09:59 | 01/07/2022
Loading...

Con cái có thể ngăn cản cha mẹ ly hôn không? Phụ nữ có được ly hôn khi con chưa đủ 12 tháng tuổi không?

Con cái có thể ngăn cản cha mẹ ly hôn không? Đơn phương yêu cầu ly hôn khi không đăng ký kết hôn?Phụ nữ có được ly hôn khi con chưa đủ 12 tháng tuổi không?

Con cái có thể ngăn cản cha mẹ ly hôn không?

Mình là con một trong gia đình, hiện bố mẹ đang giải quyết thủ tục ly hôn tại Tòa, mình có quyền ngăn cản cha mẹ ly hôn không? Mong Luật sư cho lời khuyên!

Trả lời:

Căn cứ: Luật Hôn nhân Gia đình 2014

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, theo quy định Luật hôn nhân Gia đình thì việc ly hôn của cha mẹ tùy thuộc vào mong muốn và quyết định của cha mẹ, con cái không có quyền ngăn cản, cấm đoán. Một trường hợp duy nhất là chỉ khi giành quyền nuôi con thì Tòa án mới xem xét đến ý kiến của con.

Đơn phương yêu cầu ly hôn khi không đăng ký kết hôn

Em tên là Nguyễn Văn Long. Bố em mỗi khi nhậu về lại có hành vi bạo lực, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của mẹ em. Vấn đề này đã xảy ra nhiều năm liền (khoảng 20 năm), nhiều lần cũng có mời công an xã vào giải quyết nhưng đâu lại vào đấy. Cả mẹ em và em không thể nào sống trong hoàn cảnh này được nữa nên mẹ em muốn ly hôn. Vấn đề là bố mẹ em lấy nhau vào khoảng năm 1995 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Bố em lại không muốn ly hôn. Vậy, cho em hỏi: Tòa án có giải quyết trường hợp đơn phương ly hôn của mẹ em không? Nếu có thì thủ tục như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

- Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

Mặt khác, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

- Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Như vậy, đối với trường hợp của bố mẹ bạn, do 02 người không tiến hành đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình, do đó, việc kết hôn đó không có giá trị pháp lý. Lúc này, hậu quả sẽ được giải quyết theo quy định đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

- Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

- Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Về việc thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

- Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Bên cạnh đó, Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP cũng quy định:

- Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào quy định trên, trong trường hợp mẹ bạn có yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ thụ lý, giải quyết và tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bố mẹ bạn. Nếu mẹ bạn có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì Tòa án sẽ giải quyết theo hướng:

- Quyền, nghĩa vụ giữa bố, mẹ bạn và bạn được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con (Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

- Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của bố, mẹ bạn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập (Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn thắc mắc.

Phụ nữ có được ly hôn khi con chưa đủ 12 tháng tuổi không?

Tôi có 01 người bạn đang có con nhỏ (11 tháng). Bạn tôi từ khi sinh con đến tận bây giờ thì chồng rất lạnh nhạt và không hề quan tâm đến vợ con. Bạn tôi không muốn tiếp tục sống với chồng nữa nên muốn ly hôn. Tôi nghe nói con còn quá nhỏ thì không thể ly hôn được và phải chờ con lớn thì mới ly hôn? Như vậy có đúng không? Xin tư vấn giúp tôi.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thì:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên quy định này không cho phép người chồng không được ly hôn nhưng không cấm người vợ. Do đó, trong trường hợp người vợ có quyền yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn khi đang nuôi con dưới 12 tháng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn.

Trân trọng!

Đi đến trang Tìm kiếm nội dung Tư vấn pháp luật - Ly hôn

Võ Ngọc Nhi

Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Giấy phép số: 27/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 09/05/2019.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3930 3279
Địa chỉ: P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;
Địa điểm Kinh Doanh: Số 17 Nguyễn Gia Thiều, P. Võ Thị Sáu, Q3, TP. HCM;
Chứng nhận bản quyền tác giả số 416/2021/QTG ngày 18/01/2021, cấp bởi Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch
Thông báo
Bạn không có thông báo nào