Doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM phải thực hiện khám sức khỏe cho NLĐ trước ngày mấy theo Công văn 16093?
Ngày 17/8/2026, Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh đã có Công văn 16093/SNV-VLATLĐ năm 2026 về việc đôn đốc việc thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho người lao động thuộc đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
Tải về <<Công văn 16093/SNV-VLATLĐ năm 2026>>
Căn cứ Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Bên cạnh đó, thực hiện Chỉ thị 17/CT-TTg năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân; Quyết định 3075/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt Đề án tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người dân Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045; Kế hoạch 228/KH-UBND năm 2026 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người dân trên địa bàn Thành phố năm 2026 và Công văn 6919/UBND-VX ngày 30 tháng 7 năm 2026 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.
Nhằm đảm bảo tiến độ triển khai Kế hoạch tổ chức khám sức khỏe toàn dân trên địa bàn Thành phố nói chung và đảm bảo công tác tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động tại các đơn vị, Sở Nội vụ đề nghị Công ty, Tổng Công ty, doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố khẩn trương thực hiện các nội dung sau đây: - Khẩn trương tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo đúng quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý được khám sức khỏe định kỳ (trước ngày 31 tháng 10 năm 2026) với đầy đủ các nội dung theo gói khám sức khỏe của quy định hiện hành. - Cập nhật kết quả khám sức khỏe của người lao động thuộc đơn vị quản lý theo đường liên kết (link) của Sở Y tế ngay sau khi hoàn thành việc khám sức khỏe trong vòng 03 ngày để Sở Y tế theo dõi, đối chiếu với dữ liệu khám sức khỏe đã được cập nhật trên Nền tảng Quản lý sức khỏe cộng đồng và phục vụ công tác tổng hợp, giám sát, đánh giá kết quả. |
Như vậy, theo Công văn 16093/SNV-VLATLĐ năm 2026 Sở Nội vụ đôn đốc Công ty, Tổng Công ty, doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phải đảm bảo việc khám sức khỏe xong trước ngày 31/10/2026.
Thời hạn nộp báo cáo khám sức khỏe của NLĐ tại đơn vị thực hiện trong vòng 3 ngày kể từ ngày hoàn thành việc khám sức khỏe, tức hạn chót nộp báo cáo là ngày 2/11/2026.
Công ty, Tổng Công ty, doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nộp báo cáo khám sức khỏe theo đường link của Sở Y tế: https://forms.gle/tpxYHkzxqN1GmM4L9

Doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM phải thực hiện khám sức khỏe cho NLĐ trước ngày mấy theo Công văn 16093?
Có bắt buộc tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động hay không?
Căn cứ Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về khám sức khỏe hằng năm và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động:
Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động
1. Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.
2. Khi khám sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
3. Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động
…
Như vậy, tổ chức, cá nhân là người sử dụng lao động bắt buộc phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất 1 lần/năm đối với người lao động, không giới hạn số lượng người lao động.
Đặc biệt, đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.
Khoản chi y tế của NNT có được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế TNCN không?
Căn cứ khoản 2 Điều 48 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
...
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
...
Như vậy, các khoản chi y tế của người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm.
Bên cạnh đó, để được hưởng khoản giảm trừ này thì người nộp thuế phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
- Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];