Kính gửi:
Công ty TNHH MCNEX VINA.
Mã số thuế: 2700667339.
Địa chỉ: Lô CN1 Khu Công Nghiệp Phúc Sơn, phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Thuế tỉnh Ninh Bình nhận được công văn số
75/MC-CV.2016 ngày 24/7/2026 của Công ty TNHH MCNEX VINA (sau đây gọi là
Công ty) về việc thuế TNCN. Về vấn đề này, Thuế tỉnh Ninh Bình có ý kiến như
sau:
Tại khoản 1,3 Điều 26, Mục I, Chương III Nghị định
số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định:
“Điều 26. Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm
thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép:
1. Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền
công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi
làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời
gian theo pháp luật về lao động.…
....
3. Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban
đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt
mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu
thuế của cá nhân”.
Tại Điều 107 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày
20/11/2019 của Quốc hội quy định:
“1. Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm
việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước
lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động
làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:
a) Phải được sự đồng ý của người lao động;
b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người
lao động không quá 50% số giờ làm việc bình
thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy
định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng
số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không
quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá
40 giờ trong 01 tháng;
c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người
lao động không quá 200 giờ trong 01 năm,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Người sử dụng lao động được sử dụng
người lao động làm thêm không quá 300 giờ
trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc
hoặc trường hợp sau đây:
a) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt,
may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
...
4. Khi tổ chức làm thêm giờ
theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng
lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan
chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh.…”
Căn cứ các quy định nêu trên và theo trình bày của
Công ty, trường hợp Công ty hoạt động trong lĩnh vực điện tử thì tổng số giờ
làm thêm của người lao động không quá 300 giờ/năm. Phần tiền lương, tiền công
trả cho thời gian làm thêm giờ chỉ được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) nếu
việc làm thêm đáp ứng đầy đủ điều kiện và giới hạn thời gian theo pháp luật lao
động; phần không đáp ứng quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Cụ thể:
1.1. Trường hợp trong một tháng người lao động làm
thêm vượt 40 giờ thì phần tiền lương, tiền công tương ứng với số giờ làm thêm
vượt 40 giờ trong tháng không thuộc diện miễn thuế TNCN và phải tính vào thu nhập
chịu thuế của tháng phát sinh.
1.2. Trường hợp người lao động chưa vượt 40 giờ làm
thêm trong tháng nhưng tổng số giờ làm thêm lũy kế trong năm đã đạt giới hạn
300 giờ/năm theo trường hợp được phép áp dụng tại khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao
động thì phần tiền lương, tiền công tương ứng với thời gian làm thêm vượt giới
hạn đó không thuộc diện miễn thuế TNCN.
1.3. Trường hợp trong một tháng người lao động làm
thêm vượt 40 giờ/tháng nhưng tổng số giờ làm thêm trong năm chưa vượt 300 giờ/năm
thì phần tiền lương, tiền công tương ứng với số giờ vượt 40 giờ/tháng vẫn không
thuộc diện miễn thuế TNCN.
1.4 Trường hợp cùng một thời điểm người lao động vừa
vượt giới hạn 40 giờ/tháng vừa vượt giới hạn 300 giờ/năm thì xác định thu nhập
chịu thuế theo thời gian làm thêm thực tế kể từ thời điểm không còn đáp ứng một
trong các giới hạn theo quy định của pháp luật lao động.
Tại khoản 2,3, Điều 98 Bộ luật Lao động năm 2019
quy định:
“2. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả
thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương
thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
3. Người lao động làm thêm giờ
vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao
động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo
đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm
vào ban ngày của ngày làm việc bình thường
hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết...”
Căn cứ các quy định nêu trên Thuế tỉnh Ninh Bình hướng
dẫn theo nguyên tắc như sau: Khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm phù hợp
với quy định của pháp luật lao động khi chi trả được miễn thuế TNCN; phần chi
trả vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế. Theo đó,
trường hợp Công ty trả tiền làm việc ban đêm cho người lao động bằng 35% tiền
lương làm căn cứ tính theo quy định, thì phần tiền lương làm việc ban đêm tương
ứng với mức 30% và được xác định theo Điều 56 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày
14/12/2020 của Chính phủ thuộc diện miễn thuế TNCN; phần chi trả cao hơn mức
quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Tại khoản 2, 3 Điều 49 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP
quy định về giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản
giảm trừ khác:
“2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ
vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền
công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ
thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám
bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh
mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23
triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo
dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước
tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học
phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo
dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định
của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ
năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào
tạo.
3. Các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ
quy định tại khoản 2 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có hóa đơn, chứng từ theo quy
định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y
tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh,
chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải
thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của
người nộp thuế;
c) Không được chi trả từ các nguồn
khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức,
cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình
thức.”
Tại khoản 1, Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP về khấu
trừ thuế quy định.
“1.Trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này, khi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế phải thực
hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân căn cứ vào:
a) Thu nhập tính thuế tháng (đối
với các khoản thu nhập do tổ chức, cá nhân chi
trả, chi trả thay cho cá nhân);
b) Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9
của Luật Thuế TNCN.”
Tại khoản 3 Điều 51 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy
định:
“3. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị
giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định
tại Điều 40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại
Điều 49 của Nghị định này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào
thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế….”
Căn cứ các quy định trên, trường hợp người lao động
có khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo đáp ứng đầy đủ điều kiện tại Điều 49 và
có đề nghị áp dụng khoản giảm trừ thì Công ty căn cứ hồ sơ, hóa đơn, chứng từ
do người lao động cung cấp để xác định khoản giảm trừ khi xác định thu nhập
tính thuế phục vụ việc khấu trừ thuế TNCN theo khoản 1, Điều 50 Nghị định số
253/2026/NĐ-CP (hạn mức giảm trừ được xác định theo năm, không phân bổ bình
quân theo tháng). Người lao động có yêu cầu áp dụng các khoản giảm trừ tại Điều
49 phải tự thực hiện quyết toán thuế TNCN theo khoản 3 Điều 51 và không thuộc
trường hợp ủy quyền cho Công ty quyết toán thay đối với năm có yêu cầu giảm trừ.
Đề nghị Công ty căn cứ vào tình hình thực tế phát
sinh tại đơn vị, đối chiếu với các quy định nêu trên để thực hiện. Trường hợp
còn vướng mắc, đơn vị liên hệ với Phòng Quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp số 1 - Thuế
tỉnh Ninh Bình theo địa chỉ: Số 215, đường Đinh Tiên Hoàng, phường Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình; số điện thoại: 02293.875.152 để được hỗ trợ.
Thuế tỉnh Ninh Bình thông báo để Công ty biết, thực
hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Thuế tỉnh;
- Các phòng: NVDTPC, QLDN2, QLDN3;
- Website Thuế tỉnh Ninh Bình;
- Lưu: VT, QLDN1.
|
KT. TRƯỞNG THUẾ
TỈNH
PHÓ TRƯỞNG THUẾ TỈNH
Nguyễn Quang Hệ
|