Công văn 421/TCS8-NVDTPC yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp?

Nguyễn Ngọc Mỹ Duyên 118 lượt xem
16:10 | 06/07/2026
Công văn 421/TCS8-NVDTPC yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp? Người nộp thuế có quyền được yêu cầu cơ quan thuế xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế không?
Nội dung chính
  1. Công văn 421/TCS8-NVDTPC yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp?
  2. Người nộp thuế có quyền được yêu cầu cơ quan thuế xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế không?
  3. Kiểm tra thuế phát hiện khai thiếu số tiền thuế thì người nộp thuế sẽ phải nộp tiền chậm nộp đúng không?

Công văn 421/TCS8-NVDTPC yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp?

Ngày 06/07/2026, Thuế cơ sở 8 tỉnh Lào Cai đã có Công văn 421/TCS8-NVDTPC năm 2026 về việc tuyên truyền chiến dịch làm sạch MST - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh.

>> Tải về Công văn 421/TCS8-NVDTPC năm 2026

Ngày 08/5/2026 Cục Thuế đã ban hành Quyết định 595/QĐ-CT năm 2026 về việc Ban hành chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh".

Ngày 12/5/2026 Cục Thuế đã ban hành Công văn 2974/CT-TCCB năm 2026 về việc thành lập Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh".

Theo đó, Thuế cơ sở 8 tỉnh Lào Cai triển khai tuyên truyền nội dung Thư ngỏ để Các Tổ chức, Doanh nghiệp, Hợp tác xã và các đơn vị hành chính sự nghiệp, các hộ Kinh doanh, cá nhân kinh doanh được biết như sau:

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, việc duy trì hoạt động kinh doanh và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước luôn đòi hỏi nhiều nỗ lực từ phía người nộp thuế. Việc phải chấm dứt hoạt động kinh doanh là điều không ai mong muốn. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp, hộ kinh doanh không còn hoạt động, doanh nghiệp cần chủ động hoàn thành nghĩa vụ về thuế và các thủ tục có liên quan trước khi giải thể, chấm dứt hoạt động theo quy định.

Thực tế thời gian qua cho thấy, một bộ phận doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; có trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, người đại diện theo pháp luật không liên hệ với cơ quan thuế để hoàn tất thủ tục, dẫn đến hồ sơ tồn đọng kéo dài. Tình trạng này có thể làm phát sinh thêm nghĩa vụ thuế và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chính doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng ghi nhận tình trạng một số tổ chức, cá nhân lợi dụng việc thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh không vì mục đích kinh doanh thực chất; ký dạng hóa đơn điện tử để mua bán trái phép, gian lận, trục lợi ngân sách nhà nước. Trong đó, đã có trường hợp giả mạo, sử dụng trái phép thông tin cá nhân để thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh, khiến người dân bị đứng tên mà bản thân không biết, không tham gia, không điều hành.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, người nộp thuế, đồng thời làm sạch dữ liệu mã số thuế, minh bạch môi trường kinh doanh, ngành Thuế triển khai Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh" trên phạm vi toàn quốc. Cơ quan thuế các cấp đang tích cực rà soát, chuẩn hóa dữ liệu mã số thuế; xác định đúng trạng thái thực tế; phân loại hồ sơ cần bổ trợ xử lý; xác định các trường hợp cần khôi phục hoạt động, chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền xử lý rủi ro về thuế, hóa đơn và pháp nhân liên quan.

Với tinh thần hỗ trợ tối đa người nộp thuế, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, Cục Thuế đề nghị người nộp thuế kiểm tra tình trạng doanh nghiệp, hộ kinh doanh mà mình đang là chủ, người đại diện pháp luật và liên hệ ngay với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được bộ phận, công chức chuyên trách hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện thủ tục theo quy định.

Cụ thể, yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, đối với trường hợp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế: Đề nghị người nộp thuế chủ động phối hợp với cơ quan thuế để được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ khai thuế còn thiếu; cung cấp tài liệu, giải trình khi được yêu cầu và hoàn thành nghĩa vụ thuế. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ với cơ quan thuế, người nộp thuế tiếp tục thực hiện các thủ tục với cơ quan đăng ký kinh doanh để hoàn tất việc giải thể theo quy định.

Thứ hai, đối với trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký: Đề nghị người nôp thuế khẩn trương xác định rõ nhu cầu khôi phục hiệu lực mã số thuế hoặc giải thể, chấm dứt hoạt động; chủ động liên hệ với cơ quan thuế để hoàn thành hồ sơ khai thuế còn thiếu, xử lý nghĩa vụ về thuế, hóa đơn, chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nếu có để hoàn tất các nghĩa vụ thuế theo quy định.

Thứ ba, cơ quan thuế khuyến nghị người dân tuyệt đối không cho mượn, cho thuê, mua bán hoặc để người khác sử dụng căn cước công dân, thông tin cá nhân để thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh và thực hiện các giao dịch trái quy định pháp luật. Đồng thời chủ động tra cứu thông tin trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trường hợp phát hiện thông tin cá nhân bị sử dụng trái phép để thành lập, đứng tên doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cần trình báo ngay với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan công an và cơ quan thuế để được tiếp nhận, xác minh và xử lý kịp thời theo quy định. Trong thời gian tới, cơ quan thuế sẽ triển khai chức năng hỗ trợ tra cứu trên ứng dụng eTax Mobile để người dân thuận tiện theo dõi, phát hiện kịp thời các dấu hiệu bị giả mạo để thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh.

Cơ quan thuế khuyến nghị doanh nghiệp nhanh chóng tra cứu thông tin, liên hệ ngay với cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi nhận được thông báo, thư mời làm việc để được hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định.

Việc chậm trễ phối hợp làm việc với cơ quan thuế sẽ dẫn tới trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục, hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký bị kéo dài, làm phát sinh thêm nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp, tiền xử phạt vi phạm hành chính, gia tăng chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý về sau cho chính bản thân người nộp thuế.

Công văn 421/TCS8-NVDTPC yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp?

Công văn 421/TCS8-NVDTPC yêu cầu không cho mượn CCCD để thành lập doanh nghiệp? (Hình từ Internet)

Người nộp thuế có quyền được yêu cầu cơ quan thuế xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế 2025 quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế như sau:

Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế
1. Người nộp thuế có các quyền sau:
...
e) Được nhận thông báo, quyết định, biên bản, kết luận liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế từ các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán;
g) Được giải thích về việc tính thuế, khoản thu khác, ấn định thuế, nội dung xử lý về thuế, khoản thu khác; được bảo lưu ý kiến, giải trình; được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số tiền thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số tiền thuế không được hoàn;
h) Không phải nộp các chứng từ, tài liệu, không phải gửi các thông tin đã có sẵn trong hồ sơ thuế mà cơ quan quản lý thuế đã có, trừ trường hợp có thay đổi nội dung hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế để phục vụ kiểm tra thuế;
i) Được yêu cầu xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;
k) Được bảo mật thông tin theo quy định tại Điều 7 của Luật này;
l) Được khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về thuế liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế;
m) Được tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về tố cáo;
n) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây thiệt hại trái pháp luật;
...

Như vậy, theo quy định trên thì việc yêu cầu cơ quan thuế xác nhận việc đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế là một trong những quyền của người nộp thuế.

Kiểm tra thuế phát hiện khai thiếu số tiền thuế thì người nộp thuế sẽ phải nộp tiền chậm nộp đúng không?

Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 16 Luật Quản lý thuế 2025 quy định xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế, khoản thu khác như sau:

Xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế, khoản thu khác
1. Các trường hợp phải nộp tiền chậm nộp bao gồm:
a) Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế, khoản thu khác so với thời hạn nộp, thời hạn gia hạn nộp quy định tại Điều 14 của Luật này;
b) Người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế, khoản thu khác làm tăng số tiền thuế, khoản thu khác phải nộp hoặc giảm số tiền thuế, khoản thu khác đã được miễn, giảm, hoàn, không thu;
c) Cơ quan quản lý thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra phát hiện người nộp thuế khai thiếu số tiền thuế, khoản thu khác phải nộp hoặc phát hiện số tiền thuế, khoản thu khác đã hoàn, đã miễn, đã giảm, đã không thu lớn hơn số tiền thuế, khoản thu khác được hoàn, được miễn, được giảm, không thu;
d) Trường hợp được nộp dần tiền thuế nợ quy định tại khoản 6 Điều 48 của Luật này;
...

Như vậy, theo quy định trên, nếu như cơ quan quản lý thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra phát hiện người nộp thuế khai thiếu số tiền thuế thì khi đó người nộp thuế sẽ phải nộp tiền chậm nộp với mức 0,03%/ngày.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Công văn Thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất