Những khoản tiền nào chuyển khoản cá nhân thường không thuộc diện chịu thuế TNCN từ 2026?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 3,723 lượt xem
09:00 | 03/08/2026
Những khoản tiền nào chuyển vào tài khoản cá nhân thường không thuộc diện chịu thuế TNCN từ năm 2026?
Nội dung chính
  1. Những khoản tiền nào chuyển khoản cá nhân thường không thuộc diện chịu thuế TNCN từ 2026?
  2. Né thanh toán chuyển khoản bằng việc chia nhỏ tiền lương có thể bị xác định lại nghĩa vụ thuế?
  3. Mức phạt hành vi từ chối nhận thanh toán chuyển khoản?

Những khoản tiền nào chuyển khoản cá nhân thường không thuộc diện chịu thuế TNCN từ 2026?

Hiện nay, hành lang pháp lý về thuế đã quy định rõ những khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế thì mới phải nộp thuế TNCN và khoản nào sẽ không thuộc diện phải nộp thuế TNCN.

Tuy nhiên, về bản chất thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu được tính trực tiếp dựa trên thu nhập chịu thuế của người nộp thuế để nộp vào ngân sách nhà nước sau khi đã được giảm trừ.

Việc một khoản tiền được chuyển vào tài khoản ngân hàng không đồng nghĩa với việc phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN. Cơ quan thuế sẽ xem xét bản chất của khoản tiền đó có phải là thu nhập chịu thuế theo quy định hay không.

Theo đó, khi Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Riêng thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ ngày 01/01/2026 (theo Điều 29 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025).

Từ năm 2025 trở về trước, theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 được sửa đổi bổ sung bởi Điều 1 Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012, Điều 2 Luật Sửa đổi các Luật về thuế 2014, Điều 17 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 thì có 10 khoản thu nhập chịu thuế TNCN nếu tiền về tài khoản cá nhân của mình liên quan đến 10 khoản thu nhập này thì mới phải nộp thuế, bao gồm:

(1) Thu nhập từ kinh doanh;

(2) Thu nhập từ tiền lương, tiền công;

(3) Thu nhập từ đầu tư vốn;

(4) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;

(5) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

(6) Thu nhập từ trúng thưởng;

(7) Thu nhập từ bản quyền;

(8) Thu nhập từ nhượng quyền thương mại;

(9) Thu nhập từ nhận thừa kế;

(10) Thu nhập từ nhận quà tặng.

Và từ ngày 01/01/2026 trở đi, thì tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về thu nhập chịu thuế TNCN đã bổ sung thêm khoản thu nhập khác, cụ thể có 5 khoản như sau:

(1) Thu nhập từ chuyển nhượng tên miền internet quốc gia Việt Nam “.vn”;

(2) Thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các bon;

(3) Thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá theo quy định của pháp luật;

(4) Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số;

(5) Thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng.

Như vậy, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đã bổ sung thêm một số loại thu nhập mới vào phạm vi điều chỉnh, qua đó mở rộng các trường hợp phải kê khai và nộp thuế TNCN so với quy định trước đây. Tuy nhiên, người nộp thuế cần xác định khoản tiền nhận được có thuộc các khoản thu nhập chịu thuế theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 hay không trước khi kết luận có phát sinh nghĩa vụ thuế.

Nếu không thuộc các trường hợp luật quy định thì cá nhân có quyền giải trình và chứng minh nguồn gốc khoản tiền đó với cơ quan thuế.

Trên thực tế, có nhiều khoản tiền được chuyển vào tài khoản ngân hàng nhưng không làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN do không phải là thu nhập chịu thuế. Một số trường hợp thường gặp gồm:

(1) Tiền vay mượn giữa người thân, bạn bè

Các khoản tiền nhận được từ người thân, bạn bè theo thỏa thuận vay mượn hoặc hỗ trợ tài chính mang bản chất của quan hệ dân sự, không phải là khoản thu nhập làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN.

Tuy nhiên, để tránh phát sinh vướng mắc khi giải trình với cơ quan thuế, người chuyển tiền nên ghi rõ nội dung như: "cho vay", "vay tiền", "hỗ trợ tạm thời",... và lưu giữ các tài liệu chứng minh giao dịch vay mượn nếu có.

(2) Nhận tiền để đáo hạn vay ngân hàng

Khi đến kỳ đáo hạn, nhiều người nhờ người thân chuyển tiền hộ để tất toán trước khi vay lại. Do đó, khoản tiền chuyển khoản này không phát sinh thu nhập chịu thuế.

Về bản chất, đây vẫn là khoản tiền vay hoặc khoản tiền được người khác chuyển hộ để phục vụ việc tất toán khoản vay tại ngân hàng.

(3) Tiền gửi từ người thân ở nước ngoài (kiều hối)

Khoản tiền do người thân ở nước ngoài chuyển về Việt Nam thông qua các tổ chức tín dụng hoặc đơn vị cung ứng dịch vụ chuyển tiền hợp pháp thường không phải là thu nhập chịu thuế TNCN.

Để đảm bảo thuận lợi khi giải trình, người nhận tiền nên lưu giữ chứng từ chuyển tiền, thông tin người gửi và các tài liệu liên quan đến nguồn tiền.

(4) Các khoản tiền thu hộ, chi hộ

Trường hợp cá nhân chỉ nhận tiền để thu hộ, chi hộ hoặc nhận hộ rồi chuyển lại cho người khác theo thỏa thuận thì khoản tiền này về bản chất không phải là thu nhập của người nhận.

Ví dụ: thu hộ tiền hàng, thu hộ tiền cước vận chuyển, nhận tiền để thanh toán hộ hoặc chi trả hộ theo ủy quyền.

Tuy nhiên, cá nhân cần có căn cứ chứng minh đây là khoản thu hộ, chi hộ và không phải khoản tiền được hưởng cho riêng mình.

(5) Nhận tiền chuyển hộ mà không thu phí

Trường hợp cá nhân nhận tiền và chuyển lại cho người khác mà không thu bất kỳ khoản phí hay lợi ích nào thì đây không phải là hoạt động tạo ra thu nhập chịu thuế.

Ngược lại, nếu có thu phí hoặc hưởng lợi từ hoạt động này thì phần lợi ích nhận được có thể bị xem xét là thu nhập chịu thuế theo quy định.

(6) Nhận tiền bán đất đã hoàn thành nghĩa vụ thuế

Nếu cá nhân bán bất động sản và thực hiện đủ các nghĩa vụ thuế (thuế TNCN, lệ phí trước bạ,...) thì số tiền này không bị đánh thuế lại. Tuy nhiên, nếu cơ quan thuế phát hiện việc khai giá thấp để tránh thuế thì có quyền truy thu phần chênh lệch theo xử phạt vi phạm hành chính.

(7) Tiền lương đã khấu trừ thuế chuyển cho người thân

Sau khi người lao động đã nhận tiền lương, tiền công từ người sử dụng lao động, việc chuyển tiếp số tiền này cho vợ, chồng, cha mẹ, con hoặc người thân khác không làm phát sinh thêm một khoản thu nhập mới.

Do đó, người nhận khoản tiền này không phải nộp thuế TNCN chỉ vì nhận được khoản chuyển khoản từ người thân. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết vẫn nên lưu giữ các tài liệu chứng minh nguồn gốc khoản tiền như bảng lương, sao kê tài khoản hoặc chứng từ trả lương.

(8)Tiền lương từ nước ngoài (đã đóng thuế sở tại)

Người lao động ở nước ngoài nếu đã nộp thuế sở tại theo đúng quy định thì khi chuyển tiền về Việt Nam sẽ không bị tính thuế TNCN. Tuy nhiên, cá nhân phải chứng minh thuế đã đóng và tiền được chuyển qua ngân hàng chính thống.

(9) Lãi cho vay cá nhân nhỏ lẻ

Khi cá nhân cho người khác vay tiền theo hình thức dân sự (họ, hụi, bạn bè, người thân) không phát sinh lãi hoặc không thuộc trường hợp phải kê khai, nộp thuế theo quy định thì không làm phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN.

Lưu ý: Việc xác định có phải nộp thuế TNCN hay không phụ thuộc vào bản chất của khoản tiền nhận được và hồ sơ chứng minh nguồn gốc thu nhập. Do đó, cá nhân nên lưu giữ các chứng từ, tài liệu liên quan để phục vụ việc giải trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Những khoản tiền nào chuyển khoản cá nhân thường không thuộc diện chịu thuế TNCN từ 2026?

Những khoản tiền nào chuyển khoản cá nhân thường không thuộc diện chịu thuế TNCN từ 2026? (Hình từ Internet)

Né thanh toán chuyển khoản bằng việc chia nhỏ tiền lương có thể bị xác định lại nghĩa vụ thuế?

Căn cứ vào Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP có quy định về các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN như sau:

Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
...
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
...

Tại khoản 1 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP có quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt như sau:

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:
1. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.
...

Theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP có nêu như sau:

Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
…
8. Chi cho người lao động thuộc một trong các trường hợp sau: a) Chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật
...

Đồng thời, ngày 24/03/2026, Thuế tỉnh Khánh Hòa đã có Công văn 1267/KHH-QLDN2 năm 2026 có hướng dẫn về vấn đề này, cụ thể như sau:

Tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Nghị định 320/2025/NĐ-CP và Thông tư 20/2026/TT-BTC không có điều khoản quy định hiệu lực về việc sử dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên.

Theo quy định thì các khoản thanh toán từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.

Việc thanh toán tiền lương cho người lao động phải được thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng lao động, chi trả đúng đối tượng và có chứng từ chi trả theo đúng quy định. Qua kiểm tra cơ quan Thuế phát hiện Công ty cố ý chia nhỏ số lần chi trả nhằm “né tránh” quy định thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ quan Thuế có quyền xác định lại nghĩa vụ thuế căn cứ vào bản chất giao dịch thực tế.

<<<Tải về Công văn 1267/KHH-QLDN2 năm 2026>>>

Như vậy, doanh nghiệp cố tình né thanh toán chuyển khoản bằng việc chia nhỏ tiền lương sẽ bị cơ quan thuế xác định lại nghĩa vụ thuế căn cứ vào bản chất giao dịch thực tế.

Ví dụ: A đi làm với mức lương 9 triệu đồng, theo hợp đồng thanh toán theo từng tháng. Đến kỳ trả lương, thay vì chuyển khoản toàn bộ 9 triệu đồng cho A, công thực thực hiện chia làm 2 đợt trả, cụ thể như sau:

Đợt 1: Trả tiền mặt 4,5 triệu đồng;

Đợt 2: Trả tiền mặt 4,5 triệu đồng.

Nếu bản chất giao dịch này nhằm mục đích làm cho từng lần chi trả dưới ngưỡng 5 triệu (ngưỡng phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt) theo quy định, thì cơ quan thuế có thể xem xét bản chất giao dịch thực tế để xác định lại nghĩa vụ thuế.

Mức phạt hành vi từ chối nhận thanh toán chuyển khoản?

Ngày 11/06/2026, Thuế cơ sở 1 tỉnh Thái Nguyên đã có Công văn 13097/TCS1-NVDTPC năm 2026 hướng dẫn thực hiện quy định về thuế, hóa đơn đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong dịch vụ ăn uống, bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người dùng. Tải về.

Theo đó, cơ quan thuế hướng dẫn trường hợp người bán hàng có hành vi: lập hóa đơn không đúng thời điểm; không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người mua; từ chối nhận thanh toán chuyển khoản để che dấu doanh thu; kê khai sai doanh thu làm thiếu số thuế phải nộp thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 125/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn).

Ngoài ra, Chi cục Thuế Khu vực I đã có Thư ngỏ Tải về gửi người nộp thuế về việc một số cơ sở kinh doanh chỉ nhận tiền mặt nhằm “né thuế". Đối với các trường hợp NNT cố tình che dấu doanh thu, kê khai thuế không trung thực, đầy đủ sẽ bị xử lý truy thu, ấn định thuế, xử phạt hành vi khai sai, trốn thuế hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo đó, mức phạt hành vi từ chối nhận thanh toán chuyển khoản để che dấu doanh thu, trốn thuế như sau:

- Mức xử phạt hành chính đối với tội trốn thuế:

Căn cứ theo quy định tại Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính hành vi trốn thuế như sau:

Trường hợp

Mức phạt

Có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên

Phạt tiền 01 lần số tiền thuế trốn

Không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn

Có 01 tình tiết tăng nặng

Phạt tiền 02 lần số tiền thuế trốn

Có 02 tình tiết tăng nặng

Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn

Có từ 03 tình tiết tăng nặng trở lên

Phạt tiền 03 lần số tiền thuế trốn

- Biện pháp khắc phục hậu quả:

+ Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước đối với các hành vi vi phạm.

+ Trường hợp hành vi trốn thuế đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng phải nộp đủ số tiền thuế trốn và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

+ Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với các hành vi vi phạm.

Ngoài ra, trường hợp hành vi vi phạm có đầy đủ yếu tố cấu thành cũng sẽ bị truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a, điểm b khoản 47 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội trốn thuế như sau:

Trường hợp phạm tội

Hình phạt chính

Trốn thuế từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này (hoặc một số tội danh liên quan theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015) mà chưa được xóa án tích còn vi phạm

Phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm

Có tổ chức; hoặc số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng; hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hoặc phạm tội 02 lần trở lên; hoặc tái phạm nguy hiểm

Phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm

Trốn thuế từ 01 tỷ đồng trở lên

Phạt tiền từ 1,5 tỷ đồng đến 4,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như:

+ Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng;

+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề;

+ Làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm;

+ Bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất