Kính
gửi: Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa
Bộ Nội vụ nhận được Công văn
4621/SNV-XDCQ&CTTN ngày 28/10/2025 của Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa về việc hướng
dẫn nội dung khó khăn, vướng mắc sau khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền
địa phương 02 cấp. Căn cứ vào nội dung Công văn, Bộ Nội vụ có ý kiến như sau:
1. Về phụ cấp
của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
Căn cứ hướng dẫn của Ban Chỉ đạo
sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức CQĐP 02 cấp của
Chính phủ tại Công văn số 12/CV- BCĐ ngày 20/6/2025 về việc hướng dẫn một số nội
dung đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã khi thực hiện mô hình
CQĐP 02 cấp; theo đó, được tạm thời kéo dài việc sử dụng người hoạt động không
chuyên trách ở cấp xã đến trước ngày 31/5/2026 và tiếp tục được hưởng phụ cấp,
các chế độ, chính sách đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Tuy nhiên, các quy định về chế
độ, chính sách của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân tỉnh là căn cứ trên mức khoán được quy định tại Nghị định
số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ; theo đó, tại Khoản
1 Điều 34 có quy định: “Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được
hưởng chế độ phụ cấp. Ngân sách Trung ương thực hiện khoán quỹ phụ cấp bao gồm
cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với
những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã như sau:
a) Đơn vị hành chính cấp xã
loại I được khoán quỹ phụ cấp bằng 21,0 lần mức lương cơ sở;
b) Đơn vị hành chính cấp xã
loại II được khoán quỹ phụ cấp bằng 18,0 lần mức lương cơ sở;
c) Đơn vị hành chính cấp xã
loại III được khoán quỹ phụ cấp bằng 15,0 lần mức lương cơ sở.
Đối với đơn vị hành chính cấp
xã có số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã tăng thêm theo quy định
tại khoản 2 Điều 33 Nghị định này thì tổng mức khoán quỹ phụ
cấp được tỉnh tăng thêm tương ứng bằng 1,5 lần mức lương cơ sở/01 người hoạt động
không chuyên trách tăng thêm”.
Tỉnh Khánh Hòa (cũ) ban hành Nghị
quyết của HĐND tỉnh theo hướng mức khoán quỹ phụ cấp của Trung ương chia đều
cho các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (đảm bảo không thấp
hơn 1,5 lần mức lương cơ sở) cộng với mức hỗ trợ theo bằng cấp chuyên môn (theo
nguồn ngân sách của tỉnh tự cân đối). Nội dung quy định này không làm ảnh hưởng
đến mức phụ cấp của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã dù có thay đổi
về số lượng bố trí thực tế.
Tỉnh Ninh Thuận (cũ) ban hành
Nghị quyết của HĐND tỉnh theo hướng mức khoán tối đa quỹ phụ cấp của Trung ương
theo phân loại hành chính và địa phương tự cân đối bố trí số lượng các chức
danh (Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng mức phụ cấp hàng
tháng không thấp hơn 1,5 lần mức lương cơ sở và đảm bảo tổng mức phụ cấp hàng
tháng và kiêm nhiệm (nếu có) đối với những người hoạt động không chuyên trách ở
cấp xã không vượt quá quỹ phụ cấp được khoán hàng tháng theo quy định).
Như vậy, sau khi sắp xếp đơn vị
hành chính cấp xã, trường hợp nếu tiếp tục sử dụng người hoạt động không chuyên
trách ở cấp xã thì mức khoán phụ cấp của cấp xã mới có được cộng dồn mức khoán
phụ cấp của các xã, phường, thị trấn trước sắp xếp theo Nghị định số
33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ để chia đều mức phụ cấp cho người hoạt
động không chuyên trách ở cấp xã đang bố trí hay không?
Ví dụ:
- Xã A trước sắp xếp là đơn vị
hành chính loại I được khoán quỹ phụ cấp bằng 21,0 lần mức lương cơ sở tương ứng
14 người;
- Xã B trước sắp xếp là đơn vị
hành chính loại II được khoán quỹ phụ cấp bằng 18,0 lần mức lương cơ sở tương ứng
12 người;
- Xã C trước sắp xếp là đơn vị
hành chính loại III được khoán quỹ phụ cấp bằng 15,0 lần mức lương cơ sở tương ứng
10 người;
Sau sắp xếp xã A, B, C thành 01
xã mới, tổng số người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được tạm thời bố
trí thực hiện các nhiệm vụ là 15 người. Như vậy, mức khoán phụ cấp của xã mới
có được cộng dồn mức khoán phụ cấp của 03 xã cũ (21,0+18,0+15,0) để chia đều
cho 15 người hiện đang bố trí hay không (tức mỗi chức danh bố trí thực tế được
hưởng 3,6 lần mức lương cơ sở đã bao gồm đóng BHXH)?
Nếu không được cộng dồn mức
khoán phụ cấp tối đa theo quy định của cơ quan Trung ương để chia đều cho các
trường hợp hiện đang bố trí thì kính đề nghị Bộ Nội vụ hướng dẫn mức phụ cấp được
hưởng đối với các trường hợp này.
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Các Kết luận của Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Văn bản số 12/CV-BCĐ ngày 20/6/2025 của Ban Chỉ đạo sắp xếp ĐVHC và
xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và Nghị định số
154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ về tinh giản biên chế đã quy định
và hướng dẫn cụ thể về việc tạm thời bố trí sắp xếp và giải quyết chế độ chính
sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đến ngày 31/5/2026.
Theo đó, mức phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã được tiếp
tục áp dụng mức phụ cấp quy định tại Nghị quyết của HĐND các tỉnh, thành phố
trước sắp xếp hoặc HĐND tỉnh, thành phố sau sắp xếp có thể ban hành Văn bản để
quyết định áp dụng thống nhất mức phụ cấp theo Nghị quyết của một trong các Nghị
quyết của HĐND tỉnh, thành phố trước khi thực hiện sắp xếp[1] (không thực hiện cộng dồn mức khoán quỹ phụ cấp cho từng
ĐVHC cấp xã thành quỹ khoán phụ cấp của ĐVHC cấp xã mới để làm căn cứ quy định
lại mức phụ cấp cho từng chức danh).
2. Về xếp
lương vào ngạch chuyên viên chính đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
Căn cứ tại điểm
b Khoản 2 Điều 70 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ
quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; theo đó, có quy định: “Xếp
ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương đối với trường hợp được bổ nhiệm chức
vụ, chức danh: Phó Vụ trưởng và tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không
phải là đơn vị sự nghiệp công lập (áp dụng đối với trường hợp được xác định là
công chức và cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý); Phó Giám đốc Sở và
tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã”.
Như vậy, đối với các trường hợp
giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hiện đang hưởng lương ngạch chuyên
viên thì có được chuyển xếp lương vào ngạch chuyên viên chính như quy định nêu
trên hay không? Trường hợp được xếp thì kính đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu, có
hướng dẫn cụ thể để địa phương có căn cứ triển khai, thực hiện đồng bộ.
Đồng thời, đối với trường hợp
giữ chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã (chức danh cùng nhóm bậc 6 với
chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo Quy định số 368-QĐ/TW ngày
08/9/2025 của Bộ Chính trị) hiện đang hưởng lương ngạch chuyên viên thì có được
chuyển xếp lương vào ngạch chuyên viên chính như chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã hay không?
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức
và Khoản 3 Điều 71 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày
30/6/2025 của Chính phủ quy định: “Bãi bỏ các quy định liên quan về công chức
cấp xã tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về
cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở
thôn, tổ dân phố”. Theo đó, việc xếp lương đối với công chức cấp xã được thực
hiện thống nhất theo chế độ tiền lương chung áp dụng đối với cán bộ, công chức
theo quy định của Chính phủ.
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Luật Cán bộ, công chức 2025 và điểm a và điểm b khoản 2 Điều 70 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP[2] đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa
tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành quyết định xếp ngạch công chức từ chuyên
viên vào chuyên viên chính khi được bổ nhiệm chức vụ, chức danh Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã và tương đương. Nghị định số 170/2025/NĐ-CP không quy định
trình tự, thủ tục, hồ sơ đối với các trường hợp nêu trên như trước đây. Việc xếp
lương thực hiện theo quy định tại Thông tư 02/2017/TT-BNV[3].
3. Về thực
hiện chế độ, chính sách đối với Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý
a) Xếp lương do thay đổi bằng cấp
chuyên môn
Theo hướng dẫn tại Công văn số
962/QK-TM ngày 14/6/2025 của Quân khu 5 (văn bản Mật) về việc rà soát, tuyển chọn
bố trí các chức danh Ban CHQS và trụ sở Ban CHQS cấp xã sau sáp nhập; theo đó,
tại thời điểm trước sắp xếp, Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp xã để đảm bảo tiêu chí
tham gia Ban Thường vụ Đảng ủy cấp xã phải có trình độ đại học (có thể vận dụng
văn bằng đại học chuyên ngành khác) và trình độ lý luận chính trị từ trung cấp
trở lên.
Tại Khoản 1 Hướng dẫn số
4687/HD-BQP ngày 01/8/2025 của Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn triển khai thực
hiện Tiêu chí 19.1 trong Bộ tiêu chí xã nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao đối
với đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp, có quy định về trình độ chuyên môn của
cán bộ Ban Chỉ huy quân sự cấp xã như sau: “Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự
cấp xã được đào tạo trình độ đại học ngành quân sự cơ sở và trình độ cao cấp lý
luận chính trị; Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã được đào
tạo trình độ cao đẳng hoặc đại học ngành quân sự cơ sở (Quy định số 57-QĐ/TW của
Ban Bí thư)".
Như vậy, đối với các trường hợp
được bố trí theo hướng dẫn tại Công văn số 962/QK-TM ngày 14/6/2025 của Quân
khu 5 nêu trên có bằng đại học chuyên ngành khác có được chuyển xếp lương vào
ngạch chuyên viên và có được xem là đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn,
trình độ lý luận chính trị theo quy định hay không?
Đồng thời, đối với các trường hợp
được bố trí giữ các chức danh Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự, Phó Chỉ huy
trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã có trình độ cao đẳng, trung cấp được
bố trí trước thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về Quân sự,
Quốc phòng và Hướng dẫn số 4687/HD-BQP ngày 01/8/2025 của Bộ Quốc phòng ban
hành nếu có thay đổi về trình độ đào tạo đại học, cao đẳng (đúng chuyên ngành)
thì có được chuyển xếp lương vào ngạch tương ứng hay chờ văn bản hướng dẫn của
cấp có thẩm quyền.
(Đính
kèm Hướng dẫn số 4687/HD-BQP ngày 01/8/2025 của Bộ Quốc phòng).
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Về tiêu chuẩn đào tạo đối với
Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã đề nghị Sở
Nội vụ tỉnh Khánh Hòa thực hiện theo quy định tại Điều 26 Luật
Dân quân tự vệ năm 2019 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 13 Điều
10 Luật số 98/2025/QH15); về tiêu chuẩn trình độ lý luận chính trị thực hiện
theo Quy định số 57-QĐ/TW ngày 08/02/2022 của Ban Bí thư về đối tượng, tiêu chuẩn
và phân cấp đào tạo lý luận chính trị.
Việc xếp lương đối với Chỉ huy
trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã khi thay đổi bằng
cấp chuyên môn đề nghị thực hiện theo hướng dẫn tại điểm c khoản
4 Công văn số 7644/BNV-CCVC ngày 09/9/2025 của Bộ Nội vụ.
b) Xếp lương đối với các trường
hợp được bổ nhiệm mới:
Theo hướng dẫn tại điểm c Khoản 4 Công văn số 7644/BNV-CCVC ngày 09/9/2025 về việc
tuyển dụng, xếp lương công chức Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban
Chỉ huy quân sự cấp xã như sau:
“Trường hợp không thuộc các điểm
a, điểm b khoản này thì thực hiện theo cách tính tại điểm a khoản
10 Thông tư số 79/2005/TT-BNV. Theo đó, căn cứ thời gian công tác theo đúng
quy định của pháp luật phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của
vị trí Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Trợ lý Ban Chỉ huy quân sự cấp xã (mới),
có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo
hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn), xếp vào bậc lương trong ngạch chuyên
viên - công chức loại A1 (nếu có trình độ đại học) hoặc công chức loại A0 (nếu
có trình độ cao đẳng) quy định tại Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán
bộ, công chức trong cơ quan nhà nước (Bảng 2) ban hành kèm theo Nghị định số
204/2004/NĐ-CP theo nguyên tắc: Tính từ bậc 1, cứ sau thời gian 03 năm (đủ 36
tháng) được xếp lên 01 bậc lương; sau khi quy đổi thời gian để xếp vào bậc
lương trong ngạch công chức, nếu có số tháng chưa đủ 36 tháng thì số tháng này
được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương lần sau hoặc xét hưởng phụ cấp
thâm niên vượt khung (nếu có)”.
Như vậy, đối với các trường hợp
Phó Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã là người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã được hưởng mức phụ cấp (bao gồm đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế)
theo Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ, có trình độ
chuyên môn phù hợp và tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định thì
có được tính bảo lưu thời gian công tác đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và làm
căn cứ để xếp lương theo quy định nêu trên hay không?
Bên cạnh đó, thực hiện theo hướng
dẫn của Bộ Nội vụ tại Thông tư số 05/2017/TT-BNV ngày 15/8/2017; Thông tư số
13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 thì đối với các trường hợp có trình độ cao đẳng
được bổ nhiệm vào ngạch cán sự (mã ngạch 01.004) và tiếp tục áp dụng xếp lương
theo công chức loại A0. Do vậy, việc hướng dẫn xếp vào bậc lương trong ngạch
chuyên viên đối với công chức loại A0 (nếu có trình độ cao đẳng) như hướng dẫn
tại Công văn nêu trên là chưa phù hợp với những quy định tại Thông tư trước
đây.
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Các trường hợp nếu đã là Phó Chỉ
huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã cũ có trình độ cao đẳng hoặc đại học tại
nhà trường quân đội và có thời gian làm Phó Chỉ huy trưởng quân sự xã từ 05 năm
trở lên thì được tiếp nhận vào làm công chức cấp xã mới theo quy định tại Nghị
định số 170/2025/NĐ-CP; việc xếp lương và xếp vào ngạch công chức đối với Phó
Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp xã mới căn cứ vào thời gian tốt nghiệp
cao đẳng và đại học tại nhà trường quân đội, đồng thời với thời gian đóng bảo
hiểm xã hội bắt buộc khi làm người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã cũ để
xếp vào ngạch công chức (ngạch chuyên viên hoặc cán sự) theo hướng dẫn tại Công
văn số 7644/BNV-CCVC nêu trên.
4. Về chế độ,
chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động theo Nghị định số
76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ; viên chức được xét chuyển thành
công chức cấp xã
Theo hướng dẫn tại điểm 2 Công văn số 16/CV-BCĐ ngày 09/8/2025 của Ban Chỉ đạo sắp
xếp ĐVHC các cấp và xây dựng mô hình tổ chức CQĐP 02 cấp về việc thực hiện chế
độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sau sắp xếp
đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; theo đó, có hướng dẫn:
“Việc giữ nguyên (bảo lưu hoặc tiếp tục hưởng) phụ cấp theo định hướng tại điểm 3.1 khoản 3 Công văn số 03/CV-BCĐ và điểm
4.2 khoản 4 mục B Công văn số 11/CV-BCĐ nêu trên được thực hiện đối với cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động hưởng lương từ ngân sách nhà nước chịu
ảnh hưởng của việc sắp xếp đơn vị hành chính mà vẫn là cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động tại cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Theo đó,
trước khi được bố trí sắp xếp, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
đang hưởng phụ cấp nào trong số các phụ cấp lương tại điểm 1 văn bản này thì
sau khi sắp xếp được tiếp tục hưởng phụ cấp đó. Trường hợp cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động có thời gian làm việc còn lại dưới 06 tháng kể từ
ngày có quyết định bố trí sắp xếp (do nghỉ hưu đúng tuổi, nghỉ hưu trước tuổi,
nghỉ thôi việc...) thì tiếp tục hưởng phụ cấp cho đến khi hết thời gian làm việc
còn lại".
Như vậy, đối với các trường hợp
là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước sắp xếp công tác ở vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ, chính sách
theo quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ thì
sau khi sắp xếp vào đơn vị hành chính mới (đơn vị hành chính mới chưa được cấp
có thẩm quyền phê duyệt thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn quy định; ví dụ xã A là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
hợp nhất với xã B là xã không có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
thành xã C hoặc xã D là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hợp
nhất với xã E là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thành xã G)
có được tiếp tục hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định số
76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ như trước đó hay không?
Nếu các trường hợp này tiếp tục
được hưởng thì được hưởng trong vòng 06 tháng như quy định tại các văn bản của
cơ quan Trung ương, sau thời gian này thực hiện chế độ, chính sách tiền lương
và phụ cấp chức vụ theo quy định của pháp luật hay kéo dài cho đến khi cấp có
thẩm quyền phê duyệt danh sách các đơn vị thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn.
Mặt khác, các trường hợp cán bộ,
công chức, viên chức trước ngày 01/7/2025 công tác ở địa phương không thuộc đối
tượng điều chỉnh tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ
nhưng từ ngày 01/7/2025 đến nay được điều động về công tác tại các địa phương
nêu trên (xã C hoặc xã G trong ví dụ nêu trên) thì có được hưởng chế độ theo
Nghị định số 76/2019/NĐ-CP không.
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Căn cứ Nghị quyết số
76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Quyết định số
759/QĐ-TTg ngày 14/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo thực hiện sắp xếp,
tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa
phương 02 cấp của Chính phủ đã có các công văn số 03/CV-BCĐ ngày 15/4/2025, số
11/CV-BCĐ ngày 04/6/2025 và số 16/CV-BCĐ ngày 09/8/2025 hướng dẫn thực hiện việc
giữ nguyên các chế độ phụ cấp, trong đó, tại công văn số 16/CV-BCĐ đã hướng dẫn
cụ thể các loại phụ cấp lương được giữ nguyên (bảo lưu hoặc tiếp tục hưởng). Đồng
thời, tại Điều 13 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 quy định:
“1. Người dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người hưởng
lương trong lực lượng vũ trang trên địa bàn đơn vị hành chính sau sắp xếp tiếp
tục hưởng chế độ, chính sách đặc thù áp dụng theo vùng, theo khu vực hoặc theo
đơn vị hành chính như trước khi thực hiện sắp xếp cho đến khi có quyết định
khác của cấp có thẩm quyền. 2. Giữ nguyên phạm vi, đối tượng và nội dung của
các chế độ, chính sách theo quy định của trung ương và địa phương áp dụng đối với
đơn vị hành chính như trước khi sắp xếp cho đến khi có quyết định khác của cấp
có thẩm quyền. 3. Trường hợp có thay đổi tên gọi của đơn vị hành chính sau sắp
xếp thì sử dụng tên gọi mới của đơn vị hành chính để tiếp tục tổ chức thực hiện
các chế độ, chính sách đặc thù”. Trong thời gian cấp có thẩm quyền chưa có
quyết định sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách tiền lương và chế độ, chính
sách khác, đề nghị thực hiện chế độ, chính sách (bao gồm chế độ, chính sách
theo quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ) đối
với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý theo các quy định nêu trên.
Ban Chỉ đạo thực hiện sắp xếp,
tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa
phương 02 cấp của Chính phủ có văn bản số 004/CV-BCĐ ngày 23/4/2025 gửi Bộ Dân
tộc và Tôn giáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề nghị hai Bộ rà soát, trình cấp
có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn[4] để áp dụng
chính sách về phụ cấp thu hút và các chính sách khác theo quy định của Nghị định
số 76/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Sau khi cấp có thẩm quyền ban hành văn bản sửa
đổi, bổ sung quy định vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nêu
trên, cán bộ, công chức, viên chức đến công tác tại địa bàn theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ
thì được hưởng chính sách theo quy định.
5. Về xếp
lương cho cán bộ, công chức cấp xã có thay đổi bằng cấp chuyên môn, nghiệp vụ
Tại Khoản 1,
Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ, có
quy định:
“1. Cán bộ, công chức cấp
xã tốt nghiệp trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
quy định tại Nghị định này được thực hiện xếp lương như công chức hành chính có
cùng trình độ đào tạo quy định tại bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán
bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước ban hành kèm theo Nghị định của Chính
phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ
trang. Văn bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo thực hiện theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo và của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp bằng.
2. Trường hợp trong thời gian
công tác, cán bộ, công chức cấp xã có thay đổi về trình độ đào tạo phù hợp với
chức vụ, chức danh hiện đảm nhiệm thì được đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện xếp lương theo trình độ đào tạo mới kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp”.
Tuy nhiên, tại Khoản
3 Điều 71 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ có quy định:
“bãi bỏ các quy định liên quan về công chức cấp xã tại Nghị định số
33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã
và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố”.
Như vậy, đối với cán bộ, công
chức công tác ở các xã, phường, thị trấn trước sắp xếp hưởng lương ngạch nhân
viên, ngạch cán sự mà trong thời gian công tác, cán bộ, công chức cấp xã có
thay đổi về trình độ đào tạo phù hợp với chức vụ, chức danh đảm nhiệm thì có được
xếp lương ngạch chuyên viên như quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày
10/6/2023 của Chính phủ hay không?
Tương tự, đối với công chức trước
đây công tác ở các phòng chuyên môn thuộc cấp huyện được hưởng lương ngạch cán
sự, ngạch nhân viên sau khi sắp xếp thành công chức cấp xã ở đơn vị hành chính
mới kể từ ngày 01/7/2025 có trình độ đại học thì có được áp dụng việc chuyển xếp
lương theo bằng cấp chuyên môn như cán bộ, công chức cấp xã thuộc đối tượng quy
định tại Nghị định số 33 nêu trên hay không?
Để đảm bảo quyền lợi cho các
trường hợp này, kính đề nghị Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể việc xếp lương đối với
các trường hợp nêu trên.
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức
và Khoản 3 Điều 71 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày
30/6/2025 của Chính phủ quy định: “Bãi bỏ các quy định liên quan về công chức cấp
xã tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về cán
bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ
dân phố”. Theo đó, việc xếp lương đối với công chức cấp xã được thực hiện thống
nhất theo chế độ tiền lương chung áp dụng đối với cán bộ, công chức theo quy định
của Chính phủ.
6. Về hưởng
chế độ phụ cấp công vụ đối với viên chức sau khi xét chuyển thành công chức cấp
xã (sau khi sắp xếp đơn vị hành chính)
Tại Khoản 2
Công văn số 16/CV-BCĐ ngày 09/8/2025 của Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành
chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, có quy
định: “Việc giữ nguyên (bảo lưu hoặc tiếp tục hưởng) phụ cấp theo định hướng tại
điểm 3.1 khoản 3 Công văn số 03/CV-BCĐ và điểm
4.2 khoản 4 mục B Công văn số 11/CV-BCĐ nêu trên được thực hiện đối với cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động hưởng lương từ ngân sách nhà nước chịu
ảnh hưởng của việc sắp xếp đơn vị hành chính mà vẫn là cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động tại cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Theo đó,
trước khi được bố trí sắp xếp, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
đang hưởng phụ cấp nào trong số các phụ cấp lương tại điểm 1 văn bản này thì
sau khi sắp xếp được tiếp tục hưởng phụ cấp đó...”.
Tuy nhiên, hiện nay nhằm ổn định
tổ chức bộ máy ở chính quyền cấp cơ sở, Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa đã xét chuyển
các trường hợp viên chức đủ điều kiện, tiêu chuẩn thành công chức cấp xã để thực
hiện một số nhiệm vụ ở đơn vị hành chính mới.
Như vậy, các trường hợp viên chức
sau khi xét chuyển thành công chức cấp xã như trên có được hưởng chế độ phụ cấp
công vụ như quy định hay vẫn giữ nguyên chế độ tiền lương hiện hưởng trước đó
trong vòng 06 tháng đến khi có văn bản hướng dẫn mới của cấp có thẩm quyền.
Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa trân
trọng đề nghị Bộ Nội vụ quan tâm, hướng dẫn và sớm có văn bản phản hồi để địa
phương có cơ sở triển khai, thực hiện.
Về nội dung trên, Bộ Nội vụ
có ý kiến như sau:
Đề nghị thực hiện theo quy định
tại Nghị định số 34/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 của Chính phủ về chế độ phụ cấp
công vụ.
Trên đây là ý kiến của Bộ Nội vụ
đối với Công văn 4621/SNV- XDCQ&CTTN ngày 28/10/2025, đề nghị Sở Nội vụ tỉnh
Khánh Hòa nghiên cứu, thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng (để b/c);
- Lưu: VT, VP (THTK).
|
TL. BỘ TRƯỞNG
Q. CHÁNH VĂN PHÒNG
Bùi Huy Tùng
|
[1] Quy
định tại khoản 2 Điều 54 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
64/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung tại Luật số 87/2025/QH15): “Trường hợp nhiều
ĐVHC được nhập thành một ĐVHC mới cùng cấp thì văn bản QPPL của HĐND của ĐVHC
được nhập tiếp tục có hiệu lực trong phạm vi ĐVHC đó cho đến khi HĐND của ĐVHC
mới ban hành văn bản hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật của HĐND của ĐVHC được nhập hoặc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật mới”.
[2] Nghị
định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử
dụng và quản lý công chức.
[3]
Thông tư 02/2017/TT-BNV ngày 25/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp
lương khi nâng ngạch, chuyển ngach, chuyển loại công chức, viên chức.
[4] Quyết
định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách
các xã khu vực III, Khu vực II, Khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi giai đoạn 2021 - 2025; Quyết định số 353/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng
bãi ngang, ven biển và hải đảo giai đoạn 2021 - 2025.