|
BỘ THÔNG TIN VÀ
TRUYỀN THÔNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3127/BTTTT-CĐSQG
V/v tăng cường hiệu quả quản lý đầu tư ứng
dụng công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi số năm 2024
|
Hà Nội, ngày 31
tháng 7 năm 2024
|
|
Kính gửi:
|
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
|
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 82/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Chính phủ quy định quản lý
đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, có
hiệu lực kể từ ngày ký (10/7/2024).
Để tăng cường hiệu quả công
tác quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần đẩy mạnh triển
khai, hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình chuyển đổi số quốc
gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn
các Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (sau đây gọi tắt là Bộ, ngành, địa phương) triển khai một số nội
dung sau:
1. Về triển khai các quy định sửa
đổi, bổ sung tại Nghị định số 82/2024/NĐ-CP
Nghị định số 82/2024/NĐ-CP sửa
đổi 33 điều, bổ sung 07 điều, bãi bỏ 01 khoản và 03 điều của Nghị định số
73/2019/NĐ-CP. Những quy định sửa đổi, bổ sung quan trọng và hướng dẫn triển
khai chi tiết tại Phụ lục 01 kèm theo.
2. Về ban hành các quy chế, quy
định chi tiết triển khai thực hiện các hoạt động đầu tư ứng dụng công nghệ
thông tin phục vụ chuyển đổi số tại các Bộ, ngành, địa phương
Bộ, ngành, địa phương nhanh
chóng cập nhật hoặc xây dựng, ban hành, các quy chế, quy định chi tiết triển
khai thực hiện các hoạt động đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ chuyển
đổi số thuộc phạm vi quản lý trên nguyên tắc phân cấp mạnh thẩm quyền quyết định
và đề cao trách nhiệm của chủ đầu tư, phân công, giao nhiệm vụ, xác định rõ
thẩm quyền, trách nhiệm của các đơn vị liên quan; trình tự, thủ tục thực hiện.
3. Về rà soát tổng thể trách
nhiệm của Bộ, ngành, địa phương được giao trong quản lý đầu tư ứng dụng công
nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Qua theo dõi, Bộ Thông tin và
Truyền thông ghi nhận các Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện đầy đủ trách
nhiệm được giao tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP. Do vậy, đề nghị các Bộ, ngành,
địa phương chỉ đạo cơ quan, đơn vị chuyên trách công nghệ thông tin rà soát tổng
thể trách nhiệm của Bộ, ngành, địa phương được giao tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP,
Nghị định số 82/2024/NĐ-CP và phương án tổ chức, triển khai từng nhiệm vụ;
trong đó cần lưu ý thực hiện một số trách nhiệm:
a) Theo dõi, kiểm tra thực
hiện chương trình, kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong phạm vi quản
lý, bảo đảm đầu tư tập trung, đúng mục tiêu, có hiệu quả.
b) Thực hiện kiểm tra việc
tuân thủ pháp luật về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin (Nghị định
số 73/2019/NĐ-CP và các Thông tư) đối với các tổ chức, cá nhân tham gia quản
lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
trong phạm vi quản lý.
c) Đôn đốc chủ đầu tư thực
hiện trách nhiệm gửi báo cáo hoàn thành sản phẩm hoặc hạng mục công việc của
dự án cho cơ quan, đơn vị có thẩm quyền theo quy định.
d) Cân đối, bố trí, bảo đảm
kinh phí thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước để quản trị, vận hành và
bảo trì các hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu là sản
phẩm của dự án/nhiệm vụ đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin.
4. Về trình độ, năng lực của
lãnh đạo quản lý, cán bộ trực tiếp làm công tác đầu tư ứng dụng công nghệ
thông tin phục vụ chuyển đổi số
Bộ, ngành, địa phương cần quan
tâm, chú trọng nâng cao trình độ, năng lực của lãnh đạo quản lý, cán bộ trực
tiếp làm công tác đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi số;
đôn đốc, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động
tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn về chuyển đổi số, tập huấn công tác quản
lý đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ
chuyển đổi số trong và ngoài nước. Tăng cường sử dụng các công cụ số, nền
tảng số phục vụ công tác quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ
chuyển đổi số tại Bộ, ngành, địa phương mình.
5. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho Bộ, ngành và địa phương trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn ngân sách
nhà nước thực hiện các hoạt động đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ
chuyển đổi số được hiệu quả, đúng quy định, Bộ Thông tin và Truyền thông tổng
hợp các nội dung chi và hướng dẫn việc áp dụng, sử dụng các định mức, đơn giá,
mức chi chi tiết tại Phụ lục 02 kèm theo để tham khảo, áp dụng.
Trong quá trình thực hiện, nếu
có khó khăn, vướng mắc đề nghị các Bộ, ngành, địa phương kịp thời phản ánh về
Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Chuyển đổi số quốc gia) để phối hợp giải quyết.
Trân trọng./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ TT&TT: Bộ trưởng và các Thứ trưởng; các cơ quan, đơn vị thuộc, trực
thuộc Bộ;
- Đơn vị chuyên trách CNTT các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- Sở TT&TT các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;
- Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thuộc lĩnh vực CNTT;
- Lưu: VT, CĐSQG.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Đức Long
|
Phụ
lục 01
NHỮNG
QUY ĐỊNH SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUAN TRỌNG TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 82/2024/NĐ-CP VÀ HƯỚNG DẪN
TRIỂN KHAI
(Kèm
theo Công văn số /BTTTT-CĐSQG ngày tháng năm 2024 của Bộ
Thông tin và Truyền thông)
1. Về lựa chọn phương án thiết
kế (01 bước hoặc 02 bước)
Nghị định
số 82/2024/NĐ-CP sửa đổi quy định tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP về các trường
hợp thiết kế 01 bước hoặc 02 bước. Cụ thể:
- Đối với dự án đầu tư ứng dụng
công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển (dự án): Không quy định
hạn mức dưới 15 tỷ đồng phải lập thiết kế 01 bước, việc quyết định phương án
thiết kế (01 bước hoặc 02 bước) do cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định.
- Đối với hoạt động đầu tư hệ thống
thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu để thiết lập, hình thành hệ thống
(gọi tắt là hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin mang tính chất đầu tư) sử dụng
nguồn kinh phí chi thường xuyên: Thống nhất thực hiện tương tự theo quy trình của
dự án, ngoại trừ quy định liên quan đến phân bổ nguồn vốn. Tức là không còn quy
định về hình thức lập đề cương và dự toán chi tiết, mà lập Báo cáo kinh tế kỹ
thuật (thiết kế 01 bước) hoặc lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (thiết kế 02 bước).
Lựa chọn thiết kế 01 bước
hoặc 02 bước như thế nào?
Việc xác định dự án nào thực hiện
thiết kế 01 bước hay 02 bước thường dựa vào sự phức tạp/đơn giản hoặc quy mô của
dự án. Thực tế, chủ đầu tư là chủ thể nắm rõ nhất tình hình, mức độ phức tạp/đơn
giản hay quy mô lớn/nhỏ của dự án. Cụ thể, với những dự án phức tạp, quy mô lớn
nhưng chủ đầu tư đã có kinh nghiệm quản lý thực hiện các dự án tương tự thì việc
triển khai dự án mới có độ phức tạp, quy mô lớn lại không gặp khó khăn, hoàn
toàn có thể triển khai 01 bước thiết kế; với những dự án đơn giản, quy mô nhỏ
nhưng chủ đầu tư chưa có kinh nghiệm thực hiện dự án công nghệ thông tin thì lại
lúng túng, cảm thấy phức tạp, khó khăn, khi đó có thể đề xuất lựa chọn triển
khai 02 bước thiết kế.
Như vậy, trên cơ sở năng lực,
kinh nghiệm triển khai đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, chủ đầu tư đề xuất
cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định triển khai dự án theo
phương án thiết kế 01 bước hoặc 02 bước.
Cấp có thẩm quyền quyết định
phương án thiết kế khi nào?
- Đối với dự án đầu tư ứng dụng
công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển, việc quyết định
phương án thiết kế được thực hiện tại bước phê duyệt chủ trương đầu tư.
- Đối với hoạt động ứng dụng
công nghệ thông tin mang tính chất đầu tư sử dụng kinh phí chi thường xuyên, việc
quyết định phương án thiết kế được thực hiện trước khi tổ chức thực hiện lập dự
án (lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật hoặc lập Báo cáo nghiên cứu khả thi). Trường hợp
cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư là cấp có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ để
làm cơ sở lập dự toán, phân bổ kinh phí thì việc quyết định phương án thiết kế
có thể được lồng ghép ngay tại bước phê duyệt nhiệm vụ, phân bổ kinh phí.
2. Về xây dựng, công bố danh
mục và chức năng, tính năng kỹ thuật của phần mềm phổ biến
Nghị định số 82/2024/NĐ-CP bổ
sung quy định về đầu tư, mua sắm các phần mềm phổ biến được nhiều bộ, cơ quan
trung ương, địa phương có nhu cầu đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông
tin giống nhau về chức năng, tính năng kỹ thuật cơ bản trên phạm vi toàn quốc
hoặc trong phạm vi ngành, chuyên ngành, lĩnh vực. Cụ thể, đối với các phần mềm
phổ biến đã được Bộ, cơ quan trung ương công bố, việc đầu tư,
mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin đối với phần mềm phổ biến này (bao gồm
phần sửa đổi, bổ sung một số chức năng, tính năng, hiệu năng) được thực hiện
theo trình tự, thủ tục đầu tư, mua sắm phần mềm thương mại, thuê dịch vụ
công nghệ thông tin sẵn có trên thị trường.
Ngày 17/6/2024,
Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Văn bản số 2369/BTTTT-CĐSQG gửi các Bộ, cơ
quan trung ương về việc xây dựng và công bố danh mục các phần mềm phổ biến. Đến
ngày 26/7/2024, Bộ Thông tin và Truyền thông đã nhận được ý kiến phản hồi của 12/30 cơ quan, đơn vị[1]. Đối với 18 cơ quan, đơn vị chưa gửi
kết quả rà soát về các phần mềm phổ biến của ngành, chuyên ngành, lĩnh vực, đề
nghị thực hiện rà soát và sớm gửi kết quả về Bộ Thông tin và Truyền thông để tổng
hợp, báo cáo Chính phủ. Đồng thời, đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương thực hiện
trách nhiệm xây dựng và công bố danh mục và chức năng, tính năng kỹ thuật
cơ bản của phần mềm phổ biến ngành, chuyên ngành, lĩnh vực được Chính phủ giao
tại Nghị định số 82/2024/NĐ-CP.
Khi nào thực hiện đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin
đối với các phần mềm phổ biến?
Bộ, ngành, địa
phương triển khai đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin đối với các
phần mềm phổ biến sau khi bộ, cơ quan trung ương công bố danh mục và chức năng,
tính năng kỹ thuật cơ bản của phần mềm phổ biến quốc gia, phần mềm phổ biến
ngành, chuyên ngành, lĩnh vực.
3. Về thẩm
quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm các hoạt động ứng dụng công nghệ thông
tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên
Nghị định số
73/2019/NĐ-CP quy định thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm cho các hoạt
động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên xác định
theo quy định về thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ
chung. Khoản 28 Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định
về thẩm quyền quyết định đối với các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử
dụng kinh phí chi thường xuyên tại khoản 2, 3 Điều 51 Nghị định số
73/2019/NĐ-CP như sau:
“a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan trung ương quyết
định hoặc quy định thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm các hoạt động ứng
dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi
thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan
trung ương;
b) Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc quy định thẩm quyền quyết định việc đầu tư,
mua sắm các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường
xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.”
Như vậy, đối với các hoạt động quy định tại khoản 2, 3 Điều 51 Nghị
định số 73/2019/NĐ-CP, đây là các hoạt động (đầu tư hoặc thuê dịch vụ công nghệ
thông tin) có tính chất hình thành hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, cơ
sở dữ liệu nhằm mục đích tạo lập, cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ
và trao đổi thông tin; các hệ thống này không có sự tương đồng về tính chất,
quy mô, phạm vi như các hàng hóa, dịch vụ thông thường, phổ biến, thì được phép
thực hiện phân cấp thẩm quyền quyết định riêng.
Thực tế trước
đây đã có một số cơ quan, đơn vị ban hành phân cấp riêng về thẩm quyền quyết định
các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, ví dụ như Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã
ban hành Quyết định số 469/QĐ-BTP ngày 31/3/2022 quy định phân cấp, ủy quyền quản
lý tài chính, tài sản công, mua sắm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư ứng dụng công nghệ
thông tin và đầu tư công của Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quyết
định số 1222/QĐ-BTC ngày 01/7/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành
quy định chi tiết một số nội dung về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông
tin tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính; ... Các cơ
quan, đơn vị này không áp dụng theo quy định về thẩm quyền quyết định mua sắm
tài sản, hàng hóa, dịch vụ chung.
Hiện tại, các
nhiệm vụ chuyển đổi số tại các cơ quan, đơn vị đang trong giai đoạn tăng tốc
triển khai, Bộ, ngành, địa phương được tiếp tục áp dụng theo quy định về thẩm
quyền, phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ chung
hiện hành (trường hợp quy định về phân cấp chung này không loại trừ các hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên). Về lâu dài, Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, quy định thẩm
quyền quyết định riêng đối với các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin theo
quy định tại Nghị định số 82/2024/NĐ-CP, bảo đảm phù hợp với tính chất của
chuyên ngành công nghệ thông tin. Quy định về thẩm quyền quyết định có thể ban
hành bằng văn bản riêng hoặc có thể tích hợp vào văn bản quy định về thẩm quyền
quyết định việc mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ chung tại Bộ, ngành, địa
phương.
Khi xây dựng
quy định về thẩm quyền quyết định riêng đối với các hoạt động ứng dụng công nghệ
thông tin, có thể tham khảo để quy định đồng bộ hoặc quy định thấp hơn mức phân
cấp thẩm quyền quyết định theo quy định pháp luật về việc lập dự toán, quản lý,
sử dụng chi thường xuyên ngân sách nhà nước để mua sắm tài sản, trang thiết bị;
cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã
đầu tư xây dựng[2].
4. Về thẩm
quyền thẩm định thiết kế cơ sở hoặc thiết kế chi tiết dự án ứng dụng công nghệ
thông tin theo hình thức báo cáo kinh tế - kỹ thuật sử dụng nguồn kinh phí chi
thường xuyên tại địa phương
Theo quy định về
quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin trước đây, tại địa phương, thẩm quyền
thẩm định phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ của tất cả đề cương và dự
toán chi tiết (200 triệu - 15 tỷ đồng) thuộc trách nhiệm của Sở Thông tin và
Truyền thông.
Đối với dự án
thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, đơn
vị chuyên môn về công nghệ thông tin trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm
định thiết kế cơ sở, thiết kế chi tiết đối với dự án. Đối chiếu với các quy
định của pháp luật tổ chức chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị chuyên môn về
công nghệ thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Sở Thông tin và Truyền
thông. Như vậy, đối với dự án ứng dụng công nghệ thông tin do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp quyết định đầu tư, mua sắm thì xác định được rõ đơn vị thẩm định
thiết kế cơ sở, thiết kế chi tiết (trường hợp thực hiện theo hình thức báo cáo
kinh tế - kỹ thuật) là Sở Thông tin và Truyền thông.
Đối với các dự
án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của các cơ quan khác theo phân cấp thẩm
quyền (sở, ngành, cơ quan...), đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin trực
thuộc cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế
chi tiết.
Hiện nay tại một
số sở, ngành, cơ quan không có đơn vị hoặc bộ phận có chuyên môn về công nghệ
thông tin trực thuộc nên lúng túng trong việc xác định được đơn vị thẩm định
thiết kế cơ sở (trường hợp thiết kế 2 bước), thiết kế chi tiết (trường hợp thiết
kế 1 bước). Trong trường hợp này, địa phương xem xét không phân cấp thẩm quyền
quyết định đầu tư, mua sắm ứng dụng công nghệ thông tin cho các sở, ngành, cơ
quan này.
Ngoài ra, khuyến
nghị đầu mối tổ chức thẩm định dự án thực hiện lấy ý kiến hoặc trình cấp có thẩm
quyền quyết định đầu tư lấy ý kiến của Sở Thông tin và Truyền thông về các nội
dung của thiết kế cơ sở, thiết kế chi tiết; lấy ý kiến của Sở Tài chính về các
nội dung liên quan đến nguồn vốn, dự toán; đồng thời, tăng cường thuê tổ chức,
cá nhân có năng lực, kinh nghiệm thực hiện thẩm tra báo cáo nghiên cứu khả thi,
báo cáo kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở cho công tác thẩm định.
5. Về quản
lý hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông tin
Nghị định số
82/2024/NĐ-CP (khoản 30 Điều 1)[3]
bổ sung quy định yêu cầu phải thực hiện thuyết minh lựa chọn hình thức thuê dịch
vụ công nghệ thông tin hoặc đầu tư, mua sắm làm cơ sở để cấp có thẩm quyền quyết
định việc đầu tư, mua sắm quyết định thực hiện. Quy định này yêu cầu bắt buộc với
cả hoạt động thuê dịch vụ sẵn có và không sẵn có trên thị trường.
Các tiêu chí
thuyết minh là các tiêu chí chung, mang tính phổ quát; khi thực hiện, các cơ
quan, đơn vị dựa trên tình hình cụ thể của nhiệm vụ để thuyết minh chi tiết, có
thể bổ sung thêm các tiêu chí khác (nếu có). Ví dụ:
- Về trình tự, thủ tục thực hiện: thuyết minh, so sánh về
trình tự, thủ tục thực hiện của từng hình thức;
- Về phạm vi, quy mô thực hiện: thuyết minh, so sánh về phạm
vi, quy mô triển khai của từng hình thức;
- Về nguồn lực: thuyết minh, tính toán về tổng kinh phí triển
khai của từng hình thức, trong đó lưu ý đánh giá hiệu quả về phương án tài
chính của từng hình thức; phân tích khả năng cân đối nguồn vốn và khả năng bố
trí vốn cả giai đoạn hoặc từng giai đoạn triển khai; thuyết minh, so sánh về
nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị để triển khai theo từng hình thức;
- Về mức độ thay đổi về công nghệ, các yêu cầu chức năng,
phi chức năng của hệ thống: thuyết minh, so sánh về khả năng đáp ứng mức độ
thay đổi về công nghệ, yêu cầu chức năng, phi chức năng của hệ thống theo từng
hình thức;
- Về khả năng tích hợp, kết nối, liên thông của hệ thống:
thuyết minh, so sánh về khả năng tích hợp, kết nối, liên thông của hệ thống
theo từng hình thức;
- Về khả năng nâng cấp, mở rộng hệ thống: thuyết minh, so
sánh về khả năng nâng cấp, mở rộng hệ thống theo từng hình thức;
- Về khả năng bảo trì, quản trị, vận hành: thuyết minh, so
sánh về khả năng bảo trì, quản trị, vận hành hệ thống, bao gồm cả nguồn kinh
phí và nguồn nhân lực để triển khai;
- Về thời gian triển khai: phân tích về tổng thời gian thuê
dịch vụ công nghệ thông tin; tổng thời gian thực hiện đầu tư, mua sắm, bao gồm
cả thời gian chuẩn bị lập, thẩm định phê duyệt dự án, hoạt động mua sắm, kế hoạch
thuê dịch vụ;
- Về quyền sở hữu sau khi kết thúc thời gian thuê: thuyết
minh cụ thể về phương án sở hữu tài sản, thông tin, dữ liệu, … đối với từng
hình thức.
Thực hiện
thuyết minh khi nào?
Khoản 30 Điều 1
Nghị định số 82/2024/NĐ-CP quy định: “Hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông
tin phải được thuyết minh lựa chọn hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin
hoặc đầu tư, mua sắm làm cơ sở để cấp có thẩm
quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm quyết
định thực hiện.”
Như vậy, việc
thuyết minh lựa chọn hình thức nêu trên được thực hiện trước khi quyết định
thuê dịch vụ công nghệ thông tin. Việc thuyết minh có thể thực hiện trước hoặc lồng ghép cùng với hồ sơ thuyết
minh, lập dự toán thuê dịch vụ công nghệ thông tin (đối với dịch vụ sẵn có trên
thị trường), hồ sơ lập kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin (đối với dịch
vụ không sẵn có trên thị trường).
Trường hợp cấp
có thẩm quyền quyết định đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ công nghệ thông tin là cấp
có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ làm cơ sở lập dự toán, phân bổ kinh phí thì việc
thuyết minh lựa chọn hình thức nêu trên có thể thực hiện lồng ghép tại bước phê
duyệt nhiệm vụ, phân bổ kinh phí.
6. Về tính
chất gói thầu mua sắm phần mềm nội bộ
Nghị định số 82/2024/NĐ-CP (điểm i khoản 2 Điều 1) bổ sung quy
định về trang thiết bị công nghệ thông tin bao gồm các thiết bị phần cứng, phần
mềm,
cơ
sở dữ liệu và
các thiết bị số khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu
trữ và trao đổi thông tin số. Đồng thời, quy định rõ tại điểm đ khoản 2
Điều 1 Nghị định số 82/2024/NĐ-CP: “... Việc xây dựng, phát
triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ là hoạt động mua sắm trang thiết bị công
nghệ thông tin”.
Quy định sửa đổi, bổ sung nêu trên là cơ sở để bộ, ngành,
địa phương triển khai đấu thầu gói thầu xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng
phần mềm nội bộ theo loại gói thầu mua sắm hàng hóa. Đây cũng là cơ sở để
các cơ quan, đơn vị được phép thực hiện chuyển nguồn ngân sách nhà nước theo
quy định của Luật Ngân sách nhà nước (đối với các hoạt động mua sắm phần mềm
nội bộ, cơ sở dữ liệu, ... sử dụng kinh phí chi thường xuyên không kịp triển khai
trong năm ngân sách, cần thực hiện chuyển nguồn theo đúng quy định).
7. Về quản
trị, vận hành và bảo trì hệ thống sau đầu tư
Nghị định số
82/2024/NĐ-CP (khoản 26 Điều 1)[4]
bổ sung quy định trách nhiệm phải thực hiện quản trị, vận hành, bảo trì các sản
phẩm sau đầu tư để bảo đảm hoạt động ổn định, thường xuyên, liên tục, khai thác
hiệu quả; bổ sung trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác quản trị, vận hành,
bảo trì. Nghị định cũng quy định nhiệm vụ quản trị, vận hành, bảo trì sản phẩm
của dự án xây dựng, nâng cấp, mở rộng cho hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm,
cơ sở dữ liệu là nhiệm vụ đặc thù. Quy định này là cơ sở để cấp có thẩm
quyền bố trí kinh phí thường xuyên nằm ngoài định mức phân bổ theo biên chế thực
hiện.
8. Về chuyển
tiếp các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin khi Nghị định số 82/2024/NĐ-CP
có hiệu lực thi hành
a) Đối với các
hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin được lập theo hình thức đề cương và dự
toán chi tiết
Nghị định số
82/2024/NĐ-CP không còn quy định hình thức lập “đề cương và dự toán chi tiết”
đã được quy định tại Nghị định số 73/2019/NĐ-CP trước đây. Như vậy, đối với trường hợp đã lập, thẩm định đề cương và dự toán
chi tiết hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin nhưng chưa được phê duyệt
thì hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin đó phải thực hiện lại theo quy định
của Nghị định số 82/2024/NĐ-CP hiện hành.
Thực tế, tại thời điểm giữa năm ngân sách 2024 thì nhiều hoạt
động ứng dụng công nghệ thông tin theo hình thức lập đề cương và dự toán chi tiết
đã triển khai lập, thẩm định nhưng chưa phê duyệt. Với tình huống này, các bộ,
ngành, địa phương tham khảo phương án sau đây để xem xét, quyết định:
Trường hợp đề cương và dự toán chi tiết đã được lập, đã
trình thẩm định/đã thẩm định nhưng cấp có thẩm quyền chưa phê duyệt đề cương và
dự toán chi tiết thì cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách báo cáo cấp có thẩm quyền
phê duyệt cho phép điều chỉnh hình thức triển khai hoạt động ứng dụng công nghệ
thông tin đó theo hình thức lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế 01 bước).
Trên cơ sở cấp có thẩm quyền cho phép điều chỉnh hình thức triển khai, cơ quan,
đơn vị thực hiện các thủ tục điều chỉnh hợp đồng tư vấn lập đề cương và dự toán
chi tiết với các nội dung tương ứng trong báo cáo kinh tế - kỹ thuật và bổ sung
các nội dung cần thiết khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.
b) Đối với các
hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin được lập theo hình thức kế hoạch thuê dịch
vụ công nghệ thông tin
Đối với trường hợp hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông
tin đã lập, trình thẩm định kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin nhưng chưa được phê duyệt thì hoạt động thuê dịch vụ đó phải thực hiện điều chỉnh
theo những nội dung sửa đổi, bổ sung quy định tại Nghị định số 82/2024/NĐ-CP hiện
hành, trong đó lưu ý bổ sung thuyết minh lựa chọn hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin hoặc đầu
tư, mua sắm làm cơ sở để cấp có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm quyết
định thực hiện theo hướng dẫn tại mục 5 nêu trên.
Trên đây là những quy định sửa đổi, bổ sung quan trọng tại
Nghị định số 82/2024/NĐ-CP Bộ Thông tin và Truyền thông tổng hợp, hướng dẫn các
Bộ, ngành, địa phương triển khai. Bộ Thông tin và Truyền thông đang tổ chức xây
dựng, sửa đổi các Thông tư hướng dẫn, quy định chi tiết việc thi hành Nghị định
số 73/2019/NĐ-CP, Nghị định số 82/2024/NĐ-CP. Trong thời gian chưa ban hành các
các Thông tư hướng dẫn, sửa đổi, Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện theo
các quy định tại các Thông tư hướng dẫn, quy định chi tiết việc thi hành Nghị định
số 73/2019/NĐ-CP, bảo đảm không trái với các quy định đã được Nghị định số
82/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung./.