|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
3326/CT-CS
|
|
Loại văn bản:
|
Công văn
|
|
Nơi ban hành:
|
Cục Thuế
|
|
Người ký:
|
Nguyễn Thị Thanh Hằng
|
|
Ngày ban hành:
|
22/05/2026
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
Kính gửi: Thuế tỉnh Quảng
Ninh.
Cục Thuế nhận được công
văn số 557/QNI-QLDN2 ngày 06/02/2026 của Thuế tỉnh Quảng Ninh đề nghị hướng dẫn
về việc xử lý hồ sơ miễn, giảm thuế nhà thầu theo Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần (Hiệp định thuế). Về vấn đề này, Cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về
xác định đối tượng cư trú để áp dụng Hiệp định thuế
Căn cứ Khoản
1 Điều 62 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính hướng
dẫn về thủ tục hồ sơ miễn, giảm thuế theo Hiệp định thuế, đề nghị Thuế tỉnh Quảng
Ninh rà soát (các) Giấy chứng nhận cư trú của từng nhà thầu nước ngoài (NTNN) để
bảo đảm: đúng năm/giai đoạn phát sinh thu nhập đề nghị áp dụng Hiệp định, đầy đủ
tính pháp lý (đã được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch thuật theo quy định, chứng thực
hợp lệ). Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ cần yêu cầu NTNN bổ sung,
hoàn thiện hồ sơ theo quy định trước khi xem xét áp dụng Hiệp định.
2. Về
việc xác định người chủ sở hữu thực hưởng
Cơ quan thuế chỉ xem xét
áp dụng giảm thuế theo Hiệp định thuế khi NTNN đã cung cấp đầy đủ Giấy chứng nhận
cư trú hợp lệ và chứng minh được mình là chủ sở hữu thực hưởng của thu nhập đề
nghị giảm thuế theo Hiệp định thuế.
Căn cứ hướng dẫn tại khoản 3 Điều 6, Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 của
Bộ Tài chính, người chủ sở hữu thực hưởng phải là đối tượng có quyền sở hữu và
kiểm soát đối với thu nhập, tài sản, hoặc các quyền tạo ra thu nhập.
Trên cơ sở hồ sơ, hợp đồng
và thông tin do Thuế tỉnh Quảng Ninh cung cấp, quyền sở hữu đối với sáng chế,
công nghệ, thiết kế liên quan đến khoản thu nhập từ việc cấp quyền sử dụng sáng
chế sản xuất sàn gỗ/nhựa có sự tham gia của nhiều bên (Tập đoàn Shaw, Unilin,
Flooring Industries, Välinge, ...), do đó, chưa có đủ cơ sở để xác định các
NTNN là người chủ sở hữu thực hưởng của thu nhập đang đề nghị giảm thuế theo Hiệp
định thuế. Đề nghị Thuế tỉnh Quảng Ninh yêu cầu các NTNN có liên quan (gồm
Công ty I4F, Công ty Unilin và Công ty Välinge) cung cấp bổ sung tài liệu chứng minh mình là chủ sở hữu thực
hưởng tiền bản quyền đối với các sáng chế theo quy định của Hợp đồng cấp phép,
dựa trên bản chất kinh tế. Trọng tâm gồm: (i) tài liệu pháp lý về quyền sở hữu
và quyền cấp phép sáng chế; (ii) phân tích dòng tiền để xác định mức độ giữ lại
lợi ích kinh tế; (iii) quyền kiểm soát, định đoạt đối với việc khai thác và cấp
phép lại; (iv) phân tích chức năng tài sản - rủi ro; và (v) cấu trúc tập đoàn,
giao dịch liên kết.
3. Về
việc xác định bản chất khoản thu nhập
Trường hợp NTNN đáp ứng điều
kiện về đối tượng cư trú và chủ sở hữu thực hưởng, đề nghị Thuế tỉnh Quảng Ninh
tiếp tục rà soát, xác định bản chất khoản thu nhập các NTNN nhận được để áp dụng
quy định tại (các) Điều khoản tương ứng của Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Bỉ/Thụy
Điển.
Căn cứ quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 12 của Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Bỉ,
mức thuế suất giảm 5% chỉ áp dụng đối với tiền bản quyền gắn với việc sử dụng
hoặc quyền sử dụng phát minh hay yếu tố bí mật, hay chuyển giao tri thức kỹ thuật
thực chất, không bao gồm mọi trường hợp chỉ cấp quyền sử dụng sáng chế đã được
công bố. Trường hợp hợp đồng cấp phép sử dụng sáng chế mang bản chất là gói hỗn
hợp (kèm thương hiệu, dịch vụ kỹ thuật, hỗ trợ vận hành), hoặc chỉ cho phép
khai thác quyền sử dụng mà không chuyển giao bí quyết cốt lõi, khi đó, khoản
thanh toán tiền bản quyền từ việc cấp quyền sử dụng sáng chế mà Công ty I4F và
Công ty Unilin nhận được không đáp ứng đúng bản chất của nhóm 5%, và phải được
phân loại sang các nhóm khác với mức 10% hoặc 15% tùy bản chất của việc cấp
phép sử dụng sáng chế.
Căn cứ Khoản
1, 2 và 3 Điều 12 của Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Thụy Điển, quy định mức
thuế suất 15% đối với thu nhập từ tiền bản quyền theo nguyên tắc chung, mức thuế
suất giảm 5% là ngoại lệ và có điều kiện chặt chẽ, chỉ áp dụng khi tiền bản quyền
được trả liên quan đến bằng phát minh, thiết kế hoặc mẫu, hay việc chuyển giao
bí quyết công nghệ... Trong trường hợp cấp quyền sử dụng sáng chế để sản xuất
sàn gỗ nhựa của Công ty Välinge, nếu không chứng minh được yếu tố chuyển giao
công nghệ thực chất, khoản thanh toán tiền bản quyền từ việc cấp quyền sử dụng
sáng chế mà Công ty Välinge nhận được phải áp dụng mức thuế suất 15%, thay vì mức
thuế suất ưu đãi thấp hơn (5%).
4. Về việc xác định cơ sở thường trú
Căn cứ quy định tại Khoản 3.b) Điều 5 của Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Bỉ và Khoản 4 Điều 5 của Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Thụy Điển về
cơ sở thường trú cung cấp dịch vụ, 03 NTNN (gồm Công ty I4F, Công ty Unilin và Công
ty Välinge) đã và sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ cho Công ty Lioncore và Công ty
ANZ liên quan đến việc thực hiện (các) Hợp đồng cấp phép quyền sử dụng Sáng chế
sản xuất sàn gỗ/nhựa, các dịch vụ được thực hiện cả trong và ngoài lãnh thổ Việt
Nam. Ngoài ra, các hợp đồng giữa 03 NTNN trên với Công ty Lioncore và Công ty
ANZ đều có thời hạn trên 6 tháng nên việc thực hiện (các) Hợp đồng cấp phép quyền
sử dụng Sáng chế với Công ty Lioncore và Công ty ANZ đã tạo thành cơ sở thường
trú của 03 NTNN (gồm Công ty I4F, Công ty Unilin và Công ty Välinge) tại Việt
Nam.
Theo đó, 03 NTNN (gồm Công ty I4F, Công ty
Unilin và Công ty Välinge) có nghĩa vụ nộp thuế TNDN tại Việt Nam đối với
thu nhập thu được từ việc thực hiện (các) Hợp đồng cấp phép quyền sử dụng Sáng
chế với Công ty Lioncore và Công ty ANZ theo quy định tại khoản
1, Điều 7 của Hiệp định thuế.
Căn cứ quy định tại Khoản 4, Điều 12 (Tiền bản quyền) của Hiệp định thuế giữa Việt
Nam - Bỉ và Việt Nam - Thụy Điển, do thu nhập từ tiền bản quyền 03 NTNN (gồm
Công ty I4F,
Công ty Unilin và Công ty Välinge) thu được có liên quan đến một cơ sở thường
trú mà 3 NTNN này có tại Việt Nam nên các quy định tại Điều 12
(Tiền bản quyền) sẽ không được áp dụng đối với trường hợp của 3 NTNN - hay
không cần đặt vấn đề phân loại tiền bản quyền mà 3 NTNN (gồm Công ty I4F, Công
ty Unilin và Công ty Välinge) nhận được có được áp dụng mức thuế suất giảm theo
quy định tại Khoản 2, Điều 12 của Hiệp định thuế hay không. Trong trường hợp này, các quy định tại Điều
7 của Hiệp định thuế sẽ được áp dụng.
5. Về
quy định chống lạm dụng Hiệp định
Mặc dù Hiệp định thuế giữa
Việt Nam và Bỉ/Thụy Điển không quy định về thời hạn nộp hồ sơ đề nghị áp dụng
Hiệp định, tuy nhiên theo hướng dẫn của OECD và kinh nghiệm quốc tế, các quốc
gia ký kết Hiệp định thuế có trách nhiệm ban hành và duy trì các quy định nội
luật nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng Hiệp định. Do đó, việc Thuế tỉnh Quảng Ninh từ
chối xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng Hiệp định đối với khoản thuế phát sinh quá
thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư
205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 của Bộ Tài chính là phù hợp với quy định của
pháp luật thuế Việt Nam và không trái với Hiệp định thuế.
6. Về
việc xử phạt vi phạm hành chính
Hồ sơ đề nghị miễn, giảm
thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần không phải là hồ sơ khai thuế theo
quy định tại Điều 43 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Do
đó, việc chậm nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần không phải hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Đề nghị Thuế
tỉnh Quảng Ninh căn cứ quy định của pháp luật thuế hiện hành và đối chiếu hồ sơ
thực tế để hướng dẫn người nộp thuế thực hiện theo quy định.
Cục Thuế thông báo để Thuế tỉnh Quảng
Ninh biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục trưởng Mai Xuân Thành (để b/c);
- Phó Cục trưởng Đặng Ngọc Minh (để b/c);
- Các Ban: PC, KTr;
- Website Cục Thuế;
- Lưu: VT, CS.
|
TL. CỤC TRƯỞNG
TRƯỞNG BAN BAN CHÍNH SÁCH,
THUẾ QUỐC TẾ
Nguyễn Thị Thanh Hằng
|
Công văn 3326/CT-CS năm 2026 đề nghị miễn, giảm thuế cho nhà thầu theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần do Cục Thuế ban hành
Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh
Công văn 3326/CT-CS ngày 22/05/2026 đề nghị miễn, giảm thuế cho nhà thầu theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần do Cục Thuế ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
17/04/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
21/04/2026
Ban hành:
20/03/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
23/03/2026
Ban hành:
12/02/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
24/02/2026
Ban hành:
29/09/2021
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
09/10/2021
Ban hành:
13/06/2019
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
01/07/2019
Ban hành:
24/12/2013
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
02/01/2014
Ban hành:
28/02/1996
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
19/09/2013
Ban hành:
24/03/1994
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
26/11/2008
448
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|