Điểm mới của Dự thảo Luật Thuế TNCN trình Chính phủ ngày 27/11/2025 theo Công văn 18491. Đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân hiện nay.
>> Mẫu bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương (Mẫu 08 - LĐTL) tại Thông tư 99/2025
Ngày 27/11/2025, Bộ Tài chính đã có Công văn 18491/BTC-CST v/v tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra, ý kiến của Đại biểu về dự án Luật Thuế TNCN (sửa đổi).
Theo Công văn, thì căn cứ quy định về việc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật sau khi đã thảo luận tại Hội trường Quốc hội, Bộ Tài chính báo cáo nội dung nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Thuế TNCN (sửa đổi). Theo đó, Dự thảo Luật Thuế TNCN (sửa đổi) trình Chính phủ ngày 27/11/2025 có những nội dung mới như sau:
- Về mức doanh thu không phải nộp thuế: Bộ Tài chính đề nghị điều chỉnh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm. Đồng thời, mức 500 triệu đồng/năm này cũng là mức được trừ trước khi nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.
- Bổ sung quy định đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm đến 3 tỷ đồng/năm áp dụng tính thuế theo thu nhập (doanh thu – chi phí) để đảm bảo thu thuế theo đúng bản chất của thuế thu nhập cá nhân và áp dụng thuế suất 15% tương tự như thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 đối với doanh nghiệp có doanh thu dưới 3 tỷ đồng/năm. Theo đó, tất cả hộ, cá nhân kinh doanh đều nộp thuế theo thu nhập thực tế, nếu có thu nhập ít thì nộp ít, thậm chí nếu không có thu nhập thì không phải nộp thuế. Vì vậy, mức doanh thu không phải nộp thuế sẽ không còn nhiều tác động đến hộ, cá nhân kinh doanh phải nộp thuế. Trường hợp, hộ, cá nhân kinh doanh không xác định được chi phí thì mới nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.
- Để đảm bảo đồng bộ về mức doanh thu không phải nộp thuế TNCN, tại dự thảo Luật này sẽ sửa đổi, bổ sung khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 để nâng mức doanh thu không chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm.
Về việc điều chỉnh doanh thu không phải nộp thuế, dự thảo Luật giao Chính phủ trình UBTVQH điều chỉnh cho phù hợp với việc quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh.
- Ngoài ra, riêng đối với cá nhân có hoạt động cho thuê bất động sản là hoạt động kinh doanh không thường xuyên cho thuê theo hợp đồng (trừ hoạt động kinh doanh lưu trú), để đảm bảo việc nộp thuế được đơn giản, dự thảo Luật quy định cá nhân có hoạt động cho thuế bất động sản có doanh thu năm trên 500 triệu đồng/năm thì chỉ áp dụng phương pháp tính theo tỷ lệ trên doanh thu, theo đó sẽ không phải xác định chi phí, không phải bù trừ thu nhập (nếu có hơn 1 bất động sản cho thuê), không phải quyết toán thuế năm.
Xem chi tiết tại Điều 7 và Điều 29 Dự thảo Luật Thuế TNCN (sửa đổi) ngày 27/11/2025: >> TẠI ĐÂY

Điểm mới của Dự thảo Luật Thuế TNCN trình Chính phủ ngày 27/11/2025 theo Công văn 18491
(Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Giảm số bậc thuế từ 7 bậc xuống 5 bậc, nới rộng khoảng cách giữa các bậc và điều chỉnh lại 2 bậc thuế suất của Biểu thuế để tất cả các cá nhân đang thực hiện nộp thuế ở các bậc đều được giảm so với Biểu thuế hiện hành, đồng thời khắc phục được việc tăng đột ngột giữa các bậc thuế. Cụ thể là giảm mức thuế suất 15% (ở bậc 2) xuống 10% và thuế suất 25% (ở bậc 3) xuống 20% như sau:
|
Bậc thuế |
Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) |
Khoảng cách thu nhập trong từng bậc thuế (triệu đồng) |
Thuế suất (%) |
|
1 |
Đến 10 |
10 |
5 |
|
2 |
Trên 10 đến 30 |
20 |
10 |
|
3 |
Trên 30 đến 60 |
30 |
20 |
|
4 |
Trên 60 đến 100 |
40 |
30 |
|
5 |
Trên 100 |
- |
35 |
Xem chi tiết tại Điều 9 Dự thảo Luật Thuế TNCN (sửa đổi) ngày 27/11/2025: >> TẠI ĐÂY
Dự thảo Luật không quy định mức giảm trừ gia cảnh mà giao Chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội từng thời kỳ. Tiếp thu ý kiến, để bảo đảm thẩm quyền của Quốc hội theo Hiến pháp và căn cứ Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 về mức giảm trừ gia cảnh áp dụng từ năm 2026, Bộ Tài chính chỉnh lý dự thảo theo hướng:
- Đưa mức giảm trừ gia cảnh vào Luật
- Giao Chính phủ trình UBTVQH điều chỉnh khi cần thiết dựa trên biến động giá cả, thu nhập và điều kiện kinh tế – xã hội.
Xem chi tiết tại Điều 10 Dự thảo Luật Thuế TNCN (sửa đổi) ngày 27/11/2025: >> TẠI ĐÂY
- Bỏ nội dung “Thu nhập khác do Chính phủ quy định” tại điểm đ khoản 10 Điều 3 dự thảo Luật do chưa xác định được cụ thể. Khi có phát sinh khoản thu nhập khác cần thu thuế thì Bộ Tài chính sẽ báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, bổ sung quy định, bao gồm các cách tính thuế và thuế suất cho phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội mà Hiến pháp quy định. Bộ Tài chính đã rà soát để bỏ nội dung quy định có liên quan đến thu nhập khác tại khoản 3 Điều 19 và khoản 3 Điều 27 dự thảo Luật.
- Chỉnh lý lại một số quy định về thu nhập khác, miễn, giảm thuế và người phụ thuộc, gồm:
+ Chỉnh lý lại quy định tại khoản 10 Điều 3 dự thảo Luật: c) Thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe ô tô trúng đấu giá theo quy định của pháp luật;
+ Chỉnh lý lại quy định tại khoản 8 Điều 4 dự thảo Luật: “8. Phần Tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ; tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật”.
+ Bổ sung thêm tại khoản 6 Điều 4 dự thảo Luật quy định miễn thuế đối với lãi trái phiếu chính quyền địa phương.
+ Chỉnh lý lại quy định tại khoản 3 Điều 5 dự thảo Luật: “3. Miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 05 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghệ cao thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược trong ứng dụng Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển hoặc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao”;
+ Chỉnh lý lại quy định tại khoản 4 Điều 10 dự thảo Luật: “Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm: a) Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động”.
Căn cứ Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, đối tượng phải nộp thuế thu nhập hiện nay được quy định như sau:
1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
2. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
3. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
Như vậy, đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.






