Công điện 191/CĐ-TTg về các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước?
Ngày 08/10/2025, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện 191/CĐ-TTg năm 2025 về các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, nâng cao hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, đồng thời yêu cầu:
(1) Các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước:
Trước ngày 25 tháng 10 năm 2025, báo cáo Bộ Tài chính về kết quả tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 03 quý đầu năm 2025, ước thực hiện đến hết năm 2025 (tập trung vào một số chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận sau thuế, sử dụng lao động, thu nhập bình quân của người lao động, tình hình cơ cấu lại, cổ phần hóa doanh nghiệp...), những vướng mắc, khó khăn, tồn tại cần giải quyết và các kiến nghị, đề xuất đế doanh nghiệp hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu tăng trưởng đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu giao, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả đối với doanh nghiệp nhà nước.
Trên cơ sở các báo cáo nêu trên, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan có liên quan xây dựng báo cáo tổng hợp, tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ các nội dung cần chỉ đạo bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ của khu vực doanh nghiệp nhà nước, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng của cả nước năm 2025 trên 8%, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/10/2025.
(2) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước quản lý đất đai theo Nghị quyết 30-NQ/TW năm 2014 của Bộ Chính trị và Kết luận 103-KL/TW năm 2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả công ty nông, lâm nghiệp khẩn trương rà soát hiện trạng đất đai có nguồn gốc nông lâm trường, trong đó phân loại đất sử dụng đúng mục đích, đất sử dụng chưa đúng mục đích, đất không dùng, đất khoán, cho thuê, đất tranh chấp, lấn chiếm, giải pháp và tình hình thực hiện Kết luận 103-KL/TW năm 2024 nêu trên theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị 33/CT-TTg năm 2024, các kiến nghị, đề xuất; hoàn thiện báo cáo gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 25/10/2025.
Trên đây là nội dung Công điện 191/CĐ-TTg về các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước

Công điện 191/CĐ-TTg về các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước? (Hình từ Internet)
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nhà nước dùng để xử lý những khoản chi phí nào?
Căn cứ Điều 25 Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025 quy định như sau:
Phân phối lợi nhuận sau thuế
1. Lợi nhuận sau thuế sau khi chia lãi cho các thành viên góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có) và sau khi bù đắp lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có) thì được sử dụng để xử lý các chi phí sau đây:
a) Chi phí được xử lý từ nguồn lợi nhuận sau thuế theo quy định của các luật có liên quan;
b) Chi phí khảo sát, thăm dò khoáng sản cho mục đích đầu tư nhưng không đủ điều kiện triển khai dự án theo quy định của Chính phủ; chi phí đầu tư thất bại tại các dự án đầu tư, khoản đầu tư có tính đặc thù, rủi ro cao theo quy định của Chính phủ;
c) Chi phí thực hiện nhiệm vụ chính trị do cơ quan có thẩm quyền giao theo quy định của Chính phủ.
2. Lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi xử lý các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này được phân phối theo nguyên tắc:
a) Trích không quá 50% vào Quỹ Đầu tư phát triển để sử dụng vào mục đích đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bổ sung vốn điều lệ. Đối với các tổ chức tín dụng, trích không quá 50% vào Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và Quỹ Đầu tư phát triển theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng;
b) Trích không quá 03 tháng lương thực hiện để lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp. Riêng các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, trường hợp không đủ nguồn từ lợi nhuận sau thuế thì được Nhà nước hỗ trợ để trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa không quá 02 tháng lương thực hiện trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp;
c) Trích lập các quỹ theo quy định của các luật có liên quan;
d) Doanh nghiệp nộp phần lợi nhuận còn lại vào ngân sách nhà nước, trừ trường hợp sử dụng để bổ sung vốn điều lệ, đầu tư dự án theo quy định của Chính phủ.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Như vậy, theo quy định trên, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nhà nước sau khi chia lãi cho các thành viên góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có) và sau khi bù đắp lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (nếu có) thì được sử dụng để xử lý các chi phí sau đây:
+ Chi phí được xử lý từ nguồn lợi nhuận sau thuế theo quy định của các luật có liên quan;
+ Chi phí khảo sát, thăm dò khoáng sản cho mục đích đầu tư nhưng không đủ điều kiện triển khai dự án theo quy định của Chính phủ; chi phí đầu tư thất bại tại các dự án đầu tư, khoản đầu tư có tính đặc thù, rủi ro cao theo quy định của Chính phủ;
+ Chi phí thực hiện nhiệm vụ chính trị do cơ quan có thẩm quyền giao theo quy định của Chính phủ.
- Lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi xử lý các nội dung trên được phân phối theo nguyên tắc:
+ Trích không quá 50% vào Quỹ Đầu tư phát triển để sử dụng vào mục đích đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bổ sung vốn điều lệ.
Đối với các tổ chức tín dụng, trích không quá 50% vào Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và Quỹ Đầu tư phát triển theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2024;
+ Trích không quá 03 tháng lương thực hiện để lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, trường hợp không đủ nguồn từ lợi nhuận sau thuế thì được Nhà nước hỗ trợ để trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa không quá 02 tháng lương thực hiện trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp;
+ Trích lập các quỹ theo quy định của các luật có liên quan;
+ Doanh nghiệp nộp phần lợi nhuận còn lại vào ngân sách nhà nước, trừ trường hợp sử dụng để bổ sung vốn điều lệ, đầu tư dự án theo quy định của Chính phủ.
Nguyên tắc quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp là gì?
Căn cứ Điều 5 Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025 quy định về nguyên tắc quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp như sau:
- Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan; phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
- Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
- Cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của Luật này; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm giải trình.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];