Sau 2 năm mới phát hiện lỗi kê khai thuế thì không bị phạt hay truy thu thuế nữa đúng không?

Nguyễn Ngọc Như Ý 112 lượt xem
21:25 | 16/06/2026
Người nộp thuế, phát hiện hồ sơ kê khai thuế có sai sót sau 2 năm thì có bị phạt hay truy thu thuế nữa hay không?
Nội dung chính
  1. Sau 2 năm mới phát hiện lỗi kê khai thuế thì không bị phạt hay truy thu thuế nữa đúng không?
  2. Cá nhân được miễn toàn bộ tiền phạt vi phạm hành chính về thuế khi nào?
  3. Những nguyên tắc được áp dụng khi xử lý vi phạm hành chính?

Sau 2 năm mới phát hiện lỗi kê khai thuế thì không bị phạt hay truy thu thuế nữa đúng không?

Theo Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, quy định thời hiệu xử phạt có thể là 02 năm hoặc 05 năm, đồng thời người nộp thuế vẫn có thể bị truy thu thuế trong thời hạn 10 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện vi phạm. Cụ thể như sau:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm b khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định thời hiệu như sau:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; thời hạn được coi là chưa bị xử phạt; thời hạn truy thu thuế
...
2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế
a) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế là 02 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, trừ các trường hợp sau đây:
Đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 10; khoản 1, 2, 3, 4 và điểm a khoản 5 Điều 11; khoản 1, 2, 3 và điểm a, b khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị định này, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế thực hiện đăng ký thuế hoặc thông báo với cơ quan thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế.
Đối với hành vi quy định tại điểm c, d khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 10; điểm b khoản 5 Điều 11; điểm c, d khoản 4 Điều 13 Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
b) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Ngày thực hiện hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế (trừ hành vi tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này) là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, trốn thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế.
...
6. Thời hạn truy thu thuế
a) Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ tiền thuế truy thu (số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn quy định, tiền chậm nộp tiền thuế) vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
b) Thời hạn truy thu thuế tại điểm a khoản này chỉ áp dụng đối với các khoản thuế theo pháp luật về thuế và khoản thu khác do tổ chức, cá nhân tự khai, tự nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với các khoản thu từ đất đai hoặc khoản thu khác do cơ quan có thẩm quyền xác định nghĩa vụ tài chính của tổ chức, cá nhân thì cơ quan có thẩm quyền xác định thời hạn truy thu theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan nhưng không ít hơn thời hạn truy thu theo quy định tại điểm a khoản này.

Từ các quy định nêu trên, người nộp thuế sẽ có 3 mốc thời gian đối với xử phạt vi phạm hành chính về thuế, cụ thể:

Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là 02 năm kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm. Do đó, nếu cơ quan thuế phát hiện vi phạm sau khi đã hết thời hiệu 02 năm thì người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này.

Tuy nhiên, đối với hành vi khai sai làm thiếu số thuế phải nộp, làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu xử phạt là 05 năm kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

Vì vậy, việc phát hiện sai sót sau 02 năm vẫn còn trong thời hiệu xử phạt và người nộp thuế vẫn có thể bị xử phạt theo quy định.

Bên cạnh đó, ngay cả khi đã hết thời hiệu xử phạt 02 năm hoặc 05 năm, người nộp thuế không còn bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn không đúng quy định và tiền chậm nộp.

Theo quy định, cơ quan thuế được truy thu các khoản này trong thời hạn 10 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Riêng trường hợp không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu và tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước kể từ ngày phát hiện vi phạm.

Như vậy, việc phát hiện hồ sơ kê thuế có sai sót, lỗi sau 02 năm không đồng nghĩa với việc không bị xử lý. Người nộp thuế có thể không còn bị xử phạt đối với một số vi phạm thủ tục thuế đã hết thời hiệu, nhưng vẫn có thể bị xử phạt đối với hành vi khai sai, trốn thuế còn trong thời hiệu 05 năm và vẫn có thể bị truy thu thuế trong thời hạn 10 năm.

Lưu ý: Trong thời hạn quy định xử phạt 02 năm hoặc 05 năm mà tổ chức, cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh cản trở việc xử phạt. (theo khoản 4 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP).

Sau 2 năm mới phát hiện lỗi kê khai thuế thì không bị phạt hay truy thu thuế nữa đúng không?

Sau 2 năm mới phát hiện lỗi kê khai thuế thì không bị phạt hay truy thu thuế nữa đúng không? (Hình từ Internet)

Cá nhân được miễn toàn bộ tiền phạt vi phạm hành chính về thuế khi nào?

Căn cứ Điều 43 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Nghị định 102/2021/NĐ-CP quy định cá nhân được miễn toàn bộ tiền phạt vi phạm hành chính về thuế như sau:

(1) Đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;

(2) Bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp gặp khó khăn đột xuất về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện trở lên.

Những nguyên tắc được áp dụng khi xử lý vi phạm hành chính?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 thì những nguyên tắc được áp dụng khi xử lý vi phạm hành chính gồm:

(1) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

(2) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

(3) Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

(4) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng

(5) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

(6) Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Ngọc Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Quản lý thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất