Hướng dẫn diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ

Đặng Trần Trà My 436 lượt xem
10:35 | 07/03/2026
Hướng dẫn diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ
Nội dung chính
  1. Hướng dẫn diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ
  2. Trường hợp khác nào không được bồi thường về đất theo Nghị định 49/2026/NĐ-CP?
  3. Kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai thế nào?

Hướng dẫn diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ

Ngày 03/03/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ năm 2026 TẢI VỀ diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình.

Theo đó, Cục Quản lý đất đai nhận được phản ánh, kiến nghị trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật với nội dung:

‘Thực hiện quyền phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính, chưa rõ ràng dẫn đến mâu thuẫn trong thực thi pháp luật. Tôi xin gửi tới Quý Bộ nội dung bất cập liên quan đến quy định tại Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai năm 2024 (Luật số 31/2024/QH15). Quy định này hiện đang gây ách tắc, mâu thuẫn trong thực thi pháp luật và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người dân với các nội dung cụ thể sau:
1. Nội dung quy định chưa rõ ràng, thiếu tính định lượng:
Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định về bồi thường đối với hộ gia đình nhiều thế hệ chung sống: “...mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất...”. Qua thực tiễn triển khai tại địa phương, quy định này đang thiếu các tiêu chí định lượng và định nghĩa kỹ thuật, dẫn đến việc áp dụng tùy nghi, thiếu thống nhất: Thứ nhất, về khái niệm “Diện tích đất ở được bồi thường”: Luật chưa làm rõ đây là diện tích đất ở bị thu hồi thực tế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay là diện tích đất ở được bồi thường của xuất tái định cư? Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến các cách hiểu trái ngược nhau giữa người dân và cơ quan thực thi. Thứ hai, về tiêu chí xác định “Hộ đủ” và “Hộ thiếu”: Do Luật và các Nghị định hướng dẫn chưa quy định mức diện tích chuẩn để so sánh (hạn mức hoặc định mức diện tích tối thiểu), dẫn đến việc các cơ quan thực thi xác định chủ quan. Thực tế, nhiều cơ quan đang coi mọi trường hợp hộ nhiều thế hệ đều là “hộ thiếu” để hạn chế việc giao đất ở tái định cư, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của các hộ gia đình tách mới.
2. Hệ quả và kiến nghị xử lý:
Việc thiếu định nghĩa và tiêu chí cụ thể nêu trên đã dẫn đến sự mâu thuẫn trong áp dụng pháp luật giữa các cơ quan thực hiện bồi thường, gây phát sinh khiếu nại kéo dài và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân; Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và nghiêm minh của pháp luật, tôi kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Có văn bản hướng dẫn hoặc giải thích cụ thể: Làm rõ khái niệm “Diện tích đất ở được bồi thường” và căn cứ định lượng (m2) để xác định một hộ gia đình là “đủ” hay “thiếu” diện tích đất ở khi áp dụng Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024. Xây dựng bộ tiêu chí xác định điều kiện “hộ gia đình còn thiếu”: Dựa trên sự tương quan giữa diện tích đất bị thu hồi, số lượng cặp vợ chồng/thế hệ thực tế và hạn mức giao đất ở tại địa phương để đảm bảo tính khách quan. Kính mong Quý Bộ xem xét, xử lý và có phản hồi chính thức bằng văn bản cho gia đình tôi để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân chúng tôi;’

Như vậy, sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh, kiến nghị, Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau:

Cụm từ “… diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình” quy định tại khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024 là diện tích đất ở được bồi thường (không phải là diện tích đất ở bị thu hồi). Việc hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu quy định tại khoản 4 Điều 111Luật Đất đai 2024 do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định tại khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai 2024.

Hướng dẫn diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ

Hướng dẫn diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ (Hình từ Internet)

Trường hợp khác nào không được bồi thường về đất theo Nghị định 49/2026/NĐ-CP?

Căn cứ Điều 4 Nghị định 49/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp khác không được bồi thường về đất quy định tại điểm d khoản 10 Điều 3 Nghị quyết 254/2025/QH15 gồm các trường hợp như sau:

(1) Sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.

(2) Sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau đối với đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý.

Kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai thế nào?

Căn cứ Điều 94 Luật Đất đai 2024 quy định kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:

- Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Nhà nước bảo đảm. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí khác.

- Trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai, nếu người thực hiện dự án tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Số tiền được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào chi phí đầu tư của dự án.

Trường hợp Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai, mà người thực hiện dự án được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho toàn bộ thời hạn sử dụng đất nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào chi phí đầu tư của dự án.

- Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:

+ Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản;

+ Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm phê duyệt phương án chi trả bồi thường chậm cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản. Kinh phí chi trả bồi thường chậm được bố trí từ ngân sách của cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

- Trường hợp người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc trường hợp đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mở tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối theo lãi suất không kỳ hạn. Tiền lãi từ khoản tiền bồi thường, hỗ trợ được trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được bồi thường, hỗ trợ.

- Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải chỉnh sửa, bổ sung mà có nội dung chỉnh sửa về giá đất, giá tài sản thì giá đất, giá tài sản để tính bồi thường được xác định tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà giá đất, giá tài sản thấp hơn so với giá đất, giá tài sản trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt thì áp dụng giá bồi thường trong phương án đã được phê duyệt. Các nội dung được chỉnh sửa, bổ sung mà không phải là giá đất, giá tài sản được áp dụng theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

- Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.

- Chính phủ quy định chi tiết Điều 94 Luật Đất đai 2024.

Logo Thư viện Pháp luật
Đặng Trần Trà My Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Chính sách về Bất động sản Xem thêm

Bài viết mới nhất