thảo quy trình làm việc sau khi đã tham khảo ý kiến các thành viên của hội đồng và trình lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ để phê duyệt. Quy trình làm việc này được phê duyệt bởi Ủy ban Thương mại sau khi nhận được sự chấp thuận của các Bên.

Nếu bản thảo quy trình làm việc này không được Ủy ban Thương mại phê duyệt trong vòng ba tháng sau ngày trình lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ, Chủ tịch hội đồng tài phán phải thực hiện công tác bổ sung, sửa đổi cần thiết, trong đó phải quan tâm đến các quan điểm của các Bên. Sau đó, Chủ tịch hội đồng tài phán phải trình bản quy trình làm việc đã được bổ sung, sửa đổi cho Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ. Bản quy trình làm việc này sẽ được xem như là đã được phê duyệt nếu như các Bên không có ý kiến phản đối bản thảo quy trình làm việc này thông qua quyết định của Ủy ban Thương mại trong thời hạn ba tháng sau ngày bản thảo đó được trình lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính Phủ.

11. Nếu phát sinh vướng mắc liên quan đến trình tự thủ tục mà không được quy định cụ thể trong Mục này, hoặc các quy tắc bổ sung được phê duyệt bởi Ủy ban Thương mại hoặc các quy tắc được bổ sung bởi quy trình làm việc do hội đồng tài phán soạn ra, đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán có quyền ban hành quy trình thích hợp, đảm bảo phù hợp với các các điều khoản quy định đó.

12. Đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phải đảm bảo các quyết định mà mình đưa ra sẽ nhận được sự đồng ý của tất cả thành viên. Trường hợp một quyết định nào đó không thể nhận được sự đồng ý của tất cả thành viên, đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phải ban hành quyết định theo đa số thành viên tham gia bỏ phiếu biểu quyết. Danh tánh cá nhân thành viên của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán tham gia ý kiến phải được giữ bí mật.

13. Các thành viên này phải luôn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trong mọi thời điểm hay ngay khi nhận được thông báo và phải luôn cập nhật các hoạt động giải quyết tranh chấp theo đúng quy định tại Hiệp định này.

14. Để đảm bảo họ luôn trong tư thế sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, các thành viên này sẽ được nhận thù lao thuê làm việc thường xuyên theo tháng do Ủy ban Thương mại quy định. Chủ tịch và Phó Chủ tịch (nếu có) của hội đồng tài phán sẽ được nhận khoản thù lao làm việc hàng ngày tương đương với khoản phí được xác định theo quy định tại Điều 13(16) trên cơ sở mỗi ngày mà hoàn thành chức năng của Chủ tịch hội đồng tài phán được quy định tại Mục này.

15. Khoản thù lao thuê làm việc thường xuyên và khoản thù lao cho công việc hàng ngày của Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch của hội đồng tài phán khi hoàn thành chức năng nhiệm vụ của Chủ tịch hội đồng tài phán theo quy định tại Mục này sẽ do hai Bên chịu trách nhiệm thanh toán dựa trên mức độ tiến triển của công việc qua tài khoản do [Ban thư ký ICSID/ Tòa án trọng tài thường trực] quản lý [Lưu ý của các chuyên gia đàm phán: Việc này sẽ được quyết định trong quá trình rà soát về mặt pháp lý của văn bản]. Trong trường hợp Bên này không thanh toán thù lao thuê làm việc thường xuyên, Bên kia có thể đứng ra thanh toán. Bất kỳ các khoản nợ quá hạn nào đều phải được thanh toán cộng với lãi suất tương ứng.

16. Nếu Ủy ban Thương mại không ban hành quyến định theo quy định tại khoản 17, mức phí và chi phí khác trả cho các thành viên của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán đầu tư chính là các khoản được tính đúng theo Quy định 14(1) thuộc Bộ quy định hành chính và Tài chính trong Công ước ICSID đang có hiệu lực thi hành vào ngày nộp hồ sơ khiếu kiện và được hội đồng tài phán phân bổ giữa các bên tranh chấp theo quy định tại Điều 27(4).

17. Căn cứ theo quyết định do Ủy ban Thương mại ban hành, khoản thù lao thuê làm việc thường xuyên và các khoản phí và chi phí khác có thể được chuyển thành lương trả thường xuyên. Trong trường hợp đó, các thành viên phải đảm nhận các vị trí chuyên trách và Ủy ban Thương mại sẽ quyết định mức thù lao và thu xếp các vấn đề tổ chức liên quan cho họ. Khi đó, các thành viên của hội đồng tài phán này sẽ không được phép tham gia vào bất kỳ công việc nào khác, bất kể là có lợi nhuận hay không, nếu như Chủ tịch hội đồng tài phán chưa chấp thuận.

18. [Ban thư ký của ICSID/ Tòa trọng tài thường trực] [Lưu ý từ các chuyên gia đàm phán: Việc này sẽ được quyết định trong quá trình rà soát về mặt pháp lý] sẽ đóng vai trò như Ban thư ký giúp việc và hỗ trợ cho hội đồng tài phán khi cần thiết. Chi phí cho công tác hỗ trợ này sẽ được cấp bởi hội đồng tài phán giải quyết tranh chấp giữa các bên theo quy định tại Điều 27(4).

Điều 13

Hội đồng tài phán phúc thẩm

1. Hội đồng tài phán phúc thẩm thường trực được thành lập theo Hiệp định này để giải quyết các kháng cáo đối với các quyết định của hội đồng tài phán.

2. Hội đồng tài phán phúc thẩm gồm sáu thành viên, trong đó hai thành viên là người mang quốc tịch của quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, hai thành viên khác là người mang quốc tịch Việt Nam và hai thành viên còn lại là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba.

3. Căn cứ theo quy định tại Điều 34(2)(a), Ủy ban Thương mại phải chỉ định chín thành viên tham gia hội đồng tài phán phúc thẩm vào thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành. Theo đó, mỗi Bên sẽ tiến cử ba ứng viên cho Ủy ban Thương mại, trong đó hai ứng viên phải là công dân của Bên đó và một ứng viên không phải là công dân của Bên đó, và sau đó cùng nhau bầu ra các thành viên hội động.26

4. Ủy ban Thương mại có quyền chấp thuận cho phép tăng thêm số lượng các thành viên tham gia hội đồng tài phán phúc thẩm bằng bội số của ba. Việc bầu bổ sung sẽ được thực hiện trên cơ sở tương tự theo quy định tại khoản 2 và 3.

5. Các thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm phải được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ bốn năm và có thể được tái bổ nhiệm một lần. Tuy nhiên, việc gia hạn thêm 6 năm cho nhiệm kỳ của ba trong số sáu thành viên được bổ nhiệm ngay sau ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực sẽ được thực hiện bằng hình thức rút thăm. Phải bổ nhiệm người vào đảm nhận nếu còn các vị trí còn trống phát sinh khác. Người được chỉ định thay cho người chưa kết thúc nhiệm kỳ công tác phải tiếp tục nhiệm kỳ còn lại của người tiền nhiệm.

6. Hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ có một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch là người được bầu bằng hình thức bốc thăm cho một nhiệm kỳ hai năm và được bầu ra từ các thành viên là công dân của các quốc gia thứ ba. Họ phải thực hiện nhiệm vụ một cách luân phiên thông qua hình thức rút thăm do Ủy ban Thương mại chủ trì. Phó Chủ tịch sẽ là người thay thế cho Chủ tịch trong trường hợp Chủ tịch vắng mặt.

7. Các thành viên của hội đồng tài phán phải chứng minh được năng lực chuyên môn trong lĩnh vực công pháp quốc tế và sở hữu các bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn để có thể đảm nhận các vị trí công việc tại các văn phòng tư pháp hoặc để trở thành những luật gia có năng lực chuyên môn được công nhận tại quốc gia của họ. Trong trường hợp lý tưởng nhất, các thành viên này nên có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực luật đầu tư quốc tế, luật thương mại quốc tế và thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến các thỏa thuận đầu tư hoặc thương mại quốc tế.

8. Hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ tiến hành giải quyết các hồ sơ kháng cáo tại các đơn vị xét xử gồm ba thành viên, trong đó một thành viên là người mang quốc tịch của quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, một thành viên khác là người mang quốc tịch Việt Nam và một thành viên còn lại là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba. Thành viên là người mang quốc tịch của quốc gia thứ ba đảm nhiệm vị trí chủ tịch của đơn vị xét xử này.

9. Chủ tịch của hội đồng tài phán phúc thẩm được quyền chọn lựa các thành viên tham gia đơn vị xét xử thuộc hội đồng để tiến hành luân phiên giải quyết từng vụ việc và phải đảm bảo thành phần tham gia vào mỗi đơn vị xét xử này phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên và không được biết trước nhằm tạo cơ hội công bằng cho tất cả các thành viên có thể tham gia. Người đang đảm nhiệm vai trò trong một đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm khi kết thúc nhiệm kỳ của mình được phép tiếp tục công việc tại đơn vị đó nếu nhận được sự chấp thuận của Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm cho đến khi kết thúc quá trình tố tụng của đơn vị đó và nếu chỉ để phục vụ cho mục đích đó thì người này phải được xem như vẫn tiếp tục đảm nhiệm vị trí thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm đó.

10. Hội đồng tài phán phải soạn thảo quy trình làm việc riêng của mình. Quy trình làm việc này phải phù hợp với các quy định tại Mục này và các hướng dẫn đưa ra tại Phụ lục IV. Chủ tịch hội đồng tài phán phải soạn ra bản thảo quy trình làm việc sau khi tham khảo ý kiến các thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm. Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm phải trình bản thảo đó lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ trong thời hạn một năm sau ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu. Quy trình làm việc này sẽ được phê duyệt bởi Ủy ban Thương mại sau khi nhận được sự đồng ý của các Bên. Nếu bản thảo quy trình làm việc này không được Ủy ban Thương mại phê duyệt trong vòng ba tháng sau ngày trình lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ, Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm phải thực hiện công tác bổ sung, sửa đổi cần thiết đối với bản thảo đó, trong đó phải quan tâm đến các quan điểm mà các Bên trình bày. Sau đó, Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ trình bản quy trình làm việc đa qua kiểm duyệt lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ. Bản quy trình làm việc này sẽ được xem như là đã được phê chuẩn thông qua nếu như các Bên không có ý kiến phản đối đối với bản thảo quy trình làm việc thể hiện trong quyết định của Ủy ban Thương mại trong thời hạn ba tháng sau ngày trình bản thảo đó lên Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ.

11. Nếu có phát sinh vướng mắc liên quan đến trình tự thủ tục mà không được quy định cụ thể trong Mục này, hoặc các quy tắc bổ sung được phê duyệt bởi Ủy ban Thương mại hoặc các quy tắc được bổ sung bởi quy trình làm việc do hội đồng tài phán phúc thẩm soạn ra, đơn vị xét xử liên quan thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm có quyền ban hành quy trình làm việc thích hợp, đảm bảo phù hợp với các các điều khoản quy định đó.

12. Đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm phải đảm bảo các quyết định mà mình đưa ra sẽ nhận được sự đồng ý từ tất cả thành viên. Trường hợp một quyết định nào đó không thể nhận được sự đồng ý của tất cả thành viên, đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm phải ban hành quyết định của mình theo đa số thành viên tham gia bỏ phiếu biểu quyết. Danh tánh cá nhân thành viên của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm tham gia ý kiến phải được giữ bí mật.

13. Tất cả những người làm việc cho hội đồng tài phán phúc thẩm phải luôn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trong mọi thời điểm hay ngay khi nhận được thông báo và phải luôn cập nhật các hoạt động giải quyết tranh chấp theo đúng quy định tại Hiệp định này.

14. Các thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ được nhận khoản phí thuê làm việc thường xuyên theo tháng do Ủy ban Thương mại quy định. Chủ tịch và Phó Chủ tịch (nếu có) của hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ được nhận khoản thù lao làm việc hàng ngày tương đương với khoản phí được xác định theo quy định tại khoản 16 được tính trên cơ sở mỗi ngày mà hoàn thành chức năng của Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm được quy định tại Mục này.

15. Khoản phí thuê làm việc thường xuyên trả cho các thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm và khoản thù lao cho công việc hàng ngày trả cho Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch của hội đồng tài phán phúc thẩm khi hoàn thành chức năng nhiệm vụ được giao của một Chủ tịch hội đồng tài phán theo quy định tại Mục này sẽ do hai Bên chịu trách nhiệm thanh toán dựa trên mức độ tiến triển của công việc qua tài khoản do [Ban thư ký ICSID/ Tòa án trọng tài thường trực] quản lý [Lưu ý của các chuyên gia đàm phán: Việc này sẽ được quyết định trong quá trình rà soát về mặt pháp lý của văn bản]. Trong trường hợp Bên này không thanh toán thù lao thuê làm việc thường xuyên, Bên kia có thể đứng ra thanh toán. Bất kỳ các khoản nợ quá hạn nào đều phải được thanh toán cộng với lãi suất tương ứng.

16. Vào thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành, Ủy ban Thương mại phải thông qua quyết định tính toán mức phí và chi phí khác trả cho các thành viên của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm. Các mức phí và chi phí này phải được hội đồng tài phán phân bổ giữa các bên tranh chấp theo quy định tại Điều 27(4).

17. Căn cứ theo quyết định do Ủy ban Thương mại thông qua, khoản thù lao thuê làm việc thường xuyên và các khoản phí tính theo ngày làm việc có thể được chuyển thành lương chi trả thường xuyên. Trong trường hợp đó, các thành viên của hội động tài phán phúc thẩm phải đảm nhận các vị trí chuyên trách và Ủy ban Thương mại sẽ quyết định mức thù lao và thu xếp các vấn đề liên quan đến tổ chức cho họ. Trong trường hợp đó, các thành viên không được phép đảm nhận bất kỳ công việc nào khác, bất kể là sinh lợi hay không sinh lợi, nếu như chưa được sự đồng ý của Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm.

18. [Ban thư ký của ICSID/ Tòa trọng tài thường trực] [Lưu ý từ các chuyên gia đàm phán: Việc này sẽ được quyết định trong quá trình rà soát về mặt pháp lý của văn bản hiệp định] sẽ đóng vai trò như Ban thư ký giúp việc và hỗ trợ cho hội đồng tài phán phúc thẩm khi cần thiết. Các chi phí cho công tác hỗ trợ này sẽ được hội đồng tài phán phúc thẩm phân bổ giữa các bên tranh chấp theo quy định tại Điều 27(4).

Điều 14

Chuẩn mực đạo đức

1. Các thành viên của hội đồng tài phán và của hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ được bầu ra từ những cá nhân độc lập. Họ không phải là người có quan hệ với bất kỳ chính phủ nào,27 cũng như không chịu sự chỉ đạo của bất kỳ chính phủ hoặc tổ chức nào đối với các vấn đề có tranh chấp. Họ không tham gia xem xét các vụ tranh chấp mà có thể tạo ra sự xung đột lợi ích một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nếu có tham gia thì họ phải tuân thủ theo các quy định tại Phụ lục II (Quy tắc ứng xử). Ngoài ra, khi được bổ nhiệm, họ phải thôi vai trò tư vấn hoặc chuyên gia do một bên tham gia hiệp định chỉ định hoặc nhân chứng trong bất kỳ vụ tranh chấp đầu tư đang chờ giải quyết hoặc phát sinh mới theo quy định tại hiệp định này, bất kỳ hiệp định nào khác hoặc luật pháp của quốc gia.

2. Nếu bên tranh chấp cho rằng một thành viên nào đó có phát sinh xung đột lợi ích, bên tranh chấp đó sẽ gửi thông báo phản đối việc bổ nhiệm cho Chủ tịch hội đồng tài phán hoặc Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm theo trình tự quy định. Văn bản thông báo phản đối phải được gửi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bên tranh chấp được thông báo về thành phần của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm, hoặc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bên tranh chấp biết được các thông tin liên quan trong trường hợp bên tranh chấp đó có thể đã không biết được các thông tin đó một cách đầy đủ vào thời điểm hình thành đơn vị xét xử này. Bản thông báo phản đối phải nêu rõ lý do phản đối.

3. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày gửi thông báo phản đối, nếu thành viên bị phản đối vẫn chưa xin không tham gia vào đơn vị xét xử đó nữa thì, sau khi tiếp thu ý kiến của các bên tranh chấp và tạo cơ hội cho thành viên đó trình bày ý kiến của mình, Chủ tịch hội đồng tài phán hoặc Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm theo trình tự quy định phải ban hành quyết định của mình trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được thông báo phản đối đó và ngay lập tức thông báo cho các bên tranh chấp và các thành viên khác của đơn vị xét xử đó.

4. Các hồ sơ phản đối việc bổ nhiệm thành viên của Chủ tịch hội đồng tài phán tham gia vào một đơn vị xét xử phải do Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm giải quyết và ngược lại.

5. Khi nhận được văn bản tiến cử người hợp lý từ Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm hoặc trên cơ sở các Bên đã chủ động thì các Bên có quyền quyết định bãi nhiệm một thành viên khỏi hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm thông qua quyết định do Ủy ban Thương mại ban hành nếu hành vi của thành viên đó trái với các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và không đủ tư cách để tiếp tục làm thành viên của hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm. Nếu hành vi nói trên được cho là hành vi của Chủ tịch hội đồng tài phán phúc thẩm, Chủ tịch hội đồng tài phán phải trìnhvăn bản tiến cử người hợp lý. Điều 12(2) và 13(3) sẽ quy định các nguyên tắc thay đổi cần thiết đối với việc tìm người đảm nhiệm các vị trí phát sinh theo quy định tại khoản này.

Điều 15

Cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương

Các Bên phải tiến hành các cuộc đàm phán về một hiệp định quốc tế quy định về hội đồng tài phán đầu tư đa phương kết hợp hoặc độc lập với cơ chế kháng cáo đa phương áp dụng đối với các tranh chấp tại Hiệp định này. Sau đó, các Bên có quyền thỏa thuận với nhau về cơ chế không áp dụng mốt số nội dung quy định liên quan trong Mục này. Ủy ban Thương mại có quyền ban hành quyết định quy định cụ thể về các thỏa thuận liên quan đến chuyển tiếp nếu thấy cần thiết.

TIỂU MỤC 5:

TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC PHIÊN XÉT XỬ

Điều 16

Luật và các nguyên tắc áp dụng đối với việc giải thích nội dung quy định

1. Hội đồng tài phán phải xác định xem liệu các biện pháp đã nói trên không phù hợp với các quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng).

2. Khi đưa ra các quyết định của mình, hội đồng tài phán phải áp dụng các điều khoản quy định có hiệu lực áp dụng tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng), hiệp định này cùng với các quy tắc hoặc nguyên tắc khác của luật pháp quốc tế giữa các Bên và phải xét đến các quy định của luật pháp quốc gia của bên tranh chấp như một tình tiết của vụ kiện. Nhằm hiểu rõ hơn, hội đồng tài phán có nghĩa vụ giải thích các nội dung quy định của luật pháp quốc gia thông qua các cơ quan xét xử hoặc các cơ quan có năng lực giải thích luật pháp quốc gia liên quan, ngoài ra bất kỳ việc giải thích quy định luật pháp liên quan do hội đồng tài phán thực hiện không có giá trị ràng buộc thực hiện đối với các cơ quan xét xử và các cơ quan chức năng của bất kỳ Bên nào. Hội đồng tài phán không có thẩm quyền quyết định giá trị pháp lý của một biện pháp nào đó mà bị cáo buộc là đã vi phạm quy định của Hiệp định này theo đúng quy định luật pháp quốc gia của bên tham gia tranh chấp.

3. Trong quá trình đưa ra quyết định của mình, hội đồng tài phán phải giải thích các điều khoản quy định của Hiệp định này theo đúng với các quy tắc thông lệ về giải thích nội dung quy định của công pháp quốc tế mà đã được tập hợp thành hệ thống quy định trong Công ước Vienna về Luật của các Hiệp ước.

4. Nếu phát sinh những trở ngại có tính chất nghiêm trọng đối với những vấn đề về giải thích các điều khoản quy định có thể ảnh hưởng đến các sự vụ liên quan trong Chương này, Ủy ban Thương mại được phép chấp nhận các cách thức giải thích các điều khoản quy định trong Hiệp định này. Bất kỳ cách giải thích nội dung quy định nào nói trên đều có giá trị ràng buộc hội đồng tài phán và hội đồng tài phán phúc thẩm phải tuân thủ. Ủy ban Thương mại có quyền quy định thời điểm cụ thể nội dung giải thích điều khoản quy định bắt đầu có hiệu lực ràng buộc các Bên thực hiện.

Điều 17

Chống lách luật

Nhằm hiểu rõ hơn, hội đồng tài phán có quyền từ chối quyền hạn tài phán mà đã phát sinh tranh chấp, hoặc có thể dự báo được trên cơ sở nhận thấy khả năng phát sinh tranh chấp cao vào thời điểm bên nguyên đơn đã nhận quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát dự án đầu tư đang thuộc diện tranh chấp và, dựa trên bằng chứng của vụ việc, hội đồng tài phán xác định rằng bên nguyên đơn đã nhận quyền sở hữu hoặc kiểm soát dự án đầu tư chỉ nhằm phục vụ cho mục đích khiếu kiện đòi bồi thường theo quy định tại Mục này. Khả năng từ chối quyền hạn xét xử trong những trường hợp nói trên không được làm phương hại đến quyền phản đối trong phạm vi quyền hạn của hội đồng tài phán.

Điều 18

Các trường hợp phản đối ban đầu

1. Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ sau khi hình thành đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán theo quy định tại Điều 12 và trong bất kỳ sự việc nào xảy ra trước phiên xét xử của đơn vị này, hoặc trong vòng 30 ngày sau ngày bên bị đơn được thông báo về các căn cứ thực tế của việc phản đối đó, bên bị đơn có quyền gửi hồ sơ phản đối cho rằng hồ sơ khiếu kiện hoàn toàn không có giá trị pháp lý.

2. Bên bị đơn phải xác định cụ thể, chính xác các căn cứ thực hiện thủ tục phản đối đó.

3. Sau khi tạo điều kiện cho các bên tranh chấp trình bày những ý kiến của mình đối với hồ sơ phản đối vụ kiện, trong phiên họp đầu tiên của đơn vị xét xử thuộc hội đồng xét xử hoặc ngay sau phiên họp đó, hội đồng tài phán sẽ ban hành phán quyết của mình hoặc quyết định áp dụng các biện pháp tạm thời đối với hồ sơ phản đối đó và giải thích rõ lý do đưa ra các quyết định hoặc phán quyết đó. Trong trường hợp nhận hồ sơ phản đối vụ kiện sau ngày họp đầu tiên của đơn vị xét xử trực thuộc, hội đồng tài phán phải đưa ra phán quyết hoặc quyết định áp dụng biện pháp giải quyết tạm thời của mình trong thời gian sớm nhất có thể và trong thời hạn không quá 120 ngày kể từ sau ngày nộp hồ sơ phản đối vụ kiện. Theo đó, hội đồng trọng tài được phép đặt ra giả định rằng các chứng cứ được đưa ra là đúng và đồng thời có quyền xem xét bất kỳ sự kiện liên quan nào ngoài tranh chấp.

4. Quyết định của hội đồng tài phán không được làm ảnh hưởng đến quyền phản đối của bên tranh chấp theo quy định tại Điều 19 (Các hồ sơ khiếu kiện không đủ căn cứ pháp lý) hoặc trong quá trình xét xử đối với giá trị pháp lý của một vụ khiếu kiện cũng như không được ảnh hưởng đến quyền được xem các hồ sơ phản đối khác như là nghi vấn ban đầu. Nhằm giải thích rõ hơn, các thủ tục phản đối nêu trên có thể bao gồm nội dung phản đối về việc vụ tranh chấp đó hoặc bất kỳ vụ kiện nào phát sinh thêm không thuộc thẩm quyền xét xử của hội đồng tài phán hoặc vì lý do khác nào đó cũng vượt quá năng lực xét xử của hội đồng tài phán.

Điều 19

Các hồ sơ khiếu kiện không đủ căn cứ pháp lý

1. Nếu như không ảnh hưởng đến thẩm quyền của hội đồng trọng tài đối với việc xem xét những hồ sơ phản đối như là nghi vấn ban đầu, bao gồm việc phản đối cho rằng vụ tranh chấp và bất kỳ vụ kiện nào phát sinh liên quan không thuộc thẩm quyền xét xử hoặc vì lý do khác nào đó cũng vượt quá năng lực xét xử của hội đồng tài phán hoặc không ảnh hưởng đến quyền nêu ý kiến phản đối của bên bị đơn vào bất kỳ thời điểm nào, hội đồng tài phán phải xem xét và quyết định bất kỳ ý kiến phản đối nào của bên bị đơn như là nghi vấn ban đầu, trong đó bên bị đơn cho rằng nếu được xem như là một vấn đề pháp lý thì vụ kiện hoặc bất kỳ nội dung nào của vụ kiện đó theo quy định của Mục này không phải là vụ kiện mà bên nguyên đơn có thể nhận được quyết định có lợi cho mình theo Điều 27 (Phán quyết tạm thời), kể cả trong trường hợp các chứng cứ đưa ra được cho là đúng. Hội đồng tài phán cũng có thể xem xét các chứng cứ phù hợp ngoài tranh chấp.

2. Hồ sơ phản đối vụ kiện theo quy định tại khoản 1 sẽ được nộp lên cho hội đồng trọng tài trong thời gian sớm nhất có thể, nếu có thể thì nên nộp ngay sau khi hội đồng tài phán được thành lập, và không được phép nộp sau thời hạn hội đồng tài phán ấn định để bên bị đơn nộp bản phản biện hoặc văn bản biện hộ, hoặc trong trường hợp có phát sinh bổ sung, sửa đổi đối với hồ sơ khiếu kiện thì không được phép nộp sau thời hạn hội đồng trọng tài ấn định để bên bị đơn gửi phản hồi về nội dung bổ sung, sửa đổi đó. Không được nộp hồ sơ phản đối vụ kiện theo quy định tại khoản 1 nếu đang chờ giải quyết các thủ tục xét xử theo quy định tại Điều 18 (Các trường hợp phản đối ban đầu), trừ trường hợp hội đồng tài phán cho phép nộp hồ sơ phản đối vụ kiện theo quy định tại điều này, sau khi đã xem xét một cách thấu đáo các tình tiết liên quan đến vụ kiện.

3. Khi nhận được hồ sơ phản đối vụ kiện theo quy định tại khoản này và nếu như hội đồng tài phán không cho rằng hồ sơ đó không quá thiếu căn cứ pháp lý thì hội đồng tài phán phải đình chỉ thủ tục xét xử kể cả khi có chứng cứ và căn cứ pháp lý đầy đủ, sắp xếp thời gian để xem xét hồ sơ phản đối đó sao cho phù hợp với lịch trình mà hội đồng đã đề ra để xem xét từng nghi vấn ban đầu khác và đưa ra quyết định hoặc phán quyết tạm thời đối với hồ sơ phản đối đó, trong đó phải giải thích rõ lý do đưa ra quyết định hoặc phán quyết đó.

Điều 20

Nguyên tắc minh bạch trong thủ tục xét xử

1. Các quy tắc của UNCITRAL về tính minh bạch trong thủ tục phân xử trọng tài đối với tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ trên cơ sở hiệp ước (gọi tắt là Quy tắc minh bạch của UNCITRAL) sẽ được áp dung vào các vụ tranh chấp theo quy định tại Mục này căn cứ theo các quy tắc sau đây:

2. Văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 4, văn bản thông báo dự định và thông báo quyết định của hội đồng tài phán theo quy định tại Điều 6, văn bản thông báo phản bác và quyết định về hồ sơ phản bác theo quy định tại Điều 14 và văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 33 phải được liệt kê trong danh mục các tài liệu quy định tại Điều 3(1) của các Quy tắc minh bạch của UNCITRAL.

3. Căn cứ theo quy định tại Điều 7 của Quy tắc minh bạch của UNCITRAL, hội đồng tài phán có quyền tự quyết định hoặc quyết định theo đề nghị của bất kỳ một ai và sau khi đã tham khảo ý kiến với các bên tranh chấp có thể quyết định xem có cần thiết hay không hoặc bằng cách nào để công bố các loại tài liệu khác cung cấp cho hoặc ban hành bởi hội đồng tài phán mà không thuộc đối tượng quy định tại Điều 3(1) và 3(2) của các Quy tắc minh bạch của UNCITRAL. Nếu bên bị đơn đồng ý thì các tang vật của vụ kiện cũng sẽ được công bố.

4. Bên cạnh các quy định tại Điều 2 của Quy tắc minh bạch của UNCITRAL, trong từng điều kiện cụ thể, Liên minh châu Âu hoặc Việt Nam phải kịp thời chuyển các văn bản đó cho bên không tranh chấp và thực hiện công bố chúng một cách rộng rãi sau khi nhận các tài liệu liên quan theo khoản 2 và phải đảm bảo đã kiểm duyệt các thông tin mang tính chất bảo mật, cần được bảo vệ28.

5. Các tài liệu quy định tại các khoản 2, 3 và 4 có thể được công bố rộng rãi bằng hình thức nộp lưu chiểu theo quy định tại các quy tắc minh bạch của UNCITRAL hoặc bằng hình thức khác.

6. Trong thời gian không quá ba năm kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành, Ủy ban Thương mại phải rà soát lại hiệu quả thực hiện của quy định tại khoản 3 nêu trên. Theo yêu cầu của một trong hai Bên, Ủy ban Thương mại có quyền ban hành quyết định theo Điều 34(2)(d) trong đó có quy định Điều 3(3) của quy tắc minh bạch của UNCITRAL sẽ được áp dụng thay cho quy định tại khoản 3.

7. Căn cứ theo quyết định của hội đồng tài phán đối với một hồ sơ phản đối vụ kiện liên quan đến việc xác định thông tin được cho là thông tin mang tính chất bí mật hoặc được bảo mật, bên tranh chấp và hội đồng tài phán đều không được phép tiết lộ thông tin được bảo mật cho bất kỳ bên thứ ba không liên quan đến tranh chấp hoặc công bố thông tin đó rộng rãi ra công chúng trong trường hợp bên tranh chấp đã cung cấp thông tin mà được xác định rõ ràng là mang các tính chất như thế29.

8. Bên tranh chấp có quyền công khai cho các đối tượng khác có liên quan đến các thủ tục xét xử như các nhân chứng và chuyên gia tài liệu chưa bị biên tập nếu bên tranh chấp đó cho rằng việc này là cần thiết cho quá trình xét xử theo Mục này. Tuy nhiên, bên tranh chấp phải bảo đảm rằng các đối tượng đó phải bảo mật cho các thông tin mang tính chất bí mật hoặc đòi hỏi phải được bảo vệ trong các tài liệu đó.

Điều 21

Các quyết định tạm thời

Hội đồng trọng tài có thể quyết định áp dụng một biện pháp bảo vệ tạm thời nhằm bảo lưu quyền lợi cho bên tranh chấp, hoặc để bảo đảm rằng quyền hạn xét xử của hội đồng tài phán được thực hiện một cách hiệu quả, trong đó bao gồm một quyết định để bảo quản chứng cứ thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của bên tranh chấp hoặc để bảo vệ thẩm quyền xét xử của hội đồng tài phán. Hội đồng tài phán không được phép ra lệnh tịch thu tài sản cũng như không được phép áp dụng cơ chế đối xử mà được cho là sẽ cấu thành hành vi vi phạm quy định. Trong khoản này, từ “lệnh” được hiểu là bao gồm cả đề xuất.

Điều 22

Biện pháp bảo đảm đối với các khoản chi phí

1. Nhằm giải thích rõ hơn, trong trường hợp có yêu cầu, hội đồng tài phán có quyền ra lệnh bên nguyên đơn cung cấp biện pháp bảo đảm cho toàn bộ hoặc một phần các chi phí nếu có căn cứ để tin rằng bên nguyên đơn có nguy cơ không đủ khả năng để tôn trọng quyết định có thể được ban hành liên quan đến các vấn đề chi phí đối với bên này.

2. Nếu như không cung cấp biện pháp bảo đảm cho các chi phí trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hội đồng tài phán ra lệnh, hoặc trong khoảng thời gian mà hội đồng tài phán cho phép, hội đồng tài phán phải thông báo rõ về trường hợp này cho các bên tranh chấp. Hội đồng tài phán có quyền ra lệnh thực hiện đình chỉ hoặc chấm dứt các thủ tục xét xử.

Điều 23

Đình chỉ thủ tục xét xử

Nếu sau khi hoàn thành việc nộp hồ sơ khiếu kiện theo Mục này, bên nguyên đơn không thực hiện các bước theo trình tự tự xét xử trong vòng 180 ngày liên tục sau đó hoặc các khoảng thời gian tương tự mà các bên tranh chấp có thể thỏa thuận, bên nguyên đơn sẽ được xem như là đã rút lại hồ sơ khiếu kiện của mình và không tiếp tục vụ kiện. Theo yêu cầu của bên bị đơn và sau khi đã gửi thông báo cho các bên tranh chấp biết, hội đồng tài phán phải ghi rõ việc hủy bỏ vụ kiện đó trong lệnh của mình đưa ra. Sau khi lệnh của hội đồng tài phán được ban hành, quyền xét xử của hội đồng tài phán cũng chấm dứt. Bên nguyên đơn không có quyền khiếu kiện đối với cùng một vụ việc về sau.

Điều 24

Ngôn ngữ sử dụng trong quá trình xét xử

1. Các bên tranh chấp sẽ thỏa thuận với nhau về ngôn ngữ sử dụng trong quá trình tiến hành xét xử.

2. Nếu các bên tranh chấp không đạt được thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thành lập đơn vị xét xử của hội đồng tài phán theo quy định tại Điều 12(7), hội đồng tài phán có quyền quyết định ngôn ngữ sẽ được sử dụng trong quá trình tiến hành xét xử. Hội đồng xét xử sẽ đưa ra quyết định của mình sau khi đã bàn bạc với các bên tranh chấp nhằm mục đích đảm bảo tính hiệu quả kinh tế của quá trình xét xử và đảm bảo rằng quyết định của mình không tạo ra bất kỳ gánh nặng không đáng có đối với nguồn lực của các bên tranh chấp và của cả hội đồng tài phán.30

Điều 25

Bên không tranh chấp

1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngay sau khi vụ tranh chấp liên quan đến thông tin bí mật hoặc bảo mật đã được giải quyết, bên bị đơn phải gửi cho bên không tranh chấp:

a) văn bản yêu cầu tiến hành các cuộc đàm phán quy định tại Điều 4 (Đàm phán giải quyết tranh chấp), thông báo dự định vá thông báo yêu cầu đưa ra quyết định như quy định tại Điều 6 (Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện) và hồ sơ khiếu kiện quy định tại Điều 7 (Nộp hồ sơ khiếu kiện);

b) bất kỳ tài liệu nào mà được công bố rộng rãi ra công chúng khi có yêu cầu theo đúng quy định tại Điều 20 (Tính minh bạch của thủ tục xét xử).

2. Bên không tranh chấp có quyền tham gia phiên điều trần được tổ chức theo quy định tại Mục này và trình bày ý kiến của mình liên quan đến việc giải thích các điều khoản của Hiệp định này.

Điều 26

Báo cáo chuyên gia

Theo yêu cầu cảu bên tranh chấp hoặc sau khi thảo luận với các bên tranh chấp, hội đồng tài phán có quyền tự do lựa chọn một hoặc nhiều hơn các chuyên gia gửi báo cáo bằng văn bản cho mình về các vấn đề thực tế liên quan đến các vấn đề môi trường, sức khỏe, an toàn hoặc các vấn đề khác mà bên tranh chấp trình bày trong một phiên xét xử.

Điều 27

Phán quyết tạm thời

1. Nếu kết luận rằng một biện pháp đang tranh chấp đã vi phạm các điều khoản quy định tại Điều 1(1) (Phạm vi áp dụng), hội đồng tài phán căn cứ theo yêu cầu từ bên nguyên đơn và sau khi lắng nghe các bên tranh chấp trình bày ý kiến của mình có quyền đưa ra phán quyết buộc một bên phải có nghĩa vụ:

 (a) trả tiền bồi thường thiệt hại và lãi phát sinh;

 (b) hoàn trả lại tài sản. Trong trường hợp này, phán quyết này có quy định bên bị đơn có thể thanh toán tiền bồi thường thiệt hại và lãi phát sinh thay cho viêc hoàn trả tài sản được tính toán phù hợp với các điều khoản quy định của Mục II (Bảo hộ đầu tư).

Trong trường hợp hồ sơ khiếu kiện được nộp bởi đại diện của công ty tại bản địa, bất kỳ phán quyết về nghĩa vụ bồi thường nào theo khoản này phải có quy định như sau:

 (a) các khoản tiền bồi thường thiệt hại và lãi phát sinh phải được thanh toán cho công ty tại bản địa đó;

 (b) nghĩa vụ trả lại tài sản cho công ty bản địa phải được thực hiện.

Hội đồng tài phán không có quyền ra lệnh thực hiện bãi bỏ chế độ đối xử liên quan.

2. Các khoản tiền bồi thường thiệt hại có giá trị không được phép vượt quá mức độ thiệt hại mà bên nguyên đơn phải chịu, hoặc công ty tại bản địa của bên này (nếu có) phải chịu là hậu quả của hành vi vi phạm các điều khoản quy định liên quan trong hiệp định này, nhưng đã được giảm đi một phần nhờ vào các khoản tiền bồi thường thiệt hại trước đây mà Bên liên quan đã chi trả. Nhằm giải thích rõ hơn, nếu tự tiến hành thủ tục khởi kiện, nhà đầu tư sẽ chỉ được bồi thường các tổn thất hoặc thiệt hại mà mình đã phải gánh chịu liên quan đến hoạt động đầu tư của mình quy định tại Điều (Phạm vi áp dụng) của Mục II (Bảo hộ đầu tư).

3. Hội đồng trọng tài không được phép đưa ra các phán quyết về khoản bồi thường thiệt hại nhằm mục đích răn đe.

4. Hội đồng tài phán được quyền quyết định chi phí xét xử31 sẽ do bên tranh chấp thua kiện chịu trách nhiệm chi trả. Trong một vài trường hợp ngoại lệ, hội đồng tài phán được phép phân chia chi phí cho các bên tranh chấp nếu hội động tài phán xác định rằng việc phân chia này là phù hợp với tình hình của vụ kiện. Các chi phí hợp lý khác, kể cả chi phí liên quan đến dịch vụ đại diện hoặc hỗ trợ pháp lý, sẽ do bên tranh chấp thua kiện chịu trách nhiệm chi trả, nêu như hội đồng tài phán không cho rằng việc phân chia chi phí đó là không phù hợp với tình hình vụ kiện. Nếu chỉ một số nội dung khiếu kiện được hội đồng xét xử cho thắng kiện, các chi phí này phải được điều chỉnh tương ứng với số lượng hoặc mức độ của các nội dung khiếu kiện được hội đồng xét xử cho thắng kiện đó. Hội đồng tài phán phúc thẩm phải giải quyết các chi phí theo đúng quy định tại điều này.

5. Ủy ban Thương mại có quyền áp dụng các quy tắc bổ sung đối với các khoản phí phải thanh toán nhằm mục đích tính toán mức chi phí đại diện và hỗ trợ pháp lý tối đa mà các bên tranh chấp thua kiện phải chịu theo phân loại cụ thể. Các quy tắc bổ sung đó phải xét đến các nguồn lực tài chính của bên nguyên đơn là một thể nhân hoặc doanh nghiệp có quy mô vừa hoặc nhỏ. Ủy ban Thương mại phải cố gắng ban hành các quy tắc bổ sung trong thời hạn không quá một năm kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực áp dụng.

6. Hội đồng tài phán có nghĩa vụ ban hành phán quyết tạm thời trong thời hạn 18 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ khiếu kiện. Nếu không thực hiện đúng theo thời hạn đã quy định, hội đồng tài phán cũng sẽ đưa ra một quyết định tương tự mà giải thích cụ thể lý do trễ hạn.

7. Phán quyết tạm thời sẽ trở thành phán quyết cuối cùng nếu sau 90 ngày kể từ ngày phán quyết này được ban hành nhưng không bên tranh chấp nào nộp hồ sơ yêu cầu hội đồng tài phán phúc thẩm xem xét lại phán quyết đó.

Điều 28

Quy trình phúc thẩm

1. Một trong hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu hội đồng tài phán phúc thẩm xem xét lại phán quyết tạm thời trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ban hành phán quyết đó. Căn cứ để yêu cầu phúc thẩm là:

 (a) hội đồng tài phán đã phạm sai sót trong quá trình giải thích hoặc áp dụng luật hiện hành;

 (b) hội đồng tài phán đã phạm sai sót một cách rõ ràng trong quá trình nhìn nhận các sự việc, kể cả việc nhìn nhận đối với quy định pháp luật quốc gia có liên quan; hoặc

 (c) những căn cứ được quy định tại Điều 52 của Công ước ICSID, trong trường hợp những căn cứ này chưa được quy định tại (a) và (b).

2. Hội đồng tài phán phúc thẩm có quyền từ chối hồ sơ yêu cầu kháng cáo nếu hồ sơ đó không đủ cơ sở pháp lý. Hội đồng tài phán phúc thẩm cũng có quyền rút ngắn quy trình đình chỉ thủ tục xét xử phúc thẩm nếu thấy hồ sơ kháng cáo là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

3. Nếu hội đồng tài phán phúc thẩm chứng minh được rằng hồ sơ kháng cáo có đủ cơ sở pháp lý thì quyết định của hội đồng tài phán phúc thẩm phải chỉnh sửa hoặc thay đổi hoàn toàn hoặc một phần các thông tin và kết luận mang tính chất pháp lý trong phán quyết tạm thời. Quyết định của hội đồng tài phán phúc thẩm phải nêu cụ thể và chính xác là quyết định này đã chỉnh sửa hoặc thay đổi các phát hiện và kết luận đó của hội đồng tài phán như thế nào.

4. Nếu các chứng cứ do hội đồng tài phán xác lập cho phép thực hiện việc đó, hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ áp dụng các phát hiện và kết luận của mình cho các sự kiện này và ban hành quyết định cuối cùng về vụ việc. Nếu không thể thực hiện thì hội đồng tài phán sẽ chuyển vụ việc về cho hội đồng tài phán xem xét.

5. Theo nguyên tắc chung, các thủ tục xét xử phúc thẩm sẽ không được vượt quá thời hạn 180 ngày kể từ ngày bên liên quan đến vụ tranh chấp chính thức thông báo quyết định của mình cho đến ngày hội đồng tài phán phúc thẩm đưa ra quyết định của mình. Trong trường hợp cho rằng không thể đưa ra quyết định trong vòng 180 ngày, hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ thông báo cho các bên tranh chấp bằng văn bản về các lý do cho việc trễ hạn đó, đồng thời thông báo cụ thể thời gian dự tính để đưa ra quyết định. Dù trong bất kỳ trường hợp nào thì thủ tục xét xử cũng không được thực hiện quá 270 ngày.

6. Bên tranh chấp mà đã nộp hồ sơ yêu cầu phúc thẩm phải cung cấp biện pháp bảo đảm, kể cả các chi phí thực hiện thủ tục phúc thẩm cũng như các khoản hợp lý do được xác định bởi hội đồng tài phán phúc thẩm sau khi đã xem xét các tình tiết liên quan của vụ kiện.

7. Các quy định của Điều 11 [Cấp vốn của bên thứ ba], 20 [Tính minh bạch], 21 [Các quyết định tạm thời], 23 [Đình chỉ thủ tục xét xử] và 25 [Bên không tranh chấp] phải áp dụng nguyên tắc thay đổi khi cần thiết đối với quy trình phúc thẩm.

Điều 29

Phán quyết cuối cùng

1. Một phán quyết tạm thời được ban hành theo quy định của Mục này sẽ trở thành phán quyết cuối cùng nếu không bên tranh chấp nào khiếu nại đối với phán quyết tạm thời theo quy định tại Điều 28 (1).

2. Nếu một phán quyết tạm thời bị khiếu nại và hội đồng tài phán phúc thẩm đã từ chối hoặc đình chỉ hồ sơ kháng cáo theo quy định tại Điều 28(2) thì phán quyết tạm thời đó sẽ trở thành phán quyết cuối cùng vào thời điểm hồ sơ kháng cáo bị hội đồng tài phán phúc thẩm từ chối hoặc đình chỉ xét xử.

3. Nếu một phán quyết tạm thời đã bị khiếu nại và hội đồng tài phán phúc thẩm đã ban hành quyết định cuối cùng về vụ việc thì phán quyết tạm thời mà đã được chỉnh sửa hoặc thay đổi bởi hội đồng tài phán phúc thẩm sẽ trở thành phán quyết cuối cùng vào thời điểm hội đồng tài phán phúc thẩm ban hành quyêt định cuối cùng.

4. Nếu một phán quyết tạm thời đã bị khiếu kiện và hội đồng tài phán phúc thẩm đã chỉnh sửa hoặc thay đổi các phát hiện và kết luận pháp lý của phán quyết tạm thời đó và chuyển hồ sơ vụ việc lại cho hội đồng tài phán xem xét, hội đồng tài phán phải sửa đổi phán quyết tạm thời của mình sau khi đã nghe phần trình bày của các các bên tranh chấp (nếu có) nhằm phản ảnh các phát hiện và kết luận của hội đồng tài phán phúc thẩm. Hội đồng tài phán phải có nghĩa vụ đối với các phát hiện từ hội đồng tài phán phúc thẩm. Hội đồng tài phán phải cố gắng đưa ra phán quyết đã sửa đổi của mình trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận báo cáo của hội đồng tài phán phúc thẩm. Phán quyết tạm thời đã được sửa đổi sẽ trở thành phán quyết cuối cùng trong vòng 90 ngày kể từ ngày ban hành phán quyết đó.

5. Trong Mục này, cụm từ “phán quyết cuối cùng” phải bao gồm bất kỳ phán quyết cuối cùng nào của hội đồng tài phán phúc thẩm mà được ban hành theo đúng quy định tại Điều 28 (4).

Điều 30

Cam kết bồi thường thiệt hại hoặc hình thức bồi thường thiệt hại khác

Hội đồng tài phán sẽ không xem sự việc nhà đầu tư đã chấp nhận hoặc sẽ chấp nhận việc cam kết bồi thường thiệt hại hoặc hình thức bồi thường khác như là hành động biện hộ, phản tố hoặc bù trừ thiệt hại hoặc khiếu nại tương tự mà có giá trị pháp lý theo đúng hợp đồng bảo hiểm hoặc bảo đảm đối với toàn bộ hoặc một phần giá trị bồi thường thiệt hại yêu cầu phải thanh toán khi tiến hành vụ tranh chấp theo Hiệp định này.

Điều 31

Thi hành các phán quyết

1. Các phán quyết cuối cùng được ban hành theo quy định tại Mục này:

 (a) phải có giá trị ràng buộc thực hiện giữa các bên tranh chấp và đối với một vụ kiện cụ thể; và

 (b) không phải đối tượng phải chịu kháng cáo, thẩm định, bỏ qua không áp dụng, hết giá trị pháp lý hoặc biện pháp khắc phục nào khác.

2. Mỗi Bên phải công nhận một phán quyết ban hành theo Hiệp định này có giá trị ràng buộc áp dụng và thực thi nghĩa vụ mang tính vật chất trong phạm vi lãnh thổ của mình giống như một phán quyết cuối cùng của tòa án tại Bên đó.

3. Bên cạnh các quy định tại khoản 1 và 2, trong thời hạn nêu tại khoản 4, việc công nhận và thực thi phán quyết sau cùng đối với một vụ tranh chấp mà Việt Nam là bên bị đơn phải được tổ chức thực hiện theo đúng Công ước về việc Công nhận và Thực thi các Phán quyết Tòa án nước ngoài ký kết vào ngày 10 tháng 6 năm 1958 (gọi tắt là Công ước New York). Trong thời gian này, quy định tại khoản 1(b) của Điều này và khoản 3(b) của Điều 10 (chấp thuận) không áp dụng đối với các tranh chấp mà Việt Nam là bên bị đơn.

4. Khi kết thúc thời hạn 5 năm kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành hoặc tùy theo tình hình mà cần có một thời hạn nào khác dài hơn do Ủy ban Thương mại quyết định, việc công nhận và thực thi một phán quyết cuối cùng đối với các tranh chấp mà Việt Nam là bên bị đơn phải tuân thủ theo các quy định tại khoản 1 và 2.

5. Việc thực hiện một phán quyết của hội đồng tài phán phải là đối tượng điều chỉnh của các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện các phán quyết hoặc quyết định đang có hiệu lực nếu việc thực hiện đó có thể xảy ra.

6. Nhằm giải thích rõ hơn, các quy định tại Điều X (Quyền và nghĩa vụ của các thể nhân hoặc pháp nhân theo Chương X của Hiệp định này) sẽ không có tác dụng ngăn chặn việc công nhận, thực hiện và thi hành các phán quyết được đưa ra theo quy định tại Mục này.

7. Theo quy định tại Điều 1 của Công ước New York về việc Công nhận và Thực thi các Phán quyết Tòa án nước ngoài, các phán quyết cuối cùng được ban hành theo quy định tại Mục này sẽ được xem như là các phán quyết trọng tài và có liên quan đến các vụ khiếu kiện phát sinh từ mối quan hệ hoặc giao dịch thương mại.

8. Nhằm giải thích rõ hơn và căn cứ theo quy định tại khoản 1, nếu nộp hồ sơ khiếu kiện để giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 7(2)(a) thì phán quyết cuối cùng theo quy định tại Mục này sẽ có đủ điều kiện để được xem như là một phán quyết theo Mục 6 của Công ước về giải quyết các tranh chấp đầu tư giữa quốc gia này với công dân của quốc gia khác được ký kết vào ngày 18 tháng 3 năm 1965 (ICSID).

Điều 32

Vai trò của các Bên tham gia Hiệp định

1. Không Bên nào được phép áp dụng cơ chế bảo hộ ngoại giao hoặc tiến hành thủ tục khiếu kiện quốc tế đối với một vụ tranh chấp theo quy định tại Mục này trong trường hợp Bên khác đã không chấp nhận và tuân thủ đúng phán quyết được ban hành trong vụ kiện này. Bảo hộ ngoại giao theo quy định tại khoản này không bao gồm các hình thức trao đổi ngoại giao không chính thức chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế giải quyết tranh chấp.

2. Quy định tại khoản 1 không loại trừ khả năng giải quyết tranh chấp theo [Chương X Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia] đối với một biện pháp áp dụng chung ngay cả nếu phương pháp đó bị cáo buộc là đã vi phạm thỏa thuận đối với một hoạt động đầu tư cụ thể mà có phát sinh tranh chấp bi khởi kiện theo quy định tại Điều 7 và không gây ảnh hưởng đến Điều 25 của Mục này hoặc Điều 5 của các nguyên tắc về tính minh bạch của UNICTRAL.

Điều 33

Hợp nhất

1. Trong trường hợp hai hoặc một vài hồ sơ khiếu kiện được nộp theo quy định tại Mục này có cùng một nghi vấn về pháp luật hoặc nghi vấn về sự việc và phát sinh từ những sự kiện và tình huống giống nhau, bên bị đơn có quyền nộp hồ sơ yêu cầu hợp nhất tất cả các hồ sơ khiếu kiện đó hoặc một phần của hồ sơ khiếu kiện đó cho Chủ tịch hội đồng tài phán. Hồ sơ yêu cầu phải quy định cụ thể về:

 (a) tên và địa chỉ của các bên tranh chấp trong các hồ sơ khiếu kiện yêu cẩu hợp nhất;

 (b) phạm vi hợp nhất đang yêu cầu; và

 (c) các lý do yêu cầu.

Bên bị đơn phải chuyển hồ sơ yêu cầu cho từng bên nguyên đơn trong một hồ sơ khiếu kiện mà bên bị đơn muốn hợp nhất.

2. Trong trường hợp tất cả các bên tranh chấp trong các hồ sơ khiếu kiện cần được hợp nhất đồng ý thực hiện hợp nhất vụ kiện, các bên tranh chấp phải nộp văn bản yêu cầu có chữ ký của các bên đến Chủ tịch hội đồng tài phán theo quy định tại khoản 1. Sau khi nhận được văn bản yêu cầu đó, Chủ tịch hội đồng tài phán phải thành lập một đơn vị xét xử mới (họi tắt là đơn vị xét xử hợp nhất) thuộc hội đồng tài phán theo Điều 12 mà có thẩm quyền xét xử đối với tất cả hoặc một phần các hồ sơ khiếu kiện thuộc diện yêu cầu hợp nhất đó.

3. Trong trường hợp tất cả các bên tranh chấp quy định tại khoản 2 không đạt được thỏa thuận về hợp nhất trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày bên nguyên đơn cuối cùng nhận văn bản yêu cầu hợp nhất quy định tại khoản 1, Chủ tịch hội đồng tài phán phải thành lập đơn vị xét xử hợp nhất thuộc hội đồng tài phán theo quy định tại Điều 12. Đơn vị xét xử hợp nhất sẽ có thẩm quyền xét xử toàn bộ hoặc một phần các vụ khiếu kiện, nếu sau khi xem xét các ý kiến, quan điểm của các bên tranh chấp, đơn vị xét xử này xác định rằng việc thực hiện như thế sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc giải quyết các vụ kiện đảm bảo công bằng và hiệu quả, bao gồm lợi ích đến từ sự nhất quán trong các phán quyết mà hội đồng tài phán đưa ra.

4. Đơn vị xét xử hợp nhất phải thực hiện các thủ tục xét xử của mình theo đúng các quy tắc giải quyết tranh chấp mà các bên đã đồng ý áp dụng trong số các quy tắc quy định tại Điều 7(2).

5. Nếu các bên nguyên đơn không đạt được thỏa thuận về các quy tắc giải quyết tranh chấp trong vòng 30 ngày kể từ ngày bên nguyên đơn cuối cùng nhận được yêu cầu hợp nhất, đơn vị xét xử hợp nhất phải tổ chức thực hiện các thủ tục xét xử trên cơ sở áp dụng các quy tắc trọng tài của UNCITRAL.

6. Các đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán được thành lập theo quy định tại Điều 12 phải nhượng lại thẩm quyền xét xử đối với các hồ sơ khiếu kiện hoặc một vài phần của hồ sơ khiếu kiện đó mà thuộc thẩm quyền xét xử của đơn vị xét xử hợp nhất và các thủ tục xét xử của các đơn vị xét xử này sẽ được duy trì hoặc đình chỉ nếu xét thấy cần thiết. Phán quyết của đơn vị xét xử hợp nhất thuộc hội đồng tài phán liên quan đến các phần của vụ kiện mà đơn vị đó được giao quyền xét xử có hiệu lực ràng buộc đối với các đơn vị xét xét mà có thẩm quyền xét xử đối với các hồ sơ khiếu kiện còn lại kể từ ngày phán quyết đó trở thành phán quyết cuối cùng theo quy định tại Điều 29.

7. Bên nguyên đơn có quyền rút hồ sơ khiếu kiện hoặc một phần hồ sơ khiếu kiện thuộc diện hợp nhất khỏi các thủ tục xét xử để giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều này hoặc sẽ không được phép nộp lại một phần của hồ sơ khiếu kiện đó theo quy định tại Điều 7.

8. Theo yêu cầu của Bên bị đơn, đơn vị hợp nhất thuộc hội đồng tài phán căn cứ vào cùng một cơ sở và mức độ ảnh hưởng quy định tại khoản 3 và 6 nêu trên có quyền quyết định sẽ tiếp nhận thẩm quyển xét xử đối với toàn bộ hoặc một phần hồ sơ khiếu kiện thuộc phạm vi áp dụng của khoản 1 nêu trên mà được nộp sau khi tiến hành các thủ tục xét xử hợp nhất.

9. Theo yêu cầu của một trong các bên nguyên đơn, đơn vị xét xử hợp nhất thuộc hội đồng tài phán có quyền thực hiện các biện pháp mà đơn vị này cho là phù hợp nhằm bảo đảm tính bí mật của thông tin bảo mật của bên nguyên đơn này đối với các bên nguyên đơn khác. Các biện pháp này có thể bao gồm việc gửi các tài liệu chứa thông tin bảo mật đã qua chỉnh sửa cho các bên nguyên đơn khác hoặc việc thu xếp những phần nào đó của vụ kiện sẽ được xử kín.

Điều 34

Nhiệm vụ của các Ủy ban

1. Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ phải tiến hành đánh giá

 (a) các trở ngại có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của Mục này;

 (b) các nội dung cần bổ sung, sửa đổi trong mục này, đặc biệt là sau khi đánh giá kinh nghiệm và những bước tiến đạt được trong quá trình thực hiện tại các diễn đàn quốc tế;

 (c) theo yêu cầu của một trong hai Bên, việc thực hiện bất kỳ giải pháp mà hai bên đã thống nhất liên quan đến tranh chấp theo Mục này;

 (d) bản thảo quy trình làm việcđược soạn bởi Chủ tịch hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 12(10) và 13(10).

2. Theo kiến nghị của Ủy ban Mua sắm Dịch vụ, Đầu tư và Chính phủ và sau khi hoàn thành các yêu cầu và thủ tục pháp lý tương ứng của các Bên, Ủy ban Thương mại phải ban hành các quyết định để:

 (a) bổ nhiệm các thành viên của hội đồng tài phán và thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm theo quy định tại các Điều 12(2) và 13(3) nhằm bổ sung thêm hoặc cắt giảm bớt số lượng thành viên theo quy định tại Điều 12(3) và 13(4) cũng như loại thành viên nào đó ra khỏi hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm theo quy định tại Điều 14(5);

 (b) áp dụng các nguyên tắc giải thích hiệp định theo quy định tại Điều 16(4);

 (c) áp dụng, sửa đổi các chế độ thực hiện các quy tắc giải quyết tranh chấp hiện hành. Các chế độ và nội dung sửa đổi này đều buộc hội đồng tài phán và hội đồng tài phán phúc thẩm phải thực hiện đúng;

 (d) áp dụng một quyết định nào đó có quy định cho rằng các quy tắc minh bạch của UNCITRAL sẽ được áp dụng thay cho quy định tại khoản 3 của Điều 20 (Nguyên tắc minh bạch trong thủ tục xét xử);

 (e) xác định mức phí thực hiện công việc thưởng xuyên của các thành viên của hội đồng tài phán và thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm theo quy định tại các Điều 12(14) và 13(14) và các khoản phí và chi phi khác của các thành viên của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm và của Chủ tịch hội đồng tài phán và hội đồng tải phán phúc thẩm theo Điều 13(16), 12(14) và 13(14);

 (f) chuyển đổi phí thực hiện công việc thường xuyên và các phí cùng với các chi phí khác của các thành viên hội đồng tài phán và thành viên hội đồng tài phán phúc thẩm thành lương thường xuyên theo quy định tại Điều 12(17) và 13(17);

 (g) chấp thuận hoặc từ chối bản thảo quy trình làm việc hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 12(10) và 13(10);

 (h) quy định chi tiết các thỏa thuận chuyển tiếp cần thiết theo đúng quy định tại Điều 15 (Cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương);

 (i) thông qua các quy tắc bổ sung đối với các khoản phí theo quy định tại Điều 27(5).

PHỤ LỤC I

Cơ chế trung gian hòa giải trong các trường hợp tranh chấp đầu tư

Điều 1

Mục tiêu và phạm vi áp dụng

1. Mục tiêu áp dụng cơ chế trung gian hòa giải là nhằm để thúc đẩy việc tìm kiếm một giải pháp được các bên đồng thuận thông qua một quy trình toàn diện và hữu hiệu với sự trợ giúp của bên trung gian hòa giải.

Mục A

Quy trình theo cơ chế trung gian hòa giải

Điều 2

Khởi động quy trình

1. Một trong hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu bắt đầu quy trình trung gian hòa giải bất kỳ thời điểm nào. Yêu cầu đó phải được gửi cho bên kia bằng văn bản.

2. Trường hợp có liên quan đến hành vi có dấu hiệu vi phạm hiệp định của các cơ quan chức năng của Liên minh châu Âu hoặc các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, yêu cầu đó phải được gửi cho bên bị đơn theo quy định tại Điều 6 (Thông báo dự định nộp hồ sơ khiếu kiện) của Mục 3 (Giải quyết các tranh chấp trong đầu tư). Trường hợp đã không xác định được bên bị đơn, văn bản yêu cầu đó sẽ được chuyển cho Liên minh châu Âu. Nếu được chấp nhận, văn bản yêu cầu đó sẽ giúp xác định xem liệu Liên minh châu Âu hoặc quốc gia thành viên liên quan nào sẽ là một bên tham gia quá trình trung gian hòa giải32.

3. Bên nhận yêu cầu đó phải thể hiện tinh thần thiện chí đối với yêu cầu đó và có quyền chấp thuận hay từ chối yêu cầu đó bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày, hoặc nếu yêu cầu đó được gửi sau khi gửi yêu cầu tiến hành đàm phán tranh chấp theo quy định tại Điều 4 Mục 3 (Giải quyết tranh chấp đầu tư) thì trong vòng 30 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận yêu cầu đó.

4. Văn bản yêu cầu phải gồm các nội dung sau: (a) tổng hợp những điểm sai khác hoặc các tranh chấp, kể cả xác định các công cụ pháp lý liên quan đủ để xác định sự việc làm phát sinh yêu cầu đó, (b) tên và thông tin liên hệ của bên gửi yêu cầu và các địa diện của bên đó; (c) các dẫn chiếu từ hiệp định hoặc thư mời các bên khác tham gia hòa giải theo đúng Cơ chế trung gian hòa giải.

Điều 3

Lựa chọn trung gian hòa giải

1. Nếu đồng ý với quy trình trung gian hòa giải, các bên tranh chấp phải cố gắng thống nhất về bên trung gian hòa giải trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận phản hồi đối với yêu cầu đó.

2. Trường hợp các bên tranh chấp không thống nhất với nhau về bên trung gian hòa giải trong khung thời gian quy định, một trong hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu Chủ tịch hội đồng tài phán tiến hành bốc thăm để bầu ra một bên làm trung gia hòa giải trong số các thành viên của hội đồng tài phán mà bên đó đều không phải là công dân của Liên minh châu Âu hoặc Việt Nam.

3. Chủ tịch hội đồng tài phán phải chỉ định bên làm trung gian hòa giải trong thời hạn năm ngày làm việc được xác định như tại khoản 2 bởi một trong hai bên tranh chấp.

4. Bên làm trung gian hòa giải phải đóng vai trò hỗ trợ một cách công bằng và minh bạch để các bên tranh chấp tìm ra được giải pháp ổn thỏa cho cả hai bên.

Điều 4

Các quy tắc trung gian hòa giải

1. Ngay sau khi được bổ nhiệm làm trung giai hòa giải, bên trung gian hòa giải phải thảo luận với các bên bằng hình thức trực tiếp, qua điện thoai hoặc bằng các phương tiện viễn thông khác về:

 (a) tổ chức thực hiện quá trình trung gian hòa giải, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy trình còn tồn đọng như vấn đề về ngôn ngữ sử dụng và địa điểm tiến hành các buổi trung gian hòa giải;

 (b) kế hoạch thời gian dư kiến đối với việc tổ chức thực hiện quá trình trung gian hòa giải;

 (c) bất kỳ nghĩa vụ công khai hợp pháp liên quan đến việc tổ chức thực hiện quá trình trung gian hòa giải;

 (d) việc xác định xem các bên có muốn thỏa thuận bằng văn bản là không tiến hành hoặc không tiếp tục các thủ tục xét xử khác để giải quyết tranh chấp liên quan đến những sai biệt hoặc tranh chấp mà là đối tượng của quá trình trung gian hòa giải đó trong khi thủ tục trung gian hòa giải đang trong tình trạng chờ thực hiện hay không;

 (e) việc xác định xem liệu có cần thiết đưa ra những điều kiện đặc biệt cho việc xét duyệt thỏa thuận giải quyết tranh chấp; và

 (f) các điều kiện về tài chính như tính toán và thanh toán phí và chi phí cho bên làm trung gian hòa giải theo quy định tại Điều 8.

2. Bên làm trung gian hòa giải có quyền quyết định phương pháp nào phù hợp nhất để đảm bảo tính minh bạch cho biện pháp liên quan. Cụ thể, bên làm trung gian hòa giải được phép tổ chức các cuộc họp giữa các bên tranh chấp, tham khảo ý kiến tập thể hoặc cá nhân của các bên tranh chấp, tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc bàn bạc với các chuyên gia và nhà đầu tư cùng với các biện pháp hỗ trợ khác theo yêu cầu của bên tranh chấp. Tuy nhiên, trước khi tỉm kiếm sự hỗ trợ từ hoặc bàn bạc với các chuyên gia và nhà đầu tư liê quan, bên làm trung gian hòa giải phải bàn bạc với các bên tranh chấp.

3. Bên làm trung gian hòa giải có quyền tư vấn và đề xuất giải pháp mà các bên tranh chấp xét xem có nên chấp nhận hoặc từ chối giải pháp đề xuất đó hoặc có quyền thỏa thuận với nhau về một giải pháp khác nào đó. Tuy nhiên, bên làm trung gian hòa giải không được phép tư vấn hoặc góp ý về tính phù hợp của biện pháp đang xung đột với Hiệp định này.

4. Quy trình trung gian hòa giải sẽ được thực hiện trong lãnh thổ của Bên liên quan hoặc do hai bên tự thỏa thuận chọn ra bất kỳ địa điểm nào hoặc thực hiện dưới bất kỳ phương tiện nào khác.

5. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 (b) Điều 4, các bên tranh chấp phải cố gắng thống nhất về giải pháp ổn thỏa cho các bên trong vòng 60 ngày kể từ ngày hoàn tất việc chỉ định bên làm trung gian hòa giải. Trong thời gian chờ thỏa thuận sau cùng, các bên tranh chấp được quyền xem xét lựa chọn các biện pháp tạm thời khả dĩ.

6. Việt Nam, Liên minh châu Âu hoặc quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, khi đóng vai trò làm một bên tham gia quy trình trung gian hòa giải, phải công khai các giải pháp ổn thỏa cho các bên, đảm bảo phù hợp với việc kiểm duyệt các thông tin được xem như bí mật hoặc cần được bảo mật.

7. Quy trình trung gian hòa giải sẽ kết thúc:

 (a) vào ngày các bên tranh chấp đã thông qua giải pháp ổn thỏa cho các bên;

 (b) bằng văn bản tuyên bố của bên làm trung gian hòa giải rằng các nỗ lực trung gian hòa giải tiếp theo không có nhiều hy vọng thành công sau khi đã tiến hành thảo luận với các bên tranh chấp;

 (c) bằng văn bản thông báo của một bên tranh chấp.

Mục B

Tổ chức thực hiện

Điều 5

Triển khai thực hiện giải pháp mà các bên đã đồng ý

1. Đối với một giải pháp mà đã được các bên nhất trí, mỗi bên tranh chấp phải cố gắng thực hiện các biện pháp cần thiết để triển khai trực hiện giải pháp đó trong thời hạn đã thỏa thuận.

2. Bên tranh chấp thực hiện giải pháp đó phải thông báo cho bên kia bằng văn bản về các quy trình hoặc biện pháp cần tiến hành để triển khai thực hiện giải pháp đó.

3. Theo yêu cầu của các bên tranh chấp, bên làm trung gian hòa giải sẽ gửi cho các bên tranh chấp bản thảo báo cáo số liệu thực tế mà tổng hợp ngắn gọn về (1) biện pháp đang được bàn bạn trong các quy trình này; (2) các quy trình kế tiếp; và (3) bất kỳ giải pháp nào mà các bên đã thống nhất như kết quả cuối cùng đạt được của các quy trình này, kể cả các giải pháp tạm thời khả dĩ. Bên làm trung gian hòa giải sẽ cho phép các bên tranh chấp có 15 ngày làm việc để đưa ra ý kiến về bản thảo báo cáo số liệu thực tế đó. Sau khi xem xét các ý kiến của các bên tranh chấp được gửi trong thời hạn này, bên làm trung gian hòa giải phải nộp bản báo cáo số liệu thực tế sau cùng bằng văn bản cho các bên tranh chấp trong vòng 15 ngày làm việc. Bản báo cáo số liệu thực tế không bao gồm nội dung giải thích Hiệp định này.

Mục C

Các điều khoản chung

Điều 6

Mối quan hệ với quá trình giải quyết tranh chấp

1. Quy trình thuộc cơ chế trung gian hòa giải này không đóng vai trò như là căn cứ của các quy trình giải quyết tranh chấp theo quy định tại Hiệp định này hoặc thỏa thuận khác. Bên tranh chấp không được phép dựa vào hoặc xem như là chứng cứ trong các quy trình giải quyết tranh chấp này cũng như bất kỳ cơ quan xét xử nào cũng sẽ không quan tâm đến:

 (a) lập trường của bên tranh chấp trong quá trình thực hiện thủ tục trung gian hòa giải;

 (b) việc bên tranh chấp đã thể hiện thiện chí của mình để chấp nhận một giải pháp đối với biện pháp thuộc diện phải tiến hành quá trình trung gian hòa giải; hoặc

 (c) ý kiến tư vấn hoặc đề xuất của bên làm trung gian hòa giải.

2. Căn cứ theo bất kỳ thỏa thuận nào theo quy định tại Điều 4.1(d), cơ chế trung gian hòa giải không được ảnh hưởng đến các quyền lợi và nghĩa vụ của các Bên tham gia Hiệp định và các bên tranh chấp theo các điều khoản quy định về giải quyết tranh chấp đầu tư và giải quyết tranh chấp.

3. Nếu các bên tranh chấp không có thỏa thuận gì khác và nếu không vi phạm các quy định tại Điều 4(6), tất cả các bước của quy trình này, kể cả quy trình cho ý kiến tư vấn hoặc giải pháp đề xuất phải được giữ bí mật. Tuy nhiên, bất kỳ bên tranh chấp nào cũng có quyền công khai về quá trình trung gian hòa giải đang diễn ra.

Điều 7

Thời hạn

Bất kỳ thời hạn được xác định trong Phụ lục này có thể được thay đổi theo thỏa thuận giữa hai bên tranh chấp.

Điều 8

Chi phí

1. Mỗi bên tranh chấp phải chịu chi phí phát sinh từ việc tham gia vào quy trình trung gian hòa giải.

2. Các bên tranh chấp phải cùng chia sẻ các chi phí phát sinh từ các vấn đề tổ chức, bao gồm thù lao và chi phí trả cho bên làm trung gian hòa giải. Thù lao trả cho bên làm trung gian hòa giải phải thực hiện đúng theo quy định về thù lao trả cho các thành viên của hội đồng tài phán theo Điều 12(16) của Mục 3 [Giải quyết các tranh chấp đầu tư].

PHỤ LỤC II

Bộ Quy tắc ứng xử của các thành viên hội đồng tài phán, hội đồng tài phán phúc thẩm và bên làm trung gian hòa giải

Điều 1

Giải thích từ ngữ

Điều 1: Giải thích từ ngữ

1. Trong Bộ Quy tắc ừng xử này,

 “thành viên” là các thành viên của hội đồng tài phán hoặc thành viên của hội đồng tài phán phúc thẩm được thành lập theo quy định tại Mục 3 (Giải quyết các tranh chấp đầu tư);

 “trung gian hòa giải” là người thực hiện quá trình trung gian hòa giải theo quy định tại Mục 3 (Giải quyết các tranh chấp đầu tư);

 “ứng viên” là cá nhân được xem xét bầu làm thành viên hội đồng tài phán hoặc thành viên hội đồng tài phán phúc thẩm;

 “trợ lý” là người mà theo quy định về bầu chọn thành viên đóng vai trò trợ giúp cho thành viên trong công tác nghiên cứu hoặc hỗ trợ thành viên đó thực hiện nhiệm vụ của mình;

 “nhân viên”, đối với một thành viên, có nghĩa là người chịu sự điều hành và quản lý của thành viên này nhưng không phải là trợ lý.

Điều 2

Chịu trách nhiệm đối với quy trình

Mọi ứng viên và thành viên phải tránh hành vi gian dối và biểu hiện hành vi gian dối và phải luôn tự chủ và không thiên vị cũng như tránh các cuộc xung đột quyền lợi trực tiếp và gián tiếp.

Điều 3

Nghĩa vụ công khai

1. Trước khi được chỉ định, các ứng viên phải công khai cho các Bên biết về quyền lợi quá khứ và hiện tại, mối quan hệ hoặc sự việc mà có thể ảnh hưởng đến tính tự chủ hoặc không thiên vị hoặc có thể tạo ra hành vi gian dối hoặc thiên vị. Theo đó, một ứng viên phải có những nỗ lực tương ứng để nhận thức về bất kỳ quyền lợi, mối quan hệ hoặc các sự việc nêu trên.

2. Các thành viên phải phổ biến bằng văn bản cho các bên tranh chấp về các sự việc liên quan đến các hành vi vi phạm trên thực tế hoặc có khả năng xảy ra đối với Bộ Quy tắc ứng xử.

3. Thành viên phải luôn duy trì các nỗ lực để nhận thức về các quyền lợi, mối quan hệ hoặc các sự việc theo quy định tại khoản 1 Điều này. Thành viên phải công khai các quyền lợi, mối quan hệ hoặc sự việc này bằng cách thông báo cho các bên tranh chấp.33

Điều 4

Trách nhiệm của các thành viên

1. Các thành viên phải thực hiện trách nhiệm của mình một cách xuyên suốt và hiệu quả trong suốt quá trình xét xử cũng như thể hiện tinh thần công bằng và mẫn cán.

2. Thành viên chỉ được phép xem xét các vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử và các vấn đề cần thiết cho việc ra quyết định cũng như không được phép bàn giao trách nhiệm này cho bất kỳ người nào khác.

3. Thành viên phải thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm rằng trợ lý và nhân viên của mình nhận thức được và tuân thủ theo quy định tại Điều 2, 3, 5 và 7 của Bộ Quy tắc ứng xử này.

4. Thành viên không được thảo luận bất kỳ khía cạnh nào thuộc về đối tương của quy trình xét xử với bên tranh chấp hoặc các bên tranh chấp mà không có sự hiện diện của các thành viên khác của đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm.

Điều 5

Nguyên tắc tự chủ và công bằng của các thành viên

1. Thành viên phải luôn thể hiện sự tự chủ và công bằng cũng như tránh dấu hiệu thiên vị hoặc gian dối và không bị tác động bởi tính tư lợi, áp lực từ bên ngoài, các mối quan tâm về chính trị, dư luận, lòng trung thành với một Bên tham gia Hiệp định hoặc bên tranh chấp hoặc thái độ lo sợ bị chỉ trích.

2. Thành viên không trực tiếp hoặc gián tiếp chịu bất kỳ nghĩa vụ nào hoặc chấp nhận bất kỳ lợi ích nào mà có thể bằng cách nào đó gây cản trở hoặc có dấu hiệu cản trở việc thực hiện trách nhiệm của mình.

3. Thành viên không có quyền lạm dụng vai trò thành viên của mình để tư lợi và tránh các hành động mà có thể tạo ấn tượng là người khác đang có vị thế đặc biệt có thể gây ảnh hưởng lên thành viên đó.

4. Thành viên không được phép để cho các mối quan hệ hoặc trách nhiệm tài chính, kinh doanh, gia đình và xã hội gây ảnh hưởng đến hành vi hoặc khả năng ra quyết định của bản thân.

5. Thành viên phải tránh tham gia vào bất kỳ mối quan hệ nào hoặc nhận bất kỳ lợi ích nào mà có thể gây ảnh hưởng đến sự công bằng của bản thân hoặc có thể dẫn đến hành vi gian dối hoặc thiên vị.34

Điều 6

Nghĩa vụ của các cựu thành viên

Tất cả các cựu thành viên phải tránh các hành động mà có thể tạo ấn tượng là họ đã bị chi phối trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc hưởng lợi từ các quyết định hoặc phán quyết của hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm.

Điều 7

Nguyên tắc bảo mật

1. Không có bất kỳ thành viên hoặc cựu thành viên nào có quyền tùy ý công khai hoặc sử dụng các thông tin không thuộc diện công khai liên quan đến thủ tục xét xử hoặc thu thập được trong quá trình tiến hành xét xử, trừ khi để phục vụ mục đích xét xử và, trong bất kỳ trường hợp nào, cũng không công khai hoặc sử dụng bất kỳ thông tin nào như thế nhằm đạt được lợi ích cho bản thân hoặc cho người khác hoặc gây ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của người khác.

2. Không thành viên nào có quyền công khai quyết định hoặc phán quyết hoặc các nội dung của quyết định hay phán quyết đó trước khi xuất bản ra công chúng theo các điều khoản về tính minh bạch tại Mục 3 [Giải quyết các tranh chấp đầu tư].

3. Không thành viên hoặc cựu thành viên nào được phép tùy ý công khai nội dung thảo luận của hội đồng tài phán hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm hoặc quan điểm của bất kỳ thành viên nào dưới bất kỳ hình thức nào.

Điều 8

Chi phí

Mỗi thành viên phải lưu hồ sơ và cung cấp thông tin bản kê khai về số lượng thời gian tham gia thủ tục xét xử và các chi phí phát sinh.

Điều 9

Hòa giải viên

Các quy tắc đặt ra trong bộ Quy tắc ứng xử này khi được áp dụng đối với các thành viên hoặc cựu thành viên phải áp dụng trên cơ sở có bổ sung, chỉnh sửa khi cần thiết đối với các hòa giải viên.

PHỤ LỤC III

1. Ngoài quy định tại khoản 1 Điều 8 (các hồ sơ khiếu kiện khác), nhà đầu tư thuộc Liên minh châu Âu không có quyền nộp lên hội đồng tài phán theo quy định tại Mục 3 hồ sơ khiếu kiện cáo buộc Việt Nam đã vi phạm điều khoản quy định tại Điều 1.1 (Phạm vi áp dụng) nếu nhà đầu tư đó đã nộp hồ sơ khiếu kiện mà có cáo buộc hành vi vi phạm điều khoản quy định tương tự tại Điều 1.1 (Phạm vi áp dụng) trong quá trình tiến hành xét xử trước tòa án hoặc hội đồng tài phán hành chính của Việt Nam hoặc cơ quan trọng tài quốc tế.35

2. Ngoài quy định tại khoản 2 và 3 Điều 8 (các hồ sơ khiếu kiện khác), trong trường hợp Việt Nam là bên bị đơn, nhà đầu tư thuộc Liên minh châu Âu không có quyền nộp hồ sơ khiếu kiện lên hội đồng tài phán theo quy định tại Mục 3 nhằm cáo buộc một biện pháp nào đó đã trái với các điều khoản tại Điều 1(1) nếu bất kỳ người nào mà đang trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý hoặc bị quản lý bởi nhà đầu tư đó (sau đây gọi tắt là người liên quan) đã nộp hồ sơ khiếu kiện lên hội đồng trọng tài hoặc bất kỳ tòa án hoặc hội đồng trọng tài trong nước hoặc quốc tế mà có cáo buộc về hành vi vi phạm điều khoản tương tự tại Điều 1.1 (Phạm vi áp dụng) đối với cùng một dự án đầu tư và:

 (i) khiếu nại của người liên quan đó đã được giải quyết trong một phán quyết, quyết định của tòa án hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp; hoặc

 (ii) khiếu nại của người liên quan đó đang chờ được giải quyết nhưng người đó vẫn chưa chịu rút lại hồ sơ khiếu kiện đang chờ giải quyết đó.

3. Nhằm giải thích rõ hơn, các hồ sơ khiếu kiện mà không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 hoặc 2 sẽ không bị điều chỉnh bởi các điều khoản quy định tại Điều 8 (Các hồ sơ khiếu kiện khác).

PHỤ LỤC IV

Quy trình thực hiện công việc của hội đồng tài phán phúc thẩm

1. Quy trình thực hiện công việc của hội đồng tài phán phúc thẩm được soạn theo đúng quy định tại Điều 13 (10) của Mục này phải tối thiểu gồm các nội dung sau, trong số các nội dung liên quan khác:

 (a) Các kế hoạch chuẩn bị thực tế liên quan đến các nội dung thảo luận của các đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm và liên quan đến việc trao đổi thông tin giữa các thành viên hội đồng tài phán phúc thẩm;

 (b) Các kế hoạch chuẩn bị gửi các văn bản, tài liệu và hồ sơ hỗ trợ, kể cả các quy tắc về chỉnh sửa lỗi đánh máy trong các hồ sơ, tài liệu này;

 (c) Các vấn đề thuộc quy trình liên quan đến việc tạm đình chỉ các thủ tục xét xử trong trường hợp một thành viên của đơn vị xét xử hoặc hội đồng tài phán phúc thẩm qua đời, từ chức, không còn đủ năng lực đảm nhiệm vị trí thành viên hoặc bị bãi nhiệm;

 (d) Các phương thức thực hiện việc sửa lỗi đánh máy trong các quyết định của các đơn vị xét xử của hội đồng tài phán phúc thẩm;

 (e) Nhập hai hoặc nhiều hơn các kháng cáo liên quan đến cùng một phán quyết tạm thời;

 (f) Ngôn ngữ của quy trình kháng cáo mà xét về nguyên tắc phải được thực hiện bằng cùng một ngôn ngữ như các thủ tục xét xử tiến hành trước hội đồng tài phán mà đã đưa ra phán quyết tạm thời bị kháng cáo.

2. Các quy trình thực hiện công việc có thể cũng bao gồm các nguyên tắc hướng dẫn đối với các nội dung sau đây mà có thể được đề cập đến sau thông qua các chỉ thị về quy trình tố tụng của các đơn vị xét xử của hội đồng tài phán phúc thẩm:

 (a) Các mốc thời gian rõ ràng và nguyên tắc sắp xếp các hồ sơ gửi cho và các phiên điều trần của các đơn vị xét xử thuộc hội đồng tài phán phúc thẩm;

 (b) Các phương diện hậu cần liên quan đến việc tổ chức thực hiện thủ tục xét xử như về địa điểm thảo luận và tổ chức các phiên điều trần của các đơn vị xét xử và các phương thức đại diện của các bên tranh chấp;

 (c) Các buổi đàm phán giải quyết tranh chấp theo quy trình tố tụng sơ khởi và các hội nghị trước khi tiến hành điều trần có thể diễn ra giữa đơn vị xét xử và các bên tranh chấp.

CHƯƠNG III

CUNG CẤP DỊCH VỤ XUYÊN BIÊN GIỚI

Điều (...)

Phạm vi áp dụng và giải thích từ ngữ

Chương này được áp dụng đối với các biện pháp của các Bên mà ảnh hưởng đến việc cung cấp tất cả các lĩnh vực dịch vụ, ngoại trừ:

 (a) các dịch vụ âm thanh – hình ảnh;

 (b) vận tải hàng hải nội địa36; và

 (c) dịch vụ vận tải hàng không nội địa và quốc tế, bất kể là có hay không có lịch trình, hoặc các dịch vụ có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các thương quyền trong vận tải hàng không, khác với các dịch vụ sau đây:

 (i) dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng tàu bay mà trong quá trình này thì tàu bay được phép ngừng cung cấp dịch vụ;

 ‘dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng tàu bay mà trong thời gian thực hiện dịch vụ đó tàu bay không được phép hoạt động’ là các hoạt động được thực hiện trên một tàu bay hoặc một bộ phận nào đó của tàu bay trong thời gian tàu bay đó được phép ngừng cung cấp dịch vụ và không bao gồm dịch vụ thường được gọi là dịch vụ bảo dưỡng ngoại trường.

 (ii) hoạt động bán và tiếp thị các dịch vụ vận tải hàng không;

 ‘chào bán và tiếp thị các dịch vụ vận tải hàng không’ là các cơ hội cho các đơn vị vận tải hàng không liên quan được tự do bán và tiếp thị các dịch vụ vận tải hàng không của mình, bao gồm toàn bộ các hình thức tiếp thị như nghiên cứu thị trường, quảng cáo và phân phối. Các hoạt động này không bao gồm việc định giá cho các dịch vụ vận tải hàng không hoặc ban hành các điều kiện áp dụng.

 (iii) các dịch vụ hệ thống đặt giữ chỗ trên máy tính;

 ‘dịch vụ hệ thống đặt giữ chỗ trên máy tính’ là các dịch vụ được cung cấp qua hệ thống điện toán chứa các thông tin về lịch bay, vé trống, giá vé và các quy định liên quan đến vé của các tổ chức vận tải hàng không mà thông qua đó việc đặt vé và giữ chỗ trên chuyến bay có thể được thực hiện.

 (iv) các dịch vụ khai thác mặt đất;

‘các dịch vụ khai thác mặt đất’ là các dịch vụ được cung cấp tại sân bay gồm đại diện, quản lý và giám sát các hãng hàng không; dịch vụ hành khách; dịchvụ hành lý; các dịch vụ sân đỗ; dịch vụ phục vụ ăn uống; bốc dỡ hàng hóa và bưu phẩm hàng không; nạp nhiên liệu cho tàu bay; bảo dưỡng và vệ sinh tàu bay; vận tải mặt đất; dịch vụ khai thác bay, quản lý đội bay và lập kế hoạch bay.

Dịch vụ khai thác mặt đất không bao gồm dịch vụ an ninh, sửa chữa và bảo dưỡng tàu bay; quản lý hoặc khai thác các cơ sở hạ tầng cảng hàng không thiết yếu được quản lý một cách tập trung như các thiết bị dọn tuyết, phá băng, các hệ thống phân phối nhiên liệu, các hệ thống xếp dỡ hành lý và hệ thống vận tải cố định bên trong sân bay.

 (v) các dịch vụ khai thác cảng hàng không;

 ‘các dịch vụ khai thác cảng hàng không’ là việc cung cấp các dịch vụ khai thác nhà ga, sân bay và các cở sở hạ tầng khác có thu phí hoặc ký kết hợp đồng.

Các dịch vụ khai thác cảng hàng không không bao gồm các dịch vụ dẫn đường hàng không.

Điều (...)

Tiếp cận thị trường

1. Đối với việc tiếp cận thị trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ xuyên biên giới, mỗi Bên được phép áp dụng cơ chế đối xử đối với các dịchvụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia không ít ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử quy định tại các điều khoản, hạn mức và tiêu chí đã được thỏa thuận cụ thể trong Biểu các cam kết cụ thể.

2. Trong các lĩnh vực có cam kết tiếp cận thị trường, các biện pháp mà một Bên sẽ không duy trì hoặc áp dụng trên cơ sở một cấp đơn vị hành chính của vùng hoặc của toàn lãnh thổ, trong trường hợp không có quy định cụ thể nào khác trong biểu các cam kết cụ thể được xác định như sau:

 (a) giới hạn số lượng nhà cung cấp dịch vụ, bất kể là dưới hình thức hạn ngạch bằng số, hàng hóa, dịch vụ độc quyền, nhà cung cấp dịch vụ độc quyền hoặc các yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế;

 (b) giới hạn tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hoặc tổng giá trị tài sản dưới hình thức hạn ngạch bằng số hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế;

 (c) giới hạn về tổng số lượng các hoạt động dịch vụ hoặc tổng sản lượng đầu ra dịch vụ được thể hiện bằng đơn vị đo lường số lượng quy định dưới hình thức các hạn ngạch hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế.

Điều (...)

Đối xử quốc gia

1. Trong các lĩnh vực được quy định trong biểu các cam kết cụ thể và căn cứ theo các điều kiện và tiêu chuẩn về bằng cấp chứng nhận quy định tại đây, mỗi Bên phải đối xử với các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia xét trên phương diện tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ xuyên biên giới không ít ưu đãi hơn so với cách mà Bên đó đối xử với các dịch và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của mình.

2. Bên này phải đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 1 bằng cách dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịchvụ của Bên kia cơ chế đối xử đồng nhất chính thức hoặc cơ chế đối xử khác biệt chính thức mà Bên đó áp dụng đối với các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của mình.

3. Cơ chế đối xử đồng nhất hoặc khác biệt chính thức được xem như là ít ưu đãi hơn nếu cơ chế đó thay đổi các điều kiện cạnh tranh có lợi cho các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của Bên này so với các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ tương tự của Bên kia.

4. Các cam kết cụ thể đưa ra tại Điều này không có nghĩa là buộc bất kỳ Bên nào phải bù đắp cho các bất lợi nội tại về cạnh tranh mà xuất phát từ tính chất nước ngoài của các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ liên quan.

Điều (...)

Đối xử tối huệ quốc

1. Mỗi Bên phải đối xử với các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ xuyên biên giới trong lãnh thổ của mình không kém ưu đãi hơn so với cách đối xử mà Bên đó dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình trong hoàn cảnh tương tự theo hiệp định thương mại tự do mà Bên được đề cập đầu tiên đang tiến hành đàm phán ký kết vào ngày [17/07/2015].

2. Khoản 1 sẽ không có hiệu lực áp dụng đối với các lĩnh vực sau đây:

- Các dịch vụ truyền thông, ngoại trừ các dịch vụ bưu chính (theo phân loại sản phẩm trung tâm (CPC…) và các dịch vụ viễn thông (CPC…);

- Các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí;

3. Các quy định trong khoản 1 không được xem như là buộc một Bên phải dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia những ưu đãi từ:

 (a) bất kỳ biện pháp đối xử nào được áp dụng như một phần quy trình hội nhập kinh tế, bao gồm các cam kết hủy bỏ hầu hết các rào cản đầu tư giữa các bên tham gia vào quy trình này cùng với việc ước lượng khối lượng quy chế pháp lý của các bên đối với nhiều vấn đề khác nhau thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này37.

 (b) bất kỳ biện pháp đối xử nào xuất phát từ bất kỳ hiệp định quốc tế nào về việc tránh đánh thuế hai lần hoặc hiệp định hoặc giao ước quốc tế khác liên quan hoàn toàn hoặc chủ yếu đến thuế.

 (c) bất kỳ chế độ đối xử nào xuất phát từ các biện pháp quy định về việc công nhận bằng cấp, chứng chỉ hoặc các biện pháp bảo đảm an toàn theo đúng quy định tại Điều VII của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ hoặc Phụ lục về các Dịch vụ tài chính.

Điều (...)

Biểu các cam kết cụ thể

Các lĩnh vực thuộc diện cam kết được tự do hóa của mỗi Bên theo quy định tại Mục này và các điều khoản, hạn mức, điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp quy định tại các Điều (…) (về xâm nhập thị trường) và (đối xử quốc gia) được đưa ra trong các biểu cam kết tại các Phụ lục (…) [danh sách các cam kết về cung cấp các dịch vụ xuyên biên giới].

Điều (...)

Rà soát

1.Nhằm nới lỏng hơn các điều kiện đầu tư, các Bên phải thường xuyên rà soát lại khung pháp lý liên quan đến đầu tư38 và môi trường đầu tư, phù hợp với các cam kết của mình đưa ra trong các hiệp định quốc tế.

2.Trong nội dung rà soát quy định tại khoản 1, các Bên phải đánh giá các trở ngại gặp phải đối với hoạt động đầu tư. Nhằm làm sâu sắc thêm các điều khoản quy định tại Đề mục này, các Bên phải xác định cơ chế phù hợp nhằm nêu cụ thể các trở ngại mà có thể bao gồm việc thực hiện các cuộc đàm phán trên cơ sở tôn trọng lợi ích của hai bên.

CHƯƠNG IV SỰ HIỆN DIỆN TẠM THỜI CỦA CÁC THỂ NHÂN VÌ MỤC ĐÍCH CÔNG TÁC

Điều (...)

Phạm vi áp dụng và giải thích từ ngữ

1. Chương này áp dụng cho các biện pháp của các Bên liên quan đến việc nhập cảnh và lưu trú tạm thời trong lãnh thổ của mình đối với người đi công tác, các nhân viên chuyển công tác trong nội bộ doanh nghiệp, chuyên viên bán hàng cho doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và các chuyên gia độc lập theo quy định tại khoản 2.

2. Trong Chương này:

 (a) ‘những người đi công tác nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp’ là các thể nhân có chức vụ cao trong một pháp nhân của Bên tham gia Hiệp định và là người chịu trách nhiệm thành lập doanh nghiệp cho pháp nhân đó. Họ không cung cấp các dịch vụ hoặc tham gia vào bất kỳ hoạt động kinh tế nào khác ngoài hoạt động cần thiết nhằm phục vụ mục đích thành lập doanh nghiệp. Họ không được trả thù lao từ nguồn thanh toán bên trong lãnh thổ của Bên sở tại.

 (b) ‘các nhân viên chuyển công tác trong nội bộ doanh nghiệp’ là các thể nhân đã được một pháp nhân hoặc chi nhánh của pháp nhân đó tuyển dụng hoặc đã là các đối tác của thể nhân hoặc chi nhánh đó trong khoảng thời gian ít nhất một năm và là các thể nhân được thuyên chuyển công tác tạm thời sang doanh nghiệp thuộc pháp nhân trong lãnh thổ của Bên khác. Thể nhân liên quan phải thuộc một trong các dạng sau đây:

 (1) Nhà quản lý/ điều hành: Người giữ chức vụ cao trong một pháp nhân của Bên tham gia Hiệp định mà chủ yếu điều hành công tác quản lý doanh nghiệp39 tại Bên kia và chịu sự giám sát hoặc kiểm soát chung chủ yếu từ ban giám đốc hoặc từ các cổ đông hoặc những người có vai trò tương đương, tối thiểu thực hiện các công việc sau:

- điều hành doanh nghiệp hoặc phòng ban của doanh nghiệp; và

- giám sát và kiểm soát công việc của các nhân viên giám sát, nhân viên chuyên môn hoặc nhân viên quản lý khác; và

- được giao thẩm quyền cá nhân để thực hiện công tác tuyển dụng và cắt giảm nhân sự hoặc đề xuất tiến hành tuyển dụng, cắt giảm nhân sự hoặc các công tác khác liên quan đến nhân sự.

 (2) Các chuyên gia: những người làm việc cho một pháp nhân mà có kiến thức chuyên môn cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động, kỹ thuật hoặc công tác quản lý của các doanh nghiệp sẽ được thành lập. Trong quá trình đánh giá trình độ kiến thức này, không chỉ kiến thức chuyên ngành về thành lập doanh nghiệp mà còn về việc xác định xem liệu người đó có năng lực chuyên môn cao hay không, bao gồm đánh giá xem có đủ kinh nghiệm chuyên môn liên quan đến loại hình công tác hoặc hoạt động đòi hỏi có kiến thức kỹ thuật chuyên ngành, kể cả việc đánh giá xem khả năng trở thành thành viên của một tổ chức ngành nghề đã được công nhận, cũng cần phải được quan tâm;

 (3) Các nhân viên được đào tạo: Các cá nhân được một pháp nhân hoặc chi nhánh của pháp nhân đó thuê làm việc trong thời hạn ít nhất một năm, có bằng đại học và được tạm thuyên chuyển nhằm mục đích phát triển nghể nghiệp hoặc để được đào tạo về kỹ thuật hoặc phương thức làm việc40.

 (c) ‘chuyên viên bán hàng cho doanh nghiệp’ là các thể nhân làm đại diện cho nhà cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hóa41 của một Bên muốn xin nhập cảnh và lưu trú tạm thời trong lãnh thổ của Bên kia để đàm phán việc bán các dịch vụ và hàng hóa hoặc ký kết các thỏa thuận để bán các dịch vụ hoặc hàng hóa cho nhà cung cấp đó. Các thể nhân đó không tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ. Họ không tham gia vào các hoạt động bán hàng trực tiếp ra công chúng và không được trả thù lao từ nguồn thanh toán bên trong lãnh thổ của Bên sở tại cũng không phải là các đại lý thương mại.

 (d) ‘Các nhà cung cấp các dịch vụ theo hợp đồng’ là các thể nhân làm việc cho một pháp nhân của một Bên mà bản thân pháp nhân này không phải là một đại lý dịch vụ thay thế và cung cấp nhân sự cũng như đã không, thông qua hình thức đại lý như thế, thiết lập sự hiện diện trong lãnh thổ của Bên kia nhưng đã giao kết hợp đồng xác thực để cung cấp các dịch vụ với một người tiêu dùng cuối cùng tại Bên kia – Bên đòi hỏi phải có sự hiện diện tạm thời của các nhân viên của pháp nhân đó tại đây – để hoàn thành hợp đồng cung cấp các dịch vụ42.

 (e) ‘Các nhà chuyên môn độc lập’ là các thể nhân tham gia vào quá trình cung cấp một loại hình dịch vụ duới hình thức tự hoạt động, tự quản lý trong lãnh thổ của Bên này nhưng chưa thiết lập sự hiện diện của họ trong lãnh thổ của Bên kia và đã giao kết hợp đồng xác thực không phải thông qua một đại lý dịch vụ thay thế và cung cấp nhân sự để cung cấp các dịch vụ với một người tiêu dùng cuối cùng tại Bên kia – Bên đòi hỏi phải có sự hiện diện tạm thời của các thể nhân này tại đây – để hoàn thành hợp đồng cung cấp các dịch vụ43.

 (f) ‘các bằng cấp’ là các loại bằng cấp, chứng chỉ và giấy tờ chứng minh khác (thuộc phần bằng cấp chính quy) được cấp bởi cơ quan chức năng theo các điều khoản quy định pháp luật hoặc hành chính và xác nhận hoàn thành chương trình đào tạo chuyên nghiệp.

Điều (...)

Các nhân viên thuyên chuyển công tác trong nội bộ công ty và người đi công tác

1. Đối với mọi lĩnh vực đã cam kết theo quy định tại Mục 1 Chương II [tự do hóa đầu tư] của Đề mục này, mỗi Bên phải cho phép các nhà đầu tư của Bên kia tuyển dụng các thể nhân của Bên kia đó làm việc trong doanh nghiệp của mình với điều kiện là các nhân viên đó là những người đang trong thời gian đi công tác hoặc các nhân viên được thuyên chuyển công tác trong nội bộ doanh nghiệp44 được quy định tại Điều (…).

2. Thời hạn nhập cảnh và lưu trú tạm thời lên đến ba năm đối với nhà quản lý/điều hành và các chuyên gia, một năm đối với các nhân viên đi tập huấn, đào tạo và chín mươi ngày45 đối với người đi công tác vì mục đích thành lập doanh nghiệp.

3. Đối với mọi lĩnh vực đã cam kết theo quy định tại Mục 1 Chương II [tự do hóa đầu tư] của Đề mục này, các biện pháp mà một Bên không duy trì hoặc thông qua trong phạm vi khu vực hoặc toàn lãnh thổ, trường hợp không có quy định cụ thể khác tại Phụ lục […] (các quy định riêng về người đi công tác và các nhân viên thuyên chuyển công tác trong nội bộ doanh nghiệp được xác định như là các mức giới hạn số lượng các thể nhân mà một nhà đầu tư có thể thuê để làm nhân viên đi công tác và nhân viên thuyên chuyển công tác trong nội bộ doanh nghiệp trong một lĩnh vực cụ thể dưới hình thức hạn ngạch bằng số hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế và các mức giới hạn mang tính chất phân biệt đối xử.

Điều (...)

Chuyên viên bán hàng cho doanh nghiệp

Đối với mọi lĩnh vực được cam kết theo Mục 1 Chương II [tự do hóa đầu tư] hoặc Chương III [xuyên biên giới] của Đề mục này và căn cứ theo các quy định riêng liệt kê tại Phụ lục […] [danh sách các cam kết về cấp độ 4], mỗi Bên phải cho phép chuyên viên bán hàng cho doanh nghiệp được nhập cảnh và lưu trú tạm thời trong khoảng thời gian lên đến 90 ngày46.

Điều (...)

Nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng

1. Các Bên tái khẳng định nghĩa vụ của mình phát sinh từ các cam kết theo Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ đối với hoạt động nhập cảnh và lưu trú tạm thời của các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng.

2. Đối với mọi lĩnh vực được liệt kê dưới đây, mỗi Bên phải cho phép nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng của Bên kia được cung cấp các dịch vụ của họ trong lãnh thổ của mình trên cơ sở các điều kiện được quy định cụ thể trong khoản 3 và bất kỳ quy định riêng nào liệt kê tại Phụ lục […] [danh sách các cam kết về cấp độ 4].

a) các dịch vụ kiến trúc;

b) các dịch vụ quy hoạch đô thị và xây dựng cảnh quan;

c) các dịch vụ kỹ thuật xây dựng;

d) các dịch vụ kỹ thuật xây dựng kết hợp;

e) các dịchvụ tin học và dịch vụ liên quan;

f) các dịch vụ giáo dục sau đại học (chỉ áp dụng với các dịch vụ dân lập);

g) Đào tạo ngoại ngữ;

h) các dịch vụ về môi trường.

3. Các cam kết giữa các Bên phải phù hợp với các điều kiện sau đây:

 (a) các thể nhân phải tham gia vào hoạt động cung cấp tạm thời một loại hình dịch vụ nào đó trong vai trò là các nhân viên thuộc một thể nhân mà đã ký kết một hợp đồng cung cấp dịch vụ trong thời hạn không quá 12 tháng.

 (b) các thể nhân khi nhập cảnh vào lãnh thổ của Bên kia nên cung cấp các dịch vụ này trong vai trò là các nhân viên của pháp nhân đang cung cấp các dịch vụ trong khoảng thời gian tối thiểu là 2 năm ngay trước ngày nộp hồ sơ xin nhập cảnh vào lãnh thổ của Bên kia. Ngoài ra, các thể nhân phải có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm làm việc chuyên nghiệp47 trong lĩnh vực hoạt động là đối tượng của hợp đồng đó tính đến ngày nộp đơn xin nhập cảnh vào lãnh thổ Bên kia.

 (c) các thể nhân khi nhập cảnh vào lãnh thổ của Bên kia phải có:

 (i) bằng tốt nghiệp đại học hoặc một loại giấy tờ, chứng chỉ nào đó chứng minh mình có trình độ kiến thức phù hợp48

 (ii) các bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn khi cần phải có để thực hiện một hoạt động nào đó theo các quy định của pháp luật và yêu cầu pháp lý của Bên là địa điểm triển khai cung cấp dịch vụ đó.

 (d) Thể nhân không nhận thù lao cho việc cung cấp các dịch vụ trong lãnh thổ của Bên kia mà không phải là thù lao được chi trả bởi pháp nhân thuê thể nhân này làm việc.

 (e) Thời hạn nhập cảnh và lưu trú tạm thời của các thể nhân trong lãnh thổ của Bên liên quan là khoảng thời gian lũy kế nhưng không quá 6 tháng49 hoặc bằng thời hạn hiệu lực của hợp đồng, tùy theo thời hạn nào ngắn hơn.

 (f) Việc nhập cảnh theo quy định tại Điều này sẽ được phép khi chỉ liên quan đến hoạt động dịch vụ thuộc đối tượng của hợp đồng này và khi không phát sinh quyền thực thi chức vụ chuyên môn của Bên là địa điểm triển khai cung cấp dịch vụ.

 (g) Số người được thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ không được vượt quá số người cần thiết để thực hiện hợp đồng và tùy thuộc vào yêu cầu của luật pháp, quỵ định hoặc các yêu cầu pháp lý của Bên là địa điểm triển khai cung cấp dịch vụ.

 (h) Các mức giới hạn mang tính chất phân biệt đối xử, kể cả các mức giới hạn về số lượng các thể nhân dưới hình thức kiểm tra nhu cầu kinh tế được quy định cụ thể tại Phụ lục X [danh sách các cam kết về cấp độ 4].

Điều (...)

Các nhà chuyên môn độc lập

Trong thời hạn 5 năm kể từ sau khi Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thực hiện, các Bên phải tiến hành rà soát lại Chương này để xem xét cách thức nhằm mở rộng phạm vi áp dụng của các điều khoản này đối với các nhà chuyên môn độc lập.

CHƯƠNG V

KHUNG QUY ĐỊNH ÁP DỤNG

MỤC I

QUY ĐỊNH TRONG NƯỚC

Điều (…)

Phạm vi áp dụng và giải thích từ ngữ

1. Các quy tắc sau đây được áp dụng cho các biện pháp của các Bên liên quan đến các tiêu chí và quy trình cấp phép, các tiêu chí và quy trình cấp chứng chỉ mà có ảnh hưởng đến:

 (a) hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới;

 (b) hoạt động thành lập và duy trì các pháp nhân hoặc thể nhân được quy định tại Điều (…) (Mục tiêu, phạm vi và giải thích từ ngữ);

 (c) hoạt động lưu trú tạm thời trong lãnh thổ của các Bên của các thể nhân khác nhau như đã được quy định tại Điều (…).

2. Các quy tắc này sẽ chỉ có hiệu lực áp dụng đối với các lĩnh vực mà Bên tham gia Hiệp định đã ký các cam kết cụ thể và cũng chỉ có hiệu lực áp dụng nếu các cam kết này có hiệu lực áp dụng.

3. Các quy tắc này không được áp dụng với các biện pháp nếu các biện pháp này được xem như là các mức giới hạn phụ thuộc vào kế hoạch thời gian theo Điều (…) (Xâm nhập thị trường) và/hoặc Điều (…) (Đối xử quốc gia).

4. Trong Mục này,

 (b) ‘các tiêu chí cấp phép’ là các yêu cầu cơ bản không phải các yêu cầu về sự phù hợp mà một thể nhân hoặc pháp nhân buộc phải tuân thủ theo để được cấp, sửa đổi hoặc gia hạn giấy phép thực hiện các hoạt động quy định từ khoản 1 (a) đến (c).

 (c) ‘Quy trình cấp phép’ là các quy định về hành chính hoặc thủ tục mà một thể nhân hoặc pháp nhân đang xin được cấp phép để thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 (a) đến (c), bao gồm hoạt động sửa đổi hoặc gia hạn giấy phép, phải tuân thủ theo để chứng minh đã thực hiện đúng các tiêu chí cấp phép.

 (d) ‘tiêu chí cấp chứng chỉ’ là các yêu cầu cơ bản liên quan đến năng lực của một thể nhân nhằm cung cấp một loại hình dịch vụ nào đó và đòi hỏi phải chứng minh nhằm mục đích được cấp phép cung cấp một loại hình dịch vụ nào đó.

 (e) ‘Quy trình cấp chứng chỉ’ là các quy định về hành chính hoặc thủ tục mà một thể nhân phải tuân thủ theo để chứng minh đã thực hiện đúng các tiêu chí cấp chứng chỉ để được cấp phép tiến hành cung cấp một loại hình dịch vụ nào đó.

 (f) ‘cơ quan có thẩm quyền’ là chính quyền và cơ quan cấp trung ương, khu vực hoặc địa phương hoặc các tổ chức phi chính phủ thực hiện quyền hạn do chính quyền hoặc cơ quan cấp trung ương, khu vực hoặc địa phương giao, có chức năng ban hành quyết định liên quan đến việc cho phép cung cấp một loại hình dịch vụ nào đó, bao gồm hình thức thành lập doanh nghiệp, hoặc liên quan đến việc cho phép thành lập doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh tế khác không phải dịch vụ.

Điều (...)

Điều kiện cấp giấy phép và cấp chứng chỉ hoạt động

1. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng các biện pháp liên quan đến các tiêu chí và quy trình cấp phép, tiêu chí và quy trình cấp chứng chỉ được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí:

 (a) rõ ràng

 (b) khách quan và minh bạch;

 (c) được xác định trước và công khai cho công chúng và các cá nhân quan tâm;

2. Tùy điều kiện sẵn có mà văn bản cho phép hoặc giấy phép sẽ được cấp ngay khi kết quả của cuộc kiểm tra thích hợp cho thấy rằng các điều kiện để được cấp văn bản cho phép hoặc giấy phép đã được đáp ứng.

3. Mỗi Bên phải duy trì hoặc thiết lập các hội đồng hoặc quy trình pháp lý, trọng tài hoặc hành chính mà, theo yêu cầu của nhà đầu tư hoặc nhà cung ứng dịch vụ bị ảnh hưởng, có quy định về việc rà soát ngay lập tức, và trong trường hợp có lý do chính đáng thì quy định các biện pháp khắc phục phù hợp đối với các quyết định hành chính ảnh hưởng đến hoạt động thành lập doanh nghiệp, hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới hoặc sự hiện diện tạm thời của các thể nhân vì mục đích công việc. Nếu các quy trình trên không tách biệt với đại lý được ủy thác thực hiện quyết định hành chính liên quan, mỗi Bên phải bảo đảm rằng các quy trình này thực tế có quy định về hoạt động rà soát khách quan và công bằng.

Khoản này sẽ không yêu cầu Bên tham gia Hiệp định phải thành lập các hội đồng tài phán hoặc các quy trình trên nếu hành động này trái với cấu trúc hiến pháp hoặc bản chất của hệ thống pháp luật của Bên đó.

Điều (...)

Quy trình cấp phép và cấp chứng chỉ

1. Các quy trình và thể thức cấp phép và cấp chứng chỉ, xét về bản chất, không được xem như là một biện pháp hạn chế việc cung cấp dịch vụ hoặc hạn chế việc tiếp tục thực hiện hoạt động kinh tế khác. Mỗi Bên phải cố gắng đơn giản hóa các thủ tục và thể thức này and không được gây khó khăn hoặc làm trì hoãn hoạt động cung cấp dịch vụ một cách không chính đáng. Các loại phí cấp phép50 mà người nộp hồ sơ phải chịu phải hợp lý và, về cơ bản, không hạn chế hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan.

2. Mỗi Bên phải đảm bảo rằng các quy trình áp dụng bởi và các quyết định của cơ quan chức năng trong quá trình cấp phép hoặc cho phép phải công bằng đối với tất cả những người nộp hồ sơ. Cơ quan chức năng phải đưa ra quyết định của mình một cách độc lập và không phải chịu trách nhiệm giải trình với các cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc thực hiện các hoạt động kinh tế mà phải có giấy phép hoặc văn bản cho phép thực hiện.

3. Trường hợp có quy định về các thời hạn cụ thể đối với các hồ sơ xin phép trong quy định pháp luật của mỗi Bên, bên nộp hồ sơ sẽ được cho một khoảng thời gian hợp lý để nộp hồ sơ. Cơ quan chức năng phải tiến hành giải quyết hồ sơ xin cấp phép ngay. Nếu có thể, hồ sơ xin cấp phép điện tử sẽ được chấp nhận nếu đảm bảo các điều kiện về tính xác thực tương tự như hồ sơ giấy.

4. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng quá trình giải quyết hồ sơ, kể cả quá trình đưa ra quyết định cuối cùng, phải được hoàn tất trong thời hạn hợp lý kể từ ngày nộp hồ sơ hoàn chỉnh. Mỗi Bên phải cố gắng quy định các khoảng thời gian thông thường để hoàn tất quá trình giải quyết hồ sơ.

5. Cơ quan chức năng phải thông báo cho bên nộp đơn trong thời hạn phù hợp kể từ ngày nhận được hồ sơ xin cấp phép chưa hoàn chỉnh để xác định thông tin cần bổ sung để hoàn chỉnh hồ sơ và tạo điều kiện để bên nộp đơn hiệu chỉnh các sai sót.

6. Nếu có thể nên chấp nhận các bản sao có xác thực để thay thế cho việc nộp các hồ sơ gốc.

7. Nếu hồ sơ xin phép bị cơ quan chức năng từ chối, bên nộp đơn phải được thông báo ngay bằng văn bản nếu không có lý do chính đáng nào trì hoãn việc thông báo đó. Về nguyên tắc, khi có yêu cầu chính thức thì bên nộp đơn cũng phải được thông báo về các lý do hồ sơ của mình bị từ chối. Bên nộp hồ sơ nên được tạo điều kiện để nộp lại hồ sơ trong thời hạn hợp lý.

8. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng giấy phép hoặc văn bản cho phép phải bắt đầu có hiệu lực thực hiện ngay sau khi được cấp theo đúng các điều khoản quy định trong Hiệp định này.

MỤC II

CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ ÁP DỤNG CHUNG

Điều (...)

Công nhận bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn của nhau

1. Điều này không đưa ra các quy định nhằm ngăn cản Bên tham gia Hiệp định không được đặt ra yêu cầu các thể nhân phải có bằng cấp và/hoặc kinh nghiệm chuyên môn cần thiết tại khu vực nơi có dịch vụ đang được cung cấp cũng như đối với lĩnh vực hoạt động liên quan.

2. Các Bên phải khuyến khích các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ hoặc các cơ quan chức năng liên quan trong lãnh thổ của mình cùng nhau đề xuất lên Ủy ban thương mại dịch vụ, đầu tư và mua sắm chính phủ được thành lập theo Điều 17.2 (Các Ủy ban chuyên môn) về việc công nhận lẫn nhau. Đề xuất này phải chứng minh:

 (a) giá trị kinh tế của một hiệp định trong tương lai về việc công nhận bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn của nhau (sau đây gọi là “ Hiệp định công nhận lẫn nhau”); và

 (b) tính phù hợp đối với các chế độ của từng Bên, cụ thể là mức độ phù hợp của các tiêu chí được mỗi Bên đưa vào áp dụng đối với việc cho phép, cấp giấy phép, hoạt động và cấp chứng nhận cho các chủ doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ.

3. Khi nhận được bản đề xuất chung, Ủy ban Thương mại Dịch vụ, Đầu tư và Mua sắm Chính phủ phải đánh giá bản đề xuất đó trong thời hạn hợp lý để đảm bảo đề xuất đó phù hợp với Hiệp định này.

4. Trên cơ sở thông tin quy định tại khoản 2, nếu bản đề xuất đó được đánh giá là không phù hợp với Hiệp định này, các Bên phải thực hiện các quy trình cần thiết để tiến hành đàm phán ký kết Hiệp định công nhận lẫn nhau thông qua các cơ quan chức năng hoặc người được ủy nhiệm của mỗi Bên.

MỤC III

CÁC DỊCH VỤ TIN HỌC

Điều (...)

Thỏa thuận về các dịch vụ tin học

1. Khi hoạt động thương mại dịch vụ tin học thuộc diện cam kết được tự do hóa theo quy định tại Chương II, Mục 1, Chương III và IV của Đề mục này, các Bên phải tuân thủ theo các khoản sau đây.

2. CPC51 84, mã mô tả về dịch vụ tin học và các dịch vụ liên quan, có các chức năng cơ bản hỗ trợ hoạt động cung cấp toàn bộ các dịch vụ tin học và các dịch vụ liên quan. Các tiến bộ về công nghệ đã thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ này dưới hình thức một gói các dịch vụ liên quan mà có thể bao gồm một số hoặc tất cả các chức năng cơ bản này. Ví dụ, mỗi một dịch vụ trong các dịch vụ như dịch vụ lưu trữ web hoặc tên miền, dịch vụ khai thác dữ liệu và điện toán lưới có sự kết hợp giữa các tính năng dịch vụ tin học cơ bản.

3. Các dịch vụ tin học và các dịch vụ liên quan, bất kể là các dịch vụ này được thực hiện qua một mạng lưới cụ thể kể cả mạng Internet, phải bao gồm tất cả các dịch vụ mà có chức năng:

 (a) tư vấn, vạch chiến lược, phân tích, lập kế hoạch, cung cấp chi tiết kỹ thuật, thiết kế, xây dựng, lắp đặt, thực hiện, phối hợp, kiểm tra, sửa lỗi, cập nhật, hỗ trợ, trợ giúp kỹ thuật, quản lý đối với hoặc cho các máy tính hoặc hệ thống các máy tính; hoặc

 (b) tư vấn, vạch chiến lược, phân tích, lập kế hoạch, cung cấp chi tiết kỹ thuật, thiết kế, xây dựng, lắp đặt, thực hiện, phối hợp, kiểm tra, sửa lỗi, cập nhật, chỉnh sửa, bảo dưỡng, hỗ trợ, trợ giúp kỹ thuật, quản lý hoặc sử dụng đối với hoặc cho các chương trình máy tính; hoặc

 (c) xử lý dữ liệu, lưu trữ dữ liệu, lưu trữ dữ liệu trong máy chủ hoặc thực hiện các dịch vụ cơ sở dữ liệu; hoặc

 (d) thực hiện các dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa đối với máy móc và trang thiết bị văn phòng, bao gồm máy tính; hoặc,

 (e) thực hiện các dịch vụ đào tạo, huấn luyện cho các nhân viên của khách hàng liên quan đến các chương trình máy tính, máy tính hoặc các hệ thống máy tính và thực hiện các dịch vụ khác chưa được phân loại.

4. Các Bên hiểu rằng, trong nhiều trường hợp, dịch vụ tin học và các dịch vụ liên quan hỗ trợ hoạt động cung cấp các dịch vụ khác52 bằng cả phương tiện điện tử lẫn phương tiện khác. Tuy nhiên, trong những trường hợp trên, sự phân biệt giữa các dịch vụ tin học và các dịch vụ liên quan (chẳng hạn như dịch vụ lưu trữ web hoặc lưu trữ ứng dụng trên máy chủ) và các dịch vụ khác53 dưới sự hỗ trợ của máy vi tính và dịch vụ liên quan là điều quan trọng. Dịch vụ khác, bất kể là được máy tính và dịch vụ liên quan hỗ trợ hay không, cũng sẽ không được quy định trong CPC 84.

MỤC IV

CÁC DỊCH VỤ BƯU CHÍNH54

Điều (...)

Biện pháp ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ bưu chính

Mỗi Bên phải duy trì hoặc ban hành áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm mục đích ngăn chặn các nhà cung cấp, là các đối tượng mà có thể tự mình hoặc hợp tác với nhau gây ảnh hưởng lớn đến các điều kiện tham gia vào các thị trường liên quan đối với các dịch vụ bưu chính nhờ vào vị thế của mình trên thị trường, không được tham gia vào hoặc tiếp tục thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh.

Điều (...)

Giấy phép hoạt động

1. Nếu yêu cầu phải có giấy phép hoạt động, các nội dung sau phải được công khai:

 (a) toàn bộ các tiêu chí cấp bằng và thời hạn thông thường để đưa ra quyết định liên quan đến hồ sơ xin cấp bằng và

 (b) các điều khoản trong bằng cấp phép.

2. Lý do từ chối cấp bằng phải được thông báo cho bên nộp hồ sơ xin cấp bằng khi có yêu cầu và quy trình khiếu nại thông qua một cơ quan quản lý nhà nước liên quan phải được thiết lập ở cấp Bên tham gia Hiệp định. Quy trình này phải minh bạch, không phân biệt đối xử và được xây dựng theo các tiêu chí khách quan.

Điều (...)

Thẩm quyền quản lý về bưu chính

Cơ quan quản lý nhà nước phải hoạt động độc lập và không chịu trách nhiệm giải trình đối với nhà cung cấp các dịch vụ bưu chính. Các quyết định được ban hành bởi và các quy trình thủ tục do cơ quan quản lý nhà nước sử dụng phải mang tính chất công bằng đối với các bên tham gia thị trường.

MỤC V

MẠNG VÀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

Điều (...)

Phạm vi áp dụng

1. Mục này đặt ra các nguyên tắc về khung quy định áp dụng đối với hoạt động cung cấp các mạng và dịch vụ viễn thông công thuộc diện cam kết được tự do hóa theo quy định tại Mục 1 Chương II, Chương III và IV của Đề mục này.

2. Phần tiều mục này không áp dung đối với các biện pháp đương một Bên thông qua và duy trì áp dụng liên quan đến dịch vụ truyền hình hoặc truyền thanh qua phát song55 hoặc đường truyền bằng cáp.

Điều (...)

Giải thích từ ngữ

Trong Tiểu Mục này,

 (a) ‘mạng lưới viễn thông’ là các hệ thống truyển tải và thiết bị chuyển mạch hoặc định tuyến và các nguồn lực khác, bao gồm các thành phần mạng mà không hoạt động, cho phép việc truyền tải tín hiệu bằng dây cáp, sóng vô tuyến, quang học hoặc các phương thức điện từ khác;

 (b) ‘các dịch vụ viễn thông’ là toàn bộ các dịch vụ gồm việc truyền tải và tiếp nhận các tín hiệu điện từ nhưng không bao gồm dịch vụ phát sóng và hoạt động kinh tế gồm việc cung cấp nội dung truyền tải bằng hình thức viễn thông;

 (c) ‘dịch vụ viễn thông công’ là bất kỳ dịch vụ viễn thông nào mà Bên tham gia Hiệp định yêu cầu một cách rõ ràng hoặc có hiệu lực tực hiện là dịch vụ này phải được cung cấp rộng rãi ra công chúng;

 (d) ‘mạng lưới viễn thông công cộng’ là mạng lưới viễn thông mà một Bên yêu cầu phải có để cung cấp các dịch vụ viễn thông công cộng giữa các điểm đầu cuối của mạng lưới đã xác định;

 (e) ‘cơ quan có thẩm quyền quản lý' trong lĩnh vực viễn thông là cơ quan hoặc các cơ quan mà một Bên giao phó việc thực hiện điều hành hoạt động viễn thông;

 (f) ‘các cơ sở vật chất cần thiết’ là các cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông công cộng và cơ sở hạ tầng dịch vụ mà

- được cung cấp độc quyền hoặc đang chiếm lĩnh thị trường bởi một nhà cung cấp đơn lẻ hoặc một số lượng giới hạn các nhà cung cấp dịch vụ.

- không dễ bị thay thế về mặt kinh tế hoặc kỹ thuật để cung cấp một loại hình dịch vụ;

 (g) ‘nhà cung cấp lớn’ là nhà cung cấp các dịch vụ viễn thông công cộng mà có khả năng tác động mạnh mẽ đến các điều kiện tham gia (có xét đến giá cả và hoạt động cung ứng) vào thị trường thích hợp đối với các dịch vụ viễn thông công cộng nhờ vào việc kiểm soát các cơ sở hạ tầng thiết yếu hoặc sử dụng vị thế trên thị trường của mình;

 (h) ‘sự kết nối’ là việc các nhà cung cấp dịch vụ truyền tải viễn thông công cộng kết nối với nhau để cho phép người sử dụng của nhà cung cấp này liên hệ với người sử dụng của nhà cung cấp kia và sử dụng các dịch vụ của nhà cung cấp kia.

 (i) ‘chuyển mạng giữ nguyên số’ là khả năng người dùng cuối các dịch vụ viễn thông công cộng có thể yêu cầu để được giữ nguyên số điện thoại khi chuyển sang sử dụng cùng loại dịch vụ viễn thông công cộng giữa các nhà cung cấp tại cùng một địa điểm;

 (j) “người dùng cuối” là khách hàng tiêu dùng cuối cùng hoặc nhà cung cấp dịch vụ cuối cùng mà được cung cấp một mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng và không phải được cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng này nhằm mục đích cung cấp lại.

 (k) ‘người sử dụng’ là khách hàng sử dụng hoặc nhà cung ứng dịch vụ.

Điều (...)

Thẩm quyền quản lý

1. Cơ quan quản lý phải hoạt động độc lập và không chịu trách nhiệm giải trình đối với bất kỳ nhà cung cấp các mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng nào.

2. Các quyết định được ban hành bởi và các quy trình thủ tục do nhà quản lý sử dụng phải mang tính chất công bằng đối với các bên tham gia thị trường.

Để đạt được mục đích này, Bên mà bảo lưu quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các nhà cung cấp mạng lưới và/hoặc dịch vụ viễn thông phải bảo đảm rằng các biện pháp, quyết định điều hành của cơ quan có thẩm quyền đối với các nhà cung cấp dịch vụ này không phân biệt đối xử cũng như dẫn đến việc gây bất lợi đáng kể đối với bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào của họ.

3. Cơ quan quản lý phải được giao đủ quyền hạn để điều hành, kiểm soát lĩnh vực liên quan cũng như có đủ tài lực lẫn nhân lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

4. Các nhiệm vụ được giao cho cơ quan quản lý phải được công khai dưới hình thức dễ dàng cho mọi người tiếp cận và rõ ràng, đặc biệt nếu những nhiệm vụ này đươc giao cho nhiều hơn một cơ quan phụ trách.

5. Các quyền hạn của cơ quan quản lý phải được thực hiện một cách minh bạch và đúng lúc.

6. Các cơ quan quản lý phải có quyền đảm bảo rằng các nhà cung cấp mạng lưới và dịch vụ viễn thông phải cung cấp mạng lưới và dịch vụ của mình ngay khi có yêu cầu cùng với tất cả các thông tin liên quan như thông in tài chính mà có vai trò cần thiết để khuyến khích các cơ quan quản lý thực hiện các nhiệm vụ của mình theo đúng quy định tại tiểu mục này. Thông tin yêu cầu không được phép vượt quá mức cần thiết nhằm tạo điều kiện cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ của các cơ quan quản lý và phải được xử lý theo đúng các yêu cầu về bảo mật.

Điều (...)

Cấp phép cung cấp mạng lưới và dịch vụ viễn thông

1. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng các trình tự thủ tục cấp phép phải được công khai rộng rãi, kể cả:

 (a) tất cả các tiêu chí, điều kiện và thủ tục cấp phép mà Bên đó đang áp dụng; và

 (b) thời hạn hợp lý để đưa ra quyết định liên quan đến hồ sơ xin cấp giấy phép.

2. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng người nộp đơn xin cấp phép phải được thông báo lý do từ chối cấp phép bằng văn bản khi có yêu cầu.

3. Người nộp đơn có thể nhờ trợ giúp từ phía cơ quan giải quyết khiếu nại trong trường hợp bị từ chối cấp giấy phép.

4. Các khoản phí cấp phép56 mà người nộp hồ sơ xin giấy phép phải chịu phải hợp lý và, về cơ bản, không hạn chế hoạt động cung cấp dịch vụ.

Điều (...)

Các nguồn lực khan hiếm

1. Bất kỳ các quy trình cấp và sử dụng các nguồn lực khan hiếm nào, kể cả tần số, kho số và các quyền đi dây phải được thực hiện một cách khách quan, đúng lúc, minh bạch và không phân biệt đối xử.

2. Tình trạng hiện tại của các băng tần phải được thông báo công khai nhưng không bắt buộc công khai đặc điểm chi tiết về phổ vô tuyến phục vụ mục đích sử dụng của các cơ quan chính phủ.

3. Các Bên nhận thức rằng các quyết định về việc cấp và phân công công tác quản lý phổ tần số và tần số không phải là các biện pháp mà xét về bản chất là các biện pháp trái với Điều () (Xâm nhập thị trường) và Điều [] (Các tiêu chí thực hiện). Theo đó, mỗi Bên bảo lưu quyền thực hiện các chính sách đối với phổ tần số và tần số mà có thể ảnh hưởng đến số lượng nhà cung cấp các dịch vụ viễn thông công cộng miễn sao đảm bảo phù hợp với quy định tại Chương này. Các Bên cũng bảo lưu quyền cấp các băng tần co xét đến các nhu cầu hiện tại và tương lai.

Điều (...)

Kết nối và sử dụng các mạng lưới và dịch vụ viễn thông

1. Mỗi Bên phải đảm bảo rằng tất cả các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia có quyền kết nối và sử dụng mạng lưới và dịch vụ viễn thông của nhà cung cấp lớn57, bao gồm các mạch thuê riêng, được cung cấp trong phạm vị hoặc qua biên giới của Bên đó theo các điều khoản hợp lý, không phân biệt đối xử và minh bạch, kể cả các điều khoản quy định tại các khoản 2 và 3.

2. Mỗi Bên phải đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng yêu cầu được cấp quyền kết nối vào mạng của nhà cung cấp lớn phải được phép:

 (a) mua hoặc thuê và gắn thiết bị cuối hoặc thiết bị khác kết nối bằng giao diện với mạng lưới viễn thông công cộng;

 (b) kết nối các mạch thuê riêng hoặc sở hữu riêng với các mạng và dịch vụ viễn thông công cộng trong lãnh thổ của Bên đó, hoặc qua lãnh thổ của Bên đó, hoặc với các mạch được thuê hoặc sở hữu bởi các nhà cung cấp dịch vụ khác; và

 (c) sử dụng các giao thức hoạt động mà họ đã lựa chọn không phải giao thức cần thiết nhằm đảm bảo cung cấp các mạng lưới và dịch vụ viễn thông rộng rãi đối với công chúng.

3. Mỗi Bên phải đảm bảo rằng tất cả các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia có thể sử dụng các mạng lưới và dịch vụ viễn thông công cộng nhằm phục vụ mục đích di chuyển thông tin trong hoặc qua lãnh thổ của mình, kể cả để phục vụ mục đích thông tin nội bộ doanh nghiệp của nhà cung cấp dịch vụ đó và mục đích tiếp cận thông tin được chứa trong các cơ sở dữ liệu hoặc được chứa dưới hình thức máy có thể đọc được trong lãnh thổ của một trong hai Bên. Bất kỳ phương pháp mới hoặc đã sửa đổi nào của một Bên gây ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng đó phải được thông báo cho Bên kia cũng như phải trải qua quá trình tham khảo ý kiến các Bên.

4. Các Bên phải bảo đảm rằng các nhà cung cấp mà tiếp nhận thông tin từ nhà cung cấp khác trong quá trình thương lượng quyền kết nối, truy cập vào mạng lưới hoặc dịch vụ phải sử dụng thông tin đó chỉ phục vụ mục đích sử dụng mạng lưới hoặc dịch vụ đó và phải luôn bảo mật cho các thông tin được truyền tải hoặc lưu trữ.

Điều ...

Sự kết nối

1. Các Bên phải bảo đảm rằng bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng nào cũng có quyền và, khi được yêu cầu bởi nhà cung cấp dịch vụ khác, có nghĩa vụ thỏa thuận về việc kết nối với nhau nhằm mục đích cung cấp các mạng lưới và dịch vụ viễn thông công cộng.

2. Các Bên phải bảo đảm rằng các nhà cung cấp mà tiếp nhận thông tin từ nhà cung cấp khác trong quá trình thương lượng các kế hoạch kết nối vào mạng lưới hoặc dịch vụ phải sử dụng thông tin đó chỉ phục vụ mục đích sử dụng mạng lưới hoặc dịch vụ đó và phải luôn bảo mật cho các thông tin được truyền tải hoặc lưu trữ.

3. Đối với các dịch vụ viễn thông công cộng, việc kết nối với nhà cung cấp lớn58 phải được bảo đảm tại bất kỳ điểm kết nối khả thi về mặt kỹ thuật nào trong mạng lưới kết nối. Việc kết nối đó phải được thực hiện trên cơ sở:

 (a) các điều khoản thỏa thuận (bao gồm điều khoản liên quan đến các tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật) và mức giá không phân biệt đối xử và các điều khoản thỏa thuận về chất lượng không kém ưu đãi hơn so với khi áp dụng cho các dịch vụ tương tự của chính nhà cung cấp lớn đó hoặc cho các dịch vụ tương tự của các nhà cung cấp không liên kết hoặc cho công ty con hoặc liên kết của nhà cung cấp lớn đó;

 (b) đúng lúc theo các điều khoản thỏa thuận (bao gồm điều khoản liên quan đến các tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật) và các mức giá tính theo chi phí mà mang tính minh bạch, hợp lý và có xét đến tính khả thi về mặt kinh tế và không được gộp chung để nhà cung cấp không cần phải thanh toán các cấu kiện hoặc cơ sở vật chất của mạng lưới mà không cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ; và

 (c) theo yêu cầu tại các điểm kết nối bên cạnh các điểm kết thúc mạng lưới được cung cấp cho phần lớn người sử dụng, phụ thuộc vào các mức phí mà phản ảnh chi phí xây dựng các cơ sở vật chất bổ sung thêm khi cần thiết.

Các quy trình thủ tục áp dụng đối với sự kết nối với nhà cung cấp dịch vụ lớn phải được thông báo rộng rãi.

Các nhà cung cấp lớn phải công bố rộng rãi các thỏa thuận kết nối hoặc các đề nghị kết nối tham chiếu khi cần thiết.

Điều (...)

Các biện pháp tự vệ cạnh tranh đối với các nhà cung cấp lớn

Các Bên phải ban hành hoặc duy trì áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm phục vụ mục đích ngăn những nhà cung cấp vốn là nhà cung cấp lớn, bất kể là đứng một mình hoặc kết hợp với nhau, không cho tham gia vào hoặc tiếp tục thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh. Các hành vi hạn chế cạnh tranh này trong lãnh thổ của các Bên này cụ thể bao gồm:

 (a) việc tham gia vào cơ chế trợ cấp chéo hạn chế cạnh tranh;

 (b) việc sử dụng thông tin thu được từ các đối thủ cạnh tranh mang các kết quả hạn chế cạnh tranh; và

 (c) việc không cung cấp đúng lúc cho các nhà cung cấp dịch vụ các thông tin kỹ thuật về cơ sở vật chất cần thiết và các thông tin liên quan đến thương mại mà cần thiết đối với họ để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ.

Điều (...)

Dịch vụ phổ thông

1. Mỗi Bên có quyền xác định loại nghĩa vụ về dịch vụ phổ thông mà mình muốn duy trì và phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào về dịch vụ phổ thông mà mình sẽ duy trì trên cơ sở minh bạch, không phân biệt đối xử và dung hòa về cạnh tranh cũng như phải bảo đảm rằng nghĩa vụ về dịch vụ phổ thông đó của mình không tạo thêm áp lực trên mức cần thiết đối với loại hình dịch vụ phổ thông đã xác định.

2. Việc chỉ định nhà cung cấp dịch vụ phổ thông phải được thực hiện thông qua cơ chế hiệu quả, minh bạch và không phân biệt đối xử.

Điều (...)

Chế độ chuyển mạng giữ nguyên số

Mỗi Bên phải bảo đảm rằng các nhà cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng trong lãnh thổ của mình được phép áp dụng chế độ chuyển mạng giữ nguyên số cho các dịch vụ di động và các dịch vụ khác mà Bên đó quy định trong điều kiện kỹ thuật và kinh tế cho phép và được thực hiện trên cơ sở đúng lúc và tuân thủ đúng các điều khoản quy định hợp lý.

Điều (...)

Chế độ bảo mật thông tin

Mỗi Bên phải bảo đảm rằng việc bảo mật dữ liệu viễn thông và dữ liệu về lưu lượng liên quan thông qua mạng lưới và các dịch vụ viễn thông công cộng sẽ không làm hạn chế hoạt động thương mại dịch vụ.

Điều (...)

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong viễn thông

1. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các nhà cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ quy định trong tiểu mục này, cơ quan quản lý liên quan phải căn cứ theo yêu cầu của bất kỳ bên nào liên quan để ban hành quyết định mang tính chất ràng buộc thực hiện nhằm giải quyết tranh chấp trong thời gian sớm nhất có thể và trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải giải quyết trong thời hạn hợp lý, trừ khi xuất hiện những trường hợp đặc biệt.

2. Nếu vụ tranh chấp đó có liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, các cơ quan quản lý liên quan phải cùng nhau phối hợp đưa ra giải pháp cho tranh chấp đó.

3. Quyết định của cơ quan quản lý phải được công khai và có xét đến các tiêu chí về tính bảo mật kinh doanh. Các Bên liên quan phải nêu lý do cụ thể làm căn cứ và có quyền khiếu nại đối với quyết định này theo khoản 7 Điều X.2 tại tiểu mục này.

4. Quy trình thủ tục nêu tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này không có hiệu quả ngăn cản một trong hai bên liên quan không được nộp hồ sơ khiếu kiện lên tòa.

5. Bất kỳ người sử dụng hoặc nhà cung cấp nào bị tác động bởi quyết định của cơ quan quản lý đều có quyền khiếu nại đối với quyết định đó lên cơ quan giải quyết khiếu nại mà hoạt động độc lập với các bên liên quan. Cơ quan này, có thể là tòa án, phải có năng lực chuyên môn phù hợp để có thể thực hiện các chức năng của mình một cách hiệu quả. Các tình tiết liên quan của vụ kiện phải được chú ý và cơ chế khiếu nại kháng cáo phải mang tính chất hiệu quả. Nếu cơ quan giải quyết khiếu nại về bản chất không phải là cơ quan tư pháp, cơ quan đó phải gửi văn bản cung cấp lý do cho việc ra quyết định của mình và quyết định của cơ quan đó phải chịu sự giám sát của cơ quan tư pháp công bằng và độc lập. Các quyết định do các cơ quan giải quyết khiếu nại ban hành phải được thi hành một cách hiệu quả. Trong thời gian chờ kết quả giải quyết khiếu nại, quyết định của cơ quan quản lý phải bị đình chỉ lại, trong trường hợp không có giải pháp tạm thời nào được đưa ra theo đúng quy định pháp luật trong nước.

Điều (…)

Thuê chỗ đặt máy chủ

1. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng các nhà cung cấp lớn trong lãnh thổ của mình:

a. phải cung cấp dịch vụ thuê chỗ đặt trang thiết bị vật lý cần thiết cho hoạt động kết nối cho các nhà cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng của các Bên khác là nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng trong lãnh thổ của Bên đó; và

b. trong các trường hợp mà việc thuê chỗ đặt máy chủ vật lý quy định tại điểm (a) không có tính khả thi vì lý do kỹ thuật hoặc vì những hạn chế về không gian, phải phối hợp với các nhà cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng của các Bên khác là nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng trong lạnh thổ của Bên đó nhằm tìm ra và thực hiện giải pháp mang tính thực tế, đột phá và khả thi về mặt thương mại.

2. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng các nhà cung cấp dịch vụ lớn trong lãnh thổ của mình sẽ cung cấp cho các nhà cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng dịch vụ thuê chỗ đặt máy chủ vật ý hoặc giải pháp mang tính thực tế, đột phá và khả thi về mặt thương mại như được quy định tại khoản 1 một cách đúng lúc và tuân thủ các điều khoản quy định (kể cả các tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật) cũng như ở các mức giá hợp lý (có xét đến tính khả thi về mặt kinh tế), không phân biệt đối xử và minh bạch rõ ràng.

3. Căn cứ theo các quy định pháp luật trong nước của mình, mỗi Bên có quyền xác định địa điểm nơi mà Bên đó yêu cầu các nhà cung cấp lớn trong lãnh thổ của mình cung cấp dịch vụ thuê chỗ đặt máy chủ vật lý hoặc các giải pháp đột phá có tính khả thi về mặt thương mại theo đúng quy định tại khoản 1.

Điều (...)

Dịch vụ mạch cho thuê

Mỗi Bên phải bảo đảm rằng, trong trường hợp khả thi về mặt kỹ thuật, các nhà cung cấp dịch vụ lớn trong lãnh thổ của mình sẽ cung cấp cho các nhà cung cấp mạng lưới hoặc dịch vụ viễn thông công cộng của các Bên khác dịch vụ mạch cho thuê (chính là các dịch vụ viễn thông công cộng) một cách đúng lúc và tuân thủ các điều khoản quy định (kể cả các tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật) cũng như ở các mức giá hợp lý (có xét đến tính khả thi về mặt kinh tế), không phân biệt đối xử và minh bạch rõ ràng.

Điều (...)

Các thành phần mạng lưới riêng lẻ

Mỗi Bên phải đảm bảo rằng các nhà quản lý viễn thông của mình có đủ thẩm quyền để yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ lớn phải đáp ứng các yêu cầu hợp lý từ các nhà cung cấp mạng lưới và/hoặc dịch vụ viễn thông công cộng để có thể truy cập hoặc khai thác các thành phần mạng lưới cụ thể trên cơ sở riêng lẻ một cách đúng lúc và tuân thủ các điều khoản quy định một cách hợp lý, minh bạch và không phân biệt đối xử. Mỗi Bên phải xác định các thành phần mạng lưới cụ thể cần phải công khai trong lãnh thổ của mình theo đúng các quy định pháp luật hiện hành.

MỤC VI

CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH

Điều (...)

Phạm vi áp dụng và giải thích từ ngữ

1. Mục này đặt ra các nguyên tắc về khung quy định áp dụng đối với các dịch vụ tài chính thuộc diện cam kết được tự do hóa theo quy định tại Mục 1 Chương II, Chương III và IV của Đề mục này.

2. Trong Chương này, Mục 1 của các Chương II, Chương III và IV của Đề mục này,

 (a) ‘dịch vụ tài chính’ là dịch vụ mang tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một Bên tham gia Hiệp định. Các dịch vụ tài chính bao gồm các hoạt động sau:

A. Các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm

1. Dịch vụ bảo hiểm trực tiếp (bao gồm đồng bảo hiểm): (a) bảo hiểm nhân thọ;

 (b) bảo hiểm phi nhân thọ;

2. Dịch vụ tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;

3. Dịch vụ trung gian bảo hiểm như môi giới và đại lý bảo hiểm; và

4. Các dịch vụ phụ trợ cho dịch vụ bảo hiểm, bao gồm dịch vụ tư vấn, định giá, đánh giá rủi ro và giải quyết khiếu nại đòi bồi thường.

B. Các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ dịch vụ bảo hiểm):

1. Nhận ký quỹ và các khoản phải trả khác từ công chúng;

2. Cho vay các loại như tín dụng tiêu dùng, tín dụng bảo lãnh, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại;

3. Dịch vụ cho thê tài chính;

4. Tất cả các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, kể cả dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và ghi nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;

5. Dịch vụ bảo đảm và cam kết;

6. Thực hiện các giao dịch sau qua tài khoản của mình hoặc của khách hàng, bất kể là thực hiện giao dịch tại sàn giao dịch, thị trường qua quầy hoặc hình thức giao dịch khác:

 (a) các công cụ thị trường tiền tệ (kể cả chi phiếu, hối phiếu hoặc chứng chỉ tiền gửi);

 (b) ngoại hối;

 (c) các sản phẩm phái sinh, bao gồm nhưng không giới hạn đối với các sản phẩm tương lai và quyền chọn;

 (d) tỷ giá hối đoái và các công cụ lãi suất, kể cà các sản phẩm hoán đổi và các hợp đồng lãi suất kỳ hạn;

 (e) các loại chứng khoán có thể chuyển nhượng;

 (f) các công cụ và tài sản tài chính có thể chuyển nhượng, kể cả vàng bạc;

7. Tham gia vào các đợt phát hành các loại chứng khoán, kể cả hoạt động làm đại lý bảo lãnh phát hành chứng khoán và phát hành chứng khoán (ra công chúng hoặc riêng lẻ) và cung cấp các dịch vụ liên quan đến phát hành chứng khoán;

8. Môi giới vay tiền;

9. Quản lý tài sản, bao gồm quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, tẩt cả các hình thức quản lý chương trình đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ giữ hộ, bảo quản và ủy thác;

10. Các dịch vụ thanh toán và bù trừ đối với các tài sản tài chính, kể cả chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác;

11. Cung cấp và bàn giao thông tin tài chính và phần mềm xử lý thông tin tài chính và phần mềm liên quan;

12. Các dịch vụ tư vấn, trung gian và các dịch vụ hỗ trợ khác đối với toàn bộ các nghiệp vụ liệt kê trong các điểm từ (1) đến (11), kể cả dịch vụ tham chiếu va phân tích tín dụng, nghiên cứu và tư vấn về đầu tư và danh mục đầu tư trong các hoạt động mua bán doanh nghiệp và các hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp và hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp.

 (b) ‘nhà cung cấp dịch vụ tài chính’ là bất kỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào của một Bên đang tìm kiếm cơ hội được cung cấp hoặc đang cung cấp các dịch vụ tài chính. Thực thể công không phải là ‘nhà cung cấp dịch vụ tài chính’.

 (c) ‘thực thể công’ là:

1. Chính phủ, ngân hàng trung ương hoặc cơ quan quản lý tiền tệ của một Bên tham gia Hiệp định hoặc một thực thể thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của một Bên tham gia Hiệp định mà tham gia chủ yếu vào việc thực hiện các chức năng hoặc nhiệm vụ quản lý nhà nước nhưng không bao gồm một thực thể mà chủ yếu tham giao vào hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính theo các điều khoản quy định về thương mại; hoặc

2. thực thể tư nhân trong quá trình thực hiện các chức năng thường được thực hiện bởi ngân hàng trung ương hoặc cơ quan quản lý tiền tệ.

 (d) ‘dịch vụ tài chính mới’ là dịch vụ mang tính chất tài chính, bao gồm các dịch vụ liên quan đến các sản phẩm hiện có và phát triển mới hoặc liên quan đến cách thức mà một sản phẩm được cung cấp nhưng không do nhà cung cấp dịch vụ tài chính trong lãnh thổ cùa một Bên cung cấp mà lại được cung cấp trong lãnh thổ của Bên kia.

 (e) "tổ chức tự quản" là các cơ quan phi chính phủ, sàn giao dịch chứng khoán hoặc hợp đồng tương lai, đại lý thanh toán, tổ chức hoặc hiệp hội khác mà thực hiện thẩm quyền quản lý hoặc giám sát đối với các nhà cung cấp dịch vụ tài chính trên cơ sở quy định hoặc phân cấp quản lý từ cấp quản lý trung ương, khu vực hoặc địa phương (nếu có).

Điều (...)

Biện pháp đảm bảo an toàn

1. Không quy định nào trong Hiệp định này có thể nghiêm cấm Bên tham gia Hiệp định này ban hành hoặc duy trì các biện pháp vì lý do an toàn như:

 (a) bảo vệ nhà đầu tư, người gửi tiền, người giữ hợp đồng bảo hiểm hoặc người thụ hưởng ủy thác từ nhà cung cấp dịch dịch vụ tài chính;

 (b) bảo đảm tính toàn vẹn và ổn định của hệ thống tài chính của một Bên tham gia Hiệp định.

2. Các biện pháp này không được gây thêm áp lực quá mức cần thiết cho việc hoàn thành mục tiêu đề ra.

3. Không quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là yêu cầu Bên tham gia Hiệp định phải công khai thông tin liên quan đến giao dịch và tài khoản của khách hàng cá nhân hoặc các thông tin bí mật hoặc độc quyền thuộc quyền sở hữu của các thực thể công.

4. Mỗi Bên phải cố gắng tối đa nhằm bảo đảm rằng các chuẩn mực quốc tế về hoạt động điều hành và giám sát trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và về hoạt động đấu tranh chống né và trốn thuế phải được thực hiện và có hiệu lực áp dụng trong lãnh thổ của mình. Các chuẩn mực quốc tế đó bao gồm “Nguyên tắc cốt lõi về Giám sát ngân hàng hiệu quả” của Ủy ban Basel, “Nguyên tắc cốt lõi về bảo hiểm” của Hiệp hội Giám sát Bảo hiểm quốc tế, “Mục tiêu và Nguyên tắc Điều hành Chứng khoán” của Tổ chức quốc tế của các Ủy ban Chứng khoán, “Hiệp định về trao đổi thông tin về thuế” của OECD, “Tuyên bố về tính minh bạch và trao đổi thông tin về thuế” của G20 và “Bốn mươi đề xuất về vấn nạn rữa tiền” và “Chín đề xuất đặc biệt về Tài trợ cho khủng bố” của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính.

Ngoài ra, các Bên cũng lưu ý đến “Mười nguyên tắc chính đối với hoạt động trao đổi thông tin” do các Bộ trưởng Tài chính của các Quốc gia G7 ban hành.

5. Nếu không ảnh hưởng đến các phương thức điều hành thương mại dịch vụ tài chính xuyên biên giới, Bên này có quyền yêu cầu thực hiện đăng ký hoặc cấp phép cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính xuyên biên giới của Bên kia và cho các công cụ tài chính.

Điều (...)

Điều hành minh bạch

Mỗi Bên tham gia Hiệp định phải công bố các tiêu chí vèt hoàn tất hồ sơ đăng ký hoặc xin cấp phép hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho những ai quan tâm.

Căn cứ theo yêu cầu của bên nộp hồ sơ, Bên liên quan phải thông báo cho bên nộp hồ sơ về tình trạng giải quyết hồ sơ xin đăng ký hoặc cấp phép đó của mình. Nếu yêu cầu bên nộp hồ sơ bổ sung thêm thông tin, Bên liên quan phải thông báo ngay cho bên nộp hồ sơ.

Điều (...)

Các dịch vụ tài chính mới

Mỗi Bên phải cho phép nhà cung cấp dịch vụ tài chính của Bên kia cung cấp bất kỳ dịch vụ tài chính nào mới được phát triển mà Bên đầu tiên cho phép nhà cung cấp dịch vụ tài chính của mình cung cấp theo quy định của luật pháp trong nước trong các hoàn cảnh tương tự miễn sao việc ban hành áp dụng các dịch vụ tài chính mới đó không đòi hỏi phải ban hành luật mới hoặc không đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi quy định pháp luật hiện hành. Bên tham gia Hiệp định có quyền xác định hình thức tổ chức và tư cách pháp lý mà trên cơ sở đó dịch vụ này được cung cấp và có quyền yêu cầu phải cấp phép để thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ này. Trường hợp việc cấp phép này là bắt buộc thực hiện thì một quyết định được ban hành trong thời hạn hợp lý và việc cấp phép chỉ có thể bị từ chối vì lý do bảo đảm an toàn.

Điều (...)

Xử lý dữ liệu

1. Trong thời hạn không quá hai năm kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành, mỗi Bên phải cho phép nhà cung cấp dịch vụ tài chính59 của Bên kia được chuyển thông tin điện tử hoặc thông tin dưới hình thức khác vào và ra khỏi lãnh thổ của mình nhằm phục vụ mục đích xử lý dữ liệu nếu việc xử lý dữ liệu này là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của nhà cung cấp dịch vụ tài chính đó.

2. Mỗi Bên phải ban hành hoặc duy trì áp dụng các biện pháp tự vệ thích hợp nhằm bảo vệ tính riêng tư và thông tin cá nhân, kể cả các hồ sơ tài liệu và tài khoản cá nhân.

Điều (...)

Các trường hợp ngoại lệ cụ thể

1. Không có quy định nào trong Đề mục này được hiểu là có thể ngăn một Bên, kể cả các thực thể công, không được độc quyền thực hiện hoặc cung cấp trong phạm vi lãnh thổ của mình các nghiệp vụ hoặc dịch vụ là một phần của kế hoạch hưu trí công cộng hoặc hệ thống an sinh xã hội theo luật định, ngoại trừ trường hợp các nghiệp vụ này có thể được thực hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ tài chính mà là đối thủ cảnh tranh của các thực thể công hoặc các thể chế tư nhân theo đúng quy định pháp luật trong nước của Bên đó.

2. Không quy định nào của Hiệp định này, ngoại trừ Chương II Đầu tư căn cứ theo quy định tại khoản 3, được áp dụng cho các nghiệp vụ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan quản lý tiền tệ hoặc bất kỳ thực thể công nào khác đang theo đuổi việc thực hiện chính sách tiền tệ hoặc các chính sách lãi suất hối đoái.

3. Không quy định nào của Chương II Đầu tư sẽ được áp dụng cho các biện pháp áp dụng chung không phân biệt đối xử được thực hiển bởi bất kỳ thực thể công nào đang theo đuuổi chính sách tiền tệ hoặc chính sách lãi suất hối đoái. Quy định trong khoản này không ảnh hưởng đến các nghĩa vụ của một Bên tham gia Hiệp định theo Điều x [Các hoạt động chuyển giao].

4. Không có quy định nào trong Đề mục này được hiểu là có thể ngăn một Bên, kể cả các thực thể công, không được độc quyền thực hiện hoặc cung cấp trong phạm vi lãnh thổ của mình các nghiệp vụ hoặc dịch vụ đại diện cho hoặc có sự bảo đảm hoặc sử dụng các nguồn lực tài chính của Bên đó hoặc các thực thể công của Bên đó, ngoại trừ trường hợp các nghiệp vụ này có thể được thực hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ tài chính mà là đối thủ cảnh tranh của các thực thể công hoặc các thể chế tư nhân theo đúng quy định pháp luật trong nước của Bên đó.

5. Nhằm giải thích rõ hơn, các Bên hiểu rằng các khoản 1 và 4 không có nghĩa là cho phép các Bên áp dụng mà không bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư hoặc dự án đầu tư bị ảnh hưởng theo quy định tại Mục 2 Chương II [Bảo hộ đầu tư] của Đề mục này các biện pháp quy định tại các khoản này khi các nghiệp vụ hoặc dịch vụ được đề cập tại đây đã thuộc diện cam kết tự do hóa hoặc có khả năng được thực hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ tài chính đang cạnh tranh với các thực thể công hoặc các thể chế tư nhân theo quy định pháp luật trong nước của Bên đó.

Điều (...)

Các tổ chức tự quản

Nếu Bên này yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ tài chính của Bên kia phải trở thành thành viên, tham gia vào hoặc gia nhập bất ký tổ chức tự quản nào để có thể cung cấp dịch vụ tài chính trong hoặc vào lãnh thổ của mình thì Bên đó phải bảo đảm tuân thủ các nghĩa vụ quy định tại Điều X (Cơ chế đối xử quốc gia và Đối xử tối huệ quốc đối với hoạt động thành lập doanh nghiệp) và Z (Cơ chế đối xử quốc gia và Đối xử tối huệ quốc đối với hoạt động thương mại xuyên biên giới).

Điều (...)

Các cơ chế bừ trừ và thanh toán

Căn cứ theo các điều khoản quy định về cơ chế đối xử quốc gia, mỗi Bên phải tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính của Bên kia mà được thành lập trong lãnh thổ của mình được tham gia vào hệ thống thanh toán và bù trừ được vận hành bởi các thực thể công và tham gia vào các cơ sở hạ tầng cấp vốn và tài trợ chính thức hiện hành trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh thông thường. Quy định tại khoản này không nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc tiếp cận với bên cho vay các cơ sở hạ tầng làm cứu cánh cuối cùng của Bên tham gia Hiệp định này.

MỤC VII

CÁC DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HẢI QUỐC TẾ

Điều (...)

Phạm vi áp dụng, giải thích từ ngữ và các nguyên tắc thực hiện

1. Mục này đưa ra các nguyên tắc về tự do hóa các dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế theo đúng quy định tại Mục 1 của các Chương II, Chương III và IV của Đề mục này.

2. Giải thích từ ngữ

Trong Mục này, Mục 1 của các Chương II, Chương III và IV của Đề mục này,

 (a) ‘các dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế’ là hoạt động vận tải hành khách và/hoặc hàng hóa bằng tàu biển giữa một cảng tại Việt Nam và một cảng tại Liên minh châu Âu hoặc bất kỳ Bên nào khác. Hoạt động dịch vụ này bao gồm việc ký kết hợp đồng trực tiếp với các nhà cung cấp dịch vụ vận tải khác nhằm quy định các hoạt động vận tải đa phương thức trong một chứng từ vận tải riêng biệt nhưng không bao gồm quyền cung cấp các dịch vụ vận tải khác đó.

 (b) ‘hoạt động vận tải đa phương thức’ là hoạt động vận tải hàng hóa sử dụng nhiểu hơn một phương thức vận tải, bao gồm một hình thức vận tải bằng đường biển, theo đúng chứng từ vận tải riêng biệt.

 (c) ‘hàng hóa quốc tế’ là hàng hóa được vận chuyển giữa cảng của Bên này và cảng của Bên kia hoặc của Bên không tham gia Hiệp định, hoặc giữa cảng của một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu và cảng của một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu khác.

 (d) ‘các dịch vụ hàng hải phụ trợ’ là các dịch vụ xếp dỡ hàng hóa hàng hải, dịch vụ thông quan hải quan, dịch vụ trạm thu gom và đóng hàng hóa vào container, dịch vụ đại lý hàng hải và dịch vụ giao nhận hàng hóa hàng hải.

 (e) ‘dịch vụ xếp dỡ hàng hóa hàng hải’ là các hoạt động được thực hiện bởi các công ty bốc xếp hàng hóa, kể cả các nhà khai thác bến bãi, nhưng không bao gồm các hoạt động bốc vác trực tiếp nếu lực lượng lao động này được tổ chức một cách độc lập với các công ty bốc vác hoặc khai thác bến bãi. Các hoạt động đó bao gồm hoạt động tổ chức và giám sát:

- Dịch vụ bốc hàng/ dỡ hàng lên/xuống tàu;

- Dịch vụ chằng buộc/ tháo chằng buộc hàng hóa;

- Dịch vụ tiếp nhận/ bàn giao và bảo quản hàng hóa trước khi chở hàng hoặc sau khi dỡ hàng;

 (f) ‘dịch vụ thông quan hải quan’ (hay còn gọi là ‘dịch vụ của đại lý hải quan’) là các nghiệp vụ bao gồm việc đại diện cho bên khác thực hiện các thủ tục hải quan liên quan đến nhập khẩu, xuất khẩu hoặc thực hiện thông qua hoạt động vận tải hàng hóa, bất kể là dịch vụ này là nghiệp vụ chính của nhà cung cấp dịch vụ hoặc chỉ là một phần bổ sung thông thường cho dịch vụ chính của nhà cung cấp dịch vụ này;

 (g) ‘dịch vụ trạm thu gom và đóng hàng hóa vào container” là các nghiệp vụ bao gồm dịch vụ bảo quản container trong khu vực cảng hoặc nội địa nhằm phục vụ mục đích đóng hàng/ dỡ hàng, sửa chữa và chuẩn bị vận chuyển;

 (h) ‘dịch vụ giao nhận hàng hóa’ là nghiệp vụ bao gồm hoạt động sắp xếp và theo dõi các hoạt động vận chuyển thay mặt cho bên giao hàng thông qua việc tiếp nhận thực hiện các dịch vụ vận tải và các dịch vụ liên quan, chuẩn bị chứng từ và cung cấp thông tin liên quan đến công việc.

 (i) ‘dịch vụ trung chuyển’ là dịch vụ vận tải hàng hải trước và sau quá trình vận tải hàng hóa quốc tế, thông thường là hàng đóng vào container giữa các cảng tại một Bên tham gia Hiệp định đến cảng đích bên ngoài lãnh thổ của Bên đó.

3. Các nghĩa vụ

Xét đến các mức độ tự do hóa hiện hữu giữa các Bên trong hoạt động vận tải hàng hải quốc tế:

 (a) các Bên phải áp dụng các nguyên tắc tham gia không giới hạn vào thị trường hàng hải quốc tế và các giao dịch trên cơ sở thương mại và không phân biệt đối xử;

 (b) mỗi Bên phải dành cho các tàu mang quốc tịch của Bên kia hoặc các tàu được khai thác bởi các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia cơ chế đối xử không kém ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử dành cho tàu của mình đối với quyền được phép đi vào các bến cảng, sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ hàng hải, cũng như đối với các loại phí và lệ phí liên quan, các công trình hải quan và quyền được cập vào cầu cảng và các công trình phục vụ cho việc bốc dỡ hàng hóa.

Khi áp dụng các nguyên tắc này, các Bên:

 (i) không được thực hiện các thỏa thuận chia sẻ tàu để vận chuyển hàng hóa chung trong các hợp đồng tương lai với các quốc gia thứ ba liên quan đến các dịch vụ vận tải hàng hải, bao gồm giao dịch hàng khô, hàng ướt và hàng chuyên tuyến, và chấm dứt các thỏa thuận đó trong thời hạn phù hợp trong trường hợp các thỏa thuận này tồn tại trong các hợp đồng trước đó;

 (ii) vào thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực, không được ban hành hoặc áp dụng bất kỳ biện pháp đơn phương và các biện pháp gây trở ngạy về hành chính, kỹ thuật hoặc các trở ngại nào khác mà có thể hình thành nên những hạn chế tiềm ẩn hoặc có ảnh hưởng mang tính chất phân biệt đối xử đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tự do trong lĩnh vực vận tải hàng hải quốc tế.

 (c) Mỗi Bên phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ hàng hải quốc tế của Bên kia có doanh nghiệp hoạt động trong lãnh thổ của mình theo các điều khoản thỏa thuận về việc thành lập doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp tuân thủ theo các điều khoản thỏa thuận trong Biểu các cam kết cụ thể của mình.

 (d) Các Bên phải công khai cho các nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế của Bên kia theo các điều khoản thỏa thuận hợp lý và không phân biệt đối xử về các dịch vụ tại cảng như sau: hoa tiêu, lai dắt, cung cấp nhu yếu phẩm, nạp nhiên liệu và cung cấp nước uống, thu gom rác thải và xử lý nước dằn tàu, dịch vụ của người quản lý cảng biển, dịch vụ hỗ trợ điều hướng, dịch vụ vận hành trên bờ cần thiết cho các hoạt động của tàu biển, kể cả dịch vụ truyền thông, cung cấp điện nước, các thiết bị sửa chữa khi có sự cố, vũng neo đậu tàu, cầu tàu và các dịch vụ cầu tàu.

 (e) Trên cơ sở việc cấp phép thực hiện của các cơ quan có thẩm quyền, Liên minh châu Âu phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế của Việt Nam bố trí lại các container chưa đóng hàng của chính họ hoặc các container chưa đóng hàng được thuê mướn mà không được vận chuyển như một loại hàng hóa thay cho khoản thanh toán và được vận chuyển nhằm mục đích để sử dụng trong quá trình bốc dỡ hàng hóa của họ trong giao dịch thương mại nước ngoài giữa các cảng biển của một quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu.

Trên cơ sở của việc cấp phép thực hiện của các cơ quan có thẩm quyền60, Việt Nam phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế của Liên minh châu Âu và/hoặc các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu bố trí lại các container chưa đóng hàng của chính họ hoặc các container chưa đóng hàng được thuê mướn mà không được vận chuyển như một loại hàng hóa thay cho khoản thanh toán và được vận chuyển nhằm mục đích để sử dụng trong quá trình bốc dỡ hàng hóa của họ trong giao dịch thương mại nước ngoài giữa các cảng Quy Nhơn và cảng Cái Mép – Thị Vải. Trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành, Việt Nam phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế của Liên minh châu Âu và/hoặc các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu bố trí lại các container chưa đóng hàng của chính họ hoặc các container chưa đóng hàng được thuê mướn mà không được vận chuyển như một loại hàng hóa thay cho khoản thanh toán và được vận chuyển nhằm mục đích để sử dụng trong quá trình bốc dỡ hàng hóa của họ trong giao dịch thương mại nước ngoài giữa các cảng biển nội địa của mình nhưng phải đáp ứng điều kiện là các tàu được trung chuyển (chẳng hạn như tàu mẹ) phải cập cảng trung chuyển tại Việt Nam.

 (f) Trên cơ sở việc cấp phép thực hiện của các cơ quan có thẩm quyền, Liên minh châu Âu phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế của Việt Nam cung cấp các dịch vụ tàu con hoạt động giữa các cảng biển trong nước của mình.

Trên cơ sở việc cấp phép thực hiện của các cơ quan có thẩm quyền61, Việt Nam phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải quốc tế của Liên minh châu Âu và/hoặc các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu cung cấp các dịch vụ tàu con hoạt động giữa cảng Quy Nhơn và cảng Cái Mép – Thị Vải cho các tàu của mình nhưng phải đáp ứng điều kiện là các tàu được trung chuyển (chẳng hạn như các tàu mẹ) phải cập cảng trung chuyển tại cảng Cái Mép – Thị Vải.

CHƯƠNG VI

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Điều (...)

Mục tiêu và nguyên tắc thực hiện

Khi nhận thức rằng hoạt đông thương mại điện tử tạo ra nhiều cơ hội thương mại cho nhiều lĩnh vực, các Bên đồng ý thúc đẩy phát triển hoạt động thương mại điện tử giữa các Bên, đặc biệt là bằng hình thức hợp tác về các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử theo quy định tại Đề mục này.

Điều (...)

Thuế hải quan

Không Bên nào được quyền đặt ra các loại thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử.

Điều (...)

Hợp tác pháp quy về thương mại điện tử

1. Các Bên phải duy trì đối thoại về các vấn đề pháp quy phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử, trong đó nổi bật là các vấn đề sau:

- công nhận các chứng chỉ chữ ký điện tử được cấp cho công chúng và khuyến khích các dịch vụ chứng nhận xuyên biên giới.

- trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian môi giới đối với hoạt động truyền gửi hoặc lưu trữ thông tin,

- xử lý các hình thức gửi thông tin thương mại điện tử không mong muốn,

- Bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại điện tử,

- các vấn đề khác liên quan đối với sự phát triển của lĩnh vực thương mại điện tử.

2. Hoạt động hợp tác này có thể biểu hiện dưới hình thức trao đổi thông tin về các quy định pháp luật tương ứng của mỗi Bên về các vấn đề này cũng như việc thực hiện các quy định pháp luật này.

CHƯƠNG VII

CÁC TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ

Điều (...)

Các trường hợp ngoại lệ chung

1. Căn cứ theo yêu cầu là các biện pháp nêu trên không được phép áp dụng theo cách mà có thể tạo ra tình trạng phân biệt đối xử một cách vô lý hoặc bất công giữa các quốc gia có các điều kiện tương tự nhau, hoặc không được tồn tại dưới hình thức là một biện pháp giới hạn trá hình đối với hoạt động thành lập doanh nghiệp hoặc cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, không có quy định nào trong Đề mục này được hiểu là có thể ngăn cản việc ban hành hoặc thi hành của các Bên đối với các biện pháp:

 (a) cần thiết nhằm bảo vệ an ninh công cộng hoặc chuẩn mực đạo đức xã hội hoặc duy trì trật tự công cộng;

 (b) cần thiết để bảo vệ đời sống hay sức khỏe con người, động thực vật;

 (c) liên quan đến việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn nếu các biện pháp này được áp dụng phối hợp với các mức giới hạn về nhà đầu tư trong nước hoặc việc cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ trong nước;

 (d) cần thiết đối với việc bảo vệ các tài sản quốc gia có giá trị nghệ thuật, lịch sử hoặc khảo cổ học;

 (e) cần thiết để đảm bảo việc tuân thủ theo pháp luật và quy định không trái với các điều khoản quy định của Đề mục này, bao gồm những quy định liên quan đến:

 (i) việc ngăn ngừa các hành vi gian dối hoặc giải quyết hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng;

 (ii) bảo vệ tính riêng tư của các cá nhân liên quan đến quá trình xử lý và công bố thông tin cá nhân và bảo mật cho các hồ sơ, tài liệu cá nhân;

 (iii) an toàn;

 (f) trái với quy định tại khoản 1 các Điều 4 và khoản 1 (…) về cơ chế đối xử quốc gia nhưng phải đáp ứng điều kiện là sự khác biệt trong cơ chế đối xử phải chú trọng đến việc bảo đảm việc áp đặt hoặc thu các khoản thuế trực tiếp một cách hiệu quả hoặc công bằng đối với các nghiệp vụ kinh tế, nhà đầu tư hoặc các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia24.

2. Các điều khoản quy định của Đề mục này và của các Phụ lục (XYZ) (danh mục các cam kết về tự do hóa đầu tư và cung cấp dịch vụ xuyên biên giới) không được áp dụng đối với các hệ thống an sinh xã hội của các Bên hoặc đối với các hoạt động thực hiện trong lãnh thổ của mỗi Bên mà có liên hệ với việc thực thi quyền lực chính thức, dù cho mối liên hệ đó chỉ xuất hiện không thường xuyên.

1 Lý do duy nhất mà các thể nhân của một số quốc gia này phải xin thị thực còn thể nhân của các quốc gia khác thì được miễn thị thực không được xem như là cách nhằm vô hiệu hóa hoặc gây tổn hại đến các lợi ích thỏa thuận trong từng cam kết cụ thể.

2 Căn cứ theo bản thông báo của Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu (EU) gửi cho tổ chức thương mại thế giới (WTO) (WT/REG39/1), Bên EU hiểu rằng ý tưởng “liên kết hiệu quả và liên tục” với nền kinh tế của một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu tại Điều 54 của Hiệp ước về Chức năng của Liên minh châu Âu (TFEU) là tương đồng với ý tưởng “các hoạt động kinh doanh trọng yếu”. Theo đó, đối với mỗi pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và chỉ có văn phòng đã đăng ký hoặc trung tâm quản lý điều hành trong lãnh thổ của Việt Nam, Bên EU sẽ chỉ gia hạn các lợi ích theo hiệp định này trong trường hợp pháp nhân đó đã thiết lập được mối quan hệ liên kết kinh tế hiệu quả và liên tục với Việt Nam.

3 Nhằm giải thích rõ hơn, một chi nhánh của một thực thể pháp lý thuộc Bên không tham gia Hiệp định này sẽ không được xem như một doanh nghiệp của một Bên tham gia Hiệp định này

4 Nhằm giải thích rõ hơn, một công ty con của một pháp nhân thuộc một Bên cũng có thể là một pháp nhân nào đó là công ty con của một công ty con khác của bất kỳ pháp nhân nào thuộc Bên đó.

5 Nhằm giải thích rõ hơn, điểm này không bao gồm hoạt động đầu tư quy định tại (i)

6 Nhằm giải thích rõ hơn, điểm này không bao gồm các bước thực hiện vào đúng thời điểm khi hoặc trước khi hoàn tất các thủ tục yêu cầu thực hiện đối với một hoạt động đầu tư liên quan theo đúng với các quy định pháp luật liên quan.

7 Trong phần định nghĩa về vốn đầu tư, doanh nghiệp sẽ không bao gồm văn phòng đại diện. Nhằm giải thích rõ hơn, việc một văn phòng đại diện được thành lập trong lãnh thổ của một Bên không mặc nhiên được xem như là có hoạt động đầu tư tại nơi đó.

8 Nhằm giải thích rõ hơn, lãnh thổ có nghĩa là bao gồm khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)

9 Nhằm đảm bảo tính chính xác hơn, các Bên hiểu rằng một nhà đầu tư “đang cố gắng thực hiện” một hoạt động đầu tư chính là nhà đầu tư của bất kỳ Bên nào khác mà đã tiến hành các hoạt động đầu tư như chuyển vốn và các nguồn lực khác để thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc nộp hồ sơ xin cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận.

10 Các Bên hiểu rằng, trong trường hợp của Liên minh châu Âu, "biện pháp trợ giá” bao gồm cả “trợ cấp nhà nước” quy định trong Luật của châu Âu, trong khi đó đối với Việt Nam, biện pháp trợ cấp bao gồm các ưu đãi đầu tư và biện pháp hỗ trợ đầu tư như hỗ trợ nơi sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực và các hoạt động giúp nâng cao năng lực cạnh tranh như hỗ trợ về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, các biện pháp hỗ trợ về mặt pháp lý, thông tin thị trường và xúc tiến thị trường.

11 Nhằm giải thích rõ hơn, việc chế biến nguyên liệu hạt nhân bao gồm tất cả các hoạt động theo mã số 2330 của Phân loại ngành chuẩn quốc tế (ISIC) của Liên hiệp quốc (Phiên bản 3.1).

12 Nếu như không ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động mà có thể được xem như là hoạt động vận tải nội địa theo quy định trong nước liên quan, hoạt động vận tải nội địa trong nước theo quy định tại chương này bao gồm hoạt động vận tải hành khách hoặc hàng hóa giữa một điểm hoặc một điểm tại Việt Nam hoặc tại một nước thành viên của Liên minh châu Âu với một điểm khác hoặc một điểm khác tại Việt Nam hoặc cùng một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu đó, kể cả thềm lục địa theo đúng quy định của Công ước Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, và bao gồm hoạt động giao thông bắt đầu và kết thúc tại cùng một cảng hoặc điểm tại Việt Nam hoặc quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu.

13 Theo quy định tại điểm c), các yếu tố như trường hợp một Bên đã đưa ra một khoảng thời gian hợp lý cho việc thực hiện một biện pháp nào đó hoặc đã thực hiện mọi nỗ lực nhằm nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của biện pháp đó đối với các dự án đầu tư được triển khai trước thời điểm biện pháp này bắt đầu có hiệu lực phải được xét đến trong quá trình xác định xem liệu biện pháp này có gây ra bất kỳ tổn thất hoặc thiệt hại đối với các dự án đầu tư được triển khai trước thời điểm biện pháp này bắt đầu có hiệu lực thực hiện.

14 Trong phạm vi điều chỉnh của khoản này và nhằm mục đích giải thích rõ hơn, Cộng đồng Kinh tế ASEAN vả Liên minh châu Âu là đối tượng thuộc “quy trình hội nhập kinh tế”.

15 Chính xác hơn, trường hợp một dự án đầu tư được thực hiện trong lãnh thổ của Việt Nam, cụm từ “quy định pháp luật hiện hành” bao gồm các quy định pháp luật của Việt Nam.

16 Đối với Liên minh châu Âu, “biện pháp trợ giá” bao gồm cả “trợ cấp nhà nước" theo quy định của luật Liên minh châu Âu. Đối với Việt Nam, "biện pháp trợ giá” bao gồm các biện pháp ưu đãi đầu tư và biện pháp hỗ trợ đầu tư như hỗ trợ nơi sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực và các hoạt động giúp nâng cao năng lực cạnh tranh như hỗ trợ về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, các biện pháp hỗ trợ về mặt pháp lý, thông tin thị trường và xúc tiến thị trường.

17 Để hiểu chính xác hơn, văn bản thỏa thuận được ký kết và áp dụng sau ngày có hiệu lực của Hiệp định này không có điều khoản thỏa thuận về gia hạn thời gian hiệu lực của văn bản thỏa thuận này theo các điều khoản thỏa thuận ban đầu và giữ nguyên các điều khoản thỏa thuận ban đầu đã được ký kết và có hiệu lực thực hiện trước thời điểm Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực.

18 Văn bản thỏa thuận là việc thỏa thuận bằng văn bản giữa một Bên này với nhà đầu tư của Bên kia hoặc với dự án đầu tư của Bên kia theo quy định tại Điều 13 [ Phạm vi áp dụng của mục II Bảo hộ đầu tư], được hai Bên tham gia đàm phán và triển khai thực hiện, bất kể là dưới hình thức một văn bản hoặc nhiều văn bản khác nhau.

19 Quy định pháp luật trong nước hiện hành nêu tại đây chính là Luật Đất đai số 45/2013/QH13 và Nghị định 44/2014/ND-CP quy định về Giá đất đang có hiệu lực vào ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực thi hành.

20 Nhằm giải thích rõ hơn, các Bên tham gia Hiệp định nhận thức được rằng các “điều khoản duy trì hiệu lực” quy định tại Phụ lục Z của các Hiệp định liệt kê trong Phụ lục Y cũng sẽ chấm dứt hiệu lực.

21 Chính xác hơn, hành vi vi phạm quy định của Điều [Đối xử quốc gia] hoặc Điều [Tối huệ quốc] không chỉ xảy ra bởi cơ chế đối xử khác nhau mà một Bên dành cho một vài nhà đầu tư hoặc dự án đầu tư khác nhau nhằm để tạo nên những tác động kinh tế vĩ mô khác nhau, cụ thể như để tránh các rủi ro mang tính hệ thống hoặc các hiệu ứng lan tỏa, hoặc nhằm đáp ứng các yêu cầu về tái cơ cấu nợ.

22 Các Bên hiểu rằng thuật ngữ “biện pháp” có thể bao gồm cả hành vi không thực hiện.

23 Không được phép áp dụng quy định tại Điểm (2) (b) nếu đã áp dụng quy định tại Phụ lục III.

24 Quy định tại Điều 10(3)(b) phải được áp dụng kết hợp với quy định tại Điều 31(3) (Thi hành phán quyết).

25 Thay vì chỉ định ba thành viên là người mang quốc tịch hoặc công dân của mình thì Bên nào cũng có quyền chỉ định tối đa ba thành viên là người mang quốc tịch hoặc công dân của quốc gia khác. Trong trường hợp đó, các thành viên này phải đuợc xem như là người mang quốc tịch hoặc công dân của Bên mà đã chỉ định họ theo quy định tại Điều này.

26 Thay vì đề xuất chỉ định hai thành viên là người mang quốc tịch hoặc công dân của mình thì Bên nào cũng có quyền chỉ định tối đa hai thành viên là người mang quốc tịch hoặc công dân của quốc gia khác. Trong trường hợp đó, các thành viên này phải đuợc xem như là người mang quốc tịch hoặc công dân của Bên mà đã chỉ định họ theo quy định tại Điều này.

27 Nhằm giải thích rõ hơn, việc một cá nhân được chính phủ chi trả thu nhập hoặc từng làm việc cho chính phủ trước đây hoặc có quan hệ họ hàng với người được chính phủ chi trả thu nhập không có nghĩa là cá nhận đó không đủ tư cách tham gia hội đồng.

28 Nhằm giải thích rõ hơn, thông tin bí mật hoặc bảo mật như được xác định theo Điều 7(2) trong các Quy tắc minh bạch của UNCITRAL sẽ bao gồm thông tin bí mật của chính phủ.

29 Nhằm giải thích rõ hơn, nếu một bên tranh chấp đã nộp các thông tin như vậy quyết định rút lại toàn bộ hoặc một phần nội dung hồ sơ đã nộp có chứa các thông tin đó theo quy định tại Điều 7(4) trong Quy tắc minh bạch của UNCITRAL, bên tranh chấp kia, khi thấy cần thiết, được phép nộp lại các tài liệu, kể cả tài liệu hoàn chỉnh và tài liệu đã qua chỉnh sửa bằng cách loại bỏ những thông tin mà bên tranh chấp đã nộp thông tin đó đầu tiên hoặc xác định lại thông tin đó sao cho phù hợp với nguyên tắc xác định thông tin của bên tranh chấp đã nộp thông tin đó đầu tiên.

30 Khi xem xét tính hiệu quả kinh tế của các thủ tục xét xử, hội đồng tài phán nên chú ý đến các chi phí mà các bên tranh chấp và hội đồng tài phán phải chịu trong quá trình xử lý các văn bản về án lệ và văn bản pháp lý mà có thể do các bên tranh chấp nộp.

31 Nhằm giải thích rõ hơn, cụm từ “các chi phí xét xử” bao gồm (a) chi phí hợp lý cho dịch vụ tư vấn của chuyên gia và dịch vụ hỗ trợ khác mà hội đồng tài phán yêu cầu và (b) chi phí đi lại hợp lý và các chi phí khác cho nhân chứng nếu hội đồng tài phán phê duyệt các khoản chi phí này.

32 Nhằm giải thích rõ hơn, trường hợp văn bản yêu cầu có liên quan đến biện pháp đối xử của Liên minh châu Âu, bên tham gia quá trình trung gian hòa giải chính là Liên minh châu Âu và bất kỳ quốc gia thành viên liên đới sẽ đóng vai trò phối hợp một cách đầy đủ trong quá trình trung gian hòa giải đó. Trường hợp văn bản yêu cầu chỉ liên quan đến cơ chế đối xử của quốc gia thành viên, bên tham gia quá trình trung gian hòa giải phải là quốc gia thành viên Liên minh châu Âu liên đới, trừ trường hợp có yêu cầu Liên minh châu Âu là bên tham gia quá trình trung gian hòa giải.

33 Nhằm giải thích rõ hơn, khoản 1 Điều 3 không liên quan đến các thông tin mà đã thuộc diện công khai hoặc đã công khai hoặc đáng lý phải công khai bởi các bên tranh chấp.

34 Nhằm giải thích rõ hơn, việc một thành viên nhận thu nhập từ một chính phủ hoặc là thân nhân của người nhận thu nhận từ chính phủ về bản chất sẽ không được xem như trái với quy định tại khoản 2 và 5.

35 Các Bên hiểu rằng việc một nhà đầu tư đã nộp hồ sơ khiếu kiện cho rằng Việt Nam đã vi phạm một điều khoản quy định tại Điều 1.1 (Phạm vi áp dụng) trong quy trình tiến hành thủ tục xét xử tại tòa án hoặc hội đồng tài phán hành chính của Việt Nam hoặc cơ quan trọng tài quốc tế đối với một trong các dự án đầu tư của mình không ngăn cản nhà đầu tư tương tự tiến hành nộp hồ sơ khiếu kiện mà có cáo buộc hành vi vi phạm đối với điều khoản tương tự tại Điều 1.1 (Phạm vi áp dụng) lên hội đồng tài phán theo Mục 3 đối với các dự án đầu tư khác nếu các dự án đầu tư khác này được cho là bị ảnh hưởng bởi cùng một biện pháp.

36 Nếu không ảnh hưởng đến phạm vi các hoạt động mà có thể được xem như là vận tải nội địa theo quy định pháp luật quốc gia hiện hành, vận tải hàng hải nội địa theo quy định của chương này bao gồm việc vận tải hành khách hoặc hàng hóa giữa cảng hoặc điểm tọa lạc tại Việt Nam hoặc quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu và cảng hoặc điểm khác tọa lạc tại Việt Nam hoặc cùng quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, kể cả thềm lục địa của quốc gia đó theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc veề Luật Biển, và đường vận chuyền xuất phát từ và kết thúc tại cùng một cảng hoặc điểm tại Việt Nam hoặc quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu.

37 Trong phạm vi điều chỉnh của khoản này và nhằm mục đích giải thích rõ hơn, Cộng đồng Kinh tế ASEAN vả Liên minh châu Âu là đối tượng thuộc “quy trình hội nhập kinh tế”.

38 Khung pháp lý này bao gồm Chương này và các Phụ lục XXX.

39 Nhằm giải thích rõ hơn, dù họ không trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ thực tế, điều này cũng không thể ngăn cản họ không thể thực hiện các nhiệm vụ này nếu thấy cần thiết đối với việc cung cấp các dịch vụ đó trong quá trình thực hiện trách nhiệm của mình như đã nêu ở trên.

40 Doanh nghiệp tiếp nhận có thể phải nộp bản chương trình đào tạo có ghi cụ thể thời hạn lưu trú để được phê duyệt trước, trong đó phải thể hiện rõ mục đích lưu trú là để tham gia đào tạo, tập huấn. Các nước Áo, Cộng hòa Séc, Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Hungary yêu cầu là việc tập huấn và đào tạo phải liên quan đến bằng đại học mà người tham gia đã được cấp.

42 Hợp đồng dịch vụ quy định tại d) và e) phải tuân thủ theo các yêu cầu pháp luật, các quy định và điều kiện của Bên là địa điểm triển khai thực hiện hợp đồng đó.

43 Hợp đồng dịch vụ quy định tại d) và e) phải tuân thủ theo các yêu cầu của pháp luật, các quy định và điều kiện của Bên là địa điểm triển khai thực hiện hợp đồng đó.

44 Đối với Việt Nam, các nghĩa vụ phát sinh từ Chương này về các nhân viên được đào tạo, huấn luyện bắt đầu có hiệu lực thực hiện sau 3 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực thi hành.

45 Đối với Liên minh châu Âu: khoảng thời gian này là 12 tháng

46 Đối với Liên minh châu Âu: khoảng thời gian này là 12 tháng

47 Đạt được sau khi đã đủ tuổi trưởng thành

48 Nếu chưa đạt được bằng cấp hoặc chứng chỉ tại Bên là địa điểm triển khai cung cấp dịch vụ, Bên đó có quyền đánh giá liệu bằng cấp hay chứng chỉ đó có tương đương với bằng tốt nghiệp đại học bắt buộc phải có trong lãnh thổ của mình hay không

49 Đối với Liên minh châu Âu, thời hạn này là 12 tháng.

50 Các khoản phí cấp giấy phép không bao gồm khoản phải thanh toán cho hoạt động đấu giá, đấu thầu hoặc các hình thức sang nhượng khác không phân biệt đối xử hoặc những khoản đóng góp theo quy định cho hoạt động cung cấp loại hình dịch vụ phổ thông.

51 CPC có nghĩa là hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm được ban hành bởi Văn phòng thống kê của Liên Hợp Quốc trong Tài liệu thống kê, loạt tài liệu M, N° 77, CPC tạm thời năm 1991.

52 Chẳng hạn như W/120.1.A.b. (các dịch vụ kế toán, kiểm toán và ghi chép sổ sách), W/120.1.A.d (các dịch vụ xây dựng kiến trúc), W/120.1.A.h (các dịch vụ y tế và nha khoa), W/120.2.D (các dịch vụ âm thanh hình ảnh), W/120.5. (các dịch vụ giáo dục).

53 Xem phần giải thích cuối trang trước.

54 Phần này áp dụng đối với cả CPC 7511 lẫn CPC 7512

55 “phát sóng" được định nghĩa theo quy định pháp luật hiện hành của mỗi Bên. Nhằm giải thích rõ hơn, hoạt động phát sống không bao gồm các mối liên hệ mang tính đóng góp cho nhau giữa các nhà khai thác dịch vụ.

56 Các khoản phí cấp giấy phép không bao gồm khoản phải thanh toán cho hoạt động đấu giá, đấu thầu hoặc các hình thức sang nhượng khác không phân biệt đối xử hoặc những khoản đóng góp theo quy định cho hoạt động cung cấp loại hình dịch vụ phổ thông.

57 Theo quy định tại Điều này, việc chỉ định một nhà cung cấp mạng lưới và dịch vụ viễn thông công cộng trở thành nhà cung cấp chính phải tuân thủ theo các quy định của luật pháp và quy trình thủ tục của mỗi Bên.

58 Theo quy định tại Điều này, việc chỉ định một nhà cung cấp mạng lưới và dịch vụ viễn thông công cộng trở thành nhà cung cấp chính phải tuân thủ theo các quy định của luật pháp và quy trình thủ tục của mỗi Bên.

59 Nhằm giải thích rõ hơn, trong trường hợp của Việt Nam và theo quy định pháp luật hiện hành, không có thề nhân nào có quyền chuyển giao dữ liệu.

60 Nhằm giải thích rõ hơn, việc cấp phép thực hiện là một quy trình quản lý hành chính được hình thành nhằm bảo đảm đáp ứng tất cả các tiêu chí liên quan. Việc cấp phép này phải được thực hiện ngay khi chứng minh được rằng các điều kiện để được cấp phép đã được đáp ứng sau quá trình kiểm tra thích hợp. Việc cấp phép này không được xem như là một biện pháp giới hạn trá hình đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

61 Nhằm giải thích rõ hơn, việc cấp phép thực hiện là một quy trình quản lý hành chính được hình thành nhằm bảo đảm đáp ứng tất cả các tiêu chí liên quan. Việc cấp phép này phải được thực hiện ngay khi chứng minh được rằng các điều kiện để được cấp phép đã được đáp ứng sau quá trình kiểm tra thích hợp. Việc cấp phép này không được xem như là một biện pháp giới hạn trá hình đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

24 Các biện pháp mà nhằm phục vụ mục đích đảm bảo việc áp đặt hoặc thu các loại thuế trực tiếp một cách công bằng hoặc hiệu quả, bao gồm các biện pháp được một Bên thực hiện theo quy định của hệ thống thuế của mình mà:

 (i) được áp dụng cho các nhà đầu tư và nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở nhận thức được rằng nghĩa vụ thuế của các đối tượng không cư trú được xác định đối với các khoản chịu thuế tại lãnh thổ của Bên đó; hoặc

 (ii) được áp dụng cho các đối tượng không cư trú nhằm bảo đảm việc áp đặt hoặc thu các loại thuế trong lãnh thổ của Bên đó; hoặc

 (iii) được áp dụng cho các đối tượng không cư trú hoặc cư trú nhằm ngăn chặn hành vi né, trốn thuế, bao gồm các biện pháp đảm bảo tuân thủ; hoặc

 (iv) được áp dụng đối với các khách hàng sử dụng dịch vụ được cung cấp trong hoặc từ lãnh thổ của Bên kia nhằm đảm bảo việc áp đặt hoặc thu các loại thuế đối với các khách hàng này xuất phát từ các nguồn bên trong lãnh thổ của Bên đó; hoặc

 (v) phân biệt nhà đầu tư với nhà cung cấp dịch vụ chịu thuế đối với các khoản chịu thuế toàn cầu từ các nhà đầu tư và cung cấp dịch vụ khác trên cơ sở nhận thức được sự khác biệt về bản chất cơ sở tính thuế giữa nhà đầu tư và cung cấp dịch vụ đó; hoặc

 (vi) xác định, cấp hoặc phân chia thu nhập, lợi nhuận, doanh thu, lỗ, khoản giảm trừ hoặc tín dụng của các đối tượng cư trú, các chi nhánh hoặc giữa các đối tượng liên quan hoặc các chi nhánh của cùng một đối tượng nhằm bảo vệ cho cơ sở tính thuế của Bên đó.

Các điều khoản hoặc đề xuất ý tưởng tính thuế theo khoản (f) của quy định này và trong phần giải thích cuối trang được xác định theo các định nghĩa và ý tưởng về thuế, hoặc các định nghĩa hoặc ý tưởng tương đương hoặc tương tự theo quy định pháp luật trong nước của Bên thực hiện biện pháp đó.

6,720