Kính gửi: Cục hải quan các tỉnh,
thành phố
Ngày
22/12/1998, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 172/1998/TT/BTC hướng dẫn thi
hành Nghị định số 54/CP ngày 28/8/1993, số 94/1998/NĐ/CP ngày 17/11/1998 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Căn
cứ các điều khoản quy định tại Thông tư này, để kịp thời triển khai thực hiện
trước mắt Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể một số nội dung sau:
1/ Về tỷ giá
tính thuế
Tỷ giá làm cơ
sở để xác định giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là tỷ giá
mua, bán thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam công bố được đăng trên báo Nhân dân hàng ngày. Trường hợp vào
các ngày không phát hành báo Nhân dân (hoặc có phát hành nhưng không thông báo
tỷ giá) hoặc tại thời điểm đăng ký tờ khai chưa nhận được báo Nhân dân thì tỷ
giá tính thuế được áp dụng theo tỷ giá của ngày trước đó.
Đối với các
ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá 10 ngày/lần thì Cục Hải
quan địa phương tiến hành niêm yết công khai tại nơi làm thủ tục Hải quan ngay
sau khi nhận được FAX của Tổng cục Hải quan.
- Các ngoại tệ
khác chưa công bố tỷ giá được theo thời hạn trên, khi phát sinh Cục Hải quan địa
phương báo cáo ngay về Tổng cục Hải quan để thông báo với Ngân hàng bổ sung.
2/ Về đăng ký
kê khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và thu nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Cục Hải quan
các tỉnh, thành phố có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn các đối tượng làm thủ
tục xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện đúng quy trình hành thu ban hành kèm theo
Quyết định số 383/1998/TCHQ - QĐ ngày 17/11/1998 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải
quan; Chỉ thị số 14/1998/CT - TCHQ ngày 17/12/1998 của Tổng cục trưởng Tổng cục
Hải quan về việc thực hiện quy trình hành thu công văn số 4935/1998/TCHQ - KTTT
này 31/12/1998 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn Quyết định số 383/1998/TCHQ - QĐ
ngày 17/11/1998. Trong đó một số nội dung được cụ thể thêm như sau:
a. Thời điểm
tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là ngày đối tượng nộp thuế đăng ký tờ khai
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu với cơ quan Hải quan, được cơ quan Hải quan tiếp
nhận và xác nhận đăng ký tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Cơ quan Hải
quan nơi làm thủ tục XNK khi tiếp nhận tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Hải
quan phải đóng dấu đã tiếp nhận vào tờ khai ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm tiếp
nhận tờ khai Hải quan đồng thời phải mở sổ theo dõi theo thứ tự tiếp nhận tờ
khai và thời gian tiếp nhận tờ khai Hải quan.
Thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu được tính theo thuế suất, giá tính thuế, tỷ giá tại ngày đối tượng
nộp thuế đăng ký tờ khai hàng hóa XNK với cơ quan Hải quan. Qúa 15 ngày (ngày
theo lịch) kể từ ngày đăng ký tờ khai hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu cho cơ
quan Hải quan nhưng đối tượng nộp thuế chưa có hàng hóa thực xuất khẩu hoặc nhập
khẩu thì tờ khai hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu đã đăng ý với cơ quan Hải
quan không có giá trị làm thủ tục Hải quan hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
Khi có hàng thực tế xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối tượng nộp thuế phải làm lại thủ
tục kê khai và đăng ký tờ khai hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu với cơ quan Hải
quan, thời điểm tính thuế là ngày đăng ký tờ khai lần sau, được cơ quan Hải
quan tiếp nhận và xác nhận đăng ký tờ khai. Việc xác định ngày có hàng thực xuất
khẩu, thực nhập khẩu thực hiện theo quy định hiện hành của Tổng cục Hải quan.
b. Thời hạn
thông báo thuế theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 94/1998/NĐ
- CP ngày 17/11/1998 được thực hiện cụ thể như sau:
b.1 Trong thời
hạn 8 giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của
đối tượng nộp thuế, cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục XNK, phải thông báo chính
thức cho đối tượng nộp thuế về số thuế phải nộp theo kê khai của đối tượng nộp
thuế.
b.2 Trong thời
hạn 8 giờ làm việc kể từ khi cơ quan Hải quan kiểm hóa xong lô hàng thực tế xuất
khẩu, nhập khẩu, nếu có khác biệt về số thuế phải nộp so với thông báo theo kê
khai ban đầu, thì cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục XNK phải có quyết định điều
chỉnh số thuế phải nộp còn thiếu hoặc thừa so với số thuế đã thông báo theo kê
khai và thông báo ngay cho đối tượng nộp thuế biết để kịp thời nhận quyết định điều
chỉnh.
Đối với những
trường hợp bắt buộc phải có giám định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng để đảm
bảo chính xác cho việc tính thuế (như xác định tên mặt hàng, mã số tính thuế
theo danh mục Biểu thuế, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tình trạng cũ, mới của
hàng hóa nhập khẩu) thì thời gian ra quyết định điều chỉnh số thuế phải nộp được
kéo dài hơn nhưng tối đa không qúa 15 ngày làm việc.
Cơ quan Hải
quan nơi làm thủ tục, Hải quan hàng hóa XNK và thu thuế xuất nhập khẩu khi kiểm
hóa, tính thuế không thể xác định rõ ràng về mặt hàng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ
thuật, tình trạng cũ, mới làm căn cứ tính thuế có quyền yêu cầu giám định đối với
các trường hợp quy định tại điểm này, đồng thời phải thông báo lại cho đối tượng
nộp thuế biết lý do phải giám định. Kết qủa giám định theo yêu cầu của cơ quan
Hải quan là kết qủa để Hải quan căn cứ tính thuế và thu thuế xuất nhập khẩu.
c. Thời hạn nộp
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thực hiện theo quy định tại mục
III phần C Thông tư 172/1998/TT/BTC của Bộ Tài chính. Trong đó, các trường
hợp áp dụng thời hạn nộp thuế là 15 ngày, 30 ngày, 275 ngày, (ngày theo lịch được
hiểu là 15 ngày, 30 ngày, 275 ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật.
- Trường hợp
hàng tiêu dùng phải nộp xong thuế nhập khẩu trước khi nhận hàng, cơ quan Hải
quan nơi làm thủ tục Hải quan hàng hóa XNK căn cứ Danh mục hàng tiêu dùng ban
hành kèm theo Quyết định 1655/1998/QĐ - BTM ngày 25/12/1998 của Bộ Thương mại để
ra thông báo thuế cho lô hàng nhập khẩu, thu thuế và giải phóng hàng theo quy định.
* Trong trường
hợp một lô hàng nhập khẩu nhưng có những mục đích khác nhau (vừa để sản xuất
hàng xuất khẩu, vừa để sản xuất tiêu thụ tại Việt Nam) hoặc cùng một hợp đồng
nhập khẩu nhưng có nhiều loại mặt hàng khác nhau (vừa có hàng tiêu dùng, vừa có
hàng là nguyên liệu, vật liệu ...) thì cơ quan Hải quan cho phép đối tượng nộp
thuế được tách riêng từng tờ khai Hải quan hàng nhập khẩu theo từng loại hình,
mặt hàng nhập khẩu để làm thủ tục Hải quan và ra thông báo thời hạn nộp thuế
phù hợp với quy định tại mục III phần C Thông tư
172/1998/TT/BTC của Bộ Tài chính.
Công văn này có
hiệu lực thi hành từ 1/1/1999 và hủy bỏ nội dung tương ứng nêu tại công văn
1073/TCHQ - GSQL ngày 14/4/1998 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn về thời điểm
khai báo Hải quan trước khi hàng đến cửa khẩu.
Tổng cục Hải
quan yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố, sau khi nhận được công văn này,
khẩn trương triển khai thực hiện và niêm yết công khai để các đối tượng làm thủ
tục xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện đúng Luật định. Trong qúa trình thực hiện nếu
có vướng mắc các đơn vị phản ánh về Tổng cục Hải quan để nghiên cứu và các biện
pháp xử lý kịp thời.