Toàn văn Thông cáo 523/TC-BXD công bố thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản trong Quý III 2025 ra sao?
Vừa qua, ngày 30/10/2025, Bộ Xây dựng đã có Thông cáo 523/TC-BXD năm 2025 Về việc công bố thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản trong Quý III/2025.
>>> Xem toàn văn Thông cáo 523 TC BXD năm 2025
Theo đó, tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông cáo 523/TC-BXD năm 2025 tình hình thị trường bất động sản Quý III/2025 về nguồn cung dự án nahf ở thương mại, nhà ở xã hội và đất nền (chuyển nhượng QSDĐ có hạ tầng để người dân xây dựng nhà ở) như sau:
Tổng số nguồn cung các dự án nhà ở thương mại, nhà ở xã hội và dự án đầu tư hạ tầng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người dân tự xây dựng nhà ở trong quý III/2025 như sau:
- Được chấp thuận chủ trương đầu tư: 113 dự án nhà ở thương mại.
- Được giao chủ đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư không thông qua đấu thầu: 93 dự án nhà ở xã hội.
- Đang triển khai xây dựng: tổng số có 1.779 dự án với quy mô khoảng 842.659 căn, lô/nền, trong đó: nhà chung cư 306.663 căn, nhà ở riêng lẻ 444.324 căn và đất nền chuyển nhượng cho người dân tự xây dựng nhà ở 91.672 lô/nền.
- Đã hoàn thành xây dựng: tổng số có 78 dự án với quy mô khoảng 27.949 căn, lô/nền, trong đó: nhà chung cư 17.194 căn, nhà ở riêng lẻ 6.257 căn và đất nền chuyển nhượng cho người dân tự xây dựng nhà ở 4.498 lô/nền.
- Đủ điều kiện bản nhà ở hình thành trong tương lai (gồm nhà ở thương mại, nhà ở xã hội): tổng số có 92 dự án với quy mô khoảng 37.987 căn, trong đó nhà chung cư 22.210 căn, nhà ở riêng lẻ 16.777 căn.
Số liệu cụ thể đối với từng loại hình bất động sản như sau:
(1) Đối với dự án phát triển nhà ở thương mại
- Được chấp thuận chủ trương đầu tư: 113 dự án.
- Đang triển khai xây dựng: 1.231 dự án với quy mô vào khoảng 618.371 căn, trong đó có 174.047 căn chung cư, 444.324 căn nhà ở riêng lẻ.
- Đã hoàn thành xây dựng: 21 dự án với quy mô vào khoảng 9.496 căn, trong đó có 3.239 căn chung cư, 6.257 căn nhà ở riêng lẻ (bằng 200% so với quý 2 năm 2025 và bằng 131% so với cùng kỳ năm 2024).
- Đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai: 79 dự án với quy mô vào khoảng 32.4449 căn, trong đó có 15.649 căn chung cư, 16.800 căn nhà ở riêng lẻ (bằng 102,6% so với quý 2 năm 2025 và bằng 143% so với cùng kỳ năm 2024).
(2) Đối với dự án nhà ở xã hội
- Tình hình thực hiện Đề án 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021-2030:
+ Lũy kế đến nay, cả nước có 696 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai quy mô 637.048 căn, trong đó:
+ Được chấp thuận chủ trương đầu tư: 380 dự án với quy mô 388.090 căn.
+ Đang triển khai xây dựng: 151 dự án với quy mô 132.616 căn.
+ Hoàn thành: 165 dự án với quy mô 116.342 căn.
Như vậy, số lượng dự án đã hoàn thành, khởi công, chấp thuận chủ trương đầu tư đến năm 2025 đạt 60% so với chỉ tiêu đã đặt ra tại Đề án (đầu tư xây dựng khoảng 1.062.200 căn).
- Kết quả triển khai thực hiện dự án nhà ở xã hội trong Quý III năm 2025
+ Riêng trong quý III năm 2025, tình hình triển khai thực hiện nhà ở xã hội như sau:
+ Được giao chủ đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư không thông qua đấu thầu: 93 dự án.
+ Được cấp phép, khởi công xây dựng: 27 dự án với quy mô 19.664 căn. - Đã hoàn thành (hoàn thành toàn bộ và một phần): 19 dự án với quy mô khoảng 13.955 căn.
+ Đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai: 13 dự án với quy mô vào khoảng 5.561 căn.
(3) Đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất để người dân tự xây dựng nhà ở
- Được cấp phép xây dựng mới: 26 dự án với quy mô 4.889 lô/nền (bằng 130% so với Quý II/2025 và bằng 108% so với cùng kỳ năm 2024).
- Đang triển khai xây dựng: 397 dự án với quy mô khoảng trên 91.672 lô/nền.
- Đã hoàn thành xây dựng: 38 dự án với quy mô 4.498 lô/nền (bằng 100% so với cùng kỳ năm 2025).
*Xem thêm chi tiết tại Thông cáo 523 TC BXD năm 2025

Toàn văn Thông cáo 523/TC-BXD công bố thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản trong Quý III 2025 ra sao? (Hình ảnh từ Internet)
Điều kiện về thu nhập để mua nhà ở xã hội là gì?
Căn cứ theo Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 261/2025/NĐ-CP quy định về điều kiện về thu nhập như sau:
- Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:
(i) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng thảng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Báng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(ii) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hảng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(iii) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại (i), (ii) là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
(iv) Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bản, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại (i), (ii) nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.
- Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 trong trường hợp không có Hợp đồng lao động thì phải đảm bào điều kiện về thu nhập theo quy định khoản 1 Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP và được cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại xác nhận.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận căn cứ thông tin cơ sở dữ liệu về dân cư để thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập.
- Đối với đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải thuộc trường hợp hộ gia đình nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ.
- Đối với đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì áp dụng điều kiện thu nhập theo quy định tại Điều 67 Nghị định 100/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 261/2025/NĐ-CP).
Các đối tượng nào được mua nhà ở xã hội theo quy định hiện nay?
Theo quy định tại Điều 76 và khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở 2023 thì có 10 đối tượng sau đây được mua nhà ở xã hội:
- Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.
- Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn.
- Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
- Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị.
- Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
- Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác.
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
- Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 125 Luật Nhà ở 2023, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật Nhà ở 2023.
- Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];