Toàn văn Nghị quyết 264/2025/QH15 về công tác nhiệm kỳ 2021-2026 của Quốc hội, các cơ quan Trung ương, Chủ tịch nước, Chính phủ ra sao?
Ngày 11/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Nghị quyết 264/2025/QH15 về công tác nhiệm kỳ 2021 - 2026 của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán nhà nước.
TẢI VỀ Toàn văn Nghị quyết 264/2025/QH15
Theo đó, tại Điều 2 Nghị quyết 264/2025/QH15 đã nêu rõ, trong thời gian tới, các cơ quan cần tiếp tục phát huy kết quả đạt được, hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, triển khai thực hiện tốt các luật, nghị quyết của Quốc hội, trong đó chú trọng những nội dung sau đây:
(1) Các nhiệm vụ chung:
- Quán triệt sâu sắc, kịp thời và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư;
- Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong, bảo đảm tỉnh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, cách thức làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và phù hợp với mô hình tổ chức mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước;
- Hoàn thành việc ban hành và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế, pháp luật về tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật theo đúng thời hạn quy định tại các luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong tổ chức và hoạt động, lấy đổi mới sáng tạo và chuyền đổi số là khâu đột phá trong tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ;
- Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, gắn với cải cách mạnh mẽ chế độ tiền lương, đãi ngộ, thu hút nhân tài, có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
(2) Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội:
- Tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tháo gỡ những điểm nghẽn, vướng mắc do quy định của pháp luật, xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính thống nhất, ổn định, khả thi; tăng cường tính chủ động, bám sát thực tiễn để yêu cầu các cơ quan trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật kịp thời;
- Đổi mới mạnh mẽ hoạt động giám sát, bảo đảm giám sát đi vào chiều sâu, tập trung vào những vấn đề bức thiết của xã hội; tăng cường giám sát thực tế, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, kết hợp linh hoạt với phương thức giám sát truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả, tính công khai và minh bạch. Tập trung theo dõi, đôn đốc, tái giám sát việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát nhằm nâng cao hiệu lực thực tế. Chú trọng giám sát việc ban hành văn bản quy định chi tiết để bảo đảm ý chí lập pháp của Quốc hội được cụ thể hoá và thực hiện trên thực tế;
- Nâng cao chất lượng công tác quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đặc biệt là đối với các mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách quốc gia, các dự án hạ tầng trọng điểm, chính sách an sinh xã hội, chủ trương lớn về hội nhập quốc tế, những vấn đề liên quan đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm công tâm, khách quan, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết; gắn việc ra quyết sách với điều kiện bảo đảm thực hiện, nhất là về nguồn lực, bộ máy và con người ở cơ sở;
- Tăng cường hợp tác quốc tế qua kênh nghị viện, tiếp tục phát huy vai trò, nâng cao vị thế của Quốc hội Việt Nam với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm tại các tổ chức liên nghị viện quốc tế và khu vực. Tăng cường năng lực phân tích chính sách quốc tế ngay trong Quốc hội và sự hiện diện có trọng tâm, có chủ đích tại các cơ chế nghị viện trong bối cảnh quốc tế mới để bảo đảm lợi ích quốc gia;
- Tiếp tục đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội sau sắp xếp tổ chức bộ máy và của đại biểu Quốc hội nói chung để nghiên cứu cải tiến, đổi mới phương thức hoạt động, điều kiện bảo đảm để hoạt động của Quốc hội ngày càng hiệu quả, thực chất, chuyên nghiệp. Tiếp tục phát triển Quốc hội số theo hướng liên thông, đồng bộ dữ liệu phục vụ có hiệu quả các quyết sách của Quốc hội.
>>> Xem đầy đủ nội dung tại Nghị quyết 264/2025/QH15
*Trên đây là thông tin Toàn văn Nghị quyết 264/2025/QH15 về công tác nhiệm kỳ 2021 2026 của Quốc hội, các cơ quan Trung ương ra sao?

Toàn văn Nghị quyết 264/2025/QH15 về công tác nhiệm kỳ 2021 2026 của Quốc hội, các cơ quan Trung ương ra sao? (Hình từ Internet)
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn nào?
Theo Điều 70 Hiến pháp 2013 thì Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
(1) Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
(2) Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
(3) Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
(4) Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
(5) Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
(6) Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
(7) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.
Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;
(8) Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
(9) Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;
(10) Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
(11) Quyết định đại xá;
(12) Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
(13) Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
(14) Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;
(15) Quyết định trưng cầu ý dân.
Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là bao nhiêu năm?
Tại Điều 71 Hiến pháp 2013 có quy định nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội như sau:
(1) Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là năm năm.
(2) Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải được bầu xong.
(3) Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp có chiến tranh.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];