|
BAN
CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 20-QĐ/TW
|
Hà Nội, ngày 08 tháng 4
năm 2026
|
QUY ĐỊNH
THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG
-----
- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy chế làm việc
của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIV;
- Xét Tờ trình và báo cáo
của Bộ Chính trị tiếp thu, giải trình ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá XIV tại Hội nghị lần thứ hai,
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
QUY ĐỊNH THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG
1.
Điều 1 (Khoản 2): Tuổi đời và trình độ
học vấn của người vào Đảng
1.1. Về tuổi đời.
1.1.1. Tại thời điểm chi bộ
xét kết nạp, người vào Đảng phải đủ 18 tuổi đến đủ 60 tuổi (tính theo tháng).
1.1.2. Việc kết nạp vào Đảng
những người trên 60 tuổi do cấp ủy trực thuộc Trung ương xem xét, quyết định.
1.2. Về trình độ học vấn.
1.2.1. Người vào Đảng phải
hoàn thành chương trình giáo dục bậc trung học cơ sở trở lên trừ các trường hợp
quy định tại Điểm 1.2.2.
1.2.2. Học vấn của người
vào Đảng đang sinh sống ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và những trường hợp cụ thể
khác do yêu cầu phát triển đảng mà không bảo đảm được quy định chung thì thực
hiện theo hướng dẫn của Ban Bí thư.
2.
Điều 3: Về quyền của đảng viên
2.1.
(Khoản 1): Quyền được thông tin của
đảng viên.
Định kỳ hằng tháng hoặc đột
xuất, theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và cấp ủy cấp
trên, các cấp ủy, tổ chức đảng thông tin cho đảng viên về tình hình, nhiệm vụ của
địa phương, cơ quan, đơn vị; các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thời sự
trong nước, thế giới... phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm của tổ chức đảng
và đảng viên, góp phần nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho đảng viên hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao.
2.2.
(Khoản 2): Quyền của đảng viên
trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.
Thực hiện theo quy định của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2.3.
(Khoản 3): Quyền của đảng viên trong
việc phê bình, chất vấn tổ chức đảng và đảng viên; báo cáo, kiến nghị với cơ
quan có trách nhiệm.
Đảng viên được phê bình,
chất vấn, báo cáo, kiến nghị trực tiếp hoặc bằng văn bản trong phạm vi tổ chức
của Đảng về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; về những vấn đề
liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng hoặc chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất đạo
đức của đảng viên đó; chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng về ý kiến của mình.
Khi nhận được ý kiến phê bình, chất vấn, báo cáo, kiến nghị, tổ chức đảng và đảng
viên có trách
nhiệm phải trả lời theo thẩm quyền, chậm nhất là 30 ngày làm việc đối với tổ chức
cơ sở đảng và đảng viên, 60 ngày làm việc đối với cấp ủy cấp trên trực tiếp của
tổ chức cơ sở đảng và cấp tỉnh, 90 ngày làm việc đối với cấp Trung ương. Những
trường hợp phức tạp cần phải kéo dài hơn thời gian quy định trên thì phải thông
báo cho tổ chức đảng và đảng viên biết lý do.
2.4. Đảng viên được tổ chức
đảng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng.
2.5. Đảng viên được thông
báo ý kiến nhận xét của cấp ủy nơi làm việc và nơi cư trú khi xem xét bổ nhiệm,
giới thiệu ứng cử; được trình bày ý kiến với tổ chức đảng, cấp ủy đảng khi xem
xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
3.
Điều 4: Giới thiệu và kết nạp người
vào Đảng
3.1.
(Khoản 1): Ban Thường vụ Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã, phường, đặc khu hoặc Ban Chấp hành Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh cơ sở hoặc tập thể chi đoàn cơ sở; Ban Chấp hành Công
đoàn cơ sở (nếu có) xem xét, ra nghị quyết giới thiệu đoàn viên vào Đảng.
3.2.
(Khoản 2): Đảng viên giới thiệu người
vào Đảng.
3.2.1. Là đảng viên chính
thức, cùng công tác, lao động, học tập hoặc cùng sinh hoạt nơi cư trú ít nhất
12 tháng với người được giới thiệu vào Đảng trong cùng một đơn vị thuộc phạm vi
lãnh đạo của đảng bộ cơ sở, chi bộ.
3.2.2. Nếu đảng viên giới
thiệu người vào Đảng chuyển đến đảng bộ, chi bộ cơ sở khác, bị kỷ luật hoặc vì
lý do khác không thể tiếp tục theo dõi, giúp đỡ người vào Đảng thì chi bộ phân
công đảng viên chính thức khác theo dõi, giúp đỡ
người vào Đảng (không nhất thiết đảng viên đó
cùng công tác, lao động, học tập hoặc cùng sinh hoạt nơi cư trú với người vào Đảng
ít nhất 12 tháng).
3.3.
(Khoản 3): Vấn đề liên quan đến
tiêu chuẩn chính trị của người vào Đảng thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.
3.4.
(Khoản 4): Việc kết nạp người vào
Đảng ở nơi chưa có đảng viên, chưa có chi bộ.
3.4.1. Cấp ủy cấp trên trực
tiếp của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí
điểm giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên
(nơi người vào Đảng công tác, lao động, học tập, cư trú) giao cho chi bộ có điều
kiện thuận lợi nhất để phân công đảng viên chính thức giúp đỡ người vào Đảng.
Khi có đủ điều kiện và tiêu chuẩn thì chi bộ nơi có đảng viên giúp đỡ người vào
Đảng đang sinh hoạt làm thủ tục đề nghị kết nạp theo quy định.
3.4.2. Việc kết nạp đảng
viên trong một số trường hợp đặc biệt thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.
3.5.
Về kết nạp lại người vào Đảng.
3.5.1. Người được xét kết
nạp lại phải có đủ các điều kiện sau:
a) Có đủ điều kiện và tiêu
chuẩn của người vào Đảng theo quy định tại Điều 1 Điều lệ Đảng.
b) Ít nhất là 36 tháng kể
từ khi ra khỏi Đảng (đối với người bị kết án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng
thì phải sau 60 tháng kể từ khi được xoá án tích); làm đơn xin kết nạp lại vào
Đảng; phải được ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương
(hoặc thường trực tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương được ủy quyền
theo quy chế làm việc) đồng ý bằng văn bản, cấp ủy có thẩm quyền quyết định kết
nạp đảng viên xem xét, quyết định.
c) Thực hiện đúng các thủ
tục nêu ở các Khoản 1, 2, 3, Điều 4 Điều lệ Đảng.
3.5.2. Đối tượng không xem
xét kết nạp lại.
Không xem xét, kết nạp lại
những người trước đây ra khỏi Đảng vì lý do: Tự bỏ sinh hoạt đảng; làm đơn xin
ra khỏi Đảng (trừ trường hợp vì lý do gia đình đặc biệt khó khăn); gây mất đoàn
kết nội bộ nghiêm trọng; bị kết án hình sự vì hành vi tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực; bị kết án hình sự về tội phạm nghiêm trọng trở lên.
3.5.3. Chỉ kết nạp lại một
lần.
3.5.4. Những đảng viên được
kết nạp lại phải trải qua thời gian dự bị.
4.
Điều 5: Về thời hạn, thẩm quyền,
trong công tác kết nạp đảng viên, xét công nhận đảng viên chính thức, tính tuổi
Đảng của đảng viên
4.1.
(Khoản 1): Thời hạn tổ chức lễ kết
nạp.
Trong thời hạn 30 ngày làm
việc, kể từ ngày cấp ủy có thẩm quyền ban hành quyết định kết nạp, chi bộ phải
tổ chức lễ kết nạp cho đảng viên. Nếu để quá thời hạn nêu trên phải báo cáo và
được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý.
4.2.
(Khoản 2): Thời điểm công nhận đảng
viên chính thức.
4.2.1. Trong thời hạn 30
ngày làm việc, kể từ ngày đảng viên hết 12 tháng dự bị, chi bộ phải xét và đề
nghị công nhận chính thức cho đảng viên; nếu không đủ điều kiện công nhận là đảng
viên chính thức thì đề nghị lên cấp ủy có thẩm quyền quyết định xoá tên.
4.2.2. Đảng viên dự bị đủ
điều kiện được công nhận là đảng viên chính thức, dù chi bộ họp chậm, cấp ủy có
thẩm quyền chuẩn y chậm, vẫn được công nhận đảng viên chính thức đúng thời điểm
hết 12 tháng dự bị. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị
công nhận chính thức của chi bộ, cấp ủy có thẩm quyền phải ban hành quyết định
chuẩn y.
4.2.3. Trường hợp tổ chức
đảng cấp dưới đã qua 3 lần biểu quyết nhưng không đủ hai phần ba số đảng viên
chính thức hoặc cấp ủy viên tán thành công nhận một đảng viên dự bị là đảng
viên chính thức hoặc đề nghị xoá tên trong danh sách đảng viên thì báo cáo cấp ủy
cấp trên trực tiếp và cấp ủy có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4.3.
(Khoản 3): Thời hạn, thẩm quyền
quyết định kết nạp đảng viên, xét công nhận đảng viên chính thức.
4.3.1. Trong thời hạn 45
ngày làm việc kể từ ngày chi bộ có nghị quyết đề nghị kết nạp; trong thời hạn
30 ngày làm việc kể từ ngày chi bộ có nghị quyết đề nghị công nhận chính thức,
thì cấp ủy có thẩm quyền phải xem xét, quyết định; trường hợp đặc biệt có thể
gia hạn tối đa 15 ngày làm việc. Việc đồng ý hoặc không đồng ý, phải thông báo
kết quả cho chi bộ nơi đề nghị kết nạp đảng viên hoặc công nhận đảng viên chính
thức biết. Nếu để quá thời hạn trên mà không có lý do chính đáng thì phải kiểm
điểm trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên.
4.3.2. Thẩm quyền quyết định
kết nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức.
a) Đảng ủy cơ sở được ủy
quyền kết nạp đảng viên: Do tập thể đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định.
b) Cấp ủy cấp trên trực tiếp
của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được
thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở: Do ban thường vụ xem xét, quyết định.
c) Tỉnh ủy, thành ủy, đảng
ủy trực thuộc Trung ương: Do tập thể thường trực cấp ủy và các đồng chí ủy viên
ban thường vụ là trưởng các ban đảng cùng cấp xem xét, quyết định.
d) Thẩm quyền quyết định kết
nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức trong Đảng bộ Quân đội và Đảng
bộ Công an Trung ương: Thực hiện theo quy định này và quy định riêng của Bộ
Chính trị.
4.4.
Trường hợp kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng
viên chính thức sai quy định.
Cấp ủy cấp trên, qua kiểm
tra, xác minh phát hiện việc kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng viên
chính thức sai quy định thì xử lý như sau:
4.4.1. Nếu quyết định kết
nạp người vào Đảng, công nhận đảng viên chính thức không đúng tiêu chuẩn, điều
kiện theo quy định tại Điều 1 Điều lệ Đảng thì cấp Ủy ban
hành quyết định hoặc cấp ủy có thẩm quyền của tổ chức đảng thành lập sau chia
tách, hợp nhất, sáp nhập phải hủy bỏ quyết định đó và thông báo cho đảng bộ,
chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt xoá tên trong danh sách đảng viên. Trường hợp tổ
chức đảng ban hành quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức
đã giải thể hoặc bị giải tán thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh
hoạt hủy bỏ quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức không
đúng tiêu chuẩn, điều kiện.
4.4.2. Nếu quyết định kết
nạp người vào Đảng, công nhận đảng viên chính thức không đúng thẩm quyền, không
đúng thủ tục theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Điều lệ Đảng:
- Trường hợp được cấp có
thẩm quyền xác định là lỗi của tổ chức thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên
đang sinh hoạt đề nghị cấp ủy đã ban hành quyết định kết nạp đảng viên hoặc cấp
ủy có thẩm quyền của tổ chức đảng thành lập sau chia tách, hợp nhất, sáp nhập hủy
bỏ quyết định đó, chỉ đạo làm lại các thủ tục theo quy định và xem xét trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan; trường hợp tổ chức đảng ban hành quyết
định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức đã giải thể hoặc bị giải
tán thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh hoạt tiến hành thẩm tra,
xác minh và làm lại các thủ tục theo quy định. Ngày vào Đảng được tính từ ngày
ban hành quyết định kết nạp lần đầu.
- Trường hợp được cấp có
thẩm quyền xác định là lỗi của cá nhân người vào Đảng thì cấp Ủy ban hành quyết
định hoặc cấp ủy có thẩm quyền của tổ chức đảng thành lập sau chia tách, hợp nhất,
sáp nhập hủy bỏ quyết định đó và thông báo cho đảng bộ, chi bộ nơi đảng viên
sinh hoạt xoá tên trong danh sách đảng viên; trường hợp tổ chức đảng ban hành
quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức đã giải thể hoặc bị
giải tán thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh hoạt hủy bỏ quyết định
kết nạp đảng viên.
4.5.
Tính tuổi Đảng của đảng viên.
4.5.1. Đảng viên được công
nhận chính thức thì tuổi Đảng của đảng viên được tính từ ngày cấp có thẩm quyền
ban hành quyết định kết nạp, trừ thời gian không tham gia sinh hoạt đảng.
Thời gian không tham gia
sinh hoạt đảng là: Thời gian bị khai trừ (kể cả khai trừ có thời hạn theo quy định
của Điều lệ Đảng khoá II), thời gian bị xoá tên, thời gian mất liên lạc với tổ
chức đảng và thời gian gián đoạn do chuyển sinh hoạt đảng.
4.5.2. Đảng viên kết nạp lại
được công nhận chính thức thì tuổi Đảng tính từ ngày cấp có thẩm quyền ban hành
quyết định kết nạp lần đầu đối với đảng viên đó, trừ thời gian không tham gia
sinh hoạt đảng (trường hợp đặc biệt do Ban Bí thư xem xét, quyết định).
5. Về
đảng tịch của đảng viên
5.1. Thẩm quyền giải quyết
vấn đề đảng tịch của đảng viên (thẩm tra, kết luận về đảng tịch, việc công nhận
là đảng viên, khôi phục quyền đảng viên, xoá tên hoặc cho nối lại sinh hoạt đảng
của đảng viên).
5.1.1. Đối với đảng viên
là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý thì ủy quyền Ban Tổ chức Trung ương xem
xét, giải quyết.
Trường hợp ý kiến của cấp ủy
trực thuộc Trung ương khác với kết luận của Ban Tổ chức Trung ương thì báo cáo
Ban Bí thư xem xét, quyết định.
5.1.2. Đảng viên là cán bộ
thuộc diện tỉnh ủy và tương đương quản lý thì ban thường vụ tỉnh ủy và tương
đương xem xét, quyết định.
5.1.3. Đảng viên không thuộc
diện nêu trên thì ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng
xem xét, quyết định.
5.2. Giải quyết vấn đề đảng
tịch của đảng viên.
5.2.1. Không đặt ra việc
xem xét lại đối với những đảng viên có vấn đề về đảng tịch đã được cấp ủy có thẩm
quyền xem xét, kết luận trước đây mà không phát hiện thêm vấn đề gì mới.
5.2.2. Chỉ xem xét, khôi
phục quyền đảng viên và tính tuổi Đảng liên tục đối với những người bị đưa ra
khỏi Đảng đã được cấp có thẩm quyền thẩm tra, xác minh, kết luận là bị oan và từ
khi bị đưa ra khỏi Đảng đến nay không vi phạm tư cách đảng viên.
5.2.3. Đảng viên được kết
nạp trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (ngày 05/9/1960) và
trước ngày 30/4/1975 (ở các địa phương từ phía Nam sông Bến Hải trở vào) mà lúc kết
nạp vào Đảng chưa đủ 18 tuổi thì ngày vào Đảng được giữ nguyên.
5.2.4. Đảng viên được kết
nạp vào Đảng trong kháng chiến chống Pháp từ tháng 7/1954 trở về trước và đảng
viên được kết nạp trong kháng chiến chống Mỹ ở các địa phương từ phía Nam sông Bến Hải trở vào (từ tháng
7/1954 đến tháng 12/1973) nếu chỉ có một người giới thiệu vào Đảng thì vẫn được
công nhận đảng tịch.
5.2.5. Những đồng chí trước
đây đã vào Việt Minh hay một tổ chức quần chúng cách mạng hoạt động bí mật (từ
tháng 02/1951 trở về trước), sau đó được tham gia sinh hoạt chi bộ, thì lấy ngày sinh hoạt chi bộ là
ngày kết nạp vào Đảng.
5.2.6. Những đồng chí hoạt
động trong kháng chiến chống Pháp (từ tháng 7/1954 trở về trước) và trong kháng
chiến chống Mỹ (từ tháng 7/1954 đến ngày 30/4/1975) từ phía Nam sông Bến Hải trở vào, chưa được kết nạp
vào Đảng nhưng đã được tổ chức đảng giao nhiệm vụ của người đảng viên như làm
công tác tuyên truyền phát triển đảng viên hoặc tham gia việc thành lập chi bộ
thì lấy ngày chi bộ giao nhiệm vụ làm công tác tuyên truyền phát triển đảng
viên hoặc ngày tham gia lập chi bộ là ngày kết nạp vào Đảng. Đối với trường hợp
chỉ là quần
chúng cảm tình đảng, được tổ chức đảng giao một số việc để thử thách (như giao liên
hoặc theo dõi tình hình địch...), chưa được kết nạp vào Đảng, nhưng ngộ nhận
mình đã vào Đảng, sau đó được tổ chức đảng cho sinh hoạt, được rèn luyện thử
thách, xét có đủ tư cách đảng viên thì được công nhận là đảng viên từ ngày tham
gia sinh hoạt đảng.
5.2.7. Những đảng viên có
nghi vấn không được tổ chức đảng kết nạp vào Đảng thì phải xem xét kỹ, sau khi
thẩm tra thấy
có đủ căn cứ kết luận là đã được tổ chức kết nạp vào Đảng theo quy định của Điều
lệ Đảng hoặc đúng với quy định tại những điểm nêu trên và từ đó đến nay vẫn
tham gia sinh hoạt đảng, giữ gìn được tư cách đảng viên thì cấp ủy có thẩm quyền
công nhận là đảng viên. Nếu đủ căn cứ kết luận người đó mạo nhận là đảng viên
thì cấp ủy có thẩm quyền quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên.
5.2.8. Những đảng viên
không tham gia sinh hoạt đảng do gián đoạn sinh hoạt đảng, sau khi đã thẩm tra
thấy có đủ căn cứ và chứng lý rõ ràng, nếu nội dung vi phạm là do chính bản
thân gây ra thì không nối lại sinh hoạt đảng và thông báo xoá tên trong danh
sách đảng viên; nếu nội dung vi phạm không phải do chính bản thân gây ra và được
chi bộ, cấp ủy cơ sở nơi công tác hoặc nơi cư trú xác nhận vẫn thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, giữ gìn được phẩm chất đạo
đức trong thời gian không tham gia sinh hoạt đảng thì được xét nối lại sinh hoạt
đảng.
6.
Điều 6: Phát thẻ và quản lý thẻ đảng
viên, quản lý hồ sơ đảng viên và thủ tục chuyển sinh hoạt đảng
6.1. Phát thẻ và quản lý,
sử dụng thẻ đảng viên.
6.1.1. Thẻ đảng viên được
phát cho đảng viên chính thức, chi bộ tổ chức phát thẻ cho đảng viên trong kỳ
sinh hoạt chi bộ gần nhất, sau khi có quyết định của cấp có thẩm quyền.
6.1.2. Đảng viên được nhận
thẻ đảng viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ,
khi mất hoặc hỏng thẻ phải báo cáo ngay bằng văn bản với cấp ủy, chi bộ quản lý
trực tiếp, nêu rõ lý do mất hoặc hỏng thẻ để xem xét, đề nghị cấp lại hoặc đổi
thẻ đảng viên.
6.1.3. Cấp ủy cấp trên trực
tiếp của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền hoặc thí điểm giao quyền cấp
trên cơ sở hoặc đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định kết nạp, khai trừ đảng
viên xem xét, ban hành quyết định phát thẻ đảng viên và quản lý sổ phát thẻ đảng
viên.
6.1.4. Các tỉnh ủy, thành ủy,
đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo và kiểm tra việc phát, quản lý thẻ đảng
viên; xem xét, ban hành quyết định phát thẻ đảng viên và quản lý sổ phát thẻ đảng
viên đối với tổ chức cơ sở đảng trực thuộc.
6.1.5. Ban Tổ chức Trung
ương giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định, phê duyệt, phát hành, quản
lý thống nhất thẻ đảng viên trong toàn Đảng.
6.1.6. Sử dụng thẻ đảng
viên: Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong
đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện
các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường số theo quy định.
6.2. Quản lý hồ sơ đảng
viên, cơ sở dữ liệu đảng viên.
6.2.1. Cấp ủy cơ sở quản
lý hồ sơ đảng viên, phiếu đảng viên và danh sách đảng viên, cấp ủy cơ sở nào
không có điều kiện quản lý và bảo quản hồ sơ đảng viên thì cấp ủy cấp trên trực
tiếp quản lý, bảo quản.
6.2.2. Cấp ủy cấp trên trực
tiếp của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền, thí điểm giao quyền cấp
trên cơ sở quản lý phiếu đảng viên và danh sách đảng viên, cơ sở dữ liệu đảng
viên của đảng bộ, chi bộ trực thuộc; quản lý hồ sơ đảng viên và danh sách đảng
viên đối với đảng viên đi lao động ở nước ngoài. Đảng ủy xã, phường, đặc khu quản
lý hồ sơ đảng viên sinh hoạt tại chi bộ thôn, tổ dân phố.
Đảng ủy Bộ Ngoại giao quản
lý hồ sơ đảng viên, thẻ đảng viên và danh sách đảng viên trong Đảng bộ theo quy
định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Cấp ủy quản lý hồ sơ đảng
viên thực hiện số hoá và quản lý hồ sơ điện tử của đảng viên; việc cập nhật, quản
lý, vận hành, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu đảng viên theo quy định của
Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
6.2.3. Hằng năm, các cấp ủy
chỉ đạo, kiểm tra việc bổ sung lý lịch đảng viên và quản lý hồ sơ đảng viên. Đối
với đảng viên ra nước ngoài công tác, lao động, học tập từ 12 tháng trở lên, cấp
ủy quản lý hồ sơ đảng viên hướng dẫn bổ sung lý lịch khi đảng viên về nước.
6.2.4. Các tài liệu trong
hồ sơ đảng viên không được tẩy xoá, tự ý sửa chữa; việc xác định mức độ mật của
từng loại tài liệu trong hồ sơ đảng viên thực hiện theo quy định của Ban Bí
thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và các quy định của pháp luật về bảo
vệ bí mật nhà nước. Tổ chức đảng phải quản lý chặt chẽ hồ sơ đảng viên theo quy
định của Ban Bí thư và các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
6.2.5. Ban Tổ chức Trung
ương giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm ha việc quản lý hồ sơ đảng viên, cơ sở dữ
liệu đảng viên trong toàn Đảng.
6.3. Chuyển sinh hoạt đảng.
Việc chuyển sinh hoạt đảng
trên môi trường số thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
6.3.1. Chuyển sinh hoạt đảng
chính thức.
a) Đảng viên được cấp có thẩm
quyền quyết định chuyển công tác sang đơn vị mới, được nghỉ hưu, nghỉ mất sức,
thôi việc, phục viên hoặc thay đổi nơi cư trú lâu dài thì trong thời hạn 60
ngày làm việc kể từ ngày quyết định có hiệu lực hoặc thay đổi nơi cư trú phải
hoàn thành thủ tục chuyển sinh hoạt đảng chính thức.
Đảng viên ở đảng bộ khác
được cấp ủy cấp trên điều động, chỉ định tham gia cấp ủy và giữ chức vụ cấp ủy
viên, ủy viên ban thường vụ, phó bí thư, bí thư cấp ủy, chủ nhiệm Ủy ban kiểm
tra thì chuyển sinh hoạt đảng từ ngày quyết định điều động, chỉ định có hiệu lực.
b) Đảng viên chuyển sinh
hoạt đảng chính thức ra ngoài đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng,
cấp tỉnh (và tương đương) thì cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng
(và tương đương) có đảng viên chuyển đi có trách nhiệm làm thủ tục giới thiệu
chuyển sinh hoạt đảng. Đảng viên của đảng bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc tỉnh ủy
(và tương đương) khi chuyển sinh hoạt đảng chính thức thì ban tổ chức tỉnh ủy
(và tương đương) làm thủ tục giới thiệu chuyển sinh hoạt đảng.
c) Trong vòng 30 ngày làm
việc kể từ ngày cấp có thẩm quyền ký giấy giới thiệu chuyển đi, đảng viên phải
xuất trình giấy giới thiệu sinh hoạt đảng với chi ủy nơi chuyển đến để được
sinh hoạt đảng. Nếu quá thời hạn trên, đảng viên hoặc tổ chức đảng phải báo cáo
lý do cụ thể để cấp ủy có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
d) Khi chuyển sinh hoạt đảng
chính thức cho đảng viên, cấp ủy nơi đảng viên đang sinh hoạt và công tác làm đầy
đủ thủ tục, niêm phong hồ sơ, giao cho đảng viên trực tiếp mang theo để báo cáo
với tổ chức đảng làm thủ tục giới thiệu và tiếp nhận sinh hoạt đảng theo hướng
dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
đ) Trường hợp đảng viên
đang bị thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc đang bị xem xét, giải
quyết khiếu nại, tố cáo thì chưa chuyển sinh hoạt đảng chính thức.
6.3.2. Chuyển sinh hoạt đảng
tạm thời.
a) Khi đảng viên thay đổi
nơi cư trú, nơi công tác trong thời gian từ 3 tháng đến dưới 1 năm; khi được cử
đi học tập trung ở các cơ sở đào tạo trong nước từ 3 tháng đến 2 năm, sau đó lại
trở về đơn vị cũ thì trong thời hạn 30 ngày làm việc phải hoàn thành thủ tục giới
thiệu sinh hoạt đảng tạm thời từ đảng bộ, chi bộ nơi đảng viên đang sinh hoạt đảng
chính thức đến đảng bộ, chi bộ nơi công tác, học tập hoặc nơi cư trú mới. Trường
hợp đặc biệt do Ban Bí thư quy định.
b) Đảng viên sinh hoạt đảng
tạm thời có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Ở nơi sinh hoạt chính thức
thì thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền theo quy định tại Điều 2
và Điều 3 Điều lệ Đảng; ở nơi sinh hoạt tạm thời thì trừ quyền biểu quyết, ứng
cử và bầu cử.
- Nếu cần kéo dài thời hạn
sinh hoạt đảng tạm thời thì đảng viên phải báo cáo với cấp ủy đảng nơi đảng
viên đang sinh hoạt tạm thời để xin gia hạn, đồng thời báo cáo với tổ chức đảng
nơi sinh hoạt chính thức.
c) Đảng viên sinh hoạt đảng
tạm thời không tính vào đảng số của đảng bộ nơi sinh hoạt tạm thời mà tính vào
đảng số của đảng bộ nơi sinh hoạt chính thức; đóng đảng phí ở chi bộ nơi sinh
hoạt đảng tạm thời.
Cấp ủy viên khi chuyển
sinh hoạt tạm thời thì vẫn là cấp ủy viên nơi sinh hoạt chính thức.
d) Nếu có từ 3 đảng viên
chính thức trở lên chuyển đến sinh hoạt đảng tạm thời để học theo lớp, theo
khoá ở cơ sở đào tạo hoặc đến công tác biệt phái trong một đơn vị trực thuộc
đơn vị cơ sở, thì đảng ủy nơi tiếp nhận đảng viên ban hành quyết định thành lập
chi bộ sinh hoạt tạm thời và chỉ định chi ủy, bí thư, phó bí thư của chi bộ đó.
Nhiệm vụ của chi bộ sinh
hoạt tạm thời là lãnh đạo đảng viên trong chi bộ thực hiện nghị quyết của cấp ủy
cấp trên, quản lý đảng viên, thu nộp đảng phí và thực hiện một số nhiệm vụ cụ
thể do cấp ủy cấp trên giao.
6.3.3. Chuyển sinh hoạt đảng
ra ngoài nước.
Việc quản lý, chuyển sinh
hoạt đảng, tổ chức sinh hoạt đảng cho đảng viên ở ngoài nước thực hiện theo quy
định của Ban Bí thư và một số quy định sau đây:
a) Đảng viên dự bị sinh hoạt
đơn lẻ ở ngoài nước, khi hết thời hạn dự bị phải làm bản tự kiểm điểm về tư
cách đảng viên và việc thực hiện nhiệm vụ được giao trong thời gian sinh hoạt
đơn lẻ; cấp ủy trực tiếp quản lý đảng viên ở ngoài nước căn cứ vào nhận xét, đánh giá của cấp ủy nơi đi
và kiểm điểm của đảng viên để xét công nhận đảng viên chính thức.
b) Đối với những địa bàn ở
ngoài nước có hoàn cảnh đặc biệt, không đủ 3 đảng viên chính thức để lập chi bộ
thì có thể được thành lập chi bộ sinh hoạt dự bị (gồm 3 đảng viên trở lên, kể cả
đảng viên chính thức và dự bị), cấp ủy cấp trên chỉ định bí thư chi bộ.
c) Chức năng, nhiệm vụ của
các loại hình chi bộ và nhiệm vụ của đảng viên ở ngoài nước thực hiện theo quy
định của Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
6.3.4. Chuyển sinh hoạt đảng
khi chuyển giao, thành lập mới, chia tách, sáp nhập chi bộ, đảng bộ.
Khi cấp có thẩm quyền quyết
định chuyển giao, thành lập mới, chia tách hay sáp nhập một chi bộ, đảng bộ từ đảng bộ này sang đảng bộ khác
trong hoặc ngoài đảng bộ tỉnh (và tương đương) thì cấp ủy cấp trên trực tiếp
nơi có chi bộ, đảng bộ được chuyển đi có trách nhiệm làm thủ tục chuyển giao tổ
chức và chuyển sinh hoạt đảng tập thể cho đảng viên; cấp ủy cấp trên trực tiếp
nơi có chi bộ, đảng bộ được chuyển đến có trách nhiệm làm thủ tục tiếp nhận tổ chức và sinh hoạt đảng cho đảng
viên. Trường hợp chuyển giao đảng bộ, chi bộ từ đảng bộ tỉnh, thành phố sang đảng
bộ trực thuộc Trung ương (trừ Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an Trung ương) thực
hiện theo hướng dẫn của Ban Bí thư.
6.3.5. Chuyển sinh hoạt đảng
khi tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán, bị giải thể.
Sau khi cấp ủy có thẩm quyền
quyết định kỷ luật giải tán hoặc giải thể một chi bộ, đảng bộ thì trong thời hạn 30 ngày làm
việc cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó thu hồi hồ sơ, con dấu và
làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên.
6.3.6. Trách nhiệm giới
thiệu sinh hoạt đảng.
a) Cấp ủy đảng các cấp có
trách nhiệm giới thiệu sinh hoạt đảng cho tổ chức đảng và đảng viên; các cơ
quan sau đây được cấp ủy ủy nhiệm chuyển sinh hoạt đảng:
Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng
ủy trực thuộc Trung ương ủy nhiệm cho ban tổ chức của cấp mình; các cấp ủy cấp
trên của tổ chức cơ sở đảng thuộc Quân ủy Trung ương được ủy nhiệm cho cơ quan
chính trị cùng cấp; Đảng ủy Công an Trung ương được ủy nhiệm cho Cục Tổ chức
cán bộ trong việc giới thiệu sinh hoạt đảng.
b) Ban Tổ chức Trung ương
giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm tra việc giới thiệu sinh hoạt đảng trong toàn Đảng;
giới thiệu đảng viên và tổ chức đảng sinh hoạt đảng trong những trường hợp đặc
biệt.
7.
Điều 7: Đảng viên xin miễn công tác
và sinh hoạt đảng
7.1. Đảng viên tuổi cao, sức
khoẻ yếu không thể tham gia sinh hoạt đảng được, tự làm đơn hoặc trực tiếp báo cáo với
chi bộ xin giảm, miễn công tác và sinh hoạt đảng, chi bộ xem xét, quyết định;
chi ủy hoặc bí thư chi bộ báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp biết về quyết định
của chi bộ. Trường hợp sức khoẻ quá yếu không thể tự làm đơn hoặc trực tiếp báo
cáo với chi bộ thì chi bộ báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp trước khi xem xét,
quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
7.2. Đảng viên được miễn
công tác và sinh hoạt đảng có quyền hạn và trách nhiệm sau:
7.2.1. Được dự đại hội đảng
viên; được cung cấp thông tin theo quy định tại Mục 2.1 nếu
đảng viên đó yêu cầu.
7.2.2. Được xét tặng Huy
hiệu Đảng khi có đủ tiêu chuẩn.
7.2.3. Được miễn đánh giá
chất lượng đảng viên trong thời gian được miễn công tác và sinh hoạt đảng.
7.2.4. Bản thân phải gương
mẫu và vận động gia đình chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước và các quy định của địa phương, nếu vi phạm kỷ luật đảng thì xử lý kỷ
luật như đối với đảng viên đang sinh hoạt theo quy định của Điều lệ Đảng.
8.
Điều 8: Xoá tên đảng viên và giải quyết
khiếu nại về xoá tên đảng viên
8.1.
Xoá tên đảng viên.
Chi bộ xem xét, đề nghị cấp
ủy có thẩm quyền quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên đối với các trường
hợp sau: Đảng viên bỏ sinh hoạt đảng hoặc không đóng đảng phí ba tháng trong
năm mà không có lý do chính đáng; đảng viên tự ý trả thẻ đảng viên hoặc tự hủy
thẻ đảng viên; đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không thực hiện nhiệm vụ đảng
viên, đã được chi bộ giáo dục nhưng sau thời gian 12 tháng phấn đấu không tiến
bộ; đảng viên hai năm liền vi phạm tư cách đảng viên; đảng viên không bảo đảm
tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Chính trị.
8.2.
Giải quyết khiếu nại về xoá tên đảng viên.
8.2.1. Trong thời hạn 30
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định xoá tên, đảng viên có quyền khiếu
nại với cấp ủy cấp trên cho đến Ban Bí thư Trung ương Đảng.
8.2.2. Cơ quan tham mưu về
công tác tổ chức của cấp ủy có trách nhiệm tham mưu giúp cấp ủy giải quyết khiếu
nại. Thời hạn hoàn thành giải quyết khiếu nại được quy định như sau: Không quá
60 ngày làm việc đối với cấp ủy cấp tỉnh, cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng và
tương đương; không quá 90 ngày làm việc đối với cấp Trung ương, kể từ ngày nhận
được khiếu nại.
8.2.3. Không giải quyết những
trường hợp khiếu nại sau đây: Quá thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày đảng
viên nhận được quyết định xoá tên; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét,
kết luận; cá nhân hoặc tập thể khiếu nại hộ; khiếu nại khi chưa có quyết định
xoá tên của cấp ủy đảng có thẩm quyền.
8.2.4. Việc giải quyết khiếu
nại về xoá tên đối với đảng viên ở ngoài nước có quy định riêng.
9.
Điều 9: Một số quy định về thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ
9.1. Về quy chế làm việc của
cấp ủy.
9.1.1. Bộ Chính trị ban
hành quy chế làm việc mẫu của các đảng ủy trực thuộc Trung ương (không bao gồm
Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương). Ban Bí thư ban hành quy chế
làm việc mẫu của tỉnh ủy, thành ủy, của cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức
cơ sở đảng, cấp ủy trực thuộc Trung ương (không bao gồm Quân ủy Trung ương, Đảng
ủy Công an Trung
ương) ban hành quy chế làm việc mẫu của đảng ủy cơ sở và chi bộ theo hướng dẫn
của Ban Tổ chức Trung ương.
9.1.2. Căn cứ vào Điều lệ
Đảng, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
mối quan hệ công tác của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chuyên trách tham mưu,
giúp việc của cấp ủy, quy chế làm việc mẫu và quy chế làm việc của cấp ủy cấp
trên, các cấp ủy đảng, đảng ủy bộ phận, chi bộ, Ủy ban kiểm tra, cơ quan tham
mưu, giúp việc của cấp ủy phải xây dựng, ban hành quy chế làm việc bảo đảm các
nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đúng
trách nhiệm, quyền hạn được giao. Tổ chức đảng có trách nhiệm báo cáo với tổ chức
đảng cấp trên và thông báo cho tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp biết quy chế làm
việc của tổ chức mình.
9.1.3. Khi xét thấy cần
thiết, cấp ủy cấp trên ban hành quy chế phối hợp hoạt động, công tác của các cấp
ủy hoặc tổ chức đảng cấp dưới có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp.
9.1.4. Ban tổ chức cấp ủy
hoặc ban xây dựng Đảng cấp trên có trách nhiệm hướng dẫn cấp ủy và tổ chức đảng
cấp dưới xây dựng quy chế làm việc.
9.2.
(Khoản 3): về thực hiện nguyên tắc
tự phê bình và phê bình.
9.2.1. Hằng năm, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư, ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng
và tương đương trở lên, ban thường vụ cấp ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ
sở, thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở, cấp ủy cấp cơ sở, đảng ủy bộ phận, chi bộ, Ủy ban kiểm tra phải tự
phê bình và phê bình tập thể, cá nhân, kiểm điểm trách nhiệm nêu gương của cán
bộ, đảng viên; có kế hoạch, biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết
điểm.
9.2.2. Cuối nhiệm kỳ đại hội,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy, ban thường
vụ cấp ủy, chi bộ, Ủy ban kiểm tra, cấp ủy viên các cấp, chi ủy viên, ủy viên Ủy
ban kiểm tra, tập thể lãnh đạo cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng và của cấp ủy các cấp phải tiến hành tự phê bình và
phê bình gắn với kiểm điểm đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội.
Việc kiểm điểm thực hiện
theo quy định của Bộ Chính trị và bảo đảm yêu cầu sau:
- Báo cáo kiểm điểm của cấp
ủy phải lấy ý kiến đóng góp của cấp ủy cấp dưới trực tiếp và của tập thể lãnh đạo
các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp, phải
có ý kiến của cấp ủy cấp trên trực tiếp.
- Báo cáo kiểm điểm của ủy
ban kiểm tra và tập thể lãnh đạo ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị - xã hội phải lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan chuyên môn và của cấp
ủy cùng cấp.
- Cấp ủy cấp trên gợi ý
cho cá nhân và tập thể cấp ủy của cơ quan, tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp những
nội dung cần làm rõ khi kiểm điểm, tự phê bình và phê bình:
+ Đối với cá nhân cấp ủy
viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy, chi ủy viên, ủy viên Ủy ban kiểm tra kiểm
điểm về trách nhiệm chính trị, mức độ phấn đấu hoàn thành công việc được giao
và những vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm cá nhân; về giữ gìn phẩm chất
cá nhân (tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chấp hành nguyên tắc tập trung
dân chủ, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu) và thực hiện các quy
định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
+ Đối với tập thể cấp ủy,
ban thường vụ cấp ủy, chi bộ, Ủy ban kiểm tra của cấp ủy phải kiểm điểm về việc
chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn, kết luận của Đảng, của cấp ủy
cấp trên; việc đề ra và kết quả tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định,
hướng dẫn, kết luận của cấp mình; về xây dựng và thực hiện quy chế làm việc; về
xây dựng nội bộ đoàn kết, trong sạch, vững mạnh; về quản lý tài chính ngân
sách, quản lý đất đai... và các lĩnh vực có liên quan; về lãnh đạo, chỉ đạo và
tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và giải quyết khiếu nại, tố cáo, về
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
+ Thường trực cấp ủy cấp
trên có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, chọn lọc các vấn đề để đưa xuống các tổ
chức đảng, cấp ủy cấp dưới gợi ý cho tập thể và cá nhân tự phê bình và phê bình.
- Tổ chức lấy ý kiến đóng góp
của Mặt trận Tổ quốc, ban chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội, hội đồng
nhân dân cùng cấp, phát huy vai trò giám sát, góp ý kiến xây dựng Đảng của Nhân
dân.
9.3.
(Khoản 5): Quy định "Nghị quyết
của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số
thành viên trong cơ quan đó tán thành" được cụ thể hoá như sau:
9.3.1. Số thành viên của đại
hội đại biểu là tổng số đại biểu chính thức được triệu tập có đủ tư cách dự đại
hội (trừ số cấp ủy viên cấp triệu tập đại hội vắng mặt suốt thời gian đại hội,
đại biểu chính thức vắng mặt suốt thời gian đại hội không có đại biểu dự khuyết
thay thế).
9.3.2. Số thành viên của đại
hội đảng viên, hội nghị đảng viên là tổng số đảng viên chính thức trong đảng bộ,
chi bộ được triệu tập (trừ số đảng viên đã được giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở
đảng bộ khác và đảng viên đã được miễn công tác và sinh hoạt đảng không có mặt ở
đại hội (nếu đảng viên đó có mặt ở đại hội, hội nghị đảng viên, tham gia bầu cử,
biểu quyết thì vẫn tính), số đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị khởi tố,
truy tố, tạm giam, đảng viên chính thức vắng mặt suốt thời gian đại hội có lý
do chính đáng được cấp ủy triệu tập đại hội đồng ý).
9.3.3. Số thành viên của hội
nghị ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra là tổng số ủy
viên đương nhiệm của ban chấp hành đảng bộ, ủy viên ban thường vụ cấp ủy, ủy
viên ủy ban kiểm
tra đương nhiệm (trừ số thành viên đã chuyển sinh hoạt đảng tạm thời không có mặt
tại hội nghị, số thành viên đang bị đình chỉ sinh hoạt, bị khởi tố, truy tố, tạm
giam).
9.3.4. Trường hợp kết nạp
đảng viên, công nhận đảng viên chính thức, xoá tên đảng viên, khai trừ đảng
viên thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí
đề nghị và được cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của
trên một nửa số thành viên.
9.3.5. Trường hợp giải tán
tổ chức đảng thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên cấp ủy cấp trên trực
tiếp đề nghị, cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định với sự đồng ý của trên một
nửa số thành viên.
10.
Điều 10, Điều 13, Điều 21, Điều 42, Điều 43:
Về hệ thống tổ chức của Đảng
10.1.
(Khoản 1, Điều 10): Hệ thống tổ
chức của Đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.
Hệ thống tổ chức của Đảng
được tổ chức theo đơn vị hành chính cấp xã (gồm: Xã, phường, đặc khu); cấp tỉnh,
thành phố và cấp Trung ương. Đây là hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng có chức
năng lãnh đạo toàn diện ở mỗi cấp và của toàn Đảng.
10.2.
(Khoản 2, Điều 21): Thí điểm tổ
chức các đảng bộ xã, phường trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy là đảng bộ cấp trên trực
tiếp của tổ chức cơ sở đảng, cấp ủy tỉnh, thành phố quyết định tổ chức đảng ở đặc
khu là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng hoặc là tổ chức cơ sở đảng sau
khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương.
10.3.
(Khoản 2, Điều 10): Tổ chức đảng
trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam theo quy định của
Bộ Chính trị.
10.4.
(Khoản 2, Điều 10); (Khoản 5, Điều 13); (Khoản 3, 4, 5, Điều
21); (Khoản 1, Điều 42); (Khoản 1, Điều 43): Việc lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm riêng.
10.4.1. Tổ chức đảng ở những
nơi có đặc điểm riêng là tổ chức đảng không thuộc hệ thống hành chính quy định
tại Tiểu mục 10.1 do cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định
thành lập theo quy định của Trung ương.
10.4.2. Việc thành lập tổ
chức đảng trong cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị
- xã hội
a) Ở cấp Trung ương: Thành
lập Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương; Đảng bộ Quốc hội; Đảng bộ Chính phủ; Đảng
bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương trực thuộc Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
Bộ Chính trị quyết định
thành lập và quyết định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các Đảng bộ:
Các cơ quan Đảng Trung ương; Quốc hội; Chính phủ; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
Trung ương trực thuộc Trung ương. Ban Tổ chức Trung ương giúp Bộ Chính trị, Ban
Bí thư quản lý về hoạt động, hướng dẫn về tổ chức và biên chế cơ quan chuyên
trách tham mưu, giúp việc của các đảng ủy trực thuộc Trung ương.
Các đảng bộ trực thuộc
Trung ương bao gồm các tổ chức đảng ở các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, đơn vị,
doanh nghiệp tương ứng về các lĩnh vực công tác và nhiệm vụ chính trị, theo quyết
định của Bộ Chính trị. Đảng ủy trực thuộc Trung ương quyết định thành lập các tổ
chức đảng trực thuộc. Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội quyết định thành lập, quyết
định chức năng, nhiệm vụ và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của tổ đảng ở
đoàn đại biểu Quốc hội (hoạt động tại các kỳ họp của Quốc hội).
b) Ở các tỉnh, thành phố
(gọi chung là cấp tỉnh):
Thành lập đảng bộ các cơ
quan Đảng tỉnh, thành phố và đảng bộ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
cấp ủy cấp tỉnh.
Cấp ủy cấp tỉnh quyết định
thành lập; ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quyết định chức năng, nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy của đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố và đảng ủy Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ban Tổ chức
Trung ương hướng dẫn về tổ chức và biên chế cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của đảng
ủy các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố và đảng ủy ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.
Đảng bộ các cơ quan Đảng tỉnh,
thành phố và đảng bộ ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố bao gồm các tổ chức đảng ở các
cơ quan, tổ chức, sở, ngành, đơn vị, doanh nghiệp tương ứng về các lĩnh vực
công tác và nhiệm vụ chính trị, theo quy định, hướng dẫn của Trung ương. Đảng ủy
các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố và đảng ủy ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định thành lập các tổ chức
đảng trực thuộc.
Thí điểm lập đảng bộ khối
doanh nghiệp ngoài nhà nước cấp cơ sở ở xã, phường, đặc khu theo quy định của
Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
10.4.3 Các tổ chức cơ sở đảng
lớn (có đông đảng viên, có nhiều chi bộ trực thuộc), có vị trí quan trọng (về một
trong các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng)
có thể đặt trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
10.4.4. Điều kiện để lập đảng
bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng:
a) Cấp trên trực tiếp của
đảng bộ được thành lập là tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.
b) Có những đơn vị thành
viên là tổ chức có tư cách pháp nhân.
c) Có các tổ chức cơ sở đảng
trực thuộc.
d) Đảng bộ có từ 500 đảng
viên trở lên.
Việc thành lập đảng bộ cấp
trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng khác với quy định
tại Tiết b, Điểm 10.4.2 và thành lập đảng bộ cơ sở trực thuộc
tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương quy định tại Điểm
10.4.3 do cấp ủy trực thuộc Trung ương quyết định sau khi được sự đồng ý của
Ban Bí thư. Sau khi thành lập đảng bộ cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng ở
những nơi có đặc điểm riêng khác với quy định tại Tiết b, Điểm
10.4.2, nếu đảng bộ không đủ điều kiện theo quy định thì cấp ủy có thẩm quyền
xem xét, thu hồi quyết định thành lập đảng bộ cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở
đảng.
10.5.
(Khoản 3, Điều 10): Việc giải thể
đảng bộ, chi bộ.
10.5.1. Chỉ giải thể một đảng
bộ, chi bộ khi đảng bộ, chi bộ đó đã làm xong nhiệm vụ hoặc không còn phù hợp về
mặt tổ chức.
10.5.2. Cấp ủy nào có thẩm
quyền quyết định thành lập thì cấp ủy đó có thẩm quyền ban hành quyết định giải
thể và báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp.
10.6. Điều kiện để đảng ủy
cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở.
10.6.1. Chỉ giao quyền cấp
trên cơ sở cho các đảng ủy cơ sở ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn
vị lực lượng vũ trang mà cấp trên trực tiếp là tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực
thuộc Trung ương khi có đủ các điều kiện sau đây: Có vị trí quan trọng về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; có nhiều đơn vị thành viên
là tổ chức cơ sở trong cùng một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; có số lượng từ
400 đảng viên trở lên; (đối với đảng bộ trong các ban, bộ, cơ quan, đoàn thể
chính trị - xã hội ở Trung ương, đảng bộ trực thuộc cấp ủy tỉnh, thành phố cũng
phải có ít nhất từ 200 đảng viên trở lên; trường hợp đặc biệt do Ban Bí thư xem
xét, quyết định). Đối với Đảng bộ Công an Trung ương thực hiện theo quy định của
Bộ Chính trị.
10.6.2. Sau khi thống nhất
với Ban Tổ chức Trung ương, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương
quyết định việc giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở. Căn cứ tình hình cụ
thể, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương có thể giao thêm cho
đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở một số quyền sau:
a) Được lập các cơ quan
chuyên trách tham mưu, giúp việc: Ban xây dựng Đảng, cơ quan ủy ban kiểm tra, văn phòng đảng
ủy.
b) Ban thường vụ đảng ủy
được quyết định công tác cán bộ theo quy định, kết nạp, khai trừ đảng viên,
khen thưởng tổ chức đảng và đảng viên, phát thẻ đảng viên, chuyển sinh hoạt cho
tổ chức đảng và đảng viên trực tiếp đến các đảng bộ cấp trên cơ sở.
c) Được quản lý hồ sơ, dữ
liệu đảng viên.
d) Ban thường vụ đảng ủy mỗi
tháng họp một lần, đảng ủy họp thường lệ 3 tháng một lần, họp bất thường khi cần.
10.6.3. Việc thí điểm giao
quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở mà cấp trên trực tiếp không phải là tỉnh
ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở
cho đảng ủy của đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy xã, phường, đặc khu; cho đảng ủy
của đảng bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy doanh nghiệp nhà nước mà trước đây là đảng
bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng khi có đủ điều kiện thực hiện theo
quy định của Ban Bí thư và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
10.6.4. Sau khi giao quyền,
thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở, cấp ủy cấp trên trực tiếp
phải thường xuyên kiểm tra, giám sát nếu thấy đảng ủy cơ sở được giao quyền,
thí điểm giao quyền không thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, không đủ điều kiện
theo quy định thì cấp ủy có thẩm quyền xem xét, thu hồi quyết định đã giao quyền,
thí điểm giao quyền.
11.
Điều 11: Nhiệm vụ của cấp ủy triệu tập
đại hội; số lượng, phân bổ đại biểu; bầu và chỉ định đại biểu dự đại hội đảng bộ
các cấp
11.1.
(Khoản 1): Nhiệm vụ của cấp ủy
triệu tập đại hội:
11.1.1. Chuẩn bị dự thảo
các báo cáo, các vấn đề về nhân sự đại biểu, đề án nhân sự cấp ủy, Ủy ban kiểm
tra và kế hoạch tổ chức đại hội.
11.1.2. Tiếp nhận đơn ứng cử vào cấp ủy của đảng
viên chính thức không phải là đại biểu chính thức của đại hội theo quy định của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
11.1.3. Quyết định và
thông báo thời gian khai mạc đại hội trước 30 ngày làm việc, đối với những đảng
bộ thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì quyết định và thông báo thời
gian khai mạc đại hội trước 15 ngày làm việc; thông báo số lượng đại biểu và
phân bổ đại biểu cho các đảng bộ trực thuộc; chỉ đạo việc bầu cử đại biểu bảo đảm
đúng nguyên tắc, thủ tục quy định.
11.1.4. Cung cấp tài liệu
cho ban thẩm tra tư cách đại biểu về tình hình, kết quả bầu cử đại biểu và những
vấn đề có liên quan đến tư cách đại biểu.
11.1.5. Cung cấp tài liệu
cho đoàn chủ tịch đại hội để trả lời các vấn đề do đại biểu đại hội yêu cầu.
11.1.6. Chỉ đạo các mặt
công tác thường xuyên của đảng bộ cho đến khi bầu được cấp ủy mới.
11.1.7. Chuẩn bị tài liệu
cho cấp ủy khoá mới để bầu các chức danh lãnh đạo của cấp ủy trong phiên họp thứ
nhất.
11.2.
(Khoản 2): Về số lượng đại biểu
và phân bổ đại biểu dự đại hội đại biểu đảng bộ các cấp.
11.2.1. Số lượng đại biểu
Đại hội toàn quốc của Đảng do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định.
11.2.2. Số lượng đại biểu
dự đại hội đảng bộ các cấp do cấp ủy cấp triệu tập đại hội quyết định theo chỉ
thị của Bộ Chính trị trước khi tiến hành đại hội. Cấp ủy triệu tập đại hội phân
bổ số lượng đại biểu cho các tổ chức đảng trực thuộc căn cứ vào số lượng đảng
viên, số lượng tổ chức đảng trực thuộc, vị trí quan trọng của từng đảng bộ.
11.2.3. Đại biểu dự đại hội
đại biểu đảng bộ các cấp gồm các ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập đại hội
đang sinh hoạt tại đảng bộ, các đại biểu do đại hội đảng bộ, chi bộ trực thuộc
bầu và đại biểu được chỉ định theo quy định tại Khoản 3, Khoản
4, Điều 11 Điều lệ Đảng.
11.3.
(Khoản 4): Chỉ định đại biểu dự đại
hội đại biểu đảng bộ các cấp.
11.3.1. Các đảng bộ, chi bộ
đang hoạt động ở ngoài nước; đảng bộ, chi bộ có đa số đảng viên hoạt động phân
tán, đang làm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, hoặc vì thiên tai... không tổ chức đại hội được,
nếu cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý thì cấp ủy triệu tập đại hội được chỉ định
một số đại biểu ở các đảng bộ, chi bộ đó phù hợp với tính chất, đặc điểm, số lượng
đảng viên ở các đơn vị đó; đối với các đảng bộ thành lập mới, hợp nhất, sáp nhập
theo chủ trương của Trung ương thì được chỉ định đại biểu dự đại hội đại biểu đảng
bộ theo quy định của Bộ Chính trị.
11.3.2. Số lượng đại biểu
được chỉ định nằm trong tổng số đại biểu được triệu tập.
11.4.
(Khoản 5): Việc đề cử và bầu đại
biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên.
11.4.1. Chỉ được đề cử đại
biểu chính thức của đại hội để bầu, chỉ định làm đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp
trên. Khi bầu đại biểu dự đại hội đại biểu đảng bộ cấp trên, danh sách bầu cử lập
một danh sách chung; bầu đại biểu chính thức trước, số còn lại bầu đại biểu dự
khuyết. Trường hợp bầu đại biểu chính thức đã lấy đủ số lượng mà vẫn còn một số
đại biểu được số phiếu trên một nửa so với tổng số đại biểu hoặc tổng số đảng
viên được triệu tập, thì đại biểu dự khuyết lấy trong số các đồng chí đó theo số
phiếu bầu từ cao đến thấp. Nếu vẫn chưa bầu đủ số lượng đại biểu dự khuyết theo
quy định, có bầu nữa hay không là do đại hội quyết định.
Danh sách bầu cử lần sau
có giới thiệu bổ sung đại biểu ngoài danh sách bầu cử lần thứ nhất hay không là
do đại hội quyết định.
11.4.2. Việc chuyển đại biểu
dự khuyết thành đại biểu chính thức do ban thường vụ cấp ủy cấp triệu tập đại hội
(ở Trung ương là Bộ Chính trị) quyết định. Việc chuyển đại biểu này phải được
ban thẩm tra tư cách đại biểu đại hội xem xét và báo cáo đại hội thông qua. Đại
biểu dự khuyết được chuyển thành đại biểu chính thức ở mỗi đảng bộ theo thứ tự
số phiếu bầu từ cao xuống thấp ở đại hội đại biểu đảng bộ đó. Trường hợp bằng
phiếu nhau thì lấy người có tuổi Đảng cao hơn.
11.4.3. Sau khi trúng cử
hoặc được chỉ định, đại biểu chính thức chuyển công tác và sinh hoạt đảng đến
đơn vị mới, nhưng tổ chức đảng ở đơn vị mới đó vẫn trực thuộc cấp ủy cấp triệu
tập đại hội thì đại biểu đó vẫn được triệu tập đến dự đại hội và tham gia đoàn
đại biểu của tổ chức đảng ở đơn vị mới, cấp ủy nơi có đại biểu chính thức chuyển
đi đảng bộ khác không cử đại biểu dự khuyết thay thế; nếu đại biểu đó đã chuyển
đến đơn vị mới mà tổ chức đảng ở đơn vị mới đó không trực thuộc cấp ủy cấp triệu
tập đại hội thì tổ chức đảng ở đơn vị đó được chuyển đại biểu dự khuyết thành
chính thức để thay thế.
Trường hợp đại biểu chính
thức xin không tham dự đại hội mà được cấp ủy triệu tập đại hội đồng ý thì được
cử đại biểu dự khuyết thay thế.
11.4.4. Không được cử đại
biểu dự khuyết thay thế đại biểu chính thức trong các trường hợp sau:
a) Đại hội cấp dưới bầu
không đủ số lượng đại biểu chính thức được phân bổ.
b) Cấp ủy viên cấp triệu tập
đại hội vắng mặt suốt thời gian đại hội.
c) Đại biểu chính thức bị
bác tư cách.
Đại biểu chính thức vắng mặt
suốt thời gian đại hội mà không có đại biểu dự khuyết thay thế thì không tính
vào tổng số đại biểu được triệu tập dự đại hội khi tính kết quả bầu cử.
11.4.5. Trường hợp đặc biệt,
ở đảng bộ đã bầu xong đại biểu lại có quyết định tách đảng bộ đó thành một số đảng
bộ mới, thì cấp ủy triệu tập đại hội có thể quyết định bầu bổ sung một số đại
biểu cho các đảng bộ mới đó phù hợp với quy định tại Khoản 2,
Điều 11 Điều lệ Đảng về phân bổ đại biểu cho các đảng bộ trực thuộc.
11.4.6. Trường hợp đảng bộ,
chi bộ đã tổ chức đại hội bầu đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên, nhưng do
yêu cầu chia tách, đảng bộ, chi bộ đó được chuyển về một đảng bộ mới và đảng bộ
mới chưa tiến hành đại hội thì cấp ủy triệu tập đại hội có trách nhiệm triệu tập
số đại biểu của đảng bộ, chi bộ mới chuyển về và tính vào tổng số đại biểu được
triệu tập của đại hội.
12.
Điều 11, Điều 12: Các tổ chức điều
hành và giúp việc đại hội
12.1.
(Khoản 7, Điều 11), (Khoản 3, Điều 12): Đoàn chủ tịch đại hội.
12.1.1. Đoàn chủ tịch đại
hội là cơ quan điều hành công việc của đại hội, làm việc theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, quyết định theo đa số. Cấp ủy triệu tập đại hội đề xuất, đại hội
thảo luận, biểu quyết về số lượng và danh sách đoàn chủ tịch, chủ tịch đại hội.
Đại hội chi bộ biểu quyết
danh sách đoàn chủ tịch hoặc chủ tịch đại hội.
Thành viên đoàn chủ tịch đại
hội là đại biểu chính thức của đại hội.
12.1.2. Đoàn chủ tịch đại
hội có nhiệm vụ:
a) Điều hành công việc của
đại hội theo chương trình, quy chế làm việc đã được đại hội biểu quyết thông
qua; phân công thành viên điều hành nội dung, chương trình các phiên họp của đại
hội; chuẩn bị nội dung để đại hội thảo luận, biểu quyết; chuẩn bị ý kiến giải
trình các vấn đề đại biểu còn có ý kiến khác nhau; lãnh đạo, điều hành các hoạt
động của đại hội.
b) Điều hành việc bầu cử
theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
12.2.
(Khoản 5, Điều 11): Ban thẩm tra
tư cách đại biểu của đại hội.
12.2.1. Thành viên của ban
thẩm tra tư cách đại biểu của đại hội phải là những đại biểu chính thức của đại
hội, am hiểu về công tác tổ chức, cán bộ và công tác kiểm tra. Cấp ủy triệu tập đại hội giới thiệu, đại
hội biểu quyết về số lượng và danh sách ban thẩm tra tư cách đại biểu. Đại hội
đảng viên không bầu ban thẩm tra tư cách đại biểu, cấp ủy triệu tập đại hội báo
cáo với đại hội tình hình đảng viên tham dự đại hội.
12.2.2. Nhiệm vụ của ban
thẩm tra tư cách đại biểu:
a) Xem xét báo cáo của cấp
ủy về việc chấp hành nguyên tắc, thủ tục, tình hình và kết quả bầu cử đại biểu;
những vấn đề có liên quan đến tư cách đại biểu.
b) Xem xét, kết luận các
đơn, thư khiếu nại, tố cáo về tư cách đại biểu do cấp ủy các cấp giải quyết;
báo cáo với đoàn chủ tịch để trình đại hội xem xét, quyết định về những trường
hợp không được công nhận tư cách đại biểu, những trường hợp có đơn xin rút khỏi
danh sách đại biểu và việc chuyển đại biểu dự khuyết thành đại biểu chính thức
đã được triệu tập.
c) Báo cáo với đại hội kết
quả thẩm tra tư cách đại biểu để đại hội xem xét, biểu quyết công nhận.
12.3.
(Khoản 7, Điều 11): Đoàn thư ký đại
hội.
12.3.1. Đoàn thư ký đại hội
gồm những đại biểu chính thức (đối với đại hội đại biểu) hoặc đảng viên chính
thức (đối với đại hội đảng viên), cấp ủy triệu tập đại hội đề xuất, giới thiệu
để đại hội biểu quyết về số lượng, danh sách đoàn thư ký và trưởng đoàn thư ký.
Ở đại hội chi bộ thì chi ủy hoặc bí thư chi bộ đề xuất, giới thiệu để đại hội
biểu quyết. Trưởng đoàn thư ký có trách nhiệm phân công nhiệm vụ cụ thể cho các
thành viên, chịu trách nhiệm trước đoàn chủ tịch về nhiệm vụ của đoàn thư ký.
12.3.2. Nhiệm vụ của đoàn
thư ký:
a) Ghi biên bản, tổng hợp
đầy đủ, trung thực ý kiến của các đại biểu tại hội trường và các phiên làm việc
tại tổ đại biểu; giúp đoàn chủ tịch chuẩn bị các văn bản kết luận, nghị quyết của
đại hội và thông báo của đoàn chủ tịch gửi tới các đoàn đại biểu.
b) Giúp đoàn chủ tịch thực
hiện một số nhiệm vụ theo Quy chế bầu cử trong Đảng của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
c) Thu nhận, bảo quản hồ
sơ, tài liệu sau khi đại hội kết thúc và giúp đoàn chủ tịch giao nộp cấp ủy
khoá mới (qua văn phòng cấp ủy).
12.4.
(Khoản 3, Điều 12): Ban kiểm phiếu.
12.4.1. Ban kiểm phiếu gồm
những đại biểu chính thức (đối với đại hội đại biểu), đảng viên chính thức (đối
với đại hội đảng viên) trong đại hội không có tên trong danh sách ứng cử, đề cử
tại đại hội. Đoàn chủ tịch (hoặc chủ tịch) đại hội đề xuất, giới thiệu, đại hội
biểu quyết số lượng danh sách thành viên ban kiểm phiếu và trưởng ban kiểm phiếu.
Trường hợp đặc biệt do đại hội không cử được ban kiểm phiếu thì cấp ủy cấp trên
trực tiếp cử tổ công tác giúp việc kiểm phiếu.
12.4.2. Ban kiểm phiếu có
nhiệm vụ:
a) Hướng dẫn cách thức ghi
phiếu, kiểm tra, niêm phong thùng phiếu, phát phiếu trực tiếp cho đại biểu (hoặc
theo đoàn đại biểu), kiểm số phiếu phát ra và số phiếu thu về, báo cáo đại hội,
kiểm phiếu bầu.
b) Xem xét và kết luận về
các phiếu không hợp lệ và những ý kiến khiếu nại về việc bầu cử trong đại hội
(nếu có).
c) Lập biên bản kiểm phiếu,
báo cáo với đoàn chủ tịch và công bố kết quả bầu cử; ký vào biên bản bầu cử,
niêm phong phiếu bầu và chuyển cho đoàn chủ tịch đại hội để bàn giao cho cấp ủy
khoá mới lưu trữ theo quy định.
Nếu kiểm phiếu bằng máy vi
tính, ban kiểm phiếu được sử dụng một số nhân viên kỹ thuật không phải là đại
biểu đại hội. Nhân viên kỹ thuật phục vụ việc kiểm phiếu do ban kiểm phiếu trực
tiếp điều hành và giám sát.
Ngoài ban kiểm phiếu và
nhân viên kỹ thuật được đại hội sử dụng làm nhiệm vụ kiểm phiếu, không ai được
đến nơi ban kiểm phiếu đang làm việc.
12.5. Quy trình, thủ tục đại
hội thực hiện theo hướng dẫn của Ban Bí thư.
13.
Việc bầu cử trong Đảng
Thực hiện theo quy định của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
14.
Điều 12 (Khoản 2), Điều 20 (Khoản 2): Số
lượng cấp ủy viên, số lượng ủy viên ban thường vụ và số lượng ủy viên ủy ban kiểm
tra của cấp ủy các cấp
14.1. Việc quy định số lượng
cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, ủy viên ủy ban kiểm tra của cấp ủy mỗi cấp căn cứ vào nhiệm vụ chính
trị, vị trí, đặc điểm của mỗi cấp, vào số lượng đơn vị trực thuộc và số lượng đảng
viên của mỗi đảng bộ.
14.2. Số lượng ủy viên ban
thường vụ cấp ủy mỗi cấp không quá một phần ba tổng số cấp ủy viên theo quy định
và đã được đại hội thông qua. Đối với các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc
Trung ương mới thành lập (không bao gồm Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an
Trung ương) trong nhiệm kỳ 2025 - 2030 thì số lượng ủy viên ban thường vụ có thể
nhiều hơn một phần ba nhưng dưới một phần hai tổng số cấp ủy viên và do Bộ
Chính trị quyết định. Đối với các đảng ủy xã, phường, đặc khu theo quy định của
Bộ Chính trị.
14.3. Trước mỗi kỳ đại hội
đảng bộ các cấp, căn cứ nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị
ra chỉ thị, Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ thể về việc chuẩn bị và tiến
hành đại hội đảng bộ các cấp, có quy định về số lượng (tối đa, tối thiểu) cấp ủy
viên, ủy viên ban thường vụ, ủy viên ủy ban kiểm tra của cấp ủy mỗi cấp. Trên cơ sở đó, cấp ủy từng
cấp tiến hành công tác chuẩn bị nhân sự khoá mới trình đại hội đảng bộ cấp mình
xem xét, quyết định số lượng cấp ủy viên trước
khi tiến hành công tác bầu cử. Sau khi được bầu, cấp ủy khoá mới thảo luận và
quyết định số lượng ủy viên ban thường vụ và số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra cấp mình trước
khi tiến hành bầu cử các chức vụ đó theo quy định hiện hành.
15.
Điều 13 (Khoản 1): Cấp ủy khoá mới
được điều hành công việc ngay sau khi được bầu
15.1. Về hội nghị lần thứ
nhất của cấp ủy khoá mới.
15.1.1. Hội nghị lần thứ
nhất của cấp ủy khoá mới do đồng chí bí thư hoặc phó bí thư khoá trước tái cử
hoặc đồng chí được cấp ủy cấp trên ủy nhiệm (nếu bí thư và phó bí thư khoá trước
không tái cử) làm triệu tập viên, khai mạc, chủ trì cho đến khi bầu xong đoàn
chủ tịch hoặc chủ tịch hội nghị.
Trường hợp đại hội không bầu
cấp ủy, cấp ủy khoá cũ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ của cấp
ủy cho đến khi có cấp ủy khoá mới.
15.1.2. Hội nghị lần thứ
nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá mới do đồng chí Tổng Bí thư khoá trước
(tái cử hoặc không tái cử) làm triệu tập viên khai mạc, chủ trì cho đến khi bầu
xong Đoàn Chủ tịch Hội nghị.
Trường hợp đồng chí Tổng
Bí thư khoá trước không thể làm triệu tập viên thì Đoàn Chủ tịch Đại hội cử triệu
tập viên.
15.2. Đồng chí bí thư cấp ủy
và chủ nhiệm ủy
ban kiểm tra được ký các văn bản với chức danh bí thư và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, đồng chí
phó bí thư đảng ủy (chi bộ) quân sự cấp tỉnh, cấp xã được ký các văn bản với chức
danh phó bí thư ngay sau khi được bầu.
Trường hợp chưa bầu được
chức danh bí thư thì một đồng chí phó bí thư cấp ủy được cấp ủy ủy nhiệm ký các
văn bản với chức danh phó bí thư. Cấp ủy khoá mới nhận bàn giao từ cấp ủy khoá
trước trong vòng 15 ngày làm việc. Sau khi có quyết định chuẩn y của cấp có thẩm
quyền, các đồng chí có chức danh phó bí thư, ủy viên ban thường vụ, phó chủ nhiệm
Ủy ban kiểm tra mới được ký chức danh trong các văn bản của đảng bộ.
16.
Điều 13, Điều 31: Về báo cáo kết quả
đại hội; chuẩn y kết quả bầu cử; bổ sung, điều động, chỉ định cấp ủy viên và
thôi tham gia cấp ủy
16.1.
(Khoản 1, Điều 13): Về báo cáo kết
quả đại hội; chuẩn y kết quả bầu cử.
16.1.1. Trong thời hạn 7
ngày làm việc kể từ ngày bế mạc đại hội, cấp ủy khoá mới phải báo cáo lên cấp ủy
cấp trên trực tiếp: Các biên bản bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư,
phó bí thư, ủy
ban kiểm tra, chủ nhiệm và phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra; danh sách trích ngang của từng thành viên
theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
16.1.2. Trong thời hạn 15
ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả bầu cử của cấp ủy cấp dưới,
nếu không có khiếu nại, tố cáo về kết quả bầu cử thì cấp ủy cấp trên trực tiếp
(ở Trung ương là Bộ Chính trị, nơi có ban thường vụ thì ủy nhiệm cho ban thường vụ) chuẩn y
ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy; các thành viên, chủ
nhiệm, phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra.
16.1.3. Sau đại hội, nếu
phát hiện thấy có sự vi phạm về tiêu chuẩn, nguyên tắc, thủ tục bầu cử thì cấp ủy
cấp trên có quyền bác bỏ kết quả bầu cử của đại hội hoặc của cấp ủy cấp dưới,
chỉ đạo tiến hành bầu lại; nếu thấy có một hoặc một số chức danh đã được bầu
nhưng không bảo đảm nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn quy định thì cấp ủy cấp trên có
quyền không công nhận một hoặc một số chức danh đó.
16.2.
(Khoản 2, Điều 13): Việc bổ sung
cấp ủy viên thiếu do cấp ủy đề nghị, cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định.
16.2.1. Khi cần bổ sung cấp
ủy viên thiếu, tập thể cấp ủy thảo luận, thống nhất đề nghị cấp ủy cấp trên về
số lượng, nhân sự cụ thể để cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định. Trường hợp đặc
biệt, nếu xét thấy cần, cấp ủy cấp trên có thể ban hành quyết định bổ sung số cấp
ủy viên thiếu.
16.2.2. Việc bổ sung cấp ủy
viên, ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư là đảng viên trong đảng bộ, nói
chung thực hiện theo quy trình: Chỉ định vào ban chấp hành đảng bộ; ban chấp
hành đảng bộ bầu vào các chức danh cần thiết.
Việc bổ sung bí thư, phó
bí thư chi bộ, chi ủy viên chi bộ khi khuyết, thiếu do cấp ủy cấp trên trực tiếp
xem xét, chỉ định theo đề nghị của chi bộ; trường hợp chi bộ khuyết, thiếu cả
bí thư, phó bí thư, chi ủy viên thì cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, chỉ định.
16.2.3. Trường hợp cần thiết,
cấp ủy cấp trên trực tiếp có thể chỉ định cấp ủy viên cấp trên giữ chức danh bí
thư, phó bí thư cấp ủy (chi bộ), chủ nhiệm ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp dưới; chỉ định đảng viên là người
đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức giữ chức danh bí thư cấp ủy (chi bộ) cơ quan,
đơn vị, tổ chức đó.
16.2.4. Khi cần thiết, cấp
ủy cấp trên có quyền điều động đảng viên từ đảng bộ khác chỉ định tham gia cấp ủy
và giữ các chức vụ ủy viên ban thường vụ, phó bí thư, bí thư cấp ủy, chủ nhiệm Ủy
ban kiểm tra.
16.2.5. Việc chỉ định tăng
thêm cấp ủy viên: Khi thật cần thiết, cấp ủy cấp dưới thảo luận, thống nhất đề
nghị cấp ủy cấp trên chỉ định tăng thêm một số cấp ủy viên cấp dưới. So với số
lượng cấp ủy viên mà đại hội đã quyết định, số lượng cấp ủy viên chỉ định tăng
thêm không được quá 10% đối với cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng
trở lên, không quá 20% đối với cấp ủy cơ sở và không vượt quá số lượng tối đa
theo quy định của Bộ Chính trị. Các trường hợp cụ thể khác, giao Ban Tổ chức
Trung ương hướng dẫn.
16.3.
(Khoản 3, Điều 13): Việc điều động
cấp ủy viên.
16.3.1. Trường hợp không
phải do chia tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức đảng, khi cùng một lúc phải điều động
quá một phần ba số cấp ủy viên của đảng ủy từ cấp cơ sở trở lên do đại hội đã bầu
thì phải được cấp ủy cấp trên cách một cấp đồng ý; nếu là cấp ủy viên của đảng
bộ trực thuộc Trung ương thì do Bộ Chính trị quyết định.
16.3.2. Thí điểm việc cấp ủy
cấp trên khi chỉ định nhân sự tham gia cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, giữ các chức
danh lãnh đạo cấp dưới trực tiếp thì đồng thời chỉ định tham gia cấp ủy, ban
thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra
cấp ủy theo cơ cấu của cấp dưới cách cấp.
16.4.
(Khoản 4, Điều 13): Việc thôi
tham gia cấp ủy.
16.4.1. Cấp ủy viên khi có
quyết định nghỉ hưu thì thôi tham gia cấp ủy đương nhiệm từ thời điểm nghỉ hưu
để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đã được ghi trong thông báo hoặc quyết định nghỉ
hưu.
16.4.2. Cấp ủy viên có quyết
định hoặc thông báo của cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thôi làm công tác quản
lý (trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định giải thể, kết thúc hoạt động,
tổ chức lại cơ quan, đơn vị, tổ chức) hoặc thôi giữ chức vụ hoặc thôi việc thì
thôi tham gia cấp ủy đương nhiệm từ thời điểm ghi trong quyết định thôi làm
công tác quản lý hoặc thôi giữ chức vụ hoặc thôi việc có hiệu lực thi hành.
16.4.3. Cấp ủy viên tham
gia nhiều cấp ủy, khi có quyết định nghỉ công tác chờ nghỉ hưu, có quyết định
nghỉ hưu thì thôi tham gia cấp ủy mà đồng chí đó là thành viên từ thời điểm quyết
định nghỉ công tác chờ nghỉ hưu có hiệu lực thi hành; thời điểm tính theo ngày
nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đã được ghi trong thông báo hoặc quyết
định nghỉ hưu; trường hợp chuyển công tác sang đảng bộ khác thì thôi tham gia cấp
ủy trong cùng đảng bộ mà đồng chí đó đã tham gia kể từ khi quyết định có hiệu lực
thi hành. Nếu đồng
chí đó là thành viên của cấp ủy cấp trên mà nơi chuyển đến trong cùng đảng bộ
thì vẫn là cấp ủy viên cấp ủy cấp trên.
Cấp ủy có thẩm quyền không
ban hành quyết định thôi tham gia cấp ủy những trường hợp nêu trên.
16.5.
(Khoản 5, Khoản 6): Ở những nơi
thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập đảng bộ, chi bộ.
Trong nhiệm kỳ của cấp ủy,
nếu có sự thay đổi về tổ chức như: Thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập
thì cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy, ban thường vụ, bí thư, phó bí
thư theo Khoản 5, Điều 13 Điều lệ Đảng; thí điểm việc ban
thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên Ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm,
phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp dưới; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho
phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của cấp ủy không nhất thiết là 5 năm. Nhiệm kỳ tiếp
theo các đảng bộ, chi bộ thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập tiến hành
đại hội theo quy định của Bộ Chính trị. Cách tính nhiệm kỳ đại hội theo hướng dẫn
của Ban Bí thư.
17. Thí điểm Bộ Chính trị chỉ định ban
chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, Ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó
chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra đảng ủy: Các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc
hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
Ban Chấp hành Trung
ương Đảng giao:
- Bộ Chính trị, Ban Bí thư
quy định thí điểm về thành phần tập thể thường trực đảng ủy và phân cấp, ủy quyền
cho tập thể thường trực đảng ủy: Các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội;
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở bộ,
ngành, cơ quan, tổ chức ở Trung ương; các cơ quan đảng cấp tỉnh; ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực
hiện một số nhiệm vụ cụ thể của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy để thực hiện nghị
quyết, chỉ thị của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp, cấp ủy cấp trên.
- Các cấp ủy trực thuộc
Trung ương được thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức, cách làm mới trong
khuôn khổ Điều lệ Đảng và phải báo cáo Bộ Chính trị đồng ý chủ trương trước khi
thực hiện.
18.
Điều 14 (Khoản 1): Lập các cơ quan
chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy
18.1. Các đảng bộ trực thuộc
Trung ương.
18.1.1. Cấp ủy tỉnh, thành
phố được thành lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc và đơn vị sự
nghiệp: Văn phòng, ban tổ chức, cơ quan ủy ban kiểm tra, ban tuyên giáo và dân vận, ban nội chính; trường chính trị và
cơ quan báo và phát thanh, truyền hình của đảng bộ tỉnh, thành phố.
Đảng ủy xã, phường được
thành lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, gồm: Văn phòng, ban xây dựng Đảng, cơ
quan ủy ban kiểm
tra. Ở những xã, phường có trụ sở trung tâm chính trị trên địa bàn, đảng ủy được
thành lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, gồm: Văn phòng, ban xây
dựng Đảng, cơ quan ủy ban kiểm tra và 1 đơn vị sự nghiệp (trung tâm chính trị).
Đối với đảng ủy đặc khu là
đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng: Giao ban thường vụ cấp ủy cấp
tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo đảng ủy đặc khu quyết định lập tối đa 4 cơ quan tham
mưu, giúp việc (gồm: Văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo và dân vận, cơ quan
ủy ban kiểm
tra) và 1 đơn vị sự nghiệp (trung tâm chính trị).
Đảng ủy cấp trên trực tiếp
của tổ chức cơ sở đảng khác trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy có các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc:
Văn phòng, ban xây dựng Đảng, cơ quan ủy ban kiểm tra.
18.1.2. Các đảng ủy trực
thuộc Trung ương được thành lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc gồm:
Văn phòng, ban tổ chức, cơ quan ủy ban kiểm tra, ban tuyên giáo và dân vận.
Đảng ủy cấp trên trực tiếp
của tổ chức cơ sở đảng trực thuộc đảng ủy trực thuộc Trung ương được thành lập
các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc gồm: Văn phòng, ban tổ chức, cơ
quan ủy ban kiểm
tra, ban tuyên giáo và dân vận.
18.1.3. Việc thành lập cơ
quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp khác với quy định trên
thực hiện theo quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
18.1.4. Không thành lập cơ
quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của tổ chức cơ sở đảng. Những đảng bộ cơ
sở mà đảng ủy được giao quyền hoặc thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở thực hiện
theo Tiết a, Điểm 10.6.2 của Quy định này.
18.1.5. Ban Tổ chức Trung
ương có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, định kỳ báo cáo Ban Bí thư về
tổ chức bộ máy và biên chế của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc,
đơn vị sự nghiệp nêu trên. Các ban và cơ quan của Đảng ở Trung ương phối hợp với
Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn hoạt động của các cơ quan chuyên trách tham
mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy địa phương.
18.1.6. Cơ quan chuyên
trách tham mưu, giúp việc của các cấp ủy trong Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công
an theo quy định của Bộ Chính trị.
18.2. Việc thành lập, sáp
nhập, giải thể cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của
Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định. Ban Tổ chức Trung ương
giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm tra và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của các
cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Trung ương.
18.3. Cơ quan Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các cơ quan Trung ương của đoàn thể chính trị -
xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt
Nam); các cơ quan Trung ương của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ (nếu có) trực thuộc Ban Thường
trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan nêu trên ở địa
phương (nếu có): Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế thực hiện theo
quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
19.
Điều 18 (Khoản 3), Điều 22 (Khoản 3): Về
đại hội bất thường ở các cấp
19.1. Khi có trên một nửa
số ủy viên ban chấp hành đảng bộ đồng ý bằng phiếu kín hoặc có trên một nửa số
tổ chức đảng trực thuộc nhất trí và được ban thường vụ cấp ủy cấp trên đồng ý mới
triệu tập đại hội bất thường; đối với đảng bộ trực thuộc Trung ương phải được Bộ
Chính trị đồng ý.
19.2. Điều kiện để tổ chức
đại hội bất thường là có thay đổi lớn về chủ trương, nhiệm vụ so với nghị quyết
đại hội đề ra; có thay đổi lớn về nhân sự chủ chốt của cấp ủy; do nội bộ mất
đoàn kết nghiêm trọng hoặc hầu hết cấp ủy viên bị xử lý kỷ luật.
20.
Điều 21: Việc lập tổ chức cơ sở đảng,
lập chi bộ trực thuộc trong một số trường hợp cụ thể
20.1.
(Khoản 1): Điều kiện để lập tổ chức
cơ sở đảng đối với tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy được giao quyền, thí điểm
giao quyền cấp trên cơ sở.
20.1.1. Đảng ủy cơ sở
trong các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp được giao quyền cấp trên cơ sở
hoặc thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở thì được lập đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở
trực thuộc cấp ủy cấp mình ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thành viên, trực
thuộc; sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cấp ủy cấp trên trực tiếp.
20.1.2. Đối với Đảng bộ
Quân đội và Đảng bộ Công an thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.
20.2.
(Khoản 2): Về lập tổ chức đảng trực
thuộc đảng ủy xã, phường, đặc khu (là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng)
20.2.1. Ở cơ quan, doanh
nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị
khác có từ 3 đảng viên chính thức trở lên thì lập tổ chức cơ sở đảng trực thuộc
đảng ủy xã, phường, đặc khu; nếu chưa đủ 3 đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp
giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
20.2.2. Ở các thôn, tổ dân
phố chỉ được lập chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, đặc khu.
20.3.
(Khoản 5): Việc lập tổ chức đảng ở
một số trường hợp cụ thể khác.
20.3.1. Ở những cơ quan,
đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác chưa đủ 30
đảng viên (gồm đảng viên chính thức và đảng viên dự bị) nhưng có yêu cầu tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với tình hình, đặc điểm của các đơn vị đó
(là đơn vị có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội ở các cơ quan
Trung ương, trường đại học, doanh nghiệp lớn,...) thì cấp ủy từ cấp trên trực
tiếp của tổ chức cơ sở đảng và tương đương trở lên có thể xem xét, quyết định
cho lập đảng bộ cơ sở.
20.3.2. Ở những cơ quan,
đơn vị trực thuộc trường đại học, doanh nghiệp... có hơn 30 đảng viên, do tình
hình thực tế và yêu cầu chỉ đạo không thể tách ra nhiều chi bộ, nếu được cấp ủy
cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng đồng ý thì đảng ủy cơ sở ban hành quyết
định lập chi bộ trực thuộc. Chi bộ có từ 30 đảng viên trở lên chia thành nhiều
tổ đảng.
Tổ đảng có nhiệm vụ quản
lý, giáo dục, hướng dẫn và giúp đỡ đảng viên sản xuất, công tác và học tập,
lãnh đạo quần chúng thực hiện nghị quyết của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, hoàn thành nhiệm vụ
của đơn vị; tuyên truyền vận động quần chúng vào Đảng. Tổ đảng sinh hoạt ít nhất
mỗi tháng một lần.
20.3.3. Ở các vụ, đơn vị
không có tư cách pháp nhân trực thuộc ban, bộ, cơ quan Trung ương lập chi bộ trực
thuộc, trực thuộc đảng Ủy ban, bộ, cơ quan Trung ương; chức năng, nhiệm vụ theo
hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
20.3.4. Ở một số tổ chức
cơ sở đảng có đông đảng viên có thể được lập đảng bộ bộ phận. Đảng ủy bộ phận
trực thuộc đảng ủy cơ sở và là cấp trên của các chi bộ, sinh hoạt thường kỳ một
tháng một lần, có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đảng
ủy cơ sở ở các chi bộ, thẩm định nghị quyết của các chi bộ về kết nạp đảng
viên, về thi hành kỷ luật, khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên để đề đạt ý kiến
với đảng ủy cơ sở. Đảng ủy bộ phận không quyết định các vấn đề về tổ chức, cán
bộ, không có con dấu. Việc lập chi bộ trực thuộc do đảng ủy bộ phận đề nghị, đảng
ủy cơ sở quyết định. Nhiệm kỳ của đảng ủy bộ phận như nhiệm kỳ của đảng ủy cơ sở
(quy trình tổ chức đại hội, cơ cấu, số lượng cấp ủy viên thực hiện theo hướng dẫn
của Ban Bí thư).
Đảng bộ bộ phận trong Quân
đội và Công an thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.
21.
(Khoản 6, Điều 22): Sinh hoạt định kỳ
của đảng bộ cơ sở, chỉ bộ
21.1. Đảng bộ cơ sở họp
thường lệ mỗi năm hai lần vào dịp đánh giá công tác 6 tháng đầu năm và tổng kết
công tác cuối năm, họp bất thường khi cần.
21.2. Nội dung sinh hoạt đảng
bộ: Báo cáo kết quả hoạt động của đảng bộ, của đảng ủy trong thời gian qua, xác
định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới; phổ biến các chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thời sự trong nước và thế giới phù hợp với
yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm của đảng bộ; thông báo kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ
luật đảng của đảng ủy đối với các chi bộ, đảng viên; giải đáp ý kiến phê bình,
chất vấn của đảng viên và chi bộ.
21.3. Đối với đảng bộ cơ sở
có đông đảng viên, hoạt động phân tán, địa bàn rộng, đơn vị lực lượng vũ trang
làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, cấp ủy cơ sở căn cứ vào tình hình cụ thể để tổ
chức sinh hoạt theo cụm, phân công cấp ủy viên phụ trách, bảo đảm nội dung sinh
hoạt của đảng bộ như đã nêu trên.
21.4. Việc sinh hoạt đảng
trực tuyến ở một số đảng bộ, chi bộ thực hiện theo quy định của Ban Bí thư.
22.
Điều 23 (Khoản 5): Đảng ủy cơ sở được
ủy quyền quyết định kết nạp và khai trừ đảng viên
22.1. Các đảng bộ cơ sở ở
các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang có trên 100 đảng
viên và được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ 3 năm liên tục trở lên có thể được
cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, ban hành quyết định ủy quyền cho đảng ủy cơ
sở quyền quyết định kết nạp đảng viên, thi hành kỷ luật khai trừ đảng viên.
22.2. Sau khi ủy quyền, cấp
ủy cấp trên trực tiếp phải thường xuyên kiểm tra, nếu thấy đảng ủy cơ sở được ủy
quyền không làm tốt nhiệm vụ theo quy định thì thu hồi quyết định đã ủy quyền.
23.
Điều 24 (Khoản 3, Khoản 4): Nhiệm kỳ
chi bộ; việc bầu chi ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ (kể cả chi bộ cơ sở)
23.1. Thí điểm đại hội chi
bộ trực thuộc 5 năm một lần, bắt đầu thực hiện từ nhiệm kỳ chi bộ 2025 - 2030;
cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ đạo chi bộ đã đại hội trong năm 2025 xây dựng hoặc
bổ sung nhiệm vụ, kiện toàn bí thư, phó bí thư, chi ủy viên cho phù hợp.
23.2. Chi bộ có 9 đảng
viên chính thức trở lên bầu chi ủy; chi bộ đông đảng viên bầu không quá 7 chi ủy
viên. Chi bộ trực tiếp bầu chi ủy trước, sau đó bầu bí thư, bầu một phó bí thư
trong số chi ủy viên. Chi bộ có dưới 9 đảng viên chính thức bầu bí thư, nếu cần
bầu một phó bí thư.
23.3. Trường hợp chi bộ bầu
đến lần thứ ba mà không có đồng chí nào đủ số phiếu trúng cử bí thư chi bộ thì
cấp ủy cấp trên căn cứ vào tình hình cụ thể của chi bộ để chỉ định một đồng chí
trong số chi ủy viên hoặc đảng viên (nơi không có chi ủy) làm bí thư để điều
hành hoạt động của chi bộ.
23.4. Khi thật cần thiết,
cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định bí thư, phó bí thư, chi ủy viên.
24.
Điều 27: Một số quy định cụ thể về đảng
ủy quân khu, đảng ủy quân sự địa phương
24.1.
(Khoản 1, Khoản 2): Đảng ủy quân
khu.
24.1.1. Đảng ủy quân khu gồm
các đồng chí công tác trong đảng bộ quân khu do đại hội cùng cấp bầu, các đồng
chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy trên địa bàn quân khu được Bộ Chính trị chỉ định tham gia. Trường
hợp thật cần thiết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có thể chỉ định một số đồng chí
khác có cơ cấu thích hợp tham gia đảng ủy quân khu.
24.1.2. Việc chỉ định tham
gia đảng ủy quân khu được thể hiện trong quyết định chuẩn y kết quả bầu cử; quyết
định điều động, phân công công tác hoặc có quyết định chỉ định riêng.
24.1.3. Đồng chí bí thư tỉnh
ủy, thành ủy và các đồng chí khác được Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ định tham
gia đảng ủy quân khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy viên quân khu
(trừ quyền ứng cử); thực hiện chế độ sinh hoạt theo quy chế làm việc của đảng ủy quân khu; tham
gia đảng ủy quân khu từ khi được Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ định và thôi tham
gia đảng ủy quân khu khi thôi giữ chức vụ tương ứng.
24.1.4. Đảng ủy quân khu
có nhiệm vụ lãnh đạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền; chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy
địa phương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân,
công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, chấp hành
chính sách hậu phương quân đội; phối hợp với cấp ủy địa phương thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng trong quân khu.
24.1.5. Các cấp ủy địa
phương có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện nghị quyết của đảng ủy quân khu về nhiệm
vụ quân sự, quốc phòng trong địa phương mình.
24.2.
(Khoản 3): Cơ quan chính trị cấp
trên phối hợp với cấp ủy địa phương chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị đối
với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương.
24.2.1. Cơ quan chính trị
cấp nào đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở cấp đó dưới sự lãnh đạo của
cấp ủy đảng cùng cấp và sự chỉ đạo của cơ quan chính trị cấp trên.
24.2.2. Cơ quan chính trị
quân khu phối hợp với tỉnh ủy, thành ủy; cơ quan chính trị thuộc bộ chỉ huy
quân sự tỉnh, thành phố phối hợp với cấp ủy xã, phường, đặc khu để chỉ đạo công
tác đảng, công tác chính trị đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở địa phương.
24.3.
(Khoản 4): Chỉ định đồng chí bí
thư cấp ủy và một số đồng chí ngoài đảng bộ (chi bộ) quân sự địa phương tham
gia đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố, đảng ủy, chi ủy (chi bộ) quân sự xã, phường,
đặc khu.
24.3.1. Sau mỗi kỳ đại hội
đảng bộ cấp tỉnh, đảng bộ xã, phường, đặc khu, khi cấp ủy địa phương khoá mới
đã kiện toàn và được cấp ủy cấp trên chuẩn y, các đồng chí cấp ủy viên là bí
thư cấp ủy, chủ tịch Ủy ban nhân dân, được ban thường vụ cấp ủy chỉ định tham
gia đảng ủy, chi ủy (chi bộ) quân sự cùng cấp. Đồng chí bí thư cấp ủy địa
phương trực tiếp làm bí thư đảng ủy (chi bộ) quân sự cùng cấp.
Các đồng chí được ban thường
vụ cấp ủy địa phương chỉ định tham gia đảng ủy, chi ủy (chi bộ) quân sự thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy viên (trừ quyền ứng cử); thực hiện chế độ
sinh hoạt theo quy chế làm việc của đảng ủy, chi ủy (chi bộ) quân sự; tham gia
đảng ủy, chi ủy (chi bộ) quân sự từ khi được ban thường vụ cấp ủy địa phương chỉ
định và thôi tham gia đảng ủy, chi ủy (chi bộ) quân sự khi thôi giữ chức vụ bí
thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân.
24.3.2. Tổ chức đảng bộ đội
biên phòng tỉnh, thành phố.
a) Ở các tỉnh, thành phố
có bộ đội biên phòng thì tổ chức đảng bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố đặt dưới
sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố (nơi có
biên giới), đồng thời chấp hành nghị quyết của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về
công tác biên phòng và xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng.
b) Cơ quan chính trị bộ đội
biên phòng cấp nào đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, công tác quần
chúng ở cấp đó dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng bộ đội biên phòng cùng cấp, sự
chỉ đạo của cơ quan chính trị cấp trên, sự hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ của
các ban đảng thuộc cấp ủy địa phương cùng cấp.
25.
Điều 28 (Khoản 1, Khoản 3, Khoản 4): Quan
hệ giữa Đảng ủy Công an Trung ương với tỉnh ủy, thành ủy; cơ quan đảm nhiệm
công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong Công an nhân dân
25.1.
(Khoản 1): Quan hệ giữa Đảng ủy
Công an Trung ương với tỉnh ủy, thành ủy.
25.1.1. Quan hệ giữa Đảng ủy
Công an Trung ương với tỉnh ủy, thành ủy là quan hệ phối hợp trong lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây
dựng lực lượng công an nhân dân ở tỉnh, thành phố.
25.1.2. Bộ Chính trị ủy
nhiệm cho Đảng ủy Công an Trung ương khi cần thiết mời các đồng chí bí thư tỉnh ủy,
thành ủy để truyền đạt những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực bảo đảm an ninh
chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng công an nhân
dân.
25.2.
(Khoản 3, Khoản 4): Cơ quan đảm
nhiệm công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong Công an
nhân dân.
25.2.1. Cơ quan đảm nhiệm
công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng thuộc Bộ Công an hoạt
động dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, tham mưu thực hiện công
tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong Đảng bộ Công an Trung
ương; tham mưu, giúp Đảng ủy Công an Trung ương phối hợp với cấp ủy địa phương
chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong lực lượng
công an địa phương.
25.2.2. Cơ quan đảm nhiệm
công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong Công an nhân dân
mỗi cấp hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp ủy công an cùng cấp, sự chỉ đạo của
cơ quan đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, công tác quần chúng của cấp trên, sự hướng
dẫn và kiểm tra về nghiệp vụ của các ban đảng của cấp ủy địa phương cùng cấp;
tham mưu thực hiện công tác đảng, công tác chính trị, công tác quần chúng trong
công an cấp mình; tham mưu, giúp cấp ủy công an cùng cấp trong việc phối hợp với
cấp ủy địa phương cấp dưới lãnh đạo công tác đảng, công tác chính trị và công
tác quần chúng trong lực lượng công an địa phương cấp dưới.
26.
Điều 29: Nhiệm vụ tham mưu của các đảng
ủy công an đối với cấp ủy địa phương cùng cấp; việc phân công đồng chí phó bí
thư cấp ủy địa phương phụ trách đảng ủy công an cùng cấp
26.1.
(Khoản 1): Nhiệm vụ tham mưu của
các đảng ủy, chi bộ công an đối với cấp ủy địa phương cùng cấp.
Cấp ủy, chi bộ đảng công
an địa phương cấp nào có nhiệm vụ tham mưu, giúp cấp ủy địa phương cấp đó lãnh
đạo các ngành, các cấp ở địa phương thực hiện nghị quyết của đảng ủy công an cấp
trên và nhiệm vụ của cấp ủy cùng cấp giao về giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và
xây dựng lực lượng công an nhân dân ở địa phương.
26.2.
(Khoản 2): Việc phân công đồng
chí phó bí thư cấp ủy địa phương phụ trách đảng ủy, chi bộ công an cùng cấp.
26.2.1. Các tỉnh ủy, thành
ủy; đảng ủy xã, phường, đặc khu phân công đồng chí phó bí thư là chủ tịch Ủy
ban nhân dân phụ trách đảng ủy, chi bộ công an cùng cấp.
26.2.2. Đồng chí phó bí
thư là chủ tịch Ủy ban nhân dân được phân công phụ trách đảng ủy, chi bộ công
an địa phương cùng cấp thường xuyên nắm chắc tình hình mọi mặt của cấp ủy, chi
bộ công an; chịu trách nhiệm trước cấp ủy địa phương về hoạt động của cấp ủy,
chi bộ công an; tham gia cùng cấp ủy địa phương lãnh đạo kiện toàn cấp ủy, chi ủy
công an; trực tiếp tham dự các hội nghị quan trọng của cấp ủy, chi bộ công an để
truyền đạt ý kiến chỉ đạo của cấp ủy địa phương đối với cấp ủy, chi bộ công an
về những vấn đề có liên quan đến giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội và xây dựng lực lượng công an nhân dân ở địa phương.
26.2.3. Định kỳ hằng tháng
hoặc đột xuất, cấp ủy, chi bộ công an báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của đồng
chí phó bí thư là chủ tịch Ủy ban nhân dân phụ trách về những vấn đề liên quan
đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng công an
nhân dân ở địa phương trước khi báo cáo, xin ý kiến cấp ủy địa phương.
27.
Điều 31: Tổ chức cơ quan ủy ban kiểm
tra
Ban Tổ chức Trung ương chủ
trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan liên quan hướng dẫn
về tổ chức bộ máy của cơ quan Ủy ban kiểm tra cấp dưới.
28.
Điều 34: Khen thưởng đối với tổ chức
đảng và đảng viên
28.1. Hình thức khen thưởng
trong Đảng.
28.1.1. Đối với tổ chức đảng:
Biểu dương, tặng giấy khen, bằng khen, tặng cờ, tặng thưởng huân chương, huy
chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà nước.
28.1.2. Đối với đảng viên:
Biểu dương, tặng giấy khen, bằng khen, Huy hiệu Đảng 30 năm, 35 năm, 40 năm, 45
năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm, 95
năm tuổi Đảng; tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự
khác của Đảng và Nhà nước.
28.2. Thẩm quyền khen thưởng.
28.2.1. Chi bộ: Biểu dương
tổ đảng và đảng viên trong chi bộ.
28.2.2. Đảng ủy bộ phận:
Biểu dương tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
28.2.3. Chi bộ cơ sở: Biểu
dương, tặng giấy khen cho đảng viên trong chi bộ. Đảng ủy cơ sở: Biểu dương, tặng
giấy khen cho tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
28.2.4. Cấp ủy cấp trên trực
tiếp của tổ chức cơ sở đảng; cấp ủy được giao quyền, thí điểm giao quyền cấp
trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng: Tặng giấy khen cho tổ chức đảng và đảng
viên trong đảng bộ.
28.2.5. Tỉnh ủy (và tương
đương): Tặng bằng khen, tặng cờ cho tổ chức đảng, tặng Huy hiệu Đảng 30 năm, 35
năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm tuổi Đảng,
bằng khen cho đảng viên trong đảng bộ.
28.2.6. Ban Bí thư: Tặng
Huy hiệu Đảng 80 năm, 85 năm, 90 năm, 95 năm tuổi Đảng.
28.2.7. Việc tặng thưởng
huân chương, huy chương và các danh hiệu cao quý khác cho tổ chức đảng và đảng
viên thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và pháp luật về thi
đua, khen thưởng.
28.3. Tiêu chuẩn, đối tượng
và thủ tục khen thưởng.
28.3.1.
Tiêu chuẩn, đối tượng tặng Huy hiệu Đảng:
a) Những đảng viên hoạt động
cách mạng lâu năm, giữ gìn được tư cách đảng viên, có đủ 30 năm, 35 năm, 40
năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90
năm, 95 năm tuổi Đảng trở lên (tính theo tháng) thì được tặng Huy hiệu Đảng.
b) Đảng viên bị bệnh nặng
hoặc từ trần có thể được xét tặng, truy tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng không được
quá một năm; đảng viên 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm, 95 năm tuổi Đảng
trở lên nếu bị bệnh nặng có thể được xét tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng không được quá hai năm
theo quy định.
c) Tại thời điểm xét tặng
Huy hiệu Đảng, đảng viên bị kỷ luật về Đảng thì chưa được xét tặng; sau 6 tháng
(đối với kỷ luật khiển trách), 9 tháng (đối với kỷ luật cảnh cáo), 1 năm (đối với
kỷ luật cách chức) kể từ ngày đảng viên đủ thời gian xét tặng Huy hiệu Đảng, nếu
sửa chữa tốt khuyết điểm, được chi bộ công nhận sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng.
28.3.2. Việc tặng giấy
khen, bằng khen, tặng cờ đối với tổ chức đảng; tặng giấy khen, bằng khen đối với
đảng viên và thủ tục xét tặng Huy hiệu Đảng, các hình thức khen thưởng khác
trong Đảng thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
28.4. Giá trị tặng phẩm
kèm theo các hình thức khen thưởng của Đảng.
28.4.1. Tặng phẩm, tiền
thưởng kèm theo các hình thức khen thưởng huân chương, huy chương và các danh
hiệu cao quý khác thực hiện theo quy định chung của Nhà nước.
28.4.2. Tặng phẩm, tiền
thưởng kèm theo đối với đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng và các hình thức khen
thưởng khác trong Đảng được quy định thống nhất, nguồn kinh phí được trích từ
quỹ khen thưởng chung của các địa phương, ngành hoặc một phần từ tài chính đảng
theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và Văn phòng Trung ương Đảng.
29.
Điều 41: Một số quy định cụ thể về Đảng
lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội
29.1.
Điều 41 (Khoản 2): Đảng thống nhất
lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy vai
trò, trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống
chính trị về công tác cán bộ.
29.1.1. Nguyên tắc quản lý
cán bộ:
a) Đảng đề ra đường lối,
chủ trương, chính sách, tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chế, quy định về công tác cán
bộ và thông qua các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập để lãnh đạo
các cấp, các ngành tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng về cán bộ và công
tác cán bộ.
b) Tập thể cấp ủy, tổ chức
đảng, ban thường vụ cấp ủy có thẩm quyền thảo luận dân chủ và quyết định theo
đa số những vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách, đánh giá, quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới
thiệu ứng cử, tái cử, chỉ định, điều động, luân chuyển, biệt phái; phong,
thăng, giáng, tước quân hàm, tạm đình chỉ, đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công
tác, cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm, đưa ra khỏi quy hoạch, khen thưởng,
kỷ luật cán bộ. Khi ý kiến người đứng đầu khác ý kiến của tập thể cấp ủy, tổ chức
đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải báo cáo lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết
định.
c) Người đứng đầu cấp ủy,
tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm đề xuất và tổ chức thực hiện các
quyết định của tập thể về cán bộ và công tác cán bộ trong lĩnh vực được phân
công phụ trách.
d) Cá nhân đề xuất, cơ
quan thẩm định, quyết định về cán bộ phải chịu trách nhiệm về đề xuất, thẩm định, quyết định của mình.
đ) Cán bộ, đảng viên phải
chấp hành nghiêm túc các nghị quyết, quyết định của cấp ủy, tổ chức đảng; cấp ủy
cấp dưới phải chấp hành quyết định của cấp ủy cấp trên về cán bộ và công tác
cán bộ.
e) Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng,
người đứng đầu các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trực tiếp quản lý cán bộ (kể
cả các đồng chí ủy viên Trung ương) đang công tác, sinh hoạt trong tổ chức mình
và chịu trách nhiệm trước cấp ủy, thủ trưởng cấp trên về cán bộ thuộc quyền quản
lý của mình.
29.1.2. Quản lý cán bộ bao
gồm các nội dung chính sau đây:
a) Tuyển chọn, bố trí,
phân công, điều động và luân chuyển cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ.
b) Đánh giá cán bộ.
c) Quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ.
d) Bổ nhiệm, giới thiệu
cán bộ ứng cử, miễn nhiệm cán bộ.
đ) Khen thưởng, kỷ luật
cán bộ.
e) Thực hiện chế độ, chính
sách cán bộ.
g) Kiểm tra, giám sát công
tác cán bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác cán bộ và cán bộ.
29.2.
Điều 41 (Khoản 3): Đảng giới thiệu
cán bộ đủ tiêu chuẩn để ứng cử hoặc bổ nhiệm vào cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc và đoàn thể chính trị - xã hội.
29.2.1. Tiêu chuẩn chung của
cán bộ.
a) Có tinh thần yêu nước
sâu sắc, tận tụy
phục vụ Nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn
đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
b) Cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư. Không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ
hội, gắn bó mật thiết với Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.
c) Bảo đảm về chính trị,
tư tưởng; có trình độ hiểu biết về chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng
lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
29.2.2. Phân cấp việc giới
thiệu cán bộ để bầu hoặc bổ nhiệm vào cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
đoàn thể chính trị - xã hội.
a) Ở Trung ương:
- Ban Chấp hành Trung ương
Đảng giới thiệu 3 chức danh: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính
phủ để Quốc hội bầu; tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch
Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội
đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội - Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm
các Ủy ban của Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước và các thành viên Chính phủ.
- Bộ Chính trị giới thiệu
các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị quản lý để Chính phủ trình Quốc hội bầu
hoặc phê chuẩn, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội bầu.
- Ban Bí thư giới thiệu
các chức danh thuộc diện Ban Bí thư quản lý để Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính
phủ bổ nhiệm; Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội bầu.
b) Ở địa phương:
- Ban chấp hành đảng bộ
các cấp giới thiệu chức danh chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân
dân để hội đồng nhân dân bầu (hoặc cấp có thẩm quyền quyết định); tham gia ý kiến
về nhân sự phó chủ tịch hội đồng nhân dân, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân trước
khi ban thường vụ cấp ủy quyết định giới thiệu để hội đồng nhân dân bầu (hoặc cấp
có thẩm quyền quyết định).
- Ban thường vụ cấp ủy các
cấp giới thiệu các chức danh thuộc diện ban thường vụ quản lý để Ủy ban nhân
dân các cấp xem xét, bổ nhiệm; hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội bầu.
30.
Điều 44: Cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo
tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cùng cấp
Cấp ủy, tổ chức đảng cùng
cấp phân công cấp ủy viên, chi ủy viên theo dõi, kiểm tra hoạt động của tổ chức
đoàn. Định kỳ hằng năm, tập thể cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy hoặc chi bộ
nghe báo cáo để lãnh đạo, chỉ đạo về hoạt động của tổ chức đoàn cùng cấp.
31.
Điều 46: Đảng phí, nguyên tắc, chế độ
quản lý tài chính, tài sản của Đảng
31.1. Đảng phí: Đảng viên
đóng đảng phí trên cơ sở tiền lương, tiền công, khoản thu nhập coi như tiền
lương, tiền công, sinh hoạt phí và các khoản phụ cấp theo tiền lương, tiền
công, sinh hoạt phí... theo quy định của Bộ Chính trị.
31.2. Nguyên tắc, chế độ
quản lý tài chính, tài sản của Đảng.
31.2.1. Kinh phí hoạt động
của tổ chức đảng các cấp, phụ cấp công tác đảng đối với chi ủy chi bộ trong
doanh nghiệp ngoài nhà nước, chi bộ đặc thù khác sử dụng đảng phí, tài chính của
Đảng theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hướng dẫn của Văn phòng Trung
ương Đảng và Bộ Tài chính.
31.2.2. Cấp ủy các cấp
lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động tài chính và quản lý tài sản của Đảng ở các tổ chức đảng cấp dưới; chịu
trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên và các tổ chức đảng cấp dưới về hoạt động và quản lý tài
chính, tài sản ở cấp mình.
31.2.3. Cấp ủy các cấp có
thể lập các hình thức tổ chức phù hợp (phòng, bộ phận...) hoặc cử cán bộ giúp cấp
ủy thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính và tài sản của Đảng ở cấp mình theo hướng
dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và Văn phòng Trung ương Đảng. Các tổ chức đó có
trách nhiệm giúp cấp ủy hướng dẫn, kiểm tra cấp ủy và cơ quan tài chính, quản trị của
tổ chức đảng cấp dưới về nghiệp vụ tài chính, quản lý và sử dụng tài sản của Đảng;
định kỳ báo cáo với cấp ủy cấp mình xem xét về kết quả thực hiện nhiệm vụ quản
lý tài chính và tài sản được giao.
31.2.4. Tài chính, tài sản
của Đảng được công khai trong nội bộ từng cấp ủy, tổ chức đảng và trong từng cơ
quan đảng theo năm ngân sách nhà nước. Hằng năm, cơ quan tài chính đảng các cấp
có trách nhiệm báo cáo quyết toán ngân sách năm trước và dự toán năm sau với cấp
ủy cấp mình.
31.2.5. Ủy ban kiểm tra của
cấp ủy các cấp có trách nhiệm kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ
quan tài chính cấp ủy cùng cấp.
32. Căn
cứ Điều lệ Đảng và Quy định trên đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư được quy định một
số vấn đề khác theo thẩm quyền.
33. Ban
Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo các cấp
ủy, tổ chức đảng, cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy, cán bộ,
đảng viên tổ chức quán triệt, thực hiện Quy định thi hành Điều lệ Đảng, đồng bộ
với việc sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; chỉ
đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc nghiên cứu để hướng dẫn thực
hiện chuyển đổi số trong hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị của Đảng,
những vấn đề thuộc về phương pháp, quy trình, thủ tục và nghiệp vụ để cụ thể
hoá những quy định của Điều lệ Đảng, phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn
của công tác xây dựng Đảng hiện nay.
Quy định này được ban hành
trong hệ thống Đảng tới các chi bộ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các tổ
chức đảng và đảng viên có trách nhiệm thi hành.
Các quy định trước đây trái với nội dung Quy định
này đều bãi bỏ.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh ủy,
thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
- Các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương,
- Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|