Từ 2026 không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp công ty phải tự chi trả quyền lợi cho NLĐ là một trong những nội dung đáng chú ý được quy định tại Luật Việc làm 2025.
>> 09 nhóm đối tượng được hỗ trợ mức đóng BHYT từ năm 2026
>> Hướng dẫn thủ tục cấp thẻ bảo hiểm y tế lần đầu 2025
Căn cứ khoản 7 Điều 33 Luật Việc làm 2025, quy định như sau:
Đóng bảo hiểm thất nghiệp
…
7. Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc để kịp thời giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Trường hợp người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động được hưởng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, trường hợp công ty không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động được hưởng.
Hiện hành, Điều 44 Luật Việc làm 2013 chỉ quy định nghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp của công ty trong vòng 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp động làm việc có hiệu lực mà không có điều khoản xử lý rõ ràng nếu doanh nghiệp chậm đóng hoặc trốn đóng - nhất là khi người lao động chấm dứt hợp đồng như Luật Việc làm 2025.
![]() |
File Excel tính tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2025 theo hệ số trượt giá mới nhất |
.png)
Từ 2026 không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp, công ty phải tự chi trả quyền lợi cho NLĐ
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Việc làm 2025, mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:
(i) Người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng.
(ii) Công ty đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
(iii) Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm.
Hằng tháng, công ty đóng bảo hiểm thất nghiệp theo mức quy định tại khoản (ii) nêu trên và trích tiền lương của từng người lao động theo mức quy định tại khoản (i) để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Lưu ý:
- Đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm 2025 hưởng tiền lương theo sản phẩm, theo khoán tại doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì người sử dụng lao động đăng ký với cơ quan bảo hiểm xã hội và thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần. Thời hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng.
- Thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp của công ty và người lao động là thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng đó.
Căn cứ khoản 1 Điều 34 Luật Việc làm 2025, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:
(i) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).
(ii) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc.
Lưu ý:
- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp mà bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc thì người lao động và người sử dụng lao động tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp; trường hợp người lao động được truy lĩnh đủ tiền lương thì người lao động và người sử dụng lao động đóng bù cho thời gian bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc bằng số tiền phải đóng của những tháng tạm dừng đóng và thực hiện đồng thời với việc đóng bù bảo hiểm xã hội bắt buộc.







