TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 9776:2013
CAC/RCP 67-2009
QUY PHẠM THỰC HÀNH GIẢM ACRYLAMIDE TRONG THỰC PHẨM
Code
of Practice for the Reduction of Acrylamide in Foods
Lời nói đầu
TCVN 9776:2013 hoàn toàn tương
đương với CAC/RCP 67-2009;
TCVN 9776:2013 do Ban kỹ thuật tiêu
chuẩn quốc gia TCVN/TC/F3 Nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm biên
soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công
nghệ công bố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Code
of Practice for the Reduction of Acrylamide in Foods
Lời giới thiệu
1. Mối quan tâm về sự có mặt của
acrylamide trong thực phẩm bắt đầu từ năm 2002. Các nhà khoa học Thụy Điển đã
báo cáo về hàm lượng acrylamide ở mức miligam trên kilogam (mg/kg) có thể được
tạo thành trong thực phẩm giàu carbohydrat khi gia nhiệt ở nhiệt độ cao, ví dụ
chiên, rang, nướng, quay… Những phát hiện này đã được các nhà nghiên cứu khác
nhanh chóng khẳng định; ngay sau đó, các nhà nghiên cứu quốc tế đã cố gắng điều
tra nguyên nhân chính gây phơi nhiễm thực phẩm, đánh giá rủi ro đối với sức
khỏe và xây dựng chiến lược quản lý rủi ro đó. Chi tiết của những nghiên cứu
này được đưa lên Mạng thông tin về acrylamide của FAO/WHO (http://www.acrylamide-food.org/)
và "Cơ sở dữ liệu về acrylamidea)'' (http://ec.europa.eu/food/chemicalsafety/contaminants/acryl_database_en.htm).
Các nghiên cứu về giảm acrylamide sẵn có tại http://www.ciaa.be/asp/documents/brochures-form.asp?doc_id=65
và http://ec.europa.eu/food/food/chemicalsafety/contaminants/acrylamide_en.htm.
2. Acrylamide chủ yếu được tạo
thành trong thực phẩm do phản ứng của asparagin (một axit amin) với đường khử
(đặc biệt là glucose và fructose), đây là một phần của phản ứng Maillard;
acrylamide cũng có thể được tạo thành qua phản ứng có sự tham gia của
3-aminopropionamide. Sự hình thành acrylamide chủ yếu diễn ra trong điều kiện
nhiệt độ cao (thường ở nhiệt độ trên 1200C) và độ ẩm thấp.
3. Ủy ban hỗn hợp chuyên gia
FAO/WHO về phụ gia thực phẩm (JECFA) đã tiến hành phân tích toàn diện các dữ
liệu acrylamide từ 24 nước, chủ yếu từ châu Âu và Bắc Mỹ. JECFA đã kết luận
rằng các nhóm thực phẩm chính có thể sinh acrylamide là khoai tây chiên hình
con chì (French fries) b), khoai tây chiên dạng lát (potato
crisps) c), cà phê, bánh quy d)/bánh
nướng, bánh mì và bánh mì nướng hoặc bánh mì cuộn. Chưa có đánh giá đầy đủ về
sự có mặt của acrylamide có trong khẩu phần ăn.
Phạm vi áp dụng
4. Tiêu chuẩn này hướng dẫn phòng
ngừa và giảm sự tạo thành acrylamide trong các sản phẩm khoai tây và sản phẩm
ngũ cốc. Hướng dẫn này đề cập đến ba chiến lược (khi sẵn có thông tin) để giảm
thiểu sự tạo thành acrylamide trong các sản phẩm, cụ thể là:
i. nguyên liệu;
ii. kiểm soát/bổ sung các thành
phần khác;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đánh giá chung
và những hạn chế khi xây dựng các biện pháp phòng ngừa
5. Các biện pháp nhằm giảm mức
acrylamide cần được thực hiện sau khi có các đánh giá. Cần có các biện pháp
phòng ngừa để tránh ảnh hưởng đến tính an toàn về vi sinh và hóa học của thực
phẩm. Cũng cần được giữ được chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm, cùng với các
chỉ tiêu cảm quan của chúng và khả năng chấp nhận của người tiêu dùng. Điều này
có nghĩa là tất cả các chiến lược giảm thiểu cần được đánh giá có tính đến lợi
ích và khả năng tác động của chúng. Ví dụ:
i. Khi xem xét biện pháp phòng ngừa
acrylamide, cần kiểm tra để đảm bảo rằng chúng không làm tăng chất nhiễm bẩn
khác trong quá trình. Các chất nhiễm bẩn này gồm có n-nitrosamine, hydrocacbon
thơm đa vòng, chloropropanol, ethyl cacbamat, furan, amin thơm dị vòng và các
axit amin đã nhiệt phân;
ii. Các biện pháp phòng ngừa
acrylamide không được làm ảnh hưởng đến tính ổn định vi sinh vật của thành
phẩm. Đặc biệt, cần tính đến độ ẩm của thành phẩm;
iii. Cần chú ý để tránh làm thay
đổi bất lợi đến các chỉ tiêu cảm quan của thành phẩm. Sự tạo thành acrylamide
liên quan mật thiết đến việc hình thành màu sắc, hương và mùi vị đặc trưng của
thực phẩm được gia nhiệt. Những thay đổi dự kiến về điều kiện gia nhiệt hoặc
nguyên liệu và các thành phần khác phải được đánh giá dựa trên khả năng chấp
nhận của người tiêu dùng đối với thành phẩm.
6. Các đánh giá chính thức về độ an
toàn, việc chứng minh hiệu quả sử dụng, chấp nhận về mặt pháp lý có thể cần
thiết đối với các phụ gia mới và chất hỗ trợ chế biến mới như asparaginase. Một
số công ty sản xuất asparaginase để sử dụng cho sản phẩm thực phẩm và một số
quốc gia đã chấp nhận chất này là chất hỗ trợ chế biến.
7. Cần chú ý rằng mức độ tạo thành
acrylamide có thể thay đổi khá nhiều ví dụ trong một mẻ sản phẩm tại cùng một
nhà máy sản xuất hoặc giữa các nhà máy sử dụng cùng một quy trình sản xuất,
cùng một thành phần và công thức chế biến;
8. Các nhà sản xuất cần nhận biết
về sự đa dạng của nguyên liệu đầu vào và việc mất kiểm soát đối với các thiết
bị gia nhiệt có thể gây khó khăn cho việc thực hành giảm acrylamide do không
xác định được mức acrylamide.
Khuyến cáo thực
hành đối với ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm khoai tây (ví dụ: khoai
tây chiên hình con chì, khoai tây chiên dạng lát, snack khoai tây)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giai
đoạn sản xuất
Biện
pháp giảm acrylamid
Nguyên
liệu
Chọn giống khoai tây để trồng có
hàm lượng đường khử càng thấp càng tốt, có tính đến sự thay đổi khu vực và
mùa vụ.
Kiểm tra hàm lượng đường khử của
nguyên liệu khoai tây hoặc chiên thử (cần có màu vàng nhạt).
Tránh sử dụng khoai tây đã được
bảo quản ở nhiệt độ dưới 60 C. Kiểm soát các điều kiện bảo quản
khoai tây từ trang trại đến nhà máy và trong thời tiết lạnh, tránh để khoai
tây tiếp xúc với khí lạnh. Tránh để khoai tây ở ngoài trời (không che chắn) ở
điều kiện lạnh trong thời gian dài, ví dụ để qua đêm. Xử lý lại khoai tây từ
điều kiện bảo quản ở nhiệt độ thấp đến nhiệt độ cao hơn trong một vài tuần
(ví dụ từ 120C đến 150C).
Kiểm
soát/bổ sung các thành phần khác
Trong trường hợp sản phẩm snack
khoai tây được chế biến từ dạng bột nhào, thì thay một lượng khoai tây bằng
những thành phần khác có hàm lượng đường khử/asparagin thấp hơn như bột gạo,
khi có thể.
Tránh thêm đường khử (ví dụ: chất
tạo màu, chất mang hoặc chất phủ).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Xử lý các loại khoai tây chiên
hình con chì bằng natri pyrophosphat và xử lý các sản phẩm khoai tây bằng các
cation hóa trị 2 và 3 như muối canxi trước khi chế biến có thể giúp giảm
acrylamide.
Chế
biến và gia nhiệt sản phẩm thực phẩm
Khoai tây chiên hình con chì:
Khoai tây chần được ngâm trong
nước để giảm bớt hàm lượng đường khử trước khi chế biến nhiệt. Việc giảm bớt
độ pH bằng cách bổ sung thêm axit natri pyrophosphat trong giai đoạn sau khi
chần có thể làm giảm tiếp hàm lượng đường khử. Miếng khoai tây có độ dày hơn
các miếng có kích thước 14 mm x 14 mm cho thấy hàm lượng acrylamide thấp hơn
so với các miếng mỏng (8 mm x 8 mm).
Chiên qua loại sản phẩm này, nếu
thích hợp.
Khoai tây chiên dạng lát:
Tối ưu hóa việc cài đặt nhiệt độ,
thời gian và dụng cụ chế biến nhiệt để tạo ra sản phẩm giòn có màu vàng.
Xem xét quá trình chiên chân
không để tạo được sản phẩm khoai tây có hàm lượng đường khử cao, nếu có thể.
Nên làm lạnh nhanh nếu chiên
nhanh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nguyên liệu
9. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hàm
lượng đường khử gồm có:
i. Điều kiện khí hậu và tỷ lệ sử
dụng phân bón: những yếu tố này có ảnh hưởng đến hàm lượng đường khử, tuy
nhiên, hiện tại chưa có thông tin cụ thể về biện pháp giảm bớt có thể áp dụng
cho nhà sản xuất;
ii. Giống: lựa chọn giống canh tác
có hàm lượng đường khử thấp đến mức có thể, có tính đến những thay đổi về khu
vực và mùa vụ đối với quá trình gia nhiệt ở nhiệt độ cao, ví dụ: nướng hoặc
chiên;
iii. Nhiệt độ và thời gian bảo
quản: kiểm soát điều kiện bảo quản từ nông trại đến nhà máy: trên 6 0C
được xác nhận là thực hành tốt đối với quá trình bảo quản dài hạn dùng để chế
biến. Tránh dùng khoai tây đã qua giai đoạn làm ngọt ở nhiệt độ thấp trong khi
bảo quản (từ 40C đến 60C hoặc thấp hơn) để chiên, rang và
nướng trong lò. Bảo vệ khoai tây tránh thời tiết lạnh. Tránh để khoai tây ngoài
trời (không được che chắn) qua đêm trong điều kiện lạnh. Một số giống khoai ít
bị hỏng hơn so với loại khác khi làm ngọt ở nhiệt độ thấp.
iv. Thời gian và nhiệt độ làm ổn
định lại: khoai tây đã được bảo quản ở nhiệt độ thấp cần được ổn định lại trong
một khoảng thời gian vài tuần ở nhiệt độ cao hơn (ví dụ từ 120C đến
150C). Việc ổn định lại khoai tây đã bảo quản, cũng như quyết định
kéo dài thời gian ổn định cần dựa trên các kết quả chiên thử sản phẩm;
v. Cỡ củ/củ non: củ chưa phát triển
đầy đủ có hàm lượng đường khử cao hơn và tạo ra sản phẩm khoai tây có màu đậm
hơn, có thể dẫn đến hàm lượng acrylamide cao hơn. Cần chọn, phân loại hoặc phân
hạng khoai tây ở một số giai đoạn trước khi chế biến để tránh củ non.
10. Chất ức chế nảy mầm thường rất
cần thiết khi bảo quản ở nhiệt độ trên 60C, mặc dù trong một số
trường hợp không có phép sử dụng các chất này.
11. Nhà sản xuất sản phẩm khoai tây
chiên hình con chì cần kiểm tra sàng lọc kỹ lô sản phẩm đầu vào bằng cách đo
hàm lượng đường khử hoặc đánh giá màu của mẫu chiên, khi có thể. Đặc biệt, tiến
hành chiên thử những củ khoai tây được bảo quản ở nhiệt độ thấp trong khoảng
thời gian dài. Khi sử dụng các giống có hàm lượng đường khử thấp thì ổn định
lại và chần trước khi chế biến ở nhiệt độ cao, việc chiên chân không có thể làm
giảm hàm lượng acrylamide trong sản phẩm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
12. Đối với sản phẩm khoai tây được
chế biến lại hoặc làm lại từ bột nhào khoai tây, đôi khi có thể sử dụng một số
thành phần khác có hàm lượng đường khử thấp hơn để thay thế, ví dụ như có thể
sử dụng bột gạo;
13. Việc bổ sung enzym asparaginase
làm giảm asparagin và do đó giảm hàm lượng acrylamide trong sản phẩm khoai tây
được làm từ bột nhào khoai tây. Asparaginase có thể là loại thích hợp nhất đối
với sản phẩm thực phẩm được sản xuất từ các nguyên liệu được làm lỏng hoặc ở
dạng nhão. Trên thực tế, asparaginase có thể làm giảm chức năng của acrylamide
trong sản phẩm khoai tây chiên dạng lát, tuy nhiên hàm lượng asparagin trong
khoai tây nguyên liệu thường cao đến mức để giảm chức năng của acrylamide đến
mức có nghĩa thì phải thêm một lượng lớn asparaginase. Điều này có thể cản trở
việc sử dụng enzym cho một số sản phẩm khoai tây.
14. Việc xử lý bằng các chất khác,
ví dụ natri pyrophosphat và muối canxi trước giai đoạn chiên cũng làm giảm
acrylamide tạo thành. Cần sử dụng các phụ gia theo quy định hiện hành.
15. Việc sử dụng đường khử làm chất
tạo màu, chất mang hoặc chất phủ cũng nên tránh khi có thể, vì chúng có thể tạo
ra một lượng acrylamide đáng kể.
Chế biến và gia
nhiệt thực phẩm
16. Có thể sử dụng biện pháp giảm
diện tích bề mặt tiếp xúc: ví dụ như đối với khoai tây chiên hình con chì, việc
cắt khoai tây thành những miếng dày hơn (các miếng có kích thước 14 mm x 14 mm
có mức acrylamide thấp hơn so với các miếng kích thước 8 mm x 8 mm) hoặc loại
bỏ những miếng khoai tây nhỏ trước hoặc sau khi chiên để giảm mức acrylamide
trong sản phẩm khoai chiên hoặc nướng.
17. Có thể rửa, chần hoặc luộc qua
để loại hết chất phản ứng đường khử/asparagin ra khỏi bề mặt khoai tây trước
khi chế biến nhiệt. Có thể sử dụng một số chất khác nhau để giảm độ pH trong
các giai đoạn sau của quá trình chần khoai nhằm giảm tiếp mức acrylamide, các
chất này bao gồm: axit natri pyrophosphat, muối canxi và muối của một số cation
hóa trị hai hoặc hóa trị ba để xử lý khoai tây chiên hình con chì (phương pháp
này đã được chứng minh có thể giảm acrylamide tạo thành trong khoai tây chiên
hình con chì được chế biến từ bột nhào khoai tây) và chần bằng dung dịch muối
natri clorua (mặc dù phương pháp này có thể làm tăng phơi nhiễm natri).
i. Chần hoặc ngâm khoai tây làm
giảm mức acrylamide nhưng cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cấu trúc và hương
vị của thành phẩm. Chần cũng có thể làm khoai tây thất thoát vitamin C và các
chất khoáng. Giai đoạn chần trước khi chiên/nướng có thể giảm hàm lượng chất
béo của thành phẩm, nhưng lại có thông tin ngược lại về vấn đề này;
ii. Chần có thể cũng không thích
hợp đối với một số sản phẩm, ví dụ khoai tây chiên dạng lát vì có thể làm tăng
độ ẩm đến mức không được chấp nhận, làm giảm sự đồng nhất/độ giòn hoặc có khả
năng làm hỏng sản phẩm do vi sinh vật.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
19. Để giảm đáng kể hàm lượng
acrylamide của khoai tây chiên hình con chì được chế biến ngay trước khi tiêu
thụ, cài đặt nhiệt độ dầu ban đầu không được quá 1700C đến 175 0C
và chế biến nhiệt đến khi sản phẩm có màu vàng, nhạt hơn so với màu nâu vàng.
Tùy thuộc vào cường độ gia nhiệt của thiết bị chiên, lượng khoai tây ngâm trong
dầu cần đạt được nhiệt độ chiên bắt đầu từ khoảng 140 0C và kết thúc
ở khoảng 160 0C. Quá trình giảm nhiệt kéo dài sau khi bổ sung khoai
tây sẽ làm tăng mức chất béo và nhiệt độ cuối cùng cao hơn sẽ tạo thành quá
nhiều acrylamide.
20. Nhà sản xuất khoai tây chiên
hình con chì sơ chế cần đảm bảo rằng hướng dẫn cách chế biến nhiệt trên bao gói
thống nhất với nhu cầu giảm thiểu sự tạo thành acrylamide trong thực phẩm. Khi
chiên khoai tây chiên hình con chì đã sơ chế, nhiệt độ chiên không nên lớn hơn
175 0C. Hướng dẫn cách chế biến nhiệt cũng đề cập cho người tiêu
dùng việc nên giảm bớt thời gian khi chiên các lượng nhỏ và nên chiên sản phẩm
đến màu vàng nhạt.
21. Một số sản phẩm khoai tây chiên
hình con chì nướng trong "lò" hoặc sản phẩm khoai tây đã sơ chế nên
bảo quản trong tủ lạnh hơn là bảo quản đông lạnh. Bảo quản ở những điều kiện
này có thể có lợi cho việc tạo ngọt ở nhiệt độ thấp do hoạt độ của amylase còn
lại giúp tạo đường khử từ tinh bột. Trong trường hợp này, cần áp dụng biện pháp
chần (thời gian dài hơn và/hoặc nhiệt độ cao hơn) để ức chế hoàn toàn hoạt tính
của amylase.
Khuyến cáo
thực hành cho ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm từ ngũ cốc (ví dụ: bánh mỳ,
bánh mỳ lát, bánh quy/bánh mỳ nướng, ngũ cốc ăn nhanh)
Các biện pháp đã được thảo luận
dưới đây chưa được liệt kê vào danh mục ưu tiên. Khuyến cáo rằng mọi biện pháp
làm giảm acrylamide cần được thử nghiệm để xác nhận sự thành công nhất cho sản
phẩm.
Giai
đoạn sản xuất
Biện
pháp giảm acrylamid
Nguyên
liệu
Cần tránh đất canh tác thiếu lưu
huỳnh hoặc đất phải được bón phân tốt. Không được sử dụng phân bón có quá
nhiều nitơ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khái quát:
Xem xét loại bột mì sử dụng. Bột
mì chế biến kỹ chứa rất ít asparagin so với bột mì nguyên cám. Tuy nhiên,
việc giảm hàm lượng của bột mì nguyên cám sẽ giảm lợi ích về dinh dưỡng trong
thành phẩm.
Cân nhắc việc thay thế một phần
bột mì bằng bột gạo.
Bánh quy/bánh nướng:
Khi sử dụng bột nở có chứa amoni,
cần cân nhắc việc thay thế bằng các loại chế phẩm khác như bột nở có chứa
kali và natri.
Trong quá trình sản xuất bánh
gừng, thay fructose bằng glucose.
Việc bổ sung asparaginase làm
giảm được asparagin và do đó giảm được hàm lượng acrylamide trong sản phẩm
làm từ bột nhào như bánh quy và bánh quy giòn.
Bánh mì:
Tránh sử dụng đường khử trong
thực đơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngũ cốc ăn nhanh:
Giảm thiểu đường khử trong giai
đoạn làm chín. Cân nhắc việc bổ sung các loại sản phẩm khác; ví dụ các loại
hạt đã được rang, các loại quả khô nếu có khả năng làm tăng đáng kể mức
acrylamide, mặc dù chúng rất cần thiết.
Chế
biến và gia nhiệt sản phẩm thực phẩm
Khái quát:
Không nướng quá mức.
Bánh mì:
Chỉnh nhiệt độ và thời gian của
quá trình nướng, nghĩa là giảm nhiệt độ của giai đoạn cuối khi sản phẩm đạt
tới pha có độ ẩm thấp.
Kéo dài thời gian lên men bột
bánh mì.
Bánh mì giòn:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong bánh mì giòn chưa được lên
men, kiểm soát nhiệt độ quá trình và tốc độ nướng.
Ngũ cốc ăn nhanh:
Không nướng quá mức hoặc rang quá
mức. Quản lý quá trình rang để sản phẩm có màu đồng đều.
Nguyên liệu
22. Thông thường, asparagin trong
lúa mì có thể nằm trong khoảng từ 75 mg/kg đến 2 200 mg/kg, trong yến mạch từ
50 mg/kg đến 1400 mg/kg, trong ngô từ 70 mg/kg đến 3000 mg/kg, trong lúa mạch
đen từ 319 mg/kg đến 880 mg/kg và trong gạo từ 15 mg/kg đến 25 mg/kg. Các mức
khác nhau này cho thấy có thể lấy mục tiêu giảm acrylamide bằng cách nghiên cứu
dao động hàm lượng asparagin trong nhóm cây trồng. Tuy nhiên, như trong trường
hợp tương tự đối với sản phẩm khoai tây, những biện pháp này chắc chắn sẽ mất
nhiều thời gian và các yếu tố khác, ví dụ sản lượng và khả năng kháng nhiễm nấm
(sự tạo thành độc tố vi nấm) cần phải được xem xét.
23. Sự thiếu hụt hàm lượng lưu
huỳnh trong đất có thể làm tăng hàm lượng asparagin trong lúa mì và lúa mạch.
Do đó, cần tránh sử dụng đất thiếu lưu huỳnh, hoặc đất phải được bón phân tốt.
Hàm lượng nitơ cao trong đất có thể làm tăng mức asparagin trong ngũ cốc và cần
phải tránh bón phân có quá nhiều nitơ.
24. Trong sản phẩm ngũ cốc hỗn hợp,
có thể đặt mục tiêu giảm tỷ lệ các nguồn acrylamide chủ yếu bằng cách kết hợp
với ngũ cốc có hàm lượng asparagin thấp hơn. Ví dụ, có thể thay lúa mạch đen và
lúa mì bằng gạo, tuy nhiên cũng cần xem xét những vấn đề về dinh dưỡng và tính
chất cảm quan.
Kiểm soát/bổ
sung các thành phần khác
25. Cân nhắc việc sử dụng các loại
bột mì trong các sản phẩm. Bột mì chế biến kỹ có ít asparagin hơn rất nhiều so
với loại bột mì nguyên cám. Thay một phần bột lúa mì bằng bột gạo làm giảm
acrylamide trong các loại bánh quy và bánh gừng ít ngọt. Tuy nhiên, giảm hàm
lượng bột mì nguyên cám sẽ làm giảm giá trị dinh dưỡng của thành phẩm. Các loại
bột mì khác nhau có hàm lượng asparagin khác nhau và cần lựa chọn một cách cân
bằng giữa giá trị dinh dưỡng và việc giảm thiểu sự tạo thành acrylamide.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
i. Natri bicacbonat + chất điều
chỉnh độ axit;
ii. Dinatri diphosphat, natri
bicacbonat và các axit hữu cơ;
iii. Kali bicacbonat + kali
bitartrat;
iv. Natri bicacbonat + axit natri
pyrophosphat (SAPP);
v. Thay bột nở chứa amoni bằng các
muối có natri có thể làm tăng phơi nhiễm natri và có thể cũng ảnh hưởng nghiêm
trọng đến các đặc tính vật lý của bánh gừng và chất lượng cảm quan của bánh
quy. Sự kết hợp natri bicacbonat, các axit hữu cơ như axit tartaric và axit
xitric, đôi khi làm sản phẩm ít nở hơn. Hàm lượng axit hữu cơ bổ sung cần được
hạn chế vì tính axit có thể tăng lên và khí thoát ra trong bột nhào có thể rất nhanh;
vi. Các lượng lớn acrylamide được
tạo thành nếu hàm lượng đường khử fructose lớn hơn glucose. Kiểm tra đánh giá
về thương mại cho thấy việc loại bỏ các nguồn fructose hoặc thay bằng glucose
trong thành phần sản phẩm (xirô đường, pure quả, mật ong…) làm giảm acrylamide
tạo thành. Nếu cần sử dụng xirô glucose thì mức fructose trong loại xirô này
phải càng thấp càng tốt. Thay đường khử bằng sucrose cũng là một biện pháp hiệu
quả để giảm đáng kể acrylamide trong các sản phẩm nướng có đường, nếu sản phẩm không
cần phải có màu nâu.
27. Việc bổ sung asparaginase làm
giảm asparagin và do đó giảm acrylamide trong sản phẩm dạng cứng làm từ bột
nhào lúa mì như bánh quy và bánh quy giòn.
28. Cẩn thận khi sử dụng đường khử
trong quá trình sản xuất ngũ cốc ăn nhanh. Khi sử dụng đường thì thường bổ sung
đường vào sau quá trình nướng, như vậy sẽ không tạo thành acrylamide. Ngược
lại, bổ sung đường khử trước khi nướng sẽ không thể tránh khỏi việc tạo thành
acrylamide.
29. Các thành phần nhỏ khác cũng có
thể có ảnh hưởng. Khi các thành phần như gừng, mật ong, và bạch đậu khấu được
thêm vào trong quá trình sản xuất bánh quy, lượng acrylamide tạo thành tăng
lên. Ngược lại, trong một số trường hợp, hạt nhục đậu khấu cho thấy lại làm
giảm acrylamide. Để giảm được mức acrylamide trong thành phẩm, nhà sản xuất có
thể tiến hành kiểm tra đánh giá ảnh hưởng của những loại gia vị khác nhau trong
thực đơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chế biến và
gia nhiệt thực phẩm
31. Quá trình lên men của bột nhào
lúa mì làm giảm hàm lượng asparagin tự do. Việc lên men trong 2 h giảm được hầu
hết asparagin trong công thức làm bột nhào lúa mì; thời gian ngắn hơn sẽ cho
hiệu quả ít hơn, vì đây là quá trình lên men bột nhào chua.
32. Có thể giảm bớt sự tạo thành acrylamide
bằng cách chỉnh thời gian và nhiệt độ của quá trình nướng, đặc biệt bằng cách
giảm nhiệt độ ở giai đoạn cuối khi sản phẩm đạt độ ẩm thấp, dễ bị ảnh hưởng
nhất. Việc bù bằng cách tăng nhiệt độ những giai đoạn trước đó của quá trình
nướng sẽ không làm tăng đáng kể mức acrylamide, vì độ ẩm tại giai đoạn này phải
đủ lớn để ngăn được sự tạo thành acrylamide. Việc kiểm soát kỹ nhiệt độ lò
nướng và thời gian có thể là biện pháp hiệu quả trong quá trình giảm mức
acrylamide. Những nguyên tắc này đã được áp dụng thành công cho sản phẩm bánh
quy và bánh mì giòn không lên men.
Cà phê
33. Hiện nay chưa sẵn có biện pháp
thương mại nào để giảm acrylamide trong cà phê.
34. Các nghiên cứu cho thấy nồng độ
acrylamide giảm khi bảo quản cà phê bột trong các vật chứa kín trong thời gian
bản quản kéo dài và cần xác định cơ chế chủ yếu để tiếp tục giảm acrylamide.
Tuy nhiên, những thay đổi về cách rang, hoặc cân nhắc khi sử dụng thời gian bảo
quản kéo dài, để giảm mức acrylamide chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến chỉ tiêu
cảm quan và khả năng chấp nhận sản phẩm của người tiêu dùng.
Thói quen của
người tiêu dùng
35. Các cơ quan có thẩm quyền cần
xem xét tư vấn cho người tiêu dùng để tránh gia nhiệt quá mức các sản phẩm
khoai tây và sản phẩm từ ngũ cốc khi sử dụng quá trình chế biến ở nhiệt độ cao.
Có thể khuyến cáo rằng khoai tây chiên hình con chì và khoai tây nướng nên được
chế biến nhiệt cho đến khi đạt màu vàng nhạt tốt hơn màu vàng nâu, trong khi
vẫn đảm bảo thực phẩm chín kỹ. Tương tự, người tiêu dùng có thể được tư vấn về
mục đích để đạt được màu vàng nhạt khi nướng bánh mì và các sản phẩm tương tự.
36. Cơ quan có thẩm quyền cần xem
xét việc khuyến khích người tiêu dùng tránh bảo quản khoai tây trong điều kiện
lạnh và/hoặc đông lạnh để chế biến sản phẩm ở nhiệt độ cao.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Cơ sở dữ
liệu có các thông tin về dự án và hoạt động liên quan đến acrylamide ở các nước
thành viên EU.
b) Sản phẩm
khoai tây cắt hình con chì và chiên.
c) Snack
khoai tây từ khoai tây cắt lát mỏng và chiên.
d) Sản phẩm
ngũ cốc nướng.