Theo Nghị định 219/2025/NĐ-CP, chỉ được gia hạn giấy phép lao động một lần, tối đa 2 năm. Quy định này vẫn được giữ nguyên như trước đây tại Nghị định 152/2020/NĐ-CP.
>> File Word Mẫu giấy xác nhận người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động mới nhất
>> Chính thức cấp giấy phép lao động cùng Phiếu lý lịch tư pháp tại cổng Dịch vụ công quốc gia
Nghị định 219/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 7/8/2025.
Theo đó, chỉ được gia hạn giấy phép lao động một lần, tối đa 2 năm.
Cụ thể tại Điều 29 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định về gia hạn giấy phép lao động 2025 như sau:
Điều 29. Thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn
Thời hạn của giấy phép lao động được gia hạn theo thời hạn của một trong các trường hợp quy định tại Điều 21 Nghị định này nhưng chỉ được gia hạn một lần với thời hạn tối đa là 02 năm.
Như vậy, chỉ được gia hạn giấy phép lao động một lần, tối đa 2 năm.
Quy định về gia hạn giấy phép lao động theo Nghị định 219/2025/NĐ-CP vẫn được giữ nguyên so với quy định trước đây tại khoản 1 Điều 19 Nghị định 152/2020/NĐ-CP.
![]() |
Toàn văn Nghị định 219/2025/NĐ-CP |

Chỉ được gia hạn giấy phép lao động một lần, tối đa 2 năm (Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
Căn cứ Điều 21 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, thời hạn của giấy phép lao động 2025 được gia hạn theo thời hạn của một trong các trường hợp sau đây nhưng không quá 02 năm:
a) Thời hạn của hợp đồng lao động dự kiến sẽ ký kết;
b) Thời hạn trong văn bản của bên nước ngoài cử người lao động nước ngoài sang làm việc tại Việt Nam;
c) Thời hạn hợp đồng hoặc thỏa thuận ký kết giữa đối tác Việt Nam và nước ngoài, giữa các đối tác Việt Nam;
d) Thời hạn hợp đồng hoặc thỏa thuận cung cấp dịch vụ ký kết giữa đối tác Việt Nam và nước ngoài;
đ) Thời hạn trong văn bản của nhà cung cấp dịch vụ cử người lao động nước ngoài vào Việt Nam để đàm phán cung cấp dịch vụ;
e) Thời hạn đã được xác định trong giấy phép kinh doanh, thành lập, hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp;
g) Thời hạn trong văn bản của nhà cung cấp dịch vụ cử người lao động nước ngoài vào Việt Nam để thành lập hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ đó;
h) Thời hạn trong văn bản chứng minh người lao động nước ngoài được tham gia vào hoạt động của một doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam;
i) Thời hạn trong văn bản của bên nước ngoài cử người lao động nước ngoài theo thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
k) Thời hạn trong văn bản của bên nước ngoài cử người lao động nước ngoài theo thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh ký kết.
Căn cứ Điều 4 Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định về thẩm quyền cấp giấy phép lao động từ ngày 7/8/2025 như sau:
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh tại địa phương nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc.
Trường hợp người lao động nước ngoài làm việc cho một người sử dụng lao động tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người sử dụng lao động có trụ sở chính có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động và giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Như vậy, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài.
Trước đây, thẩm quyền cấp giấy phép lao động là của: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép lao động tại địa phương hoặc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép trong các trường hợp đặc biệt (ví dụ: người nước ngoài làm việc cho các tổ chức quốc tế, khu công nghệ cao…).




