|
VĂN PHÒNG CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 18/TB-VPCP
|
Hà Nội, ngày 09
tháng 01 năm 2026
|
THÔNG BÁO
KẾT
LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TẠI HỘI NGHỊ QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC
NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI VỀ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN, ĐẤT
ĐAI TRONG KẾT LUẬN THANH TRA, KIỂM TRA, BẢN ÁN VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC
GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị quán triệt triển khai các Nghị
quyết của Quốc hội về tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận
thanh tra, kiểm tra, bản án và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi (Hội nghị). Tham dự Hội nghị có Phó Thủ tướng Thường
trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ: Lê Thành
Long, Mai Văn Chính, Phạm Thị Thanh Trà, Hồ Quốc Dũng; các đồng chí Bộ trưởng,
Thủ trưởng các bộ, cơ quan: Nông nghiệp và Môi trường, Thanh tra Chính phủ, Tài
chính, Y tế, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Dân tộc và Tôn giáo, Công Thương;
Lãnh đạo các bộ, cơ quan: Quốc phòng, Công an, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, Nội vụ, Xây dựng, Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
và Văn phòng Chính phủ; Lãnh đạo, đại diện một số cơ quan của Đảng, Quốc hội,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và một số cơ quan thuộc
Chính phủ.
Tham dự Hội nghị tại điểm cầu của 34 tỉnh, thành phố
có đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố, lãnh đạo các sở, ngành có liên quan và Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh.
Sau khi nghe Báo cáo của Bộ trưởng các Bộ: Nông
nghiệp và Môi trường, Tài chính và Tổng Thanh tra Chính phủ, ý kiến của Phó Thủ
tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, đại diện lãnh đạo các bộ, cơ quan,
địa phương, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý kiến kết luận, chỉ đạo như
sau:
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG
(1) Đánh giá cao Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ
Tài chính, Thanh tra Chính phủ và các bộ, cơ quan, địa phương đã khẩn trương,
chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo nội dung Hội nghị, có nhiều ý kiến phát biểu tâm huyết,
trách nhiệm, kiến nghị các giải pháp đột phá nhằm thống nhất nhận thức, cách thức
triển khai, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án và triển khai có hiệu quả Chương
trình mục tiêu quốc gia trong thời gian tới. Việc quán triệt 02 Nghị quyết trên
có ý nghĩa rất quan trọng, đây là các Nghị quyết mang tính đột phá tại Kỳ họp
thứ 10, Quốc hội khóa XV vừa qua.
(2) Nhiều vướng mắc đã được xử lý, dự án tiếp tục
được triển khai đã mang lại kết quả thiết thực, giải phóng nguồn lực cho đất nước,
doanh nghiệp và người dân, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế năm 2025 đạt trên 8% và hai con số những năm tiếp theo; đồng thời tạo không
gian, dư địa cho sự phát triển, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên; bảo đảm
tính kỷ luật, kỷ cương, nghiêm minh của pháp luật; tạo động lực cho người dân,
doanh nghiệp và nhà đầu tư kích hoạt nguồn lực cho phát triển đất nước.
(3) Tuy nhiên, trong thời gian qua, quá trình triển
khai trên cả nước vẫn còn nhiều dự án bị đình trệ, vướng mắc chủ yếu về pháp
lý, liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, quy hoạch, trong đó có nhiều dự án
có dấu hiệu sai phạm, nguy cơ gây lãng phí do một số cơ chế chính sách chưa phù
hợp thực tiễn, một số địa phương nôn nóng thúc đẩy tăng trưởng và các doanh
nghiệp còn thiếu kinh nghiệm, nguồn lực triển khai dự án. Việc triển khai 03
Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn vừa qua gặp một số tồn tại, hạn chế
như: Các Chương trình còn chồng chéo, trùng lặp về nội dung, đối tượng, nguồn lực
còn phân tán; một số chỉ tiêu chưa hoàn thành mục tiêu Chính phủ giao, kết quả
giải ngân chậm, hệ thống cơ chế, chính sách, hướng dẫn còn phức tạp, chậm được
ban hành.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, NHIỆM VỤ
CÁC BỘ, CƠ QUAN, ĐỊA PHƯƠNG
1. Về việc tháo gỡ vướng mắc đối
với các dự án đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra:
a) Kết quả thực hiện trong thời gian qua
(1) Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11
năm 2024 của Quốc hội có nhiều chính sách đặc thù, mang tính đột phá, sau thời
gian triển khai thực hiện Kết luận số 77-KL/TW ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Bộ
Chính trị và Nghị quyết số 170/2024/QH15 chúng ta đã đạt được một số kết quả
tích cực. Đây là công cụ quan trọng, hiệu quả, góp phần khơi thông nguồn lực đất
đai cho phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở xử lý dứt điểm các sai phạm
theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, nhiều vướng mắc đã được xử lý, dự án
tiếp tục được triển khai mang lại kết quả, giải phóng nguồn lực cho cả nhà nước,
doanh nghiệp và người dân.
(2) Đến nay có 5.203 dự án đã được tháo gỡ và đã có
định hướng giải pháp tháo gỡ, trong đó 3.289 dự án đất đai với tổng mức đầu tư
khoảng 1,67 triệu tỷ đồng, khoảng hơn 70 nghìn ha đất đã được tháo gỡ khó khăn
vướng mắc, tiếp tục triển khai hoàn thành, sớm đưa vào khai thác. Các địa
phương đã tiếp tục rà soát, cập nhật trên Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo
về giải quyết các vấn đề khó khăn vướng mắc các dự án tồn đọng theo Quyết định
số 751/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2025 (Ban chỉ đạo 751) ghi nhận 2.991 dự án
có khó khăn, vướng mắc tồn đọng, kéo dài cần tháo gỡ với quy mô diện tích đất
khoảng hơn 153 nghìn ha với tổng mức đầu tư là 2,46 triệu tỷ đồng.
b) Quan điểm chỉ đạo
(1) Việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các dự
án là vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm; không cầu toàn, không nóng vội nhưng
không bỏ lỡ cơ hội. Các bộ, cơ quan, địa phương phải phát huy tinh thần dám
nghĩ, dám làm để giải quyết dứt điểm các công việc phát sinh. Đây là nhiệm vụ
phải làm thường xuyên, liên tục, tổng thể trên tất cả các lĩnh vực, kịp thời đề
xuất bổ sung các cơ chế, chính sách trong quá trình thực hiện để khơi thông, giải
phóng nguồn lực đang tồn đọng, giải quyết bức xúc của người dân và doanh nghiệp.
(2) Phải xử lý dứt điểm vướng mắc của các dự án thuộc
thẩm quyền giải quyết của mình; không né tránh, không đùn đẩy trách nhiệm. Người
đứng đầu các bộ, ngành địa phương phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về vấn
đề này. Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình, kết quả triển khai
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng, kéo dài (theo Đề án 751), các bộ,
ngành, địa phương chủ động, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo 751
để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quan trọng và cấp bách này.
(3) Đối với những dự án cần thanh tra, kiểm tra, kiểm
toán thì khẩn trương tiếp tục làm, không né tránh, tập trung đề xuất giải pháp
tháo gỡ, giải phóng nguồn lực, khắc phục khó khăn, vướng mắc và hậu quả để sớm
đưa dự án vào khai thác, tránh để lãng phí, thất thoát.
(4) Tinh thần làm việc phải có quyết tâm cao, nỗ lực
lớn, hành động quyết liệt, làm việc nào ra việc đó; phân công 6 rõ: Rõ người,
rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm và thường
xuyên giám sát, kiểm tra, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Các bộ, ngành không trực
tiếp phê duyệt, chủ trì thực hiện các dự án, các dự án cụ thể cần đẩy mạnh phân
cấp cho địa phương theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương
chịu trách nhiệm.
c) Nhiệm vụ trong thời gian tới:
Để góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế trong những năm tiếp theo, tạo không gian, dư địa cho sự phát triển,
tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên đất đai và củng cố niềm tin cho doanh
nghiệp và nhà đầu tư, yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tập trung thực hiện
các nhiệm vụ sau:
(1) Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Thanh tra
Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ, cơ quan, địa phương khẩn
trương tổng hợp, trình Chính phủ ban hành danh mục các dự án, đất đai đáp ứng đủ
điều kiện áp dụng cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo đúng
nhiệm vụ được Quốc hội giao tại mục 14, Nghị quyết số
265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 để các địa phương có cơ sở triển
khai ngay trong tháng 01 năm 2026; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về cơ chế
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án BT chuyển tiếp trong tháng 01 năm 2026;
rà soát, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ thông báo danh mục các dự án khó
khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền xử lý của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương
được tổng hợp trên Hệ thống 751 để các bộ, cơ quan, địa phương chủ động xử lý
theo thẩm quyền; tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả xử lý các dự án
khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền xử lý của các bộ, cơ quan, địa phương; đảm
bảo mở Hệ thống 751 để các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục cập nhật danh mục,
thông tin các dự án theo phân loại trên Hệ thống 751 và hướng dẫn của Bộ Tài
chính.
(2) Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ
Xây dựng và cơ quan liên quan hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện các
quy định của Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024, Nghị định số
76/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được
giao trong tháng 01 năm 2026; trong quá trình triển khai thực hiện nếu có nội
dung phát sinh vướng mắc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét.
(3) Các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương đề xuất
phương hướng, giải pháp tháo gỡ nhóm các vấn đề khó khăn, vướng mắc chưa có quy
định của pháp luật, báo cáo rõ về thẩm quyền xử lý, trên cơ sở đó khẩn trương
báo cáo các cấp có thẩm quyền cho chủ trương, cơ chế tháo gỡ.
Các bộ, cơ quan, địa phương phối hợp chặt chẽ với Bộ
Tài chính để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trên, rà soát
danh mục các dự án, đất đai đề nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách được Quốc
hội quyết nghị tại mục 14, Nghị quyết số 265/2025/QH15 đảm bảo
bám sát nguyên tắc tại Nghị quyết số 170/2024/QH15 của Quốc hội và Kết luận số
182-KL/TW của Bộ Chính trị và trên Hệ thống 751; chủ động tổ chức thực hiện
tháo gỡ ngay cho các dự án thuộc thẩm quyền xử lý; báo cáo kịp thời các vấn đề
vượt thẩm quyền; trong đó khuyến khích việc khắc phục hậu quả theo quy định của
Đảng và Nhà nước; tiếp tục rà soát các dự án, cập nhật thông tin, dữ liệu lên Hệ
thống 751 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; không được để sót, để lọt danh mục
các dự án cần được tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà đến thời điểm ngày 31 tháng
12 năm 2025 chưa được xử lý và có giải pháp giải quyết, nhất là các dự án đã có
kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, tình huống pháp lý tương tự.
2. Về việc triển khai Nghị quyết
số 257/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu
tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững
và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn
2026-2035 (Chương trình).
a) Kết quả thực hiện Chương trình trong thời
gian qua
Việc triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia
trong đoạn 2021-2025 cơ bản đã đạt và vượt mục tiêu với nhiều kết quả quan trọng
như: (1) Chương trình xây dựng nông thôn mới có 4/7 chỉ tiêu vượt và 3/7 chỉ
tiêu cơ bản hoàn thành; (2) Chương trình giảm nghèo bền vững có 4/5 chỉ tiêu đạt
và vượt; (3) Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi có 6/9 chỉ tiêu đạt và vượt. Diện mạo nông thôn từng bước thay đổi
rõ rệt, Việt Nam trở thành hình mẫu thế giới về thực hiện các mục tiêu thiên
niên kỷ, trong đó có giảm nghèo, phát triển nông thôn. Việc hợp nhất 03 Chương
trình có ý nghĩa hết sức quan trọng, tập trung đầu tư cho vùng khó khăn, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, nâng cao hiệu quả thực thi, nhanh chóng đưa các chính
sách hỗ trợ đi vào cuộc sống, bảo đảm người dân được thụ hưởng kịp thời, thực
chất.
b) Quan điểm chỉ đạo
(1) Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội là chủ
trương lớn, có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển bền vững nền nông nghiệp, đảm bảo an sinh
và phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, được Nhân dân đồng thuận,
tích cực hưởng ứng, tạo thành phong trào sâu rộng trong suốt thời gian qua.
Trách nhiệm của chúng ta hiện nay là phải tiếp tục đổi mới tư duy, hành động
quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn; khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần
đoàn kết, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng,
từng người dân, nhằm xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, văn minh, thoát
nghèo bền vững; mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển, không để
ai bị bỏ lại phía sau.
(2) Nghị quyết số 257/2025/QH15 đã quy định rõ phạm
vi, đối tượng, thời gian thực hiện để tập trung ưu tiên cho xã, thôn đặc biệt
khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng an toàn khu, vùng biên giới và hải
đảo, phân cấp, phân quyền tối đa cho địa phương trên nguyên tắc "địa
phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm": Trung ương
quản lý, ban hành cơ chế, thiết kế công cụ kiểm tra, giám sát; Chính phủ giao tổng
mức vốn, địa phương căn cứ điều kiện thực tế chủ động quyết định phương án phân
bổ, lồng ghép nguồn lực để đạt mục tiêu chung được giao. Các cơ quan, chủ thể
liên quan phải vào cuộc nghiêm túc, phát huy tính sáng tạo, chủ động, gương mẫu,
quyết tâm cao nhất, nỗ lực lớn nhất, hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng
điểm; tăng cường giám sát, kiểm tra và sơ kết, đánh giá theo quy định nhằm tháo
gỡ ngay các vướng mắc.
c) Nhiệm vụ trong thời gian tới:
Đề nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, đề nghị các bộ,
cơ quan, địa phương thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
(1) Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ
Dân tộc và Tôn giáo và các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng Báo cáo
nghiên cứu khả thi, ban hành Quyết định đầu tư Chương trình giai đoạn 2026-2030
trong tháng 01 năm 2026 trên cơ sở phân cấp, phân quyền tối đa cho các địa
phương; trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Quyết định quy định nguyên
tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của
ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 trong tháng 01
năm 2026, tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách trung ương cho các xã, thôn đặc
biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới
và hải đảo nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và phân hạng
sản phẩm OCOP theo hướng kế thừa, phù hợp, đồng bộ và nâng cao chất lượng, đặc
trưng, thương hiệu gắn với yêu cầu thị trường, thúc đẩy theo hướng xanh, bền vững.
(2) Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ động phối hợp với Bộ
Nông nghiệp và Môi trường, các bộ, ngành liên quan hướng dẫn tổ chức thực hiện
các nội dung liên quan đến vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Trong đó, công bố
danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, thôn đặc biệt khó
khăn và xã khu vực I, II, III vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn
2026-2030, thời hạn hoàn thành trong tháng 01 năm 2026.
(3) Bộ Tài chính đẩy nhanh tiến độ giao dự toán, kế
hoạch ngân sách trung ương năm 2026 để thực hiện trong tháng 01 năm 2026; xây dựng
và ban hành sớm Thông tư quy định về quản lý sử dụng kinh phí thực hiện Chương
trình, bảo đảm ưu tiên đầu tư cho khu vực khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi.
(4) Các bộ, cơ quan liên quan tập trung, khẩn
trương ban hành các văn bản của các bộ, cơ quan hướng dẫn chi tiết, định mức,
tiêu chuẩn kỹ thuật thực hiện các nội dung của Chương trình, Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 được giao chủ trì theo hướng tích hợp,
tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong quá trình triển khai, bảo đảm
minh bạch, khách quan dựa trên việc ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở
dữ liệu và hệ thống giám sát, đánh giá liên thông.
(5) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
quan tâm, quyết liệt chỉ đạo thực hiện một số nội dung sau: Tuyên truyền, quán
triệt nhận thức của cả hệ thống chính trị, người dân về chủ trương của Đảng,
Nhà nước đối với Chương trình; tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch thực
hiện có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng vùng, từng
địa phương; tránh dàn trải, hình thức, ưu tiên địa bàn khó khăn, vùng lõi
nghèo, xã, thôn đặc biệt khó khăn; quyết liệt chỉ đạo, thực hiện Chương trình
theo tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách
nhiệm", gắn với trách nhiệm người đứng đầu.
Tập trung xây dựng các mô hình bền vững, tăng trưởng
xanh và liên kết chuỗi giá trị; cụ thể hóa việc áp dụng các nội dung tiêu chí
nông thôn mới phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương; thay đổi tư duy, nâng cao nhận thức, động viên, khích lệ để
người nông dân tự tin thoát nghèo, thi đua làm giàu, sản xuất xanh, bền vững,
chuyển đổi số; khẩn trương thúc đẩy triển khai và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư
công năm 2025 đạt 100% trong năm 2026 để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu còn
lại của 03 Chương trình giai đoạn 2021-2025.
(6) Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và tổ chức chính trị - xã hội phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả
Chương trình gắn với Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới,
đô thị văn minh"; tổ chức tuyên truyền, vận động phát huy vai trò chủ thể
của Nhân dân tham gia thực hiện Chương trình; thực hiện hiệu quả công tác giám
sát, phản biện xã hội trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các bộ, cơ quan, địa
phương liên quan biết, thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
- Các Phó Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
- Ủy ban Kiểm tra Trung ương;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương;
- Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Các cơ quan của QH: Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban: Kinh tế và Tài chính, Văn
hóa và Xã hội, Khoa học, Công nghệ và Môi trường;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố;
- VPCP: BTCN, PCN: Phạm Mạnh Cường, Trợ lý TTgCP, Thư ký TTg, các PTTgCP; các
Vụ: KGVX, QHĐP&KTH, PL, CN; Cổng TTĐTCP;
- Lưu VT, NN (03). Hg.
|
KT. BỘ TRƯỞNG,
CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Phạm Mạnh Cường
|