CHỈ THỊ
CỦA BAN BÍ THƯ
VỀ TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM AN NINH MẠNG, BẢO MẬT THÔNG
TIN, AN NINH DỮ LIỆU TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
-----
Thời
gian qua, thực hiện chủ trương, các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật
thông tin, an ninh dữ liệu đã được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo; nhận thức về tầm quan trọng của an ninh mạng được nâng lên; hành lang
pháp lý từng bước được hoàn thiện; năng lực kỹ thuật bảo đảm an ninh mạng của một
số cơ quan được tăng cường; hoạt động hợp tác quốc tế lĩnh vực an ninh mạng đạt
được dấu ấn quan trọng, góp phần đưa chỉ số an ninh mạng toàn cầu của Việt Nam
vươn lên thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng quốc tế. An ninh mạng, bảo mật
thông tin, an ninh dữ liệu đã được đặc biệt coi trọng trong quá trình chuyển đổi
số quốc gia, triển khai Chính phủ điện tử, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị sau sắp xếp, sáp nhập,
hợp nhất, điều chỉnh địa giới hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa
phương 2 cấp.
Bên
cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin,
an ninh dữ liệu vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế: Công tác quản lý nhà nước chưa
theo kịp yêu cầu thực tiễn, tổ chức thực hiện chồng chéo, thiếu đồng bộ; nhận
thức của một bộ phận lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và Nhân dân về an ninh mạng, bảo
mật thông tin còn chưa đầy đủ và sâu sắc; còn tình trạng một số hệ thống thông
tin chưa đủ điều kiện an ninh mạng theo quy định, nhưng đã được đưa vào sử dụng,
tạo ra các rủi ro về an ninh mạng, buộc phải đầu tư bổ sung để bảo đảm tuân thủ
các quy định của pháp luật, các điều kiện về an ninh mạng; nguồn nhân lực chất
lượng cao còn thiếu; ngân sách dành cho an toàn, bảo mật thông tin chưa đáp ứng
yêu cầu; hạ tầng số chưa đồng bộ, một số hệ thống được đầu tư manh mún chưa bảo
đảm các tiêu chuẩn an ninh mạng tối thiểu; mức độ tự chủ về công nghệ, sản phẩm
an ninh mạng chưa cao.
Dự
báo tình hình an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trên thế giới và
trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Trong bối cảnh dữ liệu trở
thành tài nguyên chiến lược, trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng, không
gian mạng trở thành không gian tác chiến mới, công tác bảo đảm an ninh mạng, an
ninh dữ liệu, bảo mật thông tin không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là vấn đề an
ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia, ổn định chính trị, xã hội và năng lực cạnh
tranh quốc gia. Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng đe doạ
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, công cuộc chuyển đổi số đặt
ra yêu cầu cấp bách đối với công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng quốc
gia trong tình hình mới.
Tại
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đưa ra một số định
hướng, mục tiêu, yêu cầu đối với công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo đảm
chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Trước
yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới, bảo đảm an ninh mạng, bảo mật
thông tin, an ninh dữ liệu là yêu cầu cấp thiết nhằm kiến tạo một không gian mạng
an toàn, tin cậy, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
sau:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức,
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân về an ninh mạng, bảo mật
thông tin, an ninh dữ liệu
a)
Quán triệt sâu sắc quan điểm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ
liệu là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, cấp bách; là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự
quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Lực lượng Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân đóng vai trò chủ chốt. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng
thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian
mạng.
b)
Chuyển dịch tư duy chiến lược từ "Phòng thủ bị động" sang "Phòng
thủ chủ động", "Phòng thủ tích cực", xây dựng "Thế trận an
ninh mạng chủ động, toàn diện"; những nguy cơ, thách thức về an ninh mạng,
bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu phải được nhận diện và xử lý từ sớm, từ xa,
sẵn sàng có các biện pháp phòng vệ tương xứng để răn đe, vô hiệu hoá các nguy
cơ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
c)
Quán triệt phương châm "Tự chủ, tự lực, tự cường" trong xây dựng tiềm
lực an ninh mạng. Tập trung phát triển, khai thác, sử dụng hệ sinh thái sản phẩm,
dịch vụ an ninh mạng Việt Nam, ưu tiên làm chủ công nghệ lõi, giải pháp bảo mật
tiên tiến, ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới vào lĩnh vực an
ninh mạng, coi đây là những nhiệm vụ chiến lược để bảo vệ vững chắc chủ quyền
quốc gia trên không gian mạng. Áp dụng cơ chế đột phá, đặc thù, ưu đãi nhất
trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo để phát triển hệ sinh thái
sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, an ninh dữ liệu.
d)
Bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu là yếu tố nền tảng, yêu cầu bắt buộc ngay
từ khâu quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành hệ thống thông tin. Hệ thống
chưa bảo đảm an toàn, an ninh thì kiên quyết chưa đưa vào sử dụng. Thường xuyên
rà soát, kiểm tra, đánh giá an ninh mạng đối với các hệ thống công nghệ thông
tin. Việc thu thập, quản lý, khai thác dữ liệu số phải được bảo vệ ở mức độ cao
nhất; tuyệt đối không để lộ, lọt bí mật nhà nước, dữ liệu nhạy cảm, kể cả trong
quá trình thử nghiệm.
đ)
Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp,
toàn diện về công tác bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ bí mật nhà
nước tại địa phương, đơn vị mình. Kết quả công tác này là một trong những tiêu
chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức,
viên chức và người lao động hằng năm.
e)
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục kiến thức, kỹ năng
an ninh mạng; đưa nội dung này vào chương trình của hệ thống giáo dục quốc dân,
chuyên đề trong Phong trào "Bình dân học vụ số" để xây dựng "thế
hệ công dân số" văn minh, tuân thủ pháp luật. Triển khai đánh giá tín nhiệm
mạng, phát triển cơ chế liên kết và hợp tác nhằm xây dựng một không gian mạng
an toàn, tin cậy, thúc đẩy các giá trị nhân văn và nâng cao ý thức trách nhiệm
bảo đảm an ninh không gian mạng đến mọi người dùng; phát động phong trào toàn
dân bảo vệ an ninh mạng; phát huy trách nhiệm xã hội của cơ quan báo chí và người
có uy tín trong việc định hướng dư luận, lan toả thông tin tích cực và đấu
tranh với các thông tin xấu độc. Tập trung đào tạo, nâng cao năng lực, kỹ năng
của lực lượng chuyên trách về an ninh mạng.
g)
Triển khai hệ thống định danh và xác thực không gian mạng quốc gia; thống nhất
định danh công dân, người dùng mạng xã hội, thuê bao viễn thông và tài nguyên
Internet (tên miền, địa chỉ IP...). Kiên quyết xử lý triệt để tình trạng SIM
"rác", tài khoản "ảo", nặc danh; áp dụng biện pháp xác thực
danh tính bắt buộc đối với người dùng mạng xã hội và cơ chế kiểm soát độ tuổi để
bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
2. Hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước
a)
Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, thống nhất, đồng bộ hệ thống
pháp luật, cơ chế, chính sách về an ninh mạng, bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu
cá nhân, dữ liệu quốc gia, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Xây dựng chế tài xử
lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
b)
Thống nhất đầu mối, phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước bảo đảm hiệu lực,
hiệu quả. Trong đó:
-
Về an ninh mạng: Bộ Công an chịu
trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì quản lý nhà nước về an ninh mạng, bảo mật
thông tin, an ninh dữ liệu xuyên suốt (từ thiết kế, tạo lập, triển khai đến vận
hành) đối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của toàn hệ thống chính trị
và quản lý hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng đối với các hệ thống
này (trừ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quân sự và cơ yếu trong phạm vi Bộ
Quốc phòng quản lý).
-
Về mật mã và sản phẩm mật mã: Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ thực hiện trách nhiệm, phạm vi quản
lý theo đúng quy định tại Luật An ninh mạng năm 2025.
c)
Quy hoạch và phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu quốc gia bảo đảm hiện đại,
đồng bộ, an toàn. Thực hiện nghiêm quy định pháp luật yêu cầu hồ sơ thiết kế hệ
thống thông tin, dự án chuyển đổi số phải có cấu phần an ninh mạng được thẩm định,
phê duyệt trước khi đầu tư xây dựng.
d)
Xây dựng Khung quản trị rủi ro an ninh mạng quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế;
chuyển đổi tư duy từ quản lý kỹ thuật thuần tuý sang quản trị rủi ro toàn diện
nhằm tăng tính chủ động phân bổ nguồn lực và giảm thiểu tổn thất. Xây dựng và
áp dụng Bộ chỉ số đánh giá năng lực bảo đảm an ninh mạng để xếp hạng các bộ,
ngành, địa phương, tổ chức. Hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và
quy trình phối hợp ứng cứu sự cố giữa các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế.
đ)
Hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ trên không gian mạng (bao gồm cả dịch vụ xuyên biên giới). Quy
định rõ trách nhiệm của các doanh nghiệp viễn thông, Internet, tài chính, ngân
hàng trong việc bảo đảm an ninh hệ thống và phối hợp với cơ quan chức năng (Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng); thiết lập cơ chế kết nối kỹ thuật, cung cấp dữ liệu,
chứng cứ điện tử nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống"
để phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm và bảo vệ chủ quyền quốc gia; đơn
giản hoá thủ tục hành chính trong các tình huống khẩn cấp về an ninh mạng.
3. Tập trung đầu tư, hiện đại hoá hạ tầng, công nghệ
và các giải pháp kỹ thuật bảo đảm an ninh mạng
a)
Tập trung nguồn lực quốc gia nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thuật toán mật
mã kháng lượng tử để bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an ninh mạng trước thách
thức về công nghệ giải mã sử dụng tính toán lượng tử; làm chủ các công nghệ lõi
chiến lược như công nghệ mật mã, thiết kế và sản xuất chip bảo mật "Make
in Vietnam"; khuyến khích xã hội hoá đối với công tác phát triển, ứng dụng
sản phẩm mật mã dân sự để bảo mật thông tin.
b)
Xây dựng kiến trúc bảo vệ an ninh mạng quốc gia đồng bộ, thống nhất, đa lớp hỗ
trợ bảo vệ cho toàn bộ hạ tầng mạng Internet Việt Nam và hệ thống thông tin của
bộ, cơ quan, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp. Trong đó, tập trung xây dựng và
vận hành hiệu quả Hệ thống phòng vệ mạng quốc gia, Nền tảng điều hành an ninh mạng
quốc gia và các nền tảng số dùng chung quốc gia chuyên ngành an ninh mạng là nền
tảng dùng chung trong Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số nhằm bảo vệ an ninh
mạng cho các hệ thống thông tin, tài nguyên trọng yếu trên Internet của các cơ
quan, ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam; có khả năng
tích hợp, kết nối với các sản phẩm an ninh mạng phù hợp, đáp ứng tiêu chuẩn, quy
chuẩn về an ninh mạng. Nâng cao năng lực của Trung tâm An ninh mạng quốc gia
thuộc Bộ Công an. Hướng dẫn xây dựng trung tâm an ninh mạng tại các tỉnh, thành
phố. Ban hành danh mục thiết bị tối thiểu cần có tại các trung tâm an ninh mạng.
Mở rộng kết nối giám sát an ninh mạng đến toàn bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở
dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin, hệ thống dùng chung của toàn hệ thống
chính trị. Đôn đốc các cơ quan, ban, bộ, ngành, địa phương thiết lập kênh kết nối
trao đổi thông tin, dữ liệu phục vụ giám sát, điều phối ứng cứu, khắc phục sự cố
an ninh mạng theo hướng dẫn của lực lượng chuyên trách.
c)
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an
ninh mạng; tổ chức rà soát, kiểm tra, đánh giá định kỳ công tác bảo đảm an ninh
thông tin, an ninh mạng. Tập trung phát triển giải pháp kỹ thuật bảo đảm tuyệt
đối an toàn cho các hệ thống thông tin trọng yếu; tăng cường phối hợp chặt chẽ,
hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng chuyên trách trong bảo vệ an ninh mạng
toàn hệ thống chính trị.
d)
Rà soát, điều chỉnh quy hoạch hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng tập trung
máy chủ về các trung tâm dữ liệu đạt chuẩn, đủ điều kiện an ninh mạng. Tăng cường
bảo đảm an ninh kết nối, duy trì sự ổn định, thông suốt và an toàn của các luồng
dữ liệu quốc gia, kết nối quốc tế trong mọi tình huống, kể cả khi xảy ra thảm
hoạ, chiến tranh.
đ)
Bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững cho công tác an ninh mạng. Thực hiện
nghiêm quy định ưu tiên sử dụng sản phẩm, giải pháp an ninh mạng trong nước trong
các dự án đầu tư công. Bảo đảm tỉ lệ kinh phí chi cho an ninh mạng, bảo mật
thông tin đạt tối thiểu 15% tổng kinh phí triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, lãng
phí.
4. Xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận
quốc phòng toàn dân trên không gian mạng; phát triển tiềm lực, công nghệ và nguồn
nhân lực
a)
Xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên
không gian mạng vững chắc. Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang
nhân dân; huy động sức mạnh tổng hợp của các doanh nghiệp công nghệ, viễn thông
và các tầng lớp nhân dân. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông,
Internet phải xác định rõ trách nhiệm là "tuyến đầu" trong bảo vệ an
ninh mạng.
b)
Tập trung nguồn lực xây dựng nền công nghiệp an ninh mạng tự chủ, tự cường; ưu
tiên phát triển các sản phẩm "Make in Vietnam". Trong đó, chú trọng
làm chủ và sản xuất các sản phẩm cốt lõi, nền tảng bao gồm: Giải pháp tường lửa,
phòng, chống mã độc, bảo vệ thiết bị đầu cuối, nền tảng điện toán đám mây và hệ
điều hành dùng riêng. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp
công nghệ, cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo tham gia phát triển hệ sinh thái an
ninh mạng. Tăng cường công tác đánh giá, kiểm định, chứng nhận hợp chuẩn, hợp
quy; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thương mại hoá sản phẩm, dịch vụ,
hướng tới xuất khẩu và cạnh tranh quốc tế.
c)
Đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao. Tăng
cường liên kết giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong đào tạo, huấn
luyện thực chiến. Xây dựng mạng lưới chuyên gia an ninh mạng trong và ngoài nước,
sẵn sàng huy động nguồn lực xã hội tham gia ứng cứu sự cố, tình huống nguy hiểm
về an ninh mạng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, đãi ngộ chuyên
gia giỏi, nhân tài tham gia phục vụ công tác an ninh mạng quốc gia.
5. Về hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh mạng
a) Tăng
cường và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương, đa phương trên lĩnh vực
an ninh mạng, trọng tâm là chia sẻ thông tin tình báo, cảnh báo sớm; phối hợp
quốc tế phòng, chống và ứng phó sự cố tấn công mạng; điều tra, truy tố tội phạm
mạng xuyên quốc gia; bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong quá
trình hợp tác, tiếp thu kinh nghiệm, công nghệ và chuẩn mực quốc tế về an ninh
mạng.
b)
Triển khai hiệu quả, thực chất Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng
năm 2025 (Công ước Hà Nội). Chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ pháp lý,
chuẩn mực chung của quốc tế; sớm nghiên cứu, ban hành Tuyên bố quốc gia của Việt
Nam về việc áp dụng luật pháp quốc tế trên không gian mạng để khẳng định chủ
quyền và trách nhiệm quốc gia. Tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin với lực
lượng chức năng các nước; cử cán bộ đi đào tạo, huấn luyện chuyên sâu tại nước
ngoài và tích cực tham gia các cuộc diễn tập an ninh mạng quốc tế. Nghiên cứu,
đề xuất thành lập Trung tâm đào tạo khu vực về phòng, chống tội phạm mạng và an
ninh mạng tại Việt Nam để nâng cao vị thế và năng lực dẫn dắt trong khu vực.
6. Tổ chức thực hiện
a)
Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng Trung ương: Tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình hành động thực
hiện Chỉ thị; chịu trách nhiệm trước Ban Bí thư về kết quả công tác bảo đảm an
ninh mạng tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
b)
Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Chính phủ:
-
Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động và tổ chức triển khai thực hiện
Chỉ thị.
-
Lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về an ninh mạng,
cơ yếu, bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản liên quan để thể chế hoá kịp thời
các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Chỉ thị này.
-
Chỉ đạo các cơ quan liên quan đề xuất xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách đột
phá đặc thù, ưu đãi vượt trội để thu hút, giữ chân các chuyên gia, nhân tài an
ninh mạng, đào tạo nhân lực chất lượng cao, hướng tới mục tiêu cả nước có
10.000 chuyên gia an ninh mạng vào năm 2030.
c)
Đảng uỷ Công an Trung ương: Lãnh
đạo, chỉ đạo Bộ Công an:
-
Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về an
ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu (trừ lĩnh vực quân sự, cơ yếu);
quản lý nhà nước về sản phẩm mật mã an ninh.
-
Chủ trì xây dựng, công bố Bộ chỉ số bảo đảm an ninh mạng quốc gia và tổ chức
đánh giá, xếp hạng định kỳ hằng năm đối với các ban, bộ, ngành, địa phương.
-
Nghiên cứu, xây dựng, phát triển và ứng dụng sản phẩm mật mã dân sự vào công
tác bảo đảm an ninh mạng quốc gia theo quy định; chủ trì triển khai các nhiệm vụ
về phát triển và ứng dụng sản phẩm mật mã an ninh; chỉ đạo huy động các nguồn lực
xã hội tham gia bảo vệ an ninh mạng quốc gia.
-
Chủ trì, phối hợp đẩy mạnh kết nối, sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về
dân cư để thống nhất định danh không gian mạng toàn diện; tập trung chỉ đạo xử
lý dứt điểm tình trạng SIM "rác", tài khoản "ảo" và thiết lập
trật tự, kỷ cương trong quản lý người dùng mạng xã hội; bảo đảm các yêu cầu về
bảo vệ an ninh mạng quốc gia, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ trẻ em trên
không gian mạng.
d)
Quân uỷ Trung ương:
-
Chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác bảo đảm
an ninh mạng, mật mã, bảo mật thông tin trong lĩnh vực quân sự, cơ yếu thuộc phạm
vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
- Đảng
uỷ Ban Cơ yếu Chính phủ lãnh đạo thống nhất quản lý nhà nước về mật mã (bao gồm
mật mã cơ yếu, mật mã dân sự) và sản phẩm mật mã cơ yếu. Phối hợp chặt chẽ với
Đảng uỷ Công an Trung ương trong công tác bảo đảm an ninh mạng chung.
đ)
Đảng uỷ Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chủ
trì, phối hợp xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng
chất lượng cao; tích hợp kiến thức an ninh mạng vào hệ thống giáo dục quốc dân.
e)
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương: Chủ
trì chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Chỉ thị sâu
rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội.
g)
Văn phòng Trung ương Đảng: Chủ
trì, phối hợp với Đảng uỷ Công an Trung ương và Quân uỷ Trung ương theo dõi,
đôn đốc, kiểm tra và định kỳ báo cáo Ban Bí thư việc thực hiện Chỉ thị.
Chỉ
thị này phổ biến đến chi bộ.
|
Nơi nhận:
- Bộ Chính trị, Ban Bí thư (để báo cáo),
- Các cơ quan, ban đảng Trung ương,
- Các tỉnh ủy, thành ủy, ban đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
- Đảng ủy các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,
- Các đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương,
- Các đồng chí Ủy viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN BÍ THƯ
Trần Cẩm Tú
|