|
CỤC THUẾ
THUẾ TỈNH AN GIANG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1251/AGI-QLDN2
V/v chính sách thuế GTGT
|
An Giang, ngày 28
tháng 5 năm 2026
|
Kính gửi:
Công ty TNHH Kovie Vina
MST: 1601961289
Địa chỉ: Lô D, KCN Bình Long, xã Châu Phú, tỉnh An Giang.
Ngày 04/05/2026, Thuế tỉnh An Giang nhận được Công
văn số 2904/TCKT-KV ngày 29/04/2026 của Công ty TNHH Kovie Vina (Công ty) đề
nghị hướng dẫn xác định thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT).
Vấn đề này, Thuế tỉnh An Giang có ý kiến như sau:
1. Về thuế suất thuế GTGT:
Căn cứ khoản 1 Điều 4 và khoản 3 Điều 19 Nghị định
số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị
định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ) quy định:
“Điều 4. Đối tượng không chịu thuế
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy
sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ
chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập
khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản
phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ
mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt,
hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối,
đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí
sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong
dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo
quản thông thường khác.
Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp
và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng,
rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp
để xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ
chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập
khẩu theo quy định của pháp luật.
1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt
chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho
doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai,
tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu
vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng,
rừng trồng, chăn nuôi thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các
sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai,
tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm
cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến
thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như
hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế
giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định
này.
c) Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp,
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia
tăng theo phương pháp tính trực tiếp khi bản sản phẩm cây trồng, rừng trồng,
chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác
hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá
trị gia tăng phải nộp theo doanh thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với doanh thu.
…
Điều 19. Mức thuế suất 5%
3. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ,
măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm
khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4
của Nghị định này.”
Căn cứ khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng số
48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 quy định:
“Điều 9. Thuế suất
3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch
vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các
nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ
chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.”
Căn cứ các quy định nêu trên, khi Công ty A bán mặt
hàng xoài, thơm sấy dẻo cho Công ty TNHH Kovie Vina thì Công ty A căn cứ quy
trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty A để tự xác định mặt hàng này
là sản phẩm chế biến hay chỉ qua sơ chế thông thường, chưa chế biến thành sản
phẩm khác và áp dụng mức thuế suất thuế GTGT phù hợp theo quy định của từng thời
điểm.
2. Về hoạt động ủy thác xuất khẩu:
Căn cứ Điều 50 Luật Quản lý Ngoại thương số
05/2017/QH14 ngày 12/06/2017 quy định:
“Điều 50. Quản lý hoạt động ủy thác và nhận ủy
thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
1. Thương nhân được ủy thác xuất khẩu, ủy thác
nhập khẩu hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu
hoặc không phải là hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
2. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy
phép, theo điều kiện, bên ủy thác hoặc bên nhận ủy thác phải có giấy phép, đáp ứng
điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu trước khi ký hợp đồng ủy thác hoặc nhận ủy thác,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Trường hợp bên ủy thác không phải là thương
nhân, trên cơ sở hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật, bên ủy thác
được ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc Danh mục hàng
hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng
nhập khẩu.”
Căn cứ Điều 27 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày
01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế
giá trị gia tăng quy định:
“Điều 27. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia
tăng đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các
điều kiện quy định tại Điều 25, Điều 26 Nghị định này còn phải có: hợp đồng ký
kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ; hóa
đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ
khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu (trừ trường hợp không cần phải có tờ
khai hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan); phiếu đóng gói, vận
đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có). Trong đó:
1. Đối với hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng
hóa, cung cấp dịch vụ cho bên nước ngoài (bên nhập khẩu): trường hợp ủy thác
xuất khẩu là hợp đồng ủy thác xuất khẩu và biên bản thanh lý hợp đồng ủy
thác xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối chiếu công nợ
định kỳ giữa bên ủy thác xuất khẩu và bên nhận ủy thác xuất khẩu có ghi rõ: số
lượng, chủng loại sản phẩm, giá trị hàng ủy thác đã xuất khẩu; số, ngày hợp
đồng xuất khẩu của bên nhận ủy thác xuất khẩu ký với bên nước ngoài; số, ngày,
số tiền ghi trên chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt với bên nước ngoài của
bên nhận ủy thác xuất khẩu; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh
toán của bên nhận ủy thác xuất khẩu thanh toán cho bên ủy thác xuất khẩu; số,
ngày tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu của bên nhận ủy thác xuất khẩu.
2. Đối với tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu:
tờ khai đã hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.
3. Đối với chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt:
chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu (hoặc ngân hàng phục vụ bên
nhập khẩu) sang tài khoản mang tên cơ sở kinh doanh (bên xuất khẩu) mở tại ngân
hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy
định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo có của ngân hàng bên
xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường
hợp thanh toán trả chậm, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng
xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán bên xuất khẩu phải có chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt. Trường hợp ủy thác xuất khẩu thì phải có chứng từ thanh
toán không dùng tiền mặt của bên nước ngoài cho bên nhận ủy thác và bên nhận ủy
thác phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng xuất khẩu cho
bên ủy thác. Trường hợp bên nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác xuất
khẩu thì bên ủy thác phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và việc
thanh toán này phải được quy định trong hợp đồng. ...”
Thuế tỉnh An Giang đề nghị Công ty căn cứ vào các
quy định pháp luật nêu trên và các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại; đồng
thời, đối chiếu với nghiệp vụ thực tế tại Công ty để xác định đúng hoạt động
thương mại phát sinh.
Thuế tỉnh An Giang trả lời cho Công ty TNHH Kovie
Vina được biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Trưởng Thuế tỉnh An Giang (để báo cáo);
- Phòng NVDTPC, KTr2;
- Trang thông tin điện tử Thuế tỉnh An Giang;
- Lưu: VT, QLDN2, tnhyphuong.
|
KT. TRƯỞNG THUẾ
TỈNH
PHÓ TRƯỞNG THUẾ TỈNH
Nguyễn Văn Nồng
|