Bản dịch này thuộc bản quyền THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Bạn được khai thác sử dụng cho công việc của riêng mình, nhưng không được sao chép, đăng lại trên bất cứ phương tiện nào.

CHƯƠNG [...]: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Phần 1

Mục tiêu và Phạm vi Điều chỉnh

ĐIỀU 1

Mục tiêu

Mục tiêu của chương này là thiết lập một cơ chế hiệu quả và năng suất cao để ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp giữa các Bên liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Hiệp định này nhằm quyết định, nếu có thể, một giải pháp được sự đồng ý của các Bên.

ĐIỀU 2

Phạm vi áp dụng

Chương này được áp dụng nhằm ngăn ngừa hoặc giải quyết các tranh chấp giữa các bên liên quan đến việc diễn giải hoặc áp dụng các quy định của Hiệp định này, trừ khi có quy định khác tại Hiệp định này.

Phần 2

Tham vấn và hòa giải

ĐIỀU 3

Tham vấn

1. Các Bên nỗ lực giải quyết tranh chấp nêu tại Điều 2 bằng cách tham gia tham vấn một cách có thiện chí với mục tiêu đạt được một giải pháp thỏa thuận chung.

2. Một Bên tham vấn bằng văn bản yêu cầu cho Bên kia, sao chép vào các Ủy ban Thương mại, xác định các biện pháp có vấn đề và các quy định nêu tại Điều 2 mà Bên đó cho là thích hợp.

3. Tham vấn sẽ được tổ chức trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu và diễn ra trong lãnh thổ của Bên bị yêu cầu, trừ khi các bên có thoả thuận khác. Các cuộc tham vấn sẽ được coi là kết thúc trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ khi cả các Bên đồng ý tiếp tục tham vấn. Tham vấn, đặc biệt là tất cả các thông tin công bố và vị trí hiện được sắp đặt bởi các Bên trong quá trình tố tụng, sẽ được bảo mật và không ảnh hưởng đến quyền của Bên bên nào trong bất kỳ thủ tục tố tụng sau đó.

4. Tham vấn về các vấn đề cấp bách, kể cả những vấn đề liên quan đến hàng hóa dễ hỏng hoặc hàng hoá, dịch vụ theo mùa được tổ chức trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Bên bị yêu cầu, và được coi là kết thúc trong vòng 20 ngày đó, trừ khi cả các Bên đồng ý để tiếp tục tham vấn.

5. Nếu Bên bị yêu cầu không đáp ứng các yêu cầu tham vấn trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đơn, hoặc nếu tham vấn không được tổ chức trong khoảng thời gian quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 tương ứng, hoặc nếu các bên đồng ý không tổ chức tham vấn, hoặc nếu tham vấn đã được kết luận và không có giải pháp nào được các Bên thoả thuận, Bên yêu cầu tham vấn có thể dựa vào Điều 5.

6. Trong quá trình tham vấn mỗi Bên sẽ cung cấp đầy đủ thông tin thực tế để cho phép Điều tra toàn diện cách thức mà các biện pháp có vấn đề có thể ảnh hưởng đến hoạt động và việc áp dụng Hiệp định này.

ĐIỀU 4

Cơ chế hòa giải

Các bên tranh chấp bất cứ lúc nào cũng có thể đồng ý tham gia một thủ tục hòa giải đối với bất kỳ biện pháp ảnh hưởng xấu đến thương mại và đầu tư giữa các Bên theo Phụ lục III (Cơ chế hòa giải).

Phần 3

Thủ tục giải quyết tranh chấp

Tiểu mục 1: Thủ tục trọng tài

ĐIỀU 5

Bắt đầu thủ tục trọng tài

1. Trong trường hợp các bên đã thất bại trong việc giải quyết các tranh chấp bằng cách đựa vào vào tham vấn theo quy định tại Điều 3, Bên yêu cầu tham vấn có thể yêu cầu thành lập một Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều này.

2. Các yêu cầu thành lập một Hội đồng trọng tài phải được lập bằng văn bản cho Bên kia và Ủy ban Thương mại. Bên nguyên đơn phải xác định trong yêu cầu của mình biện pháp gây tranh cãi và giải thích biện pháp này không phù hợp như thế nào với các quy định nêu tại Điều 2 một cách đầy đủ để trình bày rõ ràng các cơ sở pháp lý cho việc khiếu nại.

ĐIỀU 6

Điều khoản tham chiếu của Hội đồng trọng tài

Trừ khi các bên có thoả thuận khác, trong vòng mười (10) ngày, kể từ ngày lựa chọn các trọng tài, Điều khoản tham chiếu của Hội đồng trọng tài sẽ là:

"Để kiểm tra, căn cứ vào (các quy định có liên quan của Hiệp định này được trích dẫn bởi các Bên), các vấn đề được đề cập trong các yêu cầu cho việc thành lập một Hội đồng trọng tài theo Điều 5, để quyết định về sự phù hợp của các biện pháp đang được đề cập với các quy định nêu tại Điều 2 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) và để tạo ra số liệu thực tế, việc áp dụng các quy định có liên quan và các lý do cơ bản cho bất kỳ phát hiện và kiến ​​nghị, phù hợp với Điều 10 và Điều 11 của Chương X ( Giải quyết tranh chấp)".

ĐIỀU 7

Thành lập Hội đồng trọng tài

1. Một Hội đồng trọng tài sẽ gồm ba (3) trọng tài viên.

2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bên bị đơn nhận được yêu cầu thành lập Hội đồng trọng tài, các bên sẽ tham khảo ý kiến ​​để đạt được một thỏa thuận về thành phần của Hội đồng trọng tài.

3. Trong trường hợp các bên không đồng ý về thành phần của Hội đồng trọng tài trong khung thời gian quy định tại khoản 2, mỗi Bên có thể bổ nhiệm một trọng tài viên từ các danh sách con của bên đó được lập theo Điều 23 trong vòng 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn của khung thời gian quy định tại khoản 2. Nếu các bên không bổ nhiệm trọng tài viên, theo yêu cầu của Bên kia, các trọng tài viên sẽ được lựa chọn bằng cách bốc thăm bởi Chủ tịch của Ủy ban Thương mại hoặc người được Chủ tịch Ủy ban thương mại ủy quyền, từ phần danh sách của Bên đó trong danh sách con được thành lập theo Điều 23.

4. Trừ khi các bên đạt được thỏa thuận liên quan đến Chủ tọa của Hội đồng trọng tài trong thời hạn quy định tại khoản 2, theo yêu cầu của một trong các Bên, Chủ tịch của Ủy ban Thương mại hoặc người được Chủ tịch Ủy ban thương mại ủy quyền lựa chọn Chủ tọa Hội đồng trọng tài bằng cách bốc thăm từ các danh sách con các Chủ tọa có trong danh sách được thành lập theo Điều 23.

5. Chủ tịch Ủy ban Thương mại, hoặc người được Chủ tịch ủy quyền, phải chọn Trọng tài viên trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 của một trong các Bên.

6. Ngày thành lập Hội đồng trọng tài là ngày mà ba trọng tài viên được lựa chọn chấp nhận bổ nhiệm theo các quy tắc tố tụng.

7. Nếu bất kỳ danh sách quy định tại Điều 23 không được thiết lập hoặc không liệt kê đủ tên vào thời điểm yêu cầu theo quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4, các trọng tài viên sẽ được rút ra qua bốc thăm từ các cá nhân đã được chính thức đề xuất bởi các Bên hoặc một trong các Bên trong trường hợp chỉ có một Bên đưa ra đề nghị của mình.

ĐIỀU 8

Thủ tục giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài

1. Các quy định và thủ tục quy định tại Điều này và Phụ lục I cũng như các quy tắc thực hiện đối với các trọng tài viên và hòa giải viên được quy định tại Phụ lục II sẽ Điều chỉnh các thủ tục giải quyết tranh chấp của một Hội đồng trọng tài theo Chương này.

2. Trừ khi các bên có thoả thuận khác, các bên phải họp mặt Hội đồng trọng tài trong vòng 10 ngày kể từ ngày thành lập để xác định các vấn đề mà các bên hoặc Hội đồng trọng tài cho là thích hợp, bao gồm cả thời gian biểu của các thủ tục tố tụng và các khoản thù lao và chi phí của các trọng tài viên theo Phụ lục I. Trọng tài viên và đại diện của các Bên tranh chấp có thể tham gia vào cuộc họp này qua điện thoại hoặc video.

3. Địa điểm diễn ra buổi Điều trần sẽ được quyết định bởi thoả thuận của các bên. Nếu các bên không thoả thuận về địa điểm tố tụng, phiên Điều trần sẽ được tổ chức tại Brussels nếu Bên nguyên đơn là Việt Nam và ở Hà Nội nếu Bên nguyên đơn là Liên minh châu Âu.

4. Tất cả phiên Điều trần của Hội đồng trọng tài sẽ được mở công khai trừ khi có quy định khác tại Phụ lục I.

5. Theo Phụ lục I, các bên sẽ được trao cơ hội để tham dự bất kỳ bài thuyết trình, báo cáo, lập luận hay bác bỏ trong quá trình tố tụng. Bất kỳ thông tin hoặc văn bản đệ trình của một Bên tới Hội đồng trọng tài, bao gồm bất kỳ ý kiến ​​về phần mô tả của báo cáo tạm thời, trả lời cho câu hỏi của Hội đồng trọng tài và ý kiến ​​của một Bên về những phản hồi, sẽ được cung cấp cho Bên kia.

6. Trừ khi các bên có thoả thuận khác trong vòng ba ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài, Hội đồng trọng tài có thể nhận được đệ trình bằng văn bản không tự nguyện của các thể nhân hay pháp nhân thành lập trên lãnh thổ của một Bên theo Phụ lục I (đệ trình thân hữu của tòa án).

7. Đối với các buổi nghị án nội bộ của mình, Hội đồng trọng tài gặp nhau trong phiên họp kín chỉ có trọng tài viên. Hội đồng trọng tài cũng có thể cho phép các trợ lý của mình có mặt tại các buổi nghị án. Các buổi nghị án của Hội đồng trọng tài và các văn bản đệ trình phải được giữ bí mật.

ĐIỀU 9

Phán quyết sơ bộ về tính cấp thiết

Nếu một Bên yêu cầu, Hội đồng trọng tài trong vòng 10 ngày kể từ ngày thành lập sẽ đưa ra phán quyết sơ bộ của mình về việc xét thấy trường hợp là cấp bách.

ĐIỀU 10

Báo cáo của Hội đồng

1. Hội đồng trọng tài sẽ làm một báo cáo tạm thời để các bên đặt ra những phát hiện thực tế, việc áp dụng các quy định có liên quan và các lý do cơ bản cho bất kỳ phát hiện và kiến ​​nghị, không muộn hơn 90 ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài. Trường hợp xét thấy không thể đáp ứng thời hạn này, Chủ tọa Hội đồng trọng tài phải thông báo cho các Bên và Ủy ban Thương mại bằng văn bản, nêu rõ lý do cho sự chậm trễ và ngày mà Hội đồng trọng tài dự kiến ban hành báo cáo tạm thời. Trong mọi trường hợp báo cáo tạm thời phải được ban hành chậm nhất là 120 ngày, kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài.

2. Các Bên có thể gửi một yêu cầu bằng văn bản, trong đó có ý kiến, đến Hội đồng trọng tài để xem xét các khía cạnh chính xác của các báo cáo tạm thời trong vòng 14 ngày kể từ ngày thông báo.

3. Trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm cả những trường hợp có liên quan đến hàng hóa mau hỏng hoặc hàng hoá theo mùa hoặc dịch vụ, Hội đồng trọng tài cần cố gắng hết sức để ban hành báo cáo tạm thời trong vòng 45 ngày, và trong mọi trường hợp, không muộn hơn 60 ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài. Các Bên có thể gửi một yêu cầu bằng văn bản, trong đó có ý kiến, đến Hội đồng trọng tài để xem xét các khía cạnh chính xác của các báo cáo tạm thời, trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày có thông báo về việc báo cáo tạm thời.

4. Sau khi xem xét các văn bản yêu cầu, trong đó có ý kiến, của các Bên về báo cáo tạm thời, Hội đồng trọng tài có thể sửa đổi báo cáo và thực hiện bất kỳ kiểm tra thêm mà Hội đồng trọng tài cho là thích hợp. Những phát hiện của báo cáo cuối cùng của Hội đồng trọng tài phải bao gồm một cuộc thảo luận đầy đủ về tranh luận ở giai đoạn xem xét tạm thời, và phản hồi rõ ràng ý kiến ​​của các bên.

ĐIỀU 11

Thông báo về Báo cáo cuối cùng của Hội đồng trọng tài

1. Hội đồng trọng tài phải thông báo báo cáo cuối cùng của mình cho các Bên và Ủy ban Thương mại trong vòng 120 ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài. Trường hợp xét thấy không thể đáp ứng thời hạn này, Chủ tọa Hội đồng trọng tài phải thông báo cho các Bên và Ủy ban Thương mại bằng văn bản, nêu rõ lý do cho sự chậm trễ và ngày mà Hội đồng trọng tài dự kiến ban hành báo cáo cuối cùng. Trong mọi trường hợp báo cáo cuối cùng phải được ban hành chậm nhất là 150 ngày, kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài.

2. Trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm cả những trường hợp có liên quan đến hàng hóa mau hỏng hoặc hàng hoá, dịch vụ theo mùa, Hội đồng trọng tài phải nỗ lực thông báo báo cáo cuối cùng của mình trong vòng 60 ngày kể từ ngày thành lập. Trong mọi trường hợp báo cáo cuối cùng phải được ban hành chậm nhất là 75 ngày, kể từ ngày thành lập.

Tiểu mục 2: Thực hiện

ĐIỀU 12

Thực hiện Báo cáo của Hội đồng trọng tài

Bên bị đơn phải có bất kỳ biện pháp cần thiết để thực hiện kịp thời và có thiện chí báo cáo của Hội đồng trọng tài.

ĐIỀU 13

Thời hạn thực hiện hợp lý

1. Nếu không thể thực hiện ngay lập tức, các bên cần nỗ lực để thỏa thuận về thời hạn để thực hiện các báo cáo của Hội đồng trọng tài. Trong trường hợp này, không muộn hơn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về báo cáo của Hội đồng trọng tài cho các Bên, Bên bị đơn phải thông báo cho Bên nguyên đơn và Ủy ban Thương mại về thời hạn thực hiện ( "thời hạn hợp lý").

2. Nếu có bất đồng giữa các bên về thời hạn hợp lý để thực hiện các báo cáo của Hội đồng trọng tài, trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được thông báo theo quy định tại khoản 1 của Bên bị đơn, Bên nguyên đơn cần gửi văn bản yêu cầu Hội đồng trọng tài ban đầu xác định độ dài của thời hạn hợp lý. Yêu cầu này phải được thông báo đồng thời cho Bên kia và Ủy ban Thương mại. Hội đồng trọng tài phải thông báo phán quyết của mình cho các Bên và Ủy ban Thương mại trong vòng 20 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu.

3. Bên bị đơn phải thông báo cho Bên nguyên đơn bằng văn bản về tiến trình thực hiện báo cáo của Hội đồng trọng tài của minh ít nhất 30 ngày trước khi hết thời hạn hợp lý.

4. Thời hạn hợp lý có thể được gia hạn theo thoả thuận của các bên.

ĐIỀU 14

Xem xét biện pháp được áp dụng để thực hiện báo cáo của Hội đồng trọng tài

1. Bên bị đơn phải thông báo cho Bên nguyên đơn và Ủy ban Thương mại trước khi kết thúc thời hạn hợp lý của bất kỳ biện pháp mà Bên đó đã áp dụng để thực hiện các báo cáo của Hội đồng trọng tài.

2. Trong trường hợp có bất đồng giữa các bên liên quan đối với sự tồn tại hay sự phù hợp của bất kỳ biện pháp được áp dụng để thực hiện theo quy định tại khoản 1 với các quy định nêu tại Điều 2, Bên nguyên đơn có thể yêu cầu bằng văn bản cho Hội đồng trọng tài ban đầu giải quyết vấn đề. Văn bản yêu cầu phải xác định các biện pháp cụ thể đang tranh cãi và giải thích rõ ràng biện pháp này không phù hợp như thế nào với các quy định nêu tại Điều 2 một cách đầy đủ để trình bày các cơ sở pháp lý cho việc khiếu nại. Hội đồng trọng tài phải thông báo phán quyết của mình cho các Bên và Ủy ban Thương mại trong vòng 45 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu.

ĐIỀU 15

Biện pháp khắc phục tạm thời trong trường hợp không thực hiện

1. Nếu Bên bị đơn không thông báo bất kỳ biện pháp nào để thực hiện báo cáo của Hội đồng trọng tài trước khi hết thời hạn hợp lý, hoặc nếu có các quy tắc của Hội đồng trọng tài mà không có biện pháp thực hiện hoặc các biện pháp thông báo như quy định tại Điều 14 khoản 1 là không phù hợp với nghĩa vụ của Bên đó theo quy định nêu tại Điều 2, Bên bị đơn phải, nếu có yêu cầu của Bên nguyên đơn và sau khi tham vấn với Bên đó, trình bày một đề nghị bồi thường tạm thời.

2. Nếu Bên nguyên đơn quyết định không yêu cầu một lời đề nghị bồi thường tạm thời theo quy định tại khoản 1, hoặc, trong trường hợp yêu cầu đó được thực hiện, nếu không có thoả thuận về bồi thường đạt được trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc thời hạn hợp lý hoặc sau khi ban hành phán quyết của Hội đồng trọng tài theo Điều 14 mà không có biện pháp được áp dụng để thực hiện hoặc là một biện pháp được áp dụng để thực hiện không phù hợp với các quy định nêu tại Điều 2 thì sau khi thông báo cho Bên kia và Ủy ban thương mại, Bên nguyên đơn có quyền tạm đình chỉ các nghĩa vụ phát sinh từ bất kỳ quy định nêu tại Điều 2 ở mức tương đương với việc vô hiệu hoặc làm suy giảm bởi các vi phạm. Thông báo cần quy định cụ thể mức đình chỉ nghĩa vụ. Bên nguyên đơn có thể thực hiện việc tạm đình chỉ bất cứ lúc nào sau khi hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Bên bị đơn, trừ khi Bên bị đơn đã yêu cầu trọng tài theo khoản 3.

3. Nếu Bên nguyên đơn thấy rằng mức độ tạm đình chỉ là không tương đương với việc vô hiệu hoặc hoặc suy giảm gây ra bởi các vi phạm, Bên đó có thể yêu cầu bằng văn bản cho Hội đồng trọng tài ban đầu để quyết định về vấn đề này. Yêu cầu phải được thông báo cho Bên nguyên đơn và cho Ủy ban Thương mại trước khi hết thời hạn 10 ngày quy định tại khoản 2. Hội đồng trọng tài ban đầu phải thông báo quyết định của mình về mức độ tạm đình chỉ nghĩa vụ của các Bên và Ủy ban Thương mại trong vòng 30 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu. Không được tạm đình chỉ nghĩa vụ cho đến khi Hội đồng trọng tài ban đầu hoàn thành thông báo quyết định của mình, và bất kỳ sự tạm đình chỉ phải phù hợp với phán quyết của Hội đồng trọng tài.

4. Việc tạm đình chỉ nghĩa vụ và bồi thường dự kiến trong Điều này là tạm thời và sẽ không được áp dụng sau khi:

 (a) các bên đã đạt được một giải pháp các Bên thoả thuận theo quy định tại Điều 19; hoặc

 (b) các bên đã nhất trí rằng biện pháp thông báo theo Điều 14 khoản 1 giúp cho Bên bị đơn phù hợp với các quy định nêu tại Điều 2; hoặc là

(c) bất kỳ biện pháp được phát hiện là không phù hợp với các quy định nêu tại Điều 2 đã được rút lại hoặc sửa đổi để phù hợp với những quy định đó, như quyết định theo Điều 14 khoản 2.

ĐIỀU 16

Xem xét các biện pháp được áp dụng để thực hiện sau khi áp dụng các biện pháp tạm thời cho việc không tuân thủ

1. Bên bị đơn phải thông báo cho Bên nguyên đơn và Ủy ban Thương mại các biện pháp đã áp dụng để thực hiện các báo cáo của Hội đồng trọng tài sau khi tạm đình chỉ các Điều kiện nhượng bộ hoặc sau khi áp dụng bồi thường tạm thời, nếu có. Ngoại trừ các trường hợp nêu tại khoản 2, Bên nguyên đơn có trách nhiệm chấm dứt việc tạm đình chỉ các Điều kiện nhượng bộ trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo. Trong trường hợp bồi thường đã được áp dụng, và ngoại trừ các trường hợp nêu tại khoản 2, Bên bị đơn có thể chấm dứt việc áp dụng bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Bên đó ra thông báo đã tuân thủ các báo cáo của Hội đồng trọng tài.

2. Nếu các bên không đạt được thỏa thuận về việc các biện pháp thông báo có giúp cho Bên bị đơn phù hợp với các quy định nêu tại Điều 2 trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, Bên nguyên đơn phải gửi văn bản yêu cầu cho Hội đồng trọng tài ban đầu để quyết định về vấn đề này. Yêu cầu này phải được thông báo đồng thời cho Bên kia và Ủy ban Thương mại. Phán quyết của Hội đồng trọng tài phải được thông báo cho các Bên và Ủy ban Thương mại trong vòng 45 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu. Nếu Hội đồng trọng tài quyết định rằng các biện pháp được áp dụng để thực hiện là phù hợp với các quy định nêu tại Điều 2, việc tạm đình chỉ nghĩa vụ hoặc bồi thường, nếu có, phải được chấm dứt. Nếu có liên quan, mức độ tạm đình chỉ các nghĩa vụ hoặc bồi thường phải được thích nghi theo các phán quyết của Hội đồng trọng tài.

Tiểu mục 3: Những quy định chung

ĐIỀU 17

Thay thế trọng tài viên

Nếu trong thủ tục tố tụng liên quan đến trọng tài theo Chương này, Hội đồng trọng tài ban đầu, hoặc một số thành viên của Hội đồng trọng tài ban đầu, không thể tham gia, rút lui, hoặc cần phải được thay thế do không tuân thủ các yêu cầu theo các quy tắc thực hiện thì áp dụng quy trình quy định tại Điều 7 .

Thời hạn thông báo của các báo cáo và phán quyết, nếu có, được kéo dài thêm 20 ngày.

ĐIỀU 18

Tạm đình chỉ và đình chỉ hoạt động trọng tài và thủ tục thực hiện

1. Hội đồng trọng tài theo yêu cầu của cả các Bên tạm đình chỉ công việc của mình bất cứ lúc nào trong thời gian thỏa thuận của các Bên nhưng không quá 12 tháng liên tục và phải tiếp tục công việc của mình trước khi kết thúc thời hạn này theo yêu cầu bằng văn bản của cả các Bên. Sau đó, các Bên sẽ thông báo cho Ủy ban Thương mại. Hội đồng trọng tài cũng có thể tiếp tục công việc của mình ở khi thời gian tạm đình chỉ này kết thúc theo yêu cầu bằng văn bản của bất kỳ Bên nào. Theo đó, Bên yêu cầu phải thông báo cho Ủy ban Thương mại và Bên kia. Nếu một Bên không yêu cầu tiếp tục các công việc của Hội đồng trọng tài khi hết thời hạn tạm đình chỉ đã thỏa thuận, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài sẽ mất hiệu lực và các thủ tục sẽ bị đình chỉ. Trong trường hợp tạm đình chỉ, các khung thời gian quy định trong các quy định có liên quan của Chương này được gia hạn thêm một khoản thời gian mà công việc đã bị tạm đình chỉ. Việc tạm đình chỉ và đình chỉ công việc của Hội đồng trọng tài không phương hại đến các quyền của mỗi Bên trong thủ tục tố tụng khác quy định ở Điều 24.

2. Các bên có thể thỏa thuận để đình chỉ các thủ tục của Hội đồng trọng tài bằng cách cùng nhau thông báo cho Chủ tọa Hội đồng trọng tài và Ủy ban Thương mại bất cứ lúc nào trước khi phát hành báo cáo cuối cùng của Hội đồng trọng tài.

ĐIỀU 19

Giải pháp thỏa thuận

Các bên có thể đạt được thỏa thuận chung cho một giải pháp đối với tranh chấp theo Chương này bất cứ lúc nào. Các bên cùng nhau thông báo cho Ủy ban Thương mại và Chủ tọa Hội đồng trọng tài các giải pháp đó. Nếu các giải pháp yêu cầu sự chấp thuận theo các thủ tục trong nước có liên quan của một Bên thì thông báo phải đề cập đến yêu cầu này và các thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ bị tạm đình chỉ. Nếu việc chấp thuận như vậy là không cần thiết hoặc nếu việc hoàn thành các thủ tục trong nước được thông báo thì thủ tục giải quyết tranh chấp phải được chấm dứt.

ĐIỀU 20

Thông tin và tư vấn kỹ thuật

Theo yêu cầu của một Bên, hoặc theo sáng kiến ​​riêng của mình, Hội đồng trọng tài có thể yêu cầu bất kỳ thông tin mà họ cho là thích hợp cho các thủ tục tố tụng của Hội đồng trọng tài từ bất cứ nguồn nào, bao gồm cả các bên tham gia tranh chấp. Hội đồng trọng tài cũng có quyền xin ý kiến ​​của các chuyên gia, nếu xét thấy phù hợp. Hội đồng trọng tài phải tham khảo ý kiến ​​các bên trước khi chọn chuyên gia. Bất kỳ thông tin thu được theo Điều này phải được công khai và gửi cho các Bên tham gia ý kiến ​​trong khung thời gian quy định bởi Hội đồng trọng tài.

ĐIỀU 21

Quy tắc diễn giải

Các bảng Điều khiển trọng tài sẽ giải thích các quy định nêu tại Điều 2 theo quy tắc phong tục của việc diễn giải pháp luật quốc tế, bao gồm cả những luật được hệ thống hóa trong Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế. Hội đồng trọng tài cũng sẽ đưa vào tài khoản giải thích có liên quan trong các báo cáo của Ban Hội thẩm và cơ quan phúc thẩm được thông qua bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB). Các báo cáo và quyết định của Hội đồng trọng tài không thể thêm hay bớt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quy định được dẫn chiếu trong Hiệp định này.

ĐIỀU 22

Các quyết định và phán quyết của Hội đồng trọng tài

1. Hội đồng trọng tài nỗ lực hết mình để quyết định theo nguyên tắc đồng thuận. Tuy nhiên, nếu một quyết định không được tất cả mọi người đồng thuận thì vấn đề sẽ được quyết định theo đa số. Tuy nhiên, các ý kiến bất đồng ​​của các trọng tài viên sẽ không được tiết lộ.

2. Các báo cáo và quyết định của Hội đồng trọng tài sẽ được chấp thuận vô Điều kiện bởi các bên. Các Bên không tạo ra bất kỳ quyền hoặc nghĩa vụ đối với thể nhân hoặc pháp nhân. Các báo cáo và quyết định phải đưa ra những phát hiện của thực tế, việc áp dụng các quy định có liên quan nêu tại Điều 2 và lý do cơ bản đằng sau những phát hiện và kết luận mà họ đưa ra. Ủy ban Thương mại có trách nhiệm công khai toàn bộ báo cáo và phán quyết của Hội đồng trọng tài trong vòng 10 ngày kể từ ngày phát hành các báo cáo, phán quyết đó, trừ khi có quyết định không làm như vậy để bảo vệ sự bí mật của thông tin bí mật.

Phần 4

Quy định chung

ĐIỀU 23

Danh sách trọng tài viên

1. Không quá sáu tháng sau khi Hiệp định này có hiệu lực, Ủy ban thương mại lập một danh sách ít nhất 15 cá nhân những người sẵn sàng và có thể phục vụ như trọng tài viên. Danh sách này gồm có ba danh sách con:

 (a) một danh sách con cho Việt Nam;

 (b) một danh sách cho EU

 (c) một danh sách con các cá nhân không phải là công dân của một trong các Bên và không có hộ khẩu thường trú tại một trong các Bên và những người có trách nhiệm làm Chủ tọa Hội đồng trọng tài.

Mỗi danh sách con phải bao gồm ít nhất là năm cá nhân. Ủy ban Thương mại sẽ đảm bảo rằng danh sách này luôn được duy trì ở mức này.

2. Trọng tài viên phải có kiến ​​thức chuyên môn và kinh nghiệm về pháp luật và thương mại quốc tế. Trọng tài viên phải độc lập, phục vụ trong tư cách cá nhân của họ và không nghe hướng dẫn từ bất kỳ tổ chức hoặc chính phủ, không liên kết với chính phủ của bất kỳ của Bên nào, và phải tuân thủ các quy tắc thực hiện theo Phụ lục II của Hiệp định này.

3. Uỷ ban Thương mại có thể lập một danh sách bổ sung 10 cá nhân với kiến ​​thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực cụ thể quy định tại Hiệp định này. Theo thỏa thuận của các bên, danh sách bổ sung này được sử dụng để tham gia Hội đồng trọng tài theo thủ tục quy định tại Điều 7.

ĐIỀU 24

Lựa chọn diễn đàn

1. Việc dựa vào Điều khoản về giải quyết tranh chấp của Chương này không ảnh hưởng đến bất kỳ hành động trong khuôn khổ WTO, bao gồm cả hành động giải quyết tranh chấp, hoặc trong bất kỳ thỏa thuận quốc tế khác mà các Bên là thành viên.

2. Nếu vi phạm khoản 1, một Bên không đòi bồi thường cho một biện pháp đặc biệt cho việc vi phạm nghĩa vụ cơ bản tương đương theo Hiệp định này và theo Hiệp định WTO hoặc trong bất kỳ thỏa thuận quốc tế khác mà các Bên là thành viên trong các diễn đàn có liên quan. Khi một thủ tục giải quyết tranh chấp đã được bắt đầu, các Bên sẽ không mang lại một yêu cầu tìm kiếm bồi thường cho việc vi phạm nghĩa vụ cơ bản tương đương theo thoả thuận khác với các diễn đàn khác, trừ khi diễn đàn được lựa chọn đầu tiên không thành vì lý do thủ tục hoặc thẩm quyền để có những phát hiện về yêu cầu tìm cách khắc phục nghĩa vụ đó.

3. Theo Điều này,

 (a) các thủ tục giải quyết tranh chấp theo Hiệp định WTO được coi là được khởi xướng bởi yêu cầu của một bên về việc thành lập Ban Hội thẩm theo Điều 6 của Hiểu biết về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO (DSU);

1 Các Phụ lục của chương này:

PHỤ LỤC I: QUY TẮC TỐ TỤNG

PHỤ LỤC II: QUY TẮC ỨNG XỬ ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI VIÊN VÀ HÒA GIẢI VIÊN
PHỤ LỤC III: CƠ CHẾ HÒA GIẢI

 

PHỤ LỤC I

QUY TẮC TỐ TỤNG

Quy định chung

1. Trong Chương X (Giải quyết tranh chấp) và theo các quy tắc sau:

"cố vấn" là người được thuê bởi một Bên tranh chấp để tư vấn hoặc hỗ trợ Bên đó về thủ tục tố tụng có Hội đồng trọng tài;

"trọng tài viên" là thành viên của một Hội đồng trọng tài được thành lập theo quy định tại Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp);

"trợ lý" là người, theo các điều khoản bổ nhiệm trọng tài viên, tiến hành nghiên cứu hoặc cung cấp hỗ trợ cho trọng tài viên đó;

 “Bên nguyên đơn” là bất kỳ Bên nào yêu cầu thành lập Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều 5 của Chương X (Giải quyết tranh chấp);

"Bên bị đơn" là Bên bị cáo buộc là vi phạm các quy định nêu tại Điều 2 của Chương X (Giải quyết tranh chấp);

"Hội đồng trọng tài" là một hội đồng được thành lập theo quy định tại Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp);

"đại diện của một Bên" là một nhân viên hoặc bất kỳ người nào được bổ nhiệm bởi một văn phòng hoặc cơ quan chính phủ hoặc bất kỳ đối tượng công nào của một Bên đại diện cho Bên đó tham gia tranh chấp theo quy định tại Hiệp định này;

 “ngày” là ngày tính theo dương lịch.

2. Bên bị đơn phải chịu trách nhiệm về việc quản lý hậu cần cho các phiên điều trần, trừ khi có thoả thuận khác. Các bên sẽ cùng đóng các chi phí bắt nguồn từ vấn đề tổ chức, bao gồm cả tiền công và các khoản chi phí cho các trọng tài.

Thông báo

3. Mỗi Bên tranh chấp và Hội đồng trọng tài phải gửi tất cả yêu cầu, thông báo, văn bản đệ trình hoặc tài liệu khác bằng e-mail cho Bên kia và gửi văn bản đệ trình và yêu cầu trong khuôn khổ trọng tài cho mỗi trọng tài viên. Các Hội đồng trọng tài luân chuyển tài liệu cho các Bên tham gia cũng bằng e-mail. Trừ khi được chứng minh khác, một thông báo e-mail sẽ được coi là được nhận vào ngày nó được gửi. Nếu bất kỳ tài liệu hỗ trợ có dung lượng trên 10 MB, tài liệu đó sẽ được gửi dưới một định dạng điện tử cho Bên kia và cho mỗi trọng tài viên (nếu được) trong thời gian 2 ngày từ lúc e-mail được gửi.

4. Bản sao của các tài liệu được gửi theo quy tắc 3 sẽ được nộp cho Bên kia và, nếu có thể, đến mỗi trọng tài viên vào ngày gửi e-mail qua fax, đăng ký bưu điện, chuyển phát nhanh, giao nhận hoặc bất kỳ phương tiện viễn thông mà có biên bản ghi nhận việc gửi đó.

5. Tất cả các thông báo được gửi lần lượt cho Bộ Công nghiệp và Thương mại Việt Nam và các Tổng cục Thương mại của Ủy ban Liên minh châu Âu.

6. Lỗi do ghi chép trong bất kỳ yêu cầu, thông báo, văn bản đề trình hoặc tài liệu khác có liên quan đến quá trình làm việc của Hội đồng trọng tài có thể được sửa chữa bằng cách gửi một tài liệu mới có ghi rõ những thay đổi.

7. Nếu ngày cuối cùng để gửi các tài liệu rơi vào một ngày lễ chính thức hợp pháp của Việt Nam hoặc của Liên minh châu Âu, các tài liệu được coi là nhận được vào ngày làm việc tiếp theo.

Bắt đầu hoạt động trọng tài

8.

(a) Nếu căn cứ vào Điều 7 Chương X (Giải quyết tranh chấp) hoặc quy tắc 18, 19 và 44 của Quy tắc tố tụng, trọng tài viên được chọn bằng cách bốc thăm, việc bốc thăm phải được thực hiện tại một thời điểm và địa điểm quyết định bởi bên nguyên đơn và thông tin kịp thời cho bên bị đơn. Nếu được chọn, Bên bị đơn có thể có mặt trong buổi bốc thăm. Trong mọi trường hợp, việc bốc thăm phải được thực hiện với Bên (hoặc các Bên) có mặt.

 (b) Nếu theo Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) hoặc quy tắc 18, 19 và 44 của Quy tắc tố tụng, trọng tài được chọn bằng bốc thăm và có hai Chủ tịch của Ủy ban Thương mại, cả hai Chủ tịch, hoặc người được ủy quyền, hoặc chỉ một chủ tịch trong trường hợp Chủ tịch hoặc người được ủy quyền không chấp nhận tham gia buổi bốc thăm, thực hiện việc bốc thăm.

 (c) Các Bên sẽ thông báo cho trọng tài viên được lựa chọn về sự bổ nhiệm của mình.

 (d) Trọng tài viên đã được bổ nhiệm theo các thủ tục thiết lập tại Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) phải xác nhận với Ủy ban Thương mại khả năng của mình để làm một Trọng tài viên trong thời hạn năm ngày kể từ ngày mà nhận được thông báo bổ nhiệm.

 (e) Các khoản thù lao và chi phí phải trả cho các trọng tài cần phù hợp với tiêu chuẩn của WTO. Thù lao cho trợ lý của mỗi trọng tài viên không được vượt quá 50% tiền lương của trọng tài đó.

9. Các bên phải thông báo các điều khoản thỏa thuận trong tài liệu tham khảo như đã nêu tại Điều 6 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) cho Hội đồng trọng tài trong vòng ba ngày kể từ ngày thỏa thuận.

Đệ trình ban đầu

10. Bên nguyên đơn phải gửi văn bản đệ trình ban đầu của mình không muộn hơn 20 ngày sau khi Hội đồng trọng tài được thành lập. Bên bị đơn phải cung cấp bằng văn bản đề trình phản biện của mình không muộn hơn 20 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề trình ban đầu.

Hoạt động của Hội đồng trọng tài

11. Chủ tọa của Hội đồng trọng tài chủ trì tất cả các cuộc họp của Hội đồng trọng tài. Một hội đồng trọng tài có thể uỷ quyền cho Chủ tọa để đưa ra quyết định hành chính và quyết định tố tụng.

12. Trừ khi có quy định khác trong Chương X (Giải quyết tranh chấp), Hội đồng trọng tài có thể tiến hành các hoạt động của mình bằng bất kỳ phương tiện nào, bao gồm cả bằng điện thoại, truyền fax hoặc liên kết máy tính.

13. Việc soạn thảo bất kỳ phán quyết sẽ vẫn là trách nhiệm đặc biệt của Hội đồng trọng tài và không được ủy thác.

14. Trong trường hợp phát sinh thắc mắc về thủ tục tố tụng mà không được quy định tại Chương X (Giải quyết tranh chấp) và phụ lục của nó, Hội đồng trọng tài sau khi có ý kiến ​​của các bên có thể thông qua một thủ tục thích hợp tương thích với các quy định đó.

15. Khi Hội đồng trọng tài cho rằng cần thiết để sửa đổi một thời hạn cho thủ tục tố tụng ngoài thời hạn quy định trong Chương X (Giải quyết tranh chấp) hoặc thực hiện bất kỳ điều chỉnh thủ tục, hành chính khác, Hội đồng trọng tài phải thông báo cho các bên tham gia tranh chấp bằng văn bản về lý do thay đổi, điều chỉnh và những khoảng thời gian hoặc điều chỉnh cần thiết.

Thay thế

16. Nếu trong thủ tục tố tụng trọng tài theo Chương X (Giải quyết tranh chấp) một trọng tài viên không thể tham gia, rút lui, hoặc phải được thay thế do không tuân thủ các yêu cầu của Quy tắc thực hiện, một người thay thế sẽ được lựa chọn theo quy định tại Điều 7 Chương X (Giải quyết tranh chấp) và quy tắc 8 của Quy tắc tố tụng.

17. Trường hợp một Bên tranh chấp cho rằng một trọng tài viên không tuân thủ các yêu cầu của Quy tắc thực hiện và vì lý do này nên được thay thế, Bên này nên thông báo cho Bên kia trong vòng 15 ngày kể từ lúc thu được bằng chứng về những trường hợp vi phạm cơ bản tài liệu của trọng tài của các Quy tắc thực hiện.

18. Trường hợp một Bên tranh chấp cho rằng một trọng tài viên ngoài Chủ tọa Hội đồng trọng tài không tuân thủ các yêu cầu của Quy tắc thực hiện, các Bên sẽ tham khảo ý kiến, và nếu họ đồng ý thì chọn một trọng tài mới theo quy định tại Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) và quy tắc 8 của Quy tắc tố tụng.

Nếu các bên không thoả thuận được về sự cần thiết phải thay thế một trọng tài viên, bất kỳ Bên nào cũng có thể yêu cầu vấn đề đó được chuyển đến Chủ tọa Hội đồng trọng tài, người đưa ra quyết định cuối cùng.

Nếu theo yêu cầu đó, Chủ tọa Hội đồng trọng tài phát hiện một trọng tài viên không tuân thủ yêu cầu của Quy tắc thực hiện, trọng tài viên mới được chọn theo quy định tại Điều 7 Chương X (Giải quyết tranh chấp) và quy tắc 8 cùa Quy tắc tố tụng.

19. Trường hợp một Bên cho rằng Chủ tọa của Hội đồng trọng tài không tuân thủ các yêu cầu của Quy tắc thực hiện, các Bên phải tham khảo ý kiến, và nếu các bên đồng ý thì chọn một chủ tọa mới theo quy định tại Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) và quy tắc 8 của quy tắc tố tụng.

Nếu các bên không thể thoả thuận về sự cần thiết của việc thay thế Chủ tọa, bất kỳ bên nào cũng có thể yêu cầu vấn đề đó được giải quyết bởi một trong những thành viên còn lại của nhóm các cá nhân từ các danh sách con các chủ tọa được lập theo Điều 23 khoản 1 của Chương X (Giải quyết tranh chấp). Tên của người đó được rút ra bằng bốc thăm thực hiện bởi chủ tịch của Ủy ban Thương mại, hoặc người được chủ tịch ủy quyền. Các quyết định của người này về sự cần thiết để thay thế chủ tọa là quyết định cuối cùng.

Nếu người này quyết định rằng Chủ tọa ban đầu không tuân thủ các yêu cầu của Quy tắc ứng xử, người đó sẽ chọn một Chủ tọa mới bằng cách bốc thăm trong số những người còn lại của các cá nhân từ các danh sách con của chủ tịch nêu tại Điều 23 khoản 1 Chương X (Giải quyết tranh chấp). Việc lựa chọn Chủ tọa mới sẽ được thực hiện trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hay từ ngày ra quyết định nêu trên.

20. Các thủ tục tố tụng Hội đồng trọng tài sẽ bị tạm đình chỉ trong thời gian áp dụng để thực hiện các thủ tục quy định trong các quy tắc 17, 18 và 19.

Phiên điều trần

21. Chủ tọa của Hội đồng trọng tài sẽ ấn định ngày và thời gian của buổi điều trần với sự tham vấn của các bên và các trọng tài viên, và chủ tịch Hội đồng trọng tài phải xác nhận bằng văn bản cho các bên. Thông tin này cũng sẽ được công bố công khai bởi Bên phụ trách quản lý hậu cần của các thủ tục tố tụng, trừ khi phiên tòa được xét xử kín. Trừ khi một Bên không đồng ý, Hội đồng trọng tài có thể quyết định không triệu tập một phiên điều trần.

22. Các Hội đồng trọng tài có thể triệu tập các phiên điều trần bổ sung nếu các bên đồng ý.

23. Tất cả các trọng tài viên phải có mặt trong tất cả các phiên điều trần.

24. Những người sau đây có thể tham dự phiên điều trần, bất kể các thủ tục tố tụng được mở công khai hay không:

 (a) các đại diện của các Bên;

 (b) cố vấn cho các Bên;

 (c) các chuyên gia;

 (d) nhân viên hành chính, phiên dịch, dịch giả và phóng viên của tòa án; và

 (e) trợ lý trọng tài viên.

Chỉ có các đại diện và các cố vấn của các bên được quyền nói chuyện với Hội đồng trọng tài.

25. Chậm nhất là năm ngày trước ngày điều trần, mỗi Bên phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài một danh sách tên của những người sẽ tham gia tranh trụng hoặc thuyết trình tại buổi điều trần thay mặt cho Bên đó và các đại diện hoặc tư vấn viên khác sẽ được phép tham dự phiên tòa.

26. Hội đồng trọng tài sẽ tiến hành phiên điều trần theo cách sau đây, đảm bảo rằng Bên nguyên đơn và bên bị đơn được cho thời gian bằng nhau:

Tranh luận

 (a) lập luận của Bên nguyên đơn;

 (b) lập luận của Bên bị đơn.

Lập luận phản biện

 (a) lập luận của Bên nguyên đơn;

 (b) phản biện của Bên bị đơn.

27. Hội đồng trọng tài có thể hỏi trực tiếp các Bên hoặc các chuyên gia tại bất kỳ thời điểm nào trong buổi điều trần.

28. Hội đồng trọng tài sẽ sắp xếp chuẩn bị một bản ghi chép của từng buổi điều trần và chuyển giao cho các bên sớm nhất có thể. Các bên có thể nhận xét về bàn ghi chép và Hội đồng trọng tài có thể xem xét ý kiến.

29. Mỗi Bên có thể cung cấp một văn bản đề trình bổ sung liên quan đến bất kỳ vấn đề nảy sinh trong quá trình điều trần trong vòng 10 ngày kể từ ngày mở phiên điều trần.

Câu hỏi bằng văn bản

30. Bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng, Hội đồng trọng tài có thể giải quyết các câu hỏi bằng văn bản cho một hoặc cả hai bên. Mỗi Bên sẽ nhận được một bản sao của tất cả các câu hỏi từ Hội đồng trọng tài.

31. Một Bên phải cung cấp một bản sao văn bản trả lời các câu hỏi cho câu hỏi của Hội đồng trọng tài đặt cho Bên khác. Mỗi Bên sẽ được trao cơ hội để đóng góp ý kiến ​​bằng văn bản về trả lời của bên kia trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được trả lời.

Bảo mật

32. Mỗi Bên và các cố vấn của mình có trách nhiệm giữ bí mật những thông tin do Bên kia nộp cho Hội đồng trọng tài mà Bên đó coi là bí mật. Trường hợp một Bên gửi một phiên bản bí mật của văn bản đệ trình cho Hội đồng trọng tài thì theo yêu cầu của bên kia, bên đó cũng phải cung cấp một bản tóm tắt không bí mật những thông tin trong bản đệ trình của nó có thể được tiết lộ cho công chúng không muộn hơn 15 ngày kể từ ngày yêu cầu hoặc đệ trình, bất kể là yêu cầu hay đệ trình được thực hiện sau, và giải thích lý do tại sao các thông tin không được tiết lộ là bí mật. Không có quy tắc nào trong số những quy tắc này có thể ngăn cản một Bên công khai các lập luận của mình cho công chúng đến mức độ mà khi thực hiện tham chiếu đến thông tin do Bên kia, Bên đó không tiết lộ bất cứ thông tin do Bên kia là bí mật. Hội đồng trọng tài phải đáp ứng trong phiên họp kín khi đệ trình và tranh luận của một Bên có chứa thông tin bí mật. Các bên và cố vấn của các bên phải duy trì tính bảo mật của các phiên điều trần có Hội đồng trọng tài trong trường hợp các phiên điều trần được tổ chức tại phiên họp kín.

Liên lạc một bên

33. Hội đồng trọng tài không đáp ứng hoặc liên lạc với một Bên khi vắng mặt Bên kia.

34. Trọng tài viên không được thảo luận về bất kỳ khía cạnh của vấn đề tố tụng với một bên hoặc cả hai bên khi vắng mặt các trọng tài khác.

Đệ trình thân hữu của tòa án

35. Trừ khi các bên có thoả thuận khác trong vòng ba ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài, Hội đồng trọng tài có thể nhận văn bản đệ trình không mong muốn của các thể nhân hay pháp nhân thành lập trên lãnh thổ của một Bên độc lập với chính phủ của các Bên, với điều kiện các văn bản này được thực hiện trong vòng 10 ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng trọng tài, súc tích và không dài hơn 15 trang đánh máy, khoảng cách dòng đôi và có liên quan trực tiếp đến một vấn đề thực tế hoặc một vấn đề pháp lý theo xem xét bởi Hội đồng trọng tài.

36. Văn bản đệ trình phải bao gồm mô tả của người đệ trình, thể nhân hay pháp nhân, trong đó có quốc tịch hoặc nơi thành lập, tính chất hoạt động, tình trạng pháp lý của nó, mục tiêu tổng quát và các nguồn tài chính của mình, và chỉ định bản chất của lãi suất mà người đó có trong tố tụng trọng tài. Văn bản đệ trình phải được soạn thảo trong các ngôn ngữ được lựa chọn bởi các Bên theo quy tắc [39, 40] của Quy tắc tố tụng.

37. Hội đồng trọng tài phải liệt kê trong quyết định của mình tất cả các văn bản đệ trình đã nhận được mà phù hợp với quy tắc 35 và 36. Hội đồng trọng tài không có nghĩa vụ giải quyết trong quyết định của mình các tranh luận thực hiện trong bản đệ trình. Tất cả các văn bản đệ trình đó sẽ được gửi cho các Bên tham gia ý kiến. Các ý kiến ​​của các bên sẽ được nộp trong vòng 10 ngày và bất kỳ ý kiến ​​đó phải được xem xét bởi Hội đồng trọng tài.

Trường hợp khẩn cấp

38. Trong trường hợp khẩn cấp nêu tại Chương X (Giải quyết tranh chấp), sau khi nhận được ý kiến của các bên, Hội đồng trọng tài điều chỉnh thời hạn quy định trong Quy tắc tố tụng, khi thích hợp, và thông báo cho các Bên về các điều chỉnh đó.

Phiên dịch và giải thích

39. Trong quá trình tham vấn nêu tại Điều 3 Chương X (Giải quyết tranh chấp), và không chậm hơn cuộc họp nêu tại Điều 8 của Chương X (Giải quyết tranh chấp), các Bên nỗ lực để thỏa thuận một ngôn ngữ làm việc chung cho các hoạt động tố tụng trước Hội đồng trọng tài.

40. Nếu các bên không thể thoả thuận về một ngôn ngữ làm việc chung, mỗi Bên sẽ làm văn bản đệ trình của mình bằng ngôn ngữ đã lựa chọn đó sẽ là một trong những ngôn ngữ làm việc của WTO.

41. Phán quyết của Hội đồng trọng tài sẽ được ban hành bằng (các) ngôn ngữ lựa chọn bởi các bên.

42. Bất kỳ các Bên có thể đưa ra nhận xét về tính chính xác của bất kỳ phiên bản dịch của một tài liệu được soạn thảo phù hợp với những Quy tắc tố tụng.

43. Bất kỳ chi phí phát sinh đối với bản dịch của một phán quyết trọng tài sẽ được chi trả đồng đều bởi cả hai Bên.

Các thủ tục khác

44. Các Quy tắc tố tụng cũng được áp dụng cho các thủ tục thành lập theo Điều 3, 13 (2), 14 (2), 15 (3) và Điều 16 (2) của Chương X (Giải quyết tranh chấp). Trong trường hợp này, thời hạn quy định trong Quy tắc tố tụng sẽ được điều chỉnh phù hợp với thời hạn đặc biệt được quy định cho việc thông qua một phán quyết của Hội đồng trọng tài trong những thủ tục khác.

PHỤ LỤC II QUY TẮC ỨNG XỬ

ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI VIÊN VÀ HÒA GIẢI VIÊN

Các định nghĩa

1. Trong Quy tắc này:

 (a) "trọng tài viên" là thành viên của một Hội đồng trọng tài được thành lập theo quy định tại Điều 7 của Chương X (Giải quyết tranh chấp);

 (b) "ứng cử viên" là một cá nhân có tên trong danh sách trọng tài viên quy định tại Điều 23 Chương X (Giải quyết tranh chấp) và những người đang được xem xét để lựa chọn như là một thành viên của một Hội đồng trọng tài theo Điều 7 của Chương X ( Giải quyết tranh chấp);

 (c) "trợ lý" là người mà theo các điều khoản chỉ định của trọng tài viên tiến hành nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho trọng tài viên đó;

 (d) "tố tụng", trừ khi có quy định khác, là thủ tục tố tụng trọng tài theo Chương X (Giải quyết tranh chấp);

 (e) "nhân viên", đối với một trọng tài viên, có nghĩa là người chịu sự chỉ đạo và quản lý của trọng tài viên ngoài trợ lý;

 (f) "hòa giải viên" là người thực hiện thủ tục hòa giải theo quy định tại Phụ lục III (Hòa giải).

Trách nhiệm đối với quá trình hòa giải

2. Mỗi ứng cử viên và trọng tài viên phải tránh sự không thích đáng và dấu hiệu của không thích đáng, phải độc lập và vô tư, phải tránh xung đột trực tiếp và gián tiếp giữa những lợi ích và phải chấp hành tiêu chuẩn cao về ứng xử sao cho sự toàn vẹn và công bằng của các cơ chế giải quyết tranh chấp được bảo tồn. Cựu trọng tài viên phải tuân thủ các nghĩa vụ thành lập trong các quy tắc 15, 16, 17 và 18 của Quy tắc thực hành này.

Nghĩa vụ công bố thông tin

3. Trước khi xác nhận làm một trọng tài viên như được chọn theo quy định tại Chương X (Giải quyết tranh chấp), ứng cử viên phải công khai những quan tâm, mối quan hệ hoặc vấn đề có thể ảnh hưởng đến sự độc lập hoặc vô tư của mình hoặc có thể tạo ra một cách hợp lý sự không thích hợp hoặc thiên vị trong quá trình tố tụng. Để được như vậy, ứng cử viên phải nỗ lực hết mình để biết được các mối quan tâm, mối quan hệ và các vấn đề đó.

4. Một ứng cử viên hoặc Trọng tài viên chỉ thông tin các vấn đề liên quan đến các vấn đề vi phạm thực tế hoặc có nguy cơ vi phạm Quy tắc ứng xử này cho Ủy ban Thương mại để các bên xem xét.

5. Sau khi lựa chọn, một trọng tài viên phải tiếp tục nỗ lực hết mình để biết được bất kỳ lợi ích, các mối quan hệ hoặc các vấn đề được đề cập trong quy tắc 3 của Quy tắc ứng xử này và tiết lộ chúng. Các nghĩa vụ công bố thông tin là một nhiệm vụ xuyên suốt yêu cầu trọng tài viên công bố tất cả các mối quan tâm, mối quan hệ hoặc các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình tố tụng. Các trọng tài cần phải công khai các lợi ích, mối quan hệ hoặc các vấn đề bằng cách thông báo cho Ủy ban Thương mại bằng văn bản để các Bên xem xét.

Nhiệm vụ của trọng tài viên

6. Sau khi xác nhận lựa chọn của mình, trọng tài viên phải sẵn sàng để thực hiện và phải thực hiện nhiệm vụ của mình triệt để và nhanh chóng trong suốt quá trình tố tụng một cách công bằng và cần mẫn.

7. Một trọng tài chỉ xem xét những vấn đề đặt ra trong thủ tục và cần thiết đối với quyết định và không được uỷ thác nhiệm vụ này cho bất kỳ người nào khác.

8. Trọng tài viên phải áp dụng mọi biện pháp thích đáng để đảm bảo rằng trợ lý và nhân viên của mình nhận thức được và tuân thủ quy tắc 2, 3, 4, 5, 16, 17 và 18 của Quy tắc ứng xử này.

9. Trọng tài viên không được thực hiện liên lạc một bên liên quan đến hoạt động tố tụng.

Sự độc lập và vô tư của các trọng tài viên

10. Một trọng tài viên phải độc lập và vô tư và tránh tạo ra sự xuất hiện của sự không thích hợp hoặc thiên vị và không bị ảnh hưởng bởi sự tư lợi, áp lực bên ngoài, cân nhắc chính trị, tiếng nói người dân hay trung thành với một Bên hay sợ hãi những lời chỉ trích.

11. Dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, trọng tài không phải chịu bất kỳ nghĩa vụ hoặc chấp nhận bất kỳ lợi ích để bằng mọi cách cản trở, hoặc có dấu hiệu cản trở, khi thực hiện nhiệm vụ của mình.

12. Một trọng tài không được sử dụng lập trường của mình đối với Hội đồng trọng tài trước bất kỳ lợi ích cá nhân hoặc tư nhân và phải tránh các hành động có thể khiến mọi người thấy rằng người khác đang ở trong một vị trí đặc biệt ảnh hưởng đến người trọng tài đó.

13. Một trọng tài không cho phép các mối quan hệ hay trách nhiệm về tài chính, kinh doanh, nghề nghiệp, cá nhân, hay xã hội gây ảnh hưởng đến hành động hay phán đoán của mình.

14. Trọng tài viên phải tránh có bất kỳ mối quan hệ hoặc nhận bất kỳ lợi ích tài chính mà có thể ảnh hưởng đến sự vô tư của mình hay có thể tạo ra một sự không thích đáng hay thiên vị.

Nghĩa vụ của cựu trọng tài viên

15. Tất cả các cựu trọng tài viên phải tránh các hành động có thể tạo ra dấu hiệu rằng họ đã thiên vị trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc nhận được lợi ích từ quyết định hay phán quyết của Hội đồng trọng tài.

Bảo mật

16. Trọng tài viên và cựu trọng tài viên tuyệt đối không được tiết lộ hoặc sử dụng bất kỳ thông tin không công khai liên quan đến một tiến trình hoặc có được trong quá trình tố tụng ngoại trừ cho mục đích của hoạt động tố tụng đó và trong mọi trường hợp không được tiết lộ hoặc sử dụng các thông tin đó để đạt được lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cho người khác hoặc làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của người khác.

17. Một trọng tài không được tiết lộ một phán quyết hoặc một phần phán quyết của Hội đồng trọng tài trước khi nó được công bố theo quy định tại Chương X (Giải quyết tranh chấp).

18. Một trọng tài viên hoặc cựu trọng tài viên tuyệt đối không được tiết lộ nội dung các cuộc nghị sự của một nhóm trọng tài viên hay quan điểm của một trọng tài viên nào đó.

Chi phí

19. Mỗi trọng tài viên phải lập hồ sơ và đưa ra một sự tính toán cuối cùng của thời gian dành cho các việc tố tụng và các chi phí của mình cũng như thời gian và chi phí cho của trợ lý và nhân viên của mình.

Hòa giải viên

20. Các ngành học được mô tả trong quy tắc này áp dụng đối với trọng tài viên hoặc cựu trọng tài viên được áp dụng đối với hòa giải viên sau khi được sửa đổi bổ sung hợp lý.

PHỤ LỤC III

CƠ CH HÒA GII

ĐIỀU 1

Mục tiêu

Mục tiêu của Phụ lục này là để tạo thuận lợi cho việc tìm ra một giải pháp đôi bên cùng nhất trí thông qua một quy trình toàn diện và nhanh chóng với sự hỗ trợ của một hòa giải viên.

Phần 1

Tố tụng theo cơ chế hòa giải

ĐIỀU 2

Yêu cầu thông tin

1. Trước khi bắt đầu thủ tục hòa giải, một Bên có thể yêu cầu bằng văn bản thông tin liên quan đến một biện pháp ảnh hưởng xấu đến thương mại và đầu tư giữa các bên. Bên bị yêu cầu phải cung cấp trong vòng 20 ngày một văn bản trả lời có ý kiến của Bên đó về các thông tin trong đơn yêu cầu.

2. Trường hợp Bên bị yêu cầu cho rằng một phản hồi trong vòng 20 ngày là không thực hiện được, Bên đó sẽ thông báo cho Bên yêu cầu những lý do cho sự chậm trễ, cùng với ước tính tổng thời gian ngắn nhất mà Bên đó có thể đưa ra phản hổi.

ĐIỀU 3

Khởi đầu thủ tục hòa giải

1. Bất cứ lúc nào, một Bên có thể yêu cầu các bên tham gia vào một thủ tục hòa giải. Yêu cầu này được gửi cho bên kia dưới dạng văn bản. Yêu cầu phải được trình bày chi tiết đầy đủ để trình bày rõ ràng những mối quan tâm của Bên yêu cầu và phải:

 (a) xác định biện pháp cụ thể có vấn đề;

 (b) cung cấp một báo cáo về tác dụng phụ bị cáo buộc mà Bên yêu cầu tin là các biện pháp đang hoặc sẽ có về thương mại hoặc đầu tư giữa các Bên; và

 (c) giải thích các bên yêu cầu xét thấy những tác dụng này có liên kết với biện pháp đó như thế nào.

2. Thủ tục hòa giải chỉ có thể khởi đầu bằng thỏa thuận giữa các bên.

Bên bị yêu cầu theo quy định tại khoản 1 cần xem xét một cách khách quan những yêu cầu và trả lời bằng cách chấp nhận hoặc từ chối bằng văn bản trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận đơn.

ĐIỀU 4

Lựa chọn hòa giải viên

1. Khi khởi động thủ tục hòa giải, các bên phải nỗ lực để thỏa thuận một hòa giải viên không muộn hơn 15 ngày kể từ ngày nhận được trả lời các yêu cầu nêu tại Điều 3 của Phụ lục này.

2. Trong trường hợp các bên không thể thoả thuận về hòa giải viên trong khoảng thời gian quy định tại khoản 1, một trong hai Bên có thể yêu cầu chủ tịch Ủy ban Thương mại hoặc người được chủ tịch ủy quyền chọn hòa giải viên bằng cách bốc thăm từ danh sách được lập theo Điều 23 khoản 1 của Chương X (Giải quyết tranh chấp). Đại diện của cả hai bên sẽ được mời tham gia, với dự đoán chính đáng, có mặt khi buổi bốc thăm diễn ra. Trong mọi trường hợp, việc bốc thăm phải được thực hiện với Bên (hoặc các Bên) có mặt.

3. Chủ tịch Ủy ban Thương mại hoặc người được chủ tịch ủy quyền, phải chọn Trọng tài viên trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu quy định tại khoản 2 của một trong hai Bên.

4. Nếu danh sách quy định tại Điều 23 khoản 1 của Chương X (Giải quyết tranh chấp) không được thành lập vào thời điểm yêu cầu theo Điều 3 của Phụ lục này thì hòa giải viên sẽ được chọn ra bằng cách bốc thăm từ các cá nhân đã được chính thức đề nghị bởi một hoặc cả hai bên.

5. Hòa giải viên phải không là công dân của một trong hai Bên, trừ khi các bên có thoả thuận khác.

6. Hòa giải viên sẽ hỗ trợ các Bên một cách khách quan và minh bạch trong việc làm rõ các biện pháp và tác động thương mại có thể của nó và trong việc thỏa thuận giải pháp. Quy tắc thực hiện đối với Trọng tài viên và Hòa giải viên trong Phụ lục II của Chương X (Giải quyết tranh chấp) áp dụng đối với hòa giải viên với những sửa đổi hợp lý. Quy tắc 3 đến 7 (Thông báo) và 39 đến 43 (Phiên dịch và giải thích) của Quy tắc tố tụng, quy định tại Phụ lục I của Chương X (Giải quyết tranh chấp) được áp dụng với những sửa đổi hợp lý.

ĐIỀU 5

Quy tắc hòa giải

1. Trong thời hạn 10 ngày sau khi bổ nhiệm hòa giải viên, Bên đã yêu cầu hòa giải phải xuất trình văn bản mô tả chi tiết vấn đề cho hòa giải viên và cho Bên kia, đặc biệt là hoạt động của biện pháp có vấn đề và tác động thương mại của nó. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày giao đệ trình, Bên kia có thể cung cấp bằng văn bản ý kiến ​​của mình đối với mô tả của vấn đề. Một trong hai Bên có thể thêm vào trong mô tả hoặc ý kiến ​​của mình bất kỳ thông tin nào mà họ cho là có liên quan.

2. Hòa giải viên có thể quyết định cách thức phù hợp nhất mang lại sự rõ ràng đối với biện pháp có liên quan và tác động thương mại có thể có. Đặc biệt, hòa giải viên có thể tổ chức các cuộc họp giữa các bên, tham khảo ý kiến ​​các bên, cùng nhau hoặc riêng rẽ, tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc tham khảo ý kiến của các chuyên gia có liên quan và các bên liên quan và cung cấp hỗ trợ bổ sung theo yêu cầu của các bên. Trước khi tìm kiếm sự hỗ trợ hay tư vấn của các chuyên gia có liên quan và các bên, hòa giải viên phải tham khảo ý kiến ​​của các bên.

3. Hòa giải viên có thể đưa ra lời khuyên và đề xuất một giải pháp cho việc xem xét của các bên là chấp nhận hoặc từ chối các giải pháp đề xuất hoặc có thể thỏa thuận một giải pháp khác. Hòa giải viên không được tư vấn hoặc cho ý kiến ​​về sự phù hợp của biện pháp đang tranh cãi với Hiệp định này.

4. Các thủ tục được tiến hành trong lãnh thổ của Bên bị yêu cầu hoặc trong bất kỳ vị trí khác hoặc bằng bất kỳ phương tiện khác theo thỏa thuận chung.

5. Các Bên nỗ lực để đạt được một giải pháp hai bên thoả thuận trong vòng 60 ngày kể từ ngày bổ nhiệm hòa giải viên. Trong khi chờ một thỏa thuận cuối cùng, các bên có thể xem xét các giải pháp tạm thời có thể, đặc biệt là nếu biện pháp liên quan đến mặt hàng dễ hỏng.

6. Các giải pháp có thể được thông qua bằng một quyết định của Ủy ban Thương mại. Hai Bên có thể yêu cầu giải pháp này phải hoàn thành các thủ tục nội bộ cần thiết. Giải pháp thoả thuận chung sẽ được công bố công khai. Các phiên bản tiết lộ cho công chúng không chứa bất kỳ thông tin mà một Bên coi là bí mật.

7. Theo yêu cầu của các bên, hòa giải viên phải cấp cho các bên văn bản dự thảo báo cáo thực tế đưa ra một bản tóm tắt ngắn gọn về:

 (a) các biện pháp đang tranh cãi trong các thủ tục này;

 (b) các thủ tục tiếp theo; và

 (c) bất kỳ giải pháp đã được hai bên thoả thuận như kết quả cuối cùng của các thủ tục này, bao gồm các giải pháp tạm thời có thể.

Hòa giải viên phải cho các Bên 15 ngày để đưa ra ý kiến về dự thảo báo cáo thực tế. Sau khi xem xét ý kiến ​​của các bên được nộp trong thời hạn trên, hòa giải viên phải gửi bằng văn bản báo cáo thực tế cuối cùng cho các bên trong vòng 15 ngày. Báo cáo thực tế sẽ không bao gồm bất kỳ sự giải thích nào đối với Hiệp định này.

8. Thủ tục được kết thúc:

 (a) kể từ ngày một giải pháp thỏa thuận chung của các bên được thông qua;

 (b) khi có sự thỏa thuận của các Bên ở bất kỳ giai đoạn của thủ tục, kể từ ngày đi đến thoả thuận này;

 (c) khi có tuyên bố bằng văn bản của người hòa giải, sau khi tham vấn với các bên, mà nếu nỗ lực hòa giải hơn nữa sẽ không có kết quả, vào ngày tuyên bố; hoặc là

 (d) khi có tuyên bố bằng văn bản của một bên sau khi khảo sát các giải pháp hai bên thoả thuận theo thủ tục hòa giải và sau khi xem xét bất kỳ lời khuyên và các giải pháp được đề xuất bởi các hòa giải viên, kể từ ngày tuyên bố.

Phần 2

Thực hiện

ĐIỀU 6

Thực hiện giải pháp thống nhất

1. Trong trường hợp các bên đã đồng ý một giải pháp, mỗi Bên sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết để thực hiện các giải pháp mà hai bên đã thoả thuận trong khung thời gian thỏa thuận.

2. Bên thực hiện có trách nhiệm thông báo cho Bên kia bằng văn bản các bước hoặc các biện pháp được áp dụng để thực hiện giải pháp mà hai bên thoả thuận.

Phần 3

Quy định chung

ĐIỀU 7

Bảo mật và mối quan hệ với giải quyết tranh chấp

1. Trừ khi các bên có thoả thuận khác, và không ảnh hưởng đến Điều 5 khoản 6 của Phụ lục này, tất cả các bước của thủ tục, bao gồm bất kỳ lời khuyên hoặc giải pháp đề xuất, đều được giữ kín. Tuy nhiên, hai Bên có thể tiết lộ cho công chúng rằng việc hòa giải đang diễn ra.

2. Thủ tục hòa giải không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các Bên quy định tại Chương X (Giải quyết tranh chấp) và các thỏa thuận khác.

3. Tham vấn theo Chương X (Giải quyết tranh chấp) là không cần thiết trước khi bắt đầu các thủ tục hòa giải. Tuy nhiên, một Bên nên vận dụng một cách bình thường những quy định hợp tác hay tư vấn có liên quan khác trong Hiệp định này trước khi bắt đầu các thủ tục hòa giải.

4. Một Bên không dựa vào hoặc giới thiệu như bằng chứng trong thủ tục giải quyết tranh chấp khác theo Hiệp định này hoặc bất kỳ thỏa thuận nào khác, Ban hội thẩm cũng không xem xét:

 (a) vị trí được chọn bởi Bên kia trong quá trình thực hiện thủ tục hòa giải hoặc các thông tin thu thập được theo Điều 5 khoản 2 của Phụ lục này;

 (b) thực tế rằng Bên kia đã chỉ ra sự sẵn sàng để chấp nhận một giải pháp cho biện pháp cần hòa giải; hoặc

 (c) lời khuyên hoặc đề xuất của hòa giải viên.

5. Hòa giải viên có thể không phục vụ như là một trọng tài viên hoặc thành viên ban hội thẩm trong thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp theo quy định tại Hiệp định này hoặc theo Hiệp định WTO liên quan đến cùng một vấn đề mà người này đã thực hiện hòa giải.

ĐIỀU 8

Thời hạn

Bất kỳ thời hạn nêu tại Chương này đều có thể được sửa đổi theo thỏa thuận của các bên tham gia tố tụng.

ĐIỀU 9

Chi phí

1. Mỗi Bên phải chịu chi phí của mình cho việc tham gia trong các thủ tục hòa giải.

2. Các bên sẽ cùng đóng một khoản ngang nhau các chi phí cho các vấn đề về tổ chức, bao gồm cả các khoản thù lao và chi phí cho hòa giải viên. Thù lao của hòa giải viên được thực hiện theo quy định về khoản được dự tính cho Chủ tọa Hội đồng trọng tài tại quy tắc 8 (e) của Quy tắc tố tụng, Phụ lục I của Chương X (Giải quyết tranh chấp).

 (b) các thủ tục giải quyết tranh chấp theo Chương này được coi là được khởi xướng bởi yêu cầu của một bên về việc thành lập một Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều 5 khoản 1;

 (c) quá trình tố tụng giải quyết tranh chấp theo bất kỳ thỏa thuận quốc tế khác được cho là bắt đầu theo đúng thỏa thuận.

4. Hiệp định này không ngăn cản một Bên thực hiện việc tạm đình chỉ nghĩa vụ ủy quyền của DSB. Hiệp định WTO sẽ không được áp dụng để ngăn cản một Bên hoãn nghĩa vụ theo Chương này.

ĐIỀU 25

Thời hạn

1. Tất cả các thời hạn quy định trong Chương này, bao gồm các thời hạn để các Hội đồng trọng tài thông báo các báo cáo và quyết định của mình, được tính theo ngày dương lịch kể từ ngày tiếp theo của hành động hoặc thực tế mà họ tham khảo, trừ khi có quy định khác.

2. Bất kỳ thời hạn nêu tại Chương này có thể được sửa đổi theo thỏa thuận của các bên tranh chấp. Hội đồng trọng tài bất cứ lúc nào cũng có thể đề nghị các Bên tham gia sửa đổi bất kỳ thời hạn nêu tại Chương này nhưng phải nêu rõ lý do đề nghị.

ĐIỀU 26

Rà soát và sửa đổi

Ủy ban Thương mại có thể quyết định sửa đổi các phụ lục của Chương này.1

-------------------------------------

Chia sẻ bài viết lên facebook 5,513

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn