|
BỘ
TÀI CHÍNH
CỤC HẢI QUAN
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 16491/CHQ-PC
V/v triển khai thực hiện Nghị định số
169/2026/NĐ-CP
|
Hà Nội, ngày 20
tháng 5 năm 2026
|
Kính gửi: Các đơn vị thuộc
Cục Hải quan
Ngày 15/5/2026, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Nghị định số 169/2026/NĐ-CP có nhiều điểm mới so với Nghị định 128/2020/NĐ-CP
và Điều 2 Nghị định 102/2021/NĐ-CP.
Để triển khai thực hiện
Nghị định số 169/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ kịp thời, đầy đủ, đúng
quy định, Cục Hải quan yêu cầu:
1. Thủ trưởng các đơn vị
tổ chức cho cán bộ, công chức trong đơn vị nghiên cứu kỹ và triển khai thực hiện
các quy định của Nghị định số 169/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026.
2. Công khai, tuyên truyền,
phổ biến về nội dung của Nghị định số 169/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 cho người
khai hải quan, người nộp thuế biết, thực hiện.
Gửi kèm:
(1) Nghị định số
169/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực hải quan;
(2) Phụ lục một số điểm
mới của Nghị định số 169/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2026 của Chính phủ.
Cục Hải quan thông báo để
các đơn vị biết, thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, PC (2b).
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Nguyễn Thành Hưng
|
Phụ
lục
MỘT
SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 169/2026/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2026 CỦA CHÍNH
PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
(Ban
hành kèm theo công văn số: 16491/CHQ-PC ngày 20/5/2026 của Cục Hải quan)
1. Bổ sung khoản 2
Điều 3 các quy định: “2. Tang vật vi phạm hành chính là vật, tiền, hàng
hóa có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính; không bao gồm vật, tiền,
hàng hóa đã khai hải quan theo đúng quy định của pháp luật.”
2. Bổ sung quy định về thời hiệu tại
khoản 4 Điều 5: Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do
cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến theo quy định tại Điều 63
Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật
số 67/2020/QH14 và Luật số 88/2025/QH15 thì thời hiệu được kéo dài thêm 01 năm
so với điểm a khoản 1, khoản 2 Điều này.
3. Bổ sung một số trường hợp không
xử phạt vi phạm hành chính tại khoản 2 Điều 7, gồm:
- Người nộp thuế có hành vi khai
sai theo quy định tại Điều 10 Nghị định này nhưng đã khai bổ
sung trước thời điểm cơ quan hải quan thông báo việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải
quan đối với hàng hóa đang làm thủ tục hải quan;
- Khai bổ sung trong thời hạn 60
ngày kể từ ngày thông quan và trước thời điểm quyết định thanh tra, kiểm tra đối
với hàng hóa đã thông quan, kiểm tra sau thông quan;
- Sửa đổi, bổ sung báo cáo quyết
toán trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán và trước thời điểm
quyết định kiểm tra báo cáo quyết toán, thanh tra, kiểm tra đối với hàng hóa đã
thông quan, kiểm tra sau thông quan;
- Khai bổ sung về trị giá hải
quan trong thời hạn quy định đối với trường hợp hàng hóa chưa có giá chính thức
tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, hàng hóa có khoản thực thanh toán, hàng
hóa có các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan chưa xác định được tại thời
điểm đăng ký tờ khai hải quan;
- Khai bổ sung trong thời hạn
quy định đối với trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu được thỏa thuận dung sai về số
lượng, cấp độ thương mại của hàng hóa mà hàng hóa gửi thừa không vượt quá dung
sai và hàng hóa không thừa so với giấy phép, giấy chứng nhận kiểm tra chuyên
ngành hoặc thừa so với giấy phép, giấy chứng nhận kiểm tra chuyên ngành nhưng
đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép điều chỉnh số lượng trong thời hạn quy định;
- Người nộp thuế thực hiện nghĩa
vụ thuế theo văn bản hành chính hoặc quyết định xử lý của cơ quan hải quan, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của
người nộp thuế theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 37 Luật Quản
lý thuế số 108/2025/QH15.
4. Bổ sung một số hành vi vi phạm
(tại các Điều 8, 10, 12, 13, 16) tương ứng
với các quy định mới về trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức được bổ sung tại
Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy
định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm
tra, giám sát, kiểm soát hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan.
5. Điểm b khoản 4
Điều 10, cụ thể: “b) Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật
Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi điểm d khoản 31 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 và khoản
13 Điều 1 Luật số 88/2025/QH15 mà cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện
khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm ban
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.”
6. Bổ sung khoản 5
tại Điều 15 quy định như sau: “5. Hành vi quy định tại điểm
b khoản 1 Điều này được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm
đã được Bộ Tài chính, cơ quan hải quan hướng dẫn về mã số, thuế suất, mức thuế
đối với hàng hóa có cùng tên hàng, mã số, thuế suất, mức thuế với hàng hóa vi
phạm bằng một trong các hình thức sau:
a) Bộ Tài chính có văn bản hướng
dẫn về mã số, thuế suất, mức thuế;
b) Cơ quan hải quan có thẩm quyền
đã có thông báo kết quả phân tích, phân loại hoặc có văn bản xác định trước mã
số, thuế suất, mức thuế;
c) Cơ quan hải quan có thẩm quyền
đã xác định mã số, thuế suất, mức thuế đối với hàng hóa và ban hành quyết định ấn
định thuế hoặc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai
sai mã số, thuế suất, mức thuế của hàng hóa đó.”
7. Bổ sung khoản 7
Điều 19 quy định như sau: “7. Giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật,
quy chuẩn kỹ thuật nêu tại Điều này là giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật,
quy chuẩn kỹ thuật quy định tại Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 và
các văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định về giấy phép, điều kiện, tiêu
chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; điều
kiện về chủ thể kinh doanh mà thương nhân phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu”.
8. Bổ sung quy định tại Điều 33, đồng thời bổ sung khoản 7 Điều 34
về thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân để thực hiện xử phạt khi kết thúc quá
trình điều tra mà có vụ việc không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì thực
hiện xử phạt mà không cần chuyển hồ sơ cho cơ quan hải quan.
9. Bổ sung quy định tại Điều 37 về xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử
để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị
quyết số 57-NQ/TW).
10. Nghị định đã loại bỏ các quy định:
- Bỏ các quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 128/2020/NĐ-CP:
+ Đối với các hành vi vi phạm
quy định của pháp luật về quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh,
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh xảy ra trong lĩnh vực hải
quan thì áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
+ Các hành vi vi phạm hành chính
liên quan đến lĩnh vực hải quan không được quy định tại Nghị định này mà được
quy định tại các văn bản pháp luật khác thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo
quy định tại các văn bản đó.
- Hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 128/2020/NĐ-CP “Khai sai
so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng,
chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ, mã số hàng hóa nhập khẩu thuộc
đối tượng chịu thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp”
- Hành vi quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9 Nghị định số 128/2020/NĐ-CP “Vi phạm
quy định quản lý hàng hóa trong kho bảo thuế dẫn đến hàng hóa thực tế tồn kho
thiếu so với chứng từ, sổ sách kế toán, hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu mà không thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1
Điều 14 Nghị định này.”
- Hành vi quy định tại khoản 8 Điều 11 Nghị định số 128/2020/NĐ-CP “Xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hóa thực tế không đúng với khai hải quan về lượng, tên hàng, chủng loại
mà không có chứng từ để khai bổ sung theo quy định của pháp luật hải quan về
khai bổ sung, trừ trường hợp vi phạm quy định tại các Điều 15,
16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định
này”.