Nghị định 253 khác quy định cũ về khấu trừ TNCN ở điểm nào?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 5,070 lượt xem
15:00 | 17/08/2026
Nghị định 253 khác quy định cũ về khấu trừ TNCN ở điểm nào?
Nội dung chính
  1. Nghị định 253 khác quy định cũ về khấu trừ TNCN ở điểm nào?
  2. Mẫu cam kết không khấu trừ thuế TNCN là mẫu nào?
  3. Có chi trả lương nhưng không phát sinh khấu trừ thuế TNCN có phải nộp tờ khai 05 KK không?

Nghị định 253 khác quy định cũ về khấu trừ TNCN ở điểm nào?

Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 253/2026/NĐ-CP có một số thay đổi đáng chú ý về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, trong đó đáng chú ý là mức thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10% đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, trường hợp người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động và điều kiện lập cam kết để tạm thời chưa khấu trừ thuế.

Bên cạnh đó, quy định về chứng từ khấu trừ thuế TNCN từ ngày 01/7/2026 được thực hiện theo hệ thống chứng từ tại Nghị định 254/2026/NĐ-CP, trong đó quy định cụ thể về nội dung chứng từ và các trường hợp không phải lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN.

Dưới đây là một số điểm đáng chú ý.

[1] Tăng mức thu nhập phải khấu trừ 10% từ 2 triệu lên 5 triệu đồng/lần và bổ sung trường hợp đã chấm dứt hợp đồng lao động

Theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, nếu mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả.

Điểm đáng chú ý là Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định rõ trường hợp người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động nhưng sau đó doanh nghiệp vẫn phát sinh khoản chi trả.

Ví dụ: người lao động đã nghỉ việc và chấm dứt hợp đồng lao động với công ty. Sau đó, công ty mới thanh toán một khoản tiền lương, tiền công hoặc khoản thu nhập khác cho người lao động. Nếu khoản chi trả thuộc trường hợp áp dụng khấu trừ theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và có mức từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì về nguyên tắc, doanh nghiệp phải khấu trừ 10% trước khi trả cho người lao động.

So với quy định trước ngày 01/7/2026, việc khấu trừ 10% đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng được thực hiện theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Theo quy định trước đây, tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng mà mỗi lần chi trả từ 02 triệu đồng trở lên thì phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.

Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy điểm thay đổi:

Thời điểm

Mức thu nhập mỗi lần chi trả

Thuế TNCN

Trước 01/7/2026

Từ 2 triệu đồng/lần trở lên

Khấu trừ 10%

Từ 01/7/2026

Từ 5 triệu đồng/lần trở lên

Khấu trừ 10%

[2] Người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động vẫn có thể lập cam kết nếu đáp ứng đủ điều kiện

Việc Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định trường hợp người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động thuộc diện khấu trừ 10% không có nghĩa là mọi trường hợp doanh nghiệp trả tiền cho người đã nghỉ việc đều bắt buộc phải khấu trừ 10%.

Nếu cá nhân đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thì vẫn có thể lập cam kết để tạm thời chưa bị khấu trừ thuế TNCN tại thời điểm nhận khoản thu nhập dù trước đây khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Giả sử người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động với công ty. Sau thời điểm chấm dứt hợp đồng, công ty mới phát sinh một khoản tiền phải trả cho người lao động.

Tại thời điểm thực tế chi trả khoản tiền này, hợp đồng lao động giữa hai bên đã chấm dứt. Vì vậy, không thể căn cứ vào việc trước đây người này là nhân viên và từng được tính thuế theo biểu thuế lũy tiến để tiếp tục áp dụng phương pháp khấu trừ lũy tiến.

Thay vào đó, cần xác định khoản chi trả tại thời điểm này có thuộc trường hợp phải khấu trừ 10% theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hay không.

Tuy nhiên, nếu cá nhân đáp ứng đủ điều kiện lập cam kết theo Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thì vẫn có thể thực hiện cam kết theo quy định để tạm thời chưa bị khấu trừ 10% tại thời điểm nhận khoản thu nhập.

Do đó, khi doanh nghiệp thanh toán tiền cho người lao động đã nghỉ việc để biết người này thuộc trường hợp nào cần xác định:

- Tại thời điểm chi trả, hợp đồng lao động còn hiệu lực hay đã chấm dứt;

- Khoản thu nhập được trả thuộc trường hợp nào theo Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP;

- Mức chi trả có đạt ngưỡng 05 triệu đồng/lần hay không;

- Cá nhân có đáp ứng điều kiện để lập cam kết tạm thời chưa khấu trừ thuế hay không.

[3] Chứng từ khấu trừ thuế TNCN thực hiện theo quy định về chứng từ điện tử và trường hợp không phải lập chứng từ

Từ ngày 01/7/2026, việc lập và sử dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN được thực hiện theo quy định về chứng từ tại Nghị định 254/2026/NĐ-CP.

Cụ thể, Điều 23 Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định về chứng từ khấu trừ thuế TNCN, trong đó có các nội dung như tên chứng từ, ký hiệu mẫu, ký hiệu chứng từ, số thứ tự; thông tin của tổ chức, cá nhân trả thu nhập; thông tin của cá nhân nhận thu nhập; khoản thu nhập, thời điểm trả thu nhập, tổng thu nhập chịu thuế, số thuế đã khấu trừ và các nội dung khác theo quy định.

Đối với chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử, chứng từ phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung và hình thức theo quy định, trong đó chữ ký trên chứng từ điện tử được thực hiện theo quy định về chữ ký điện tử.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử không phải là một thay đổi mới chỉ bắt đầu từ ngày 01/7/2026.

Trước đó, khoản 2 Điều 12 Thông tư 32/2025/TT-BTC (hết hiệu lực thi hành) đã quy định về việc tất cả tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân chính thức ngừng sử dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN giấy và chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử theo các quy định cũ và chuyển sang áp dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử theo quy định mới.

Theo đó, việc chuyển đổi sang chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử đã được thực hiện từ năm 2025, không phải đến ngày 01/7/2026 mới bắt đầu chuyển sang chứng từ điện tử.

Từ ngày 01/7/2026, việc lập và sử dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN tiếp tục được thực hiện theo hệ thống chứng từ được quy định tại Nghị định 254/2026/NĐ-CP.

Đồng thời, không phải trường hợp nào cũng phải lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN

Bên cạnh quy định về nội dung chứng từ, tại Điều 24 Nghị định 254/2026/NĐ-CP cũng quy định các trường hợp không phải lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN.

Về nguyên tắc, khi khấu trừ thuế TNCN, tổ chức khấu trừ thuế phải lập chứng từ và giao cho người nộp thuế. Tuy nhiên, một số trường hợp được thực hiện theo quy định riêng.

Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế TNCN thì tổ chức khấu trừ thuế không phải lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN cho cá nhân theo quy định.

Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, tổ chức, cá nhân trả thu nhập lập chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ hoặc có thể lập một chứng từ cho nhiều lần khấu trừ trong một năm tính thuế khi cá nhân yêu cầu.

Ngoài ra, tổ chức chi trả không phải lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với một số khoản thu nhập mà pháp luật đã quy định việc khấu trừ, nộp thuế tại nguồn, như:

- Chuyển nhượng chứng khoán, đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản mã hóa, vàng miếng;

- Bản quyền, nhượng quyền thương mại;

- Trúng thưởng, thừa kế, quà tặng.

Tóm lại, có thể khái quát những điểm đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, từ ngày 01/7/2026, ngưỡng thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10% đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng được nâng từ 02 triệu đồng/lần lên 05 triệu đồng/lần.

Thứ hai, Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định rõ trường hợp người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động nhưng sau đó vẫn được doanh nghiệp chi trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao hoặc khoản chi khác. Nếu thuộc trường hợp khấu trừ thì vẫn phải xác định nghĩa vụ khấu trừ tại thời điểm chi trả. Tuy nhiên, nếu cá nhân đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 50 thì vẫn có thể lập cam kết để tạm thời chưa bị khấu trừ 10%.

Thứ ba, về chứng từ khấu trừ thuế TNCN, việc chuyển sang chứng từ điện tử đã được thực hiện từ năm 2025. Từ ngày 01/7/2026, việc lập và sử dụng chứng từ tiếp tục thực hiện theo Điều 23 và Điều 24 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, trong đó quy định cả nội dung chứng từ và các trường hợp không phải lập chứng từ.

Nghị định 253 khác quy định cũ về khấu trừ TNCN ở điểm nào?

Nghị định 253 khác quy định cũ về khấu trừ TNCN ở điểm nào? (Hình từ Internet)

Mẫu cam kết không khấu trừ thuế TNCN là mẫu nào?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế TNCN sau khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
...

Tham khảo tại Công văn 10049/NBI-QLDN1 năm 2026 Tải về hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN 10% đối với trường hợp đã chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Về bản cam kết tạm thời chưa khấu trừ thuế: Cá nhân chỉ được lập cam kết khi thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% và ước tính tổng thu nhập chịu thuế trong năm sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế. Căn cứ bản cam kết hợp lệ, Công ty tạm thời chưa khấu trừ thuế và có trách nhiệm tổng hợp danh sách, thu nhập của các cá nhân theo quy định. Trường hợp sau đó cá nhân phát sinh thêm thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công hoặc nguồn thu nhập khác làm phát sinh số thuế phải nộp thì cá nhân có trách nhiệm kê khai, quyết toán, nộp thuế theo quy định và chịu trách nhiệm về nội dung cam kết của mình; trường hợp có gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo đó, lập bản cam kết khi thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% và ước tính tổng thu nhập chịu thuế trong năm sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế.

Trước đó, tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC các đối tượng được áp mẫu 08/CK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC để tạm thời không bị khấu trừ 10% thuế TNCN phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định.

Tuy nhiên, Thông tư 80/2021/TT-BTC đã bị thay thế bởi Thông tư 89/2026/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025 và Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025 quy định Danh mục hồ sơ khai thuế từ ngày 01/07/2026.

Hiện hành, tại Thông tư 89/2026/TT-BTC và Nghị định 252/2026/NĐ-CP là 2 văn bản hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025 đều không có quy định về mẫu bản cam kết tờ khai không khấu trừ 10% thuế TNCN.

Do đó, người nộp thuế có thể tham khảo mẫu cam kết không khấu trừ thuế TNCN dưới đây:

>> Tải về Mẫu bản cam kết tờ khai không khấu trừ 10% thuế TNCN

Có chi trả lương nhưng không phát sinh khấu trừ thuế TNCN có phải nộp tờ khai 05 KK không?

Hiện hành, mẫu 05/KK-TNCN tờ khai thuế TNCN theo quý áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công áp dụng từ 01/07/2026 được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 89/2026/TT-BTC.

Căn cứ theo khoản 6 Điều 11 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế như sau:

Các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác
Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác đối với từng loại thuế, khoản thu khác trong các trường hợp sau đây:
...
6. Người khai thuế thu nhập cá nhân là tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc trường hợp khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý mà trong tháng, quý đó không phát sinh việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của đối tượng nhận thu nhập.
Trường hợp tháng, quý cuối cùng trong năm hoặc tháng, quý phát sinh việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động không phát sinh việc khấu trừ thuế và thuộc trường hợp không phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân của tháng, quý cuối cùng trong năm hoặc tháng, quý phát sinh việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động.
...

Như vậy, trường hợp tổ chức có chi trả lương trong quý nhưng không phát sinh khấu trừ thuế TNCN thì không phải nộp tờ khai 05/KK-TNCN của quý đó.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất