Dựa trên quy định pháp luật để giải đáp: Từ 01/7/2025, giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ bị thay đổi, thời điểm xác định thuế và người nộp thuế giá trị gia tăng.
>> Chính thức giảm 2% thuế GTGT đến hết năm 2026
>> Hướng dẫn tra cứu cơ quan quản lý thuế mới sau sáp nhập
Trước khi Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có hiệu lực, giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu được tính như sau:
Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
(Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật số 31/2013/QH13))
Đến ngày 01/7/2025, Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có hiệu lực, giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu đã bị thay đổi, cụ thể như sau:
Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là trị giá tính thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu cộng với các khoản thuế là thuế nhập khẩu bổ sung theo quy định của pháp luật (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
(Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024)
Như vậy, từ ngày 01/7/2025, giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ được tính như sau:
|
trị giá tính thuế nhập khẩu |
+ |
thuế nhập khẩu |
+ |
các khoản thuế là thuế nhập khẩu bổ sung (Nếu có) |
+ |
thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) |
+ |
thuế bảo vệ môi trường (nếu có) |
![]() |
Tổng hợp mẫu hoá đơn và biên lai theo Thông tư 32/2025/TT-BTC |
![]() |
Tổng hợp các chính sách thuế mới 2025 chi tiết |

Từ 01/7/2025, giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ bị thay đổi
(Ảnh minh hoạ - Nguồn từ Internet)
Căn cứ Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, quy định về thời điểm xác định thuế GTGT như sau:
(i) Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
- Đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- Đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung cấp dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
(ii) Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ sau đây do Chính phủ quy định:
- Hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu.
- Dịch vụ viễn thông.
- Dịch vụ kinh doanh bảo hiểm.
- Hoạt động cung cấp điện, hoạt động sản xuất điện, nước sạch.
- Hoạt động kinh doanh bất động sản.
- Hoạt động xây dựng, lắp đặt và hoạt động dầu khí.
Căn cứ Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, quy định về người nộp thuế GTGT gồm:
(i) Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh).
(ii) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).
(iii) Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại (iv) và (v); tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
(iv) Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài.
(v) Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.





