THÔNG TƯ
BAN
HÀNH QUY CHẾ XÂY DỰNG, BAN HÀNH VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT,
ĐỀ ÁN DO BỘ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO THAM MƯU TRÌNH BAN HÀNH HOẶC BAN HÀNH THEO THẨM
QUYỀN
Căn cứ Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật
số 87/2025/QH15;
Căn cứ Luật phổ biến,
giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13;
Căn cứ Pháp lệnh Hợp
nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13;
Căn cứ Pháp lệnh
Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật số 03/2012/UBTVQH13;
Căn cứ Nghị định số 41/2025/NĐ-CP
ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Nghị định số 114/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2025 của
Chính phủ sửa đổi khoản 12 Điều 3 Nghị định số 41/2025/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị định số 52/2015/NĐ-CP
ngày 18 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 79/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử
lý văn bản quy phạm pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 80/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 187/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi
hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng
4 năm 2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản
quy phạm pháp luật;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế;
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Thông
tư ban hành Quy chế xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật, đề án do Bộ Dân tộc và Tôn giáo tham mưu trình ban hành hoặc ban
hành theo thẩm quyền.
Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế xây dựng, ban hành và
tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án do Bộ Dân tộc và Tôn giáo
tham mưu trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền.
Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026; thay thế Thông tư số 03/2022/TT-UBDT
ngày 01 tháng 10 năm 2022 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy
ban Dân tộc quy định trình tự, thủ tục, soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thủ trưởng các Vụ,
đơn vị thuộc Bộ và các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan có trách nhiệm
tuân thủ nguyên tắc, cách thức, quy trình, các bước, phân công nhiệm vụ trong
quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề
án quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan./.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Bộ Dân tộc và Tôn giáo: Bộ trưởng, các Thứ trưởng, các vụ, đơn vị thuộc Bộ;
- Cục KTrVB&QLXLVPHC (Bộ Tư pháp);
- Sở Dân tộc và Tôn giáo; Cơ quan công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp
tỉnh;
- Công báo điện tử;
- Cổng TTĐT Bộ DTTG;
- Lưu: VT, PC (05b).
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Y Vinh Tơr
|
QUY CHẾ
XÂY
DỰNG, BAN HÀNH VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, ĐỀ ÁN DO BỘ DÂN
TỘC VÀ TÔN GIÁO THAM MƯU TRÌNH BAN HÀNH HOẶC BAN HÀNH THEO THẨM QUYỀN
(Kèm theo Thông tư số 10/2025/TT-BDTTG ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Bộ trưởng
Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối
tượng áp dụng
1. Quy chế này quy định về cách thức, quy trình,
các bước, phân công nhiệm vụ trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi
hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án do Bộ Dân tộc và Tôn giáo tham mưu trình
ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền.
2. Quy chế này áp dụng đối với quá trình xây dựng,
ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án sau:
a) Các văn bản quy phạm pháp luật gồm:
Luật, pháp lệnh, nghị quyết, lệnh, quyết định do Bộ
Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì soạn thảo trình Chính phủ để trình Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước ban hành.
Nghị định, nghị quyết, nghị quyết liên tịch, quyết
định do Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì soạn thảo trình Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ ban hành.
Thông tư của Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo;
thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo với Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà
nước.
b) Các đề án do Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ
trì soạn thảo trình cấp có thẩm quyền ban hành thuộc Chương trình công tác hằng
năm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc được cấp có thẩm quyền giao;
c) Các văn bản hành chính hướng dẫn áp dụng văn bản
quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (sau đây gọi chung là Luật năm
2025).
3. Quy chế này không áp dụng đối với quá trình xây
dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án có nội
dung thuộc danh mục bí mật nhà nước lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn
giáo.
4. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
liên tịch thực hiện theo quy định tại Điều 49 Luật năm 2025
và các văn bản hướng dẫn thi hành.
5. Quy chế này áp dụng đối với các đơn vị thuộc Bộ
Dân tộc và Tôn giáo; tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác xây dựng, ban
hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án do Bộ Dân tộc và Tôn
giáo tham mưu trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền.
Điều 2. Nguyên tắc chung
trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật,
đề án
1. Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn
bản quy phạm pháp luật do Bộ Dân tộc và Tôn giáo tham mưu trình ban hành hoặc
ban hành theo thẩm quyền phải bảo đảm tuân thủ nguyên tắc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 5 Luật năm 2025
và nguyên tắc quy định tại Quy chế này.
2. Bộ trưởng chỉ đạo chung về công tác xây dựng,
ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án do Bộ Dân tộc và
Tôn giáo tham mưu trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền.
3. Thứ trưởng trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng,
ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án thuộc lĩnh vực
được giao phụ trách; cho ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án
khi trình Bộ trưởng ký ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành theo quy
định tại Quy chế này và Quy chế làm việc của Bộ.
4. Đơn vị được giao chủ trì xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, đề án có trách nhiệm báo cáo, xin ý kiến Lãnh đạo Bộ phụ trách để
xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ về chủ trương ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, đề án.
5. Đối với văn bản quy phạm pháp luật, đề án có nội
dung phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc các vấn đề quan trọng khác,
Lãnh đạo Bộ được giao phụ trách quyết định việc:
a) Báo cáo, xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ;
b) Báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng;
c) Lấy ý kiến các đồng chí Lãnh đạo Bộ phụ trách
lĩnh vực có liên quan. Nội dung đề nghị lấy ý kiến phải xác định rõ những vấn đề
cần lấy ý kiến; sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc thay thế,
bãi bỏ đối với chính sách, quy định được đề nghị xây dựng hoặc đang soạn thảo.
6. Vụ Pháp chế có trách nhiệm tham gia vào quá
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án ngay từ giai đoạn đầu; thực hiện
thẩm định dự thảo văn bản do đơn vị thuộc Bộ chủ trì xây dựng trước khi trình Bộ
trưởng ký ban hành đối với các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng;
cho ý kiến về mặt pháp lý đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án trước
khi trình Lãnh đạo Bộ ký gửi Bộ Tư pháp thẩm định, trình Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội, Chủ tịch nước.
7. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
đề án, thủ trưởng đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo phải kịp thời báo cáo
Lãnh đạo Bộ phụ trách những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo. Trường hợp cần thiết
hoặc theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ phụ trách, thủ trưởng đơn vị được phân công
chủ trì soạn thảo chuẩn bị những vấn đề cần xin ý kiến, báo cáo Bộ trưởng xem
xét quyết định.
8. Khi trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sửa
đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đơn vị được phân công chủ
trì soạn thảo phải trình kèm theo dự thảo văn bản hợp nhất.
9. Việc xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đối với
công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án được thực hiện trước và
trong quá trình xây dựng.
10. Quy trình xây dựng, ban hành đề án thực hiện
theo quy định của pháp luật chuyên ngành, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính
phủ về công tác văn thư và các quy định có liên quan.
Điều 3. Phân công xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật, đề án
1. Việc phân công đơn vị chủ trì xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật, đề án cho các đơn vị thuộc Bộ phải bảo đảm gắn với chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị.
2. Bộ trưởng xem xét, quyết định giao cho một đơn vị
hoặc Vụ Pháp chế chủ trì và chịu trách nhiệm chính về xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, đề án đối với trường hợp văn bản quy phạm pháp luật, đề án có liên
quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực phụ trách của nhiều đơn vị.
3. Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm phối hợp với
đơn vị chủ trì trong việc xây dựng, soạn thảo các nội dung thuộc chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của đơn vị mình.
4. Hằng năm, Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các
đơn vị tham mưu, trình Bộ trưởng ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, đề án (sau đây gọi là Chương trình) của Bộ Dân tộc và Tôn giáo,
trong đó quyết định phân công đơn vị chủ trì xây dựng từng văn bản quy phạm
pháp luật, đề án.
Điều 4. Ngôn ngữ, thể thức, kỹ
thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật, đề án
1. Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản
quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định tại Điều 7 Luật năm
2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2. Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày đề án do
Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì soạn thảo trình cấp có thẩm quyền ban
hành và các văn bản hành chính hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật do
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành thực hiện theo quy định tại Nghị định
số 30/2020/NĐ-CP.
Điều 5. Kiểm soát thủ tục hành
chính trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản
quy phạm pháp luật phải bảo đảm:
a) Đáp ứng quy định tại Điều 5 Nghị
định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và bảo
đảm theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính;
b) Ứng dụng công nghệ thông tin trong quy định và
giải quyết thủ tục hành chính; không yêu cầu người dân và doanh nghiệp cung cấp
bản chính, bản sao các giấy tờ đã tích hợp trên VNeID.
2. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính có trách nhiệm:
a) Xây dựng báo cáo đánh giá thủ tục hành chính
theo quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi
hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng
4 năm 2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản
quy phạm pháp luật);
b) Lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục
hành chính theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính trước
khi gửi Vụ Pháp chế hoặc Bộ Tư pháp thẩm định.
3. Văn phòng Bộ có trách nhiệm:
a) Có ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật khi được gửi lấy ý kiến;
b) Phối hợp với Vụ Pháp chế thẩm định về sự cần thiết,
tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo thông tư có
quy định thủ tục hành chính.
4. Trong trường hợp còn có ý kiến khác nhau về nội
dung liên quan đến thủ tục hành chính trong dự thảo thông tư, Vụ Pháp chế có thể
tổ chức họp với Văn phòng Bộ và đơn vị có liên quan để thống nhất. Trường hợp cần
thiết, đề xuất Lãnh đạo Bộ phụ trách thành lập Hội đồng thẩm định.
Điều 6. Thành lập Ban soạn thảo,
Tổ biên tập
Trong trường hợp cần thiết, đơn vị được giao chủ
trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đề xuất với Lãnh đạo Bộ phụ trách việc
thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập với sự tham gia của các cơ quan, tổ chức
có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học để tư vấn cho đơn vị chủ trì soạn thảo
thực hiện việc soạn thảo.
Chương II
ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG LẬP
PHÁP, CHƯƠNG TRÌNH LẬP PHÁP; LẬP DANH MỤC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT; ĐĂNG KÝ
CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ; BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, ĐỀ ÁN
Điều 7. Lập đề xuất định hướng
lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo
1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc Kỳ họp
đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội, các đơn vị thuộc Bộ chủ động trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của mình hoặc theo đề nghị của Vụ Pháp chế rà soát, nghiên cứu,
gửi văn bản đề xuất nhiệm vụ lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội đến Vụ Pháp chế để
tổng hợp.
2. Văn bản đề xuất nhiệm vụ lập pháp của các đơn vị
phải nêu rõ:
a) Tên luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc vấn đề cần nghiên cứu, rà soát;
b) Căn cứ, nội dung cần được nghiên cứu, rà soát,
thể chế hóa;
c) Cơ quan chủ trì thực hiện;
d) Dự kiến thời gian trình Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội thông qua.
3. Trường hợp văn bản đề xuất chưa đáp ứng quy định
tại khoản 2 Điều này, Vụ Pháp chế có trách nhiệm đề nghị đơn vị hoàn thiện văn
bản đề xuất. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của Vụ
Pháp chế, đơn vị có trách nhiệm hoàn thiện để xuất gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp.
4. Vụ Pháp chế tổng hợp đề xuất của các đơn vị thuộc
Bộ, báo cáo xin ý kiến Lãnh đạo Bộ. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ,
Vụ Pháp chế hoàn thiện tài liệu và phối hợp với Văn phòng Đảng ủy Bộ xin ý kiến
Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ trước khi trình Bộ trưởng ký văn bản gửi Bộ Tư pháp tổng
hợp, báo cáo Chính phủ.
5. Trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày kết thúc Kỳ họp
đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội, văn bản đề xuất của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về định
hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội phải được gửi đến Bộ Tư pháp hoặc theo thời
hạn do Bộ Tư pháp đề nghị.
6. Trong trường hợp phát sinh nhiệm vụ lập pháp mới,
đơn vị đề xuất báo cáo xin ý kiến Lãnh đạo Bộ phụ trách phê duyệt và phối hợp với
Văn phòng Đảng ủy Bộ xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ trước khi trình Bộ trưởng
ký văn bản gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, bổ sung, đồng thời gửi Vụ Pháp chế để theo
dõi.
7. Việc lập đề xuất định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc
hội về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định tại Điều 23 Luật năm 2025 và Điều 10 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
Điều 8. Triển khai Định hướng lập
pháp nhiệm kỳ của Quốc hội
1. Căn cứ Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Định hướng
lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, Vụ Pháp chế dự kiến phân công nhiệm vụ cho các
đơn vị chủ trì thực hiện, trình Lãnh đạo Bộ phụ trách công tác pháp chế để báo
cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định.
2. Căn cứ quyết định của Bộ trưởng, Vụ Pháp chế
thông báo nhiệm vụ lập pháp cho các đơn vị liên quan. Văn bản thông báo được gửi
đến Văn phòng Đảng ủy Bộ để tổng hợp, theo dõi; đồng thời gửi Văn phòng Bộ để
đưa vào Chương trình công tác hằng năm của Bộ.
3. Vụ Pháp chế dự thảo báo cáo kết quả triển khai Kế
hoạch của Chính phủ thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội trình
Lãnh đạo Bộ phụ trách công tác pháp chế phê duyệt gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, báo
cáo Chính phủ.
Điều 9. Lập đề xuất Chương trình
lập pháp hằng năm của Quốc hội
1. Đơn vị thuộc Bộ gửi văn bản đề xuất xây dựng luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
sau khi báo cáo được Lãnh đạo Bộ phụ trách đồng ý đến Vụ Pháp chế trước ngày 10
tháng 5 hằng năm để tổng hợp. Văn bản đề xuất nêu rõ sự cần thiết, mục đích ban
hành, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; các vấn đề cụ thể để xử lý mâu thuẫn,
chồng chéo, bất cập có nguyên nhân từ pháp luật; vấn đề mới, xu hướng mới và
các nội dung cần thiết khác (nếu có); tiến độ các công việc đã thực hiện; thời
gian dự kiến trình và thông qua.
2. Vụ Pháp chế tổng hợp đề xuất của các đơn vị, báo
cáo xin ý kiến Lãnh đạo Bộ phụ trách công tác pháp chế. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo
của Lãnh đạo Bộ phụ trách công tác pháp chế, Vụ Pháp chế hoàn thiện tài liệu và
phối hợp với Văn phòng Đảng ủy Bộ xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ trước khi
trình Bộ trưởng ký văn bản gửi Bộ Tư pháp trước ngày 01 tháng 6 hằng năm.
3. Trường hợp cần điều chỉnh Chương trình lập pháp
hằng năm của Quốc hội thì thực hiện như sau:
a) Đơn vị lập đề xuất xây dựng tờ trình theo quy định
tại khoản 2 Điều 24 Luật năm 2025 gửi Vụ Pháp chế tham gia ý
kiến;
b) Đơn vị lập đề xuất tiếp thu, giải trình ý kiến của
Vụ Pháp chế và báo cáo xin ý kiến Lãnh đạo Bộ phụ trách, hoàn thiện tài liệu và
phối hợp với Văn phòng Đảng ủy Bộ xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ trước khi
trình Bộ trưởng ký văn bản lấy ý kiến Bộ Tư pháp;
c) Căn cứ ý kiến của Bộ Tư pháp, đơn vị lập đề xuất
có trách nhiệm tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện tờ trình đề xuất điều chỉnh, báo
cáo Thứ trưởng phụ trách, trình Bộ trưởng quyết định việc trình Chính phủ tờ
trình đề xuất điều chỉnh;
d) Văn bản gửi lấy ý kiến Bộ Tư pháp, tờ trình đề
xuất điều chỉnh, văn bản thống nhất điều chỉnh Chương trình lập pháp của cơ
quan có thẩm quyền được gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp, điều chỉnh Chương trình của
Bộ Dân tộc và Tôn giáo, đồng thời gửi Văn phòng Đảng ủy Bộ và Văn phòng Bộ để tổng
hợp, theo dõi.
Điều 10. Thực hiện Chương
trình lập pháp hằng năm của Quốc hội
1. Căn cứ Chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội
đã được thông qua và chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, Vụ Pháp chế
dự kiến phân công nhiệm vụ cho các đơn vị, trình Lãnh đạo Bộ phụ trách công tác
pháp chế để báo cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định.
2. Căn cứ quyết định của Bộ trưởng, Vụ Pháp chế
thông báo nhiệm vụ lập pháp cho các đơn vị liên quan. Văn bản thông báo được gửi
đến Văn phòng Đảng ủy Bộ để tổng hợp, theo dõi; đồng thời gửi Văn phòng Bộ để
đưa vào Chương trình công tác năm của Bộ; gửi Vụ Kế hoạch - Tài chính để phân bổ
kinh phí hỗ trợ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
3. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
bảo đảm tiến độ, chất lượng soạn thảo; chậm nhất vào ngày 20 hằng tháng cập nhật
thông tin về tình hình thực hiện nhiệm vụ lập pháp được giao, những khó khăn,
vướng mắc trong quá trình thực hiện gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp.
4. Trên cơ sở thông tin do các đơn vị cung cấp, Vụ
Pháp chế xây dựng văn bản của Bộ Dân tộc và Tôn giáo báo cáo về tình hình triển
khai xây dựng nhiệm vụ lập pháp, trình Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét, gửi Bộ Tư
pháp trước ngày 25 hằng tháng. Văn bản gửi Bộ Tư pháp đồng thời gửi Văn phòng Đảng
ủy Bộ, Văn phòng Bộ để tổng hợp, theo dõi.
Điều 11. Lập danh mục văn bản
quy định chi tiết
1. Đối với văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết
định của Chủ tịch nước, đơn vị được giao chủ trì xây dựng luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước có trách nhiệm:
a) Lập danh mục văn bản quy định chi tiết trong đó
nêu rõ tên văn bản được quy định chi tiết, nội dung giao quy định chi tiết, cơ
quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp, thời hạn trình ban hành;
b) Lập danh mục các nội dung giao chính quyền địa
phương quy định chi tiết;
c) Gửi danh mục văn bản quy định tại điểm a và b
khoản này lấy ý kiến Vụ Pháp chế trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được
thông qua, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
được ký ban hành;
d) Trên cơ sở ý kiến góp ý của Vụ Pháp chế, đơn vị
được giao chủ trì xây dựng hoàn thiện danh mục và trình Lãnh đạo Bộ phụ trách
ký gửi Bộ Tư pháp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được thông qua, trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ký ban hành.
2. Đối với văn bản quy định chi tiết nghị định, nghị
quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đơn vị được giao chủ
trì xây dựng nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng
Chính phủ có trách nhiệm:
a) Lập danh mục văn bản quy định chi tiết trong đó
nêu rõ tên văn bản được quy định chi tiết, nội dung giao quy định chi tiết, cơ
quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp, thời hạn trình ban hành;
b) Gửi lấy ý kiến của Vụ Pháp chế về dự thảo danh mục
văn bản quy định chi tiết;
c) Trên cơ sở ý kiến góp ý của Vụ Pháp chế,
đơn vị được giao chủ trì xây dựng hoàn thiện danh mục và trình Lãnh đạo Bộ phụ
trách có thông báo bằng văn bản tới các bộ, cơ quan có liên quan về danh mục văn
bản quy định chi tiết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nghị định, nghị quyết của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành. Văn bản thông báo
được gửi tới Vụ Pháp chế để tổng hợp, theo dõi;
d) Chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế theo dõi, đôn
đốc việc xây dựng văn bản quy định chi tiết nghị định, nghị quyết của Chính phủ,
quyết định của Thủ tướng Chính phủ; kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh trong
quá trình soạn thảo văn bản quy định chi tiết.
Điều 12. Thông báo nội dung
giao bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương ban
hành văn bản quy định chi tiết
1. Đơn vị chủ trì soạn thảo nghị định, nghị quyết của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ tham mưu, trình Lãnh đạo Bộ phụ
trách ban hành văn bản thông báo cho bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về các nội dung giao quy định
chi tiết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nghị định, nghị quyết, quyết định được
ký ban hành.
2. Đơn vị chủ trì soạn thảo nghị định, nghị quyết của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc
việc soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết; hằng quý, năm hoặc đột xuất
báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng
về tình hình, tiến độ và những vướng mắc phát sinh (nếu có).
3. Văn bản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
được gửi đến Vụ Pháp chế để tổng hợp, theo dõi, phục vụ công tác kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật và theo dõi tình hình thi hành pháp luật.
Điều 13. Đăng ký Chương trình
công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
1. Hằng năm, các đơn vị thuộc Bộ trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của mình chủ động hoặc theo đề nghị của Vụ Pháp chế gửi văn bản đề
xuất Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Văn bản đề xuất
phải nêu rõ tên văn bản quy phạm pháp luật, đề án đề xuất xây dựng; căn cứ đề
xuất; Lãnh đạo Vụ phụ trách và cán bộ đầu mối; thời gian gửi thẩm định; thời
gian trình ban hành.
2. Căn cứ xác định văn bản quy phạm pháp luật, đề
án đưa vào Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:
a) Kết quả rà soát văn bản của các đơn vị;
b) Văn bản giao nhiệm vụ của cơ quan, cấp có thẩm
quyền;
c) Yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ
thực tiễn.
3. Căn cứ đề xuất của các đơn vị, Vụ Pháp chế lập
danh mục văn bản đề xuất đưa vào Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ và báo cáo Thứ trưởng phụ trách xin ý kiến chỉ đạo. Trong trường hợp
cần thiết, Vụ Pháp chế chủ trì tổ chức họp với từng đơn vị có đăng ký Chương
trình để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo trước khi trình các Thứ trưởng cho ý kiến
để trình Bộ trưởng gửi Văn phòng Chính phủ tổng hợp.
4. Khi thay đổi Chương trình công tác của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, đơn vị được giao chủ trì chủ động trình Lãnh đạo Bộ phụ
trách báo cáo Bộ trưởng trước khi ký văn bản trình Lãnh đạo Chính phủ, gửi Văn
phòng Chính phủ xin điều chỉnh Chương trình công tác; đồng thời gửi Vụ Pháp chế
để theo dõi, đôn đốc.
Trường hợp có từ 02 đơn vị trở lên cùng đề xuất điều
chỉnh Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các đơn vị gửi
văn bản nêu rõ lý do (kèm theo ý kiến đồng ý điều chỉnh của Lãnh đạo Bộ phụ
trách) đến Vụ Pháp chế để tổng hợp, trình Lãnh đạo Bộ duyệt ký văn bản trình
Lãnh đạo Chính phủ, gửi Văn phòng Chính phủ đề xuất điều chỉnh Chương trình
công tác.
Điều 14. Đăng ký, phê duyệt
Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án của Bộ Dân tộc và Tôn
giáo
1. Đăng ký Chương trình xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, đề án:
a) Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm báo cáo xin ý
kiến Lãnh đạo Bộ phụ trách trước khi gửi Vụ Pháp chế để đăng ký Chương trình chậm
nhất vào ngày 15 tháng 11 hằng năm.
Nội dung văn bản đăng ký Chương trình gồm: Tên dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án đề xuất xây dựng; căn cứ đề xuất; Lãnh đạo
Vụ phụ trách và cán bộ đầu mối; thời gian gửi thẩm định; thời gian ban hành đối
với thông tư của Bộ trưởng và thời gian trình ban hành đối với các văn bản quy
phạm pháp luật khác, đề án.
b) Trường hợp cần bổ sung Chương trình để giải quyết
ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn mà nội dung đề
xuất chưa có trong Chương trình hằng năm thì Vụ Pháp chế có trách nhiệm phối hợp
với các đơn vị thuộc Bộ báo cáo Lãnh đạo Bộ trình cơ quan có thẩm quyền hoặc
trình Bộ trưởng quyết định điều chỉnh, bổ sung Chương trình;
c) Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị định, nghị
quyết, nghị quyết liên tịch của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
khi đăng ký Chương trình hằng năm, đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ các nội dung, tài liệu theo quy định của Luật năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi
hành.
2. Phê duyệt Chương trình xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, đề án:
a) Căn cứ văn bản giao nhiệm vụ của cơ quan có thẩm
quyền, văn bản đăng ký của các đơn vị thuộc Bộ, Vụ Pháp chế tổng hợp trình Bộ
trưởng ký ban hành Chương trình hằng năm của Bộ;
b) Chương trình hằng năm của Bộ bảo đảm có các nội
dung chủ yếu: Tên văn bản quy phạm pháp luật, đề án; đơn vị chủ trì soạn thảo;
Lãnh đạo Bộ phụ trách; lãnh đạo đơn vị, cán bộ đầu mối; thời gian thẩm định đối
với văn bản quy phạm pháp luật, thời gian trình ban hành;
c) Căn cứ Chương trình hằng năm, đơn vị được giao
chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xây dựng kế hoạch soạn thảo văn bản quy phạm
pháp luật, đề án để xác định rõ công việc cần triển khai, tiến độ, thời gian,
phân công thực hiện để văn bản quy phạm pháp luật, đề án được ban hành bảo đảm
chất lượng và đúng tiến độ;
d) Chương trình là cơ sở để chỉ đạo, triển khai,
đôn đốc và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản của từng đơn vị được
giao chủ trì xây dựng; là cơ sở để phân bổ kinh phí hỗ trợ công tác xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật của Bộ;
đ) Chương trình được gửi Văn phòng Đảng ủy Bộ để
theo dõi, kiểm tra và Văn phòng Bộ để tổng hợp vào Chương trình công tác của Bộ;
e) Vụ Pháp chế có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc
các đơn vị thuộc Bộ trong việc lập Chương trình của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Điều 15. Thực hiện Chương
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án của Bộ
1. Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án bảo đảm tiến độ, chất lượng
xây dựng văn bản và báo cáo tiến độ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, đề
án hằng tháng (trước ngày 23 hằng tháng), 06 tháng (trước ngày 20 tháng 6), hằng
năm (trước ngày 20 tháng 12) hoặc đột xuất theo yêu cầu.
2. Vụ Pháp chế có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc
thực hiện Chương trình của Bộ; tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng và cấp có thẩm quyền
định kỳ hằng tháng, 06 tháng, hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu về kết quả thực
hiện và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Chương trình.
3. Đối với các văn bản quy phạm pháp luật, đề án chậm
tiến độ, Thủ trưởng đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nêu rõ nguyên nhân
của việc chậm tiến độ và đề xuất biện pháp khắc phục trong báo cáo.
Điều 16. Điều chỉnh Chương
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án của Bộ
1. Việc điều chỉnh Chương trình hằng năm được áp dụng
trong các trường hợp sau:
a) Bổ sung vào Chương trình văn bản đã được cơ quan
có thẩm quyền thông qua đề xuất chính sách;
b) Bổ sung vào Chương trình văn bản quy định chi tiết
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước mới được ban hành;
c) Bổ sung vào Chương trình văn bản được cấp có thẩm
quyền giao, văn bản để giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát
sinh từ thực tiễn mà nội dung đề xuất chưa có trong Chương trình hằng năm;
d) Bổ sung vào Chương trình văn bản khác ngoài trường
hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này. Đơn vị đề xuất có trách nhiệm
thực hiện các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 14 Quy chế này;
đ) Đưa ra khỏi Chương trình văn bản chưa cần thiết
ban hành hoặc không còn cần thiết phải ban hành do có sự thay đổi căn cứ pháp
lý để ban hành, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu khách quan khác. Đơn vị
được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo Thứ trưởng phụ trách, trình
Bộ trưởng quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định việc không trình
ban hành văn bản.
Sau khi được Bộ trưởng hoặc cấp có thẩm quyền chấp
thuận, đơn vị chủ trì soạn thảo gửi văn bản đến Vụ Pháp chế để điều chỉnh
Chương trình.
e) Điều chỉnh thời gian trình do chậm tiến độ hoặc
do chất lượng dự thảo văn bản không bảo đảm. Đơn vị chủ trì soạn thảo có trách
nhiệm báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách trình Bộ trưởng quyết định hoặc trình cấp
có thẩm quyền quyết định việc điều chỉnh thời gian trình ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, đề án.
Sau khi được Bộ trưởng hoặc cấp có thẩm quyền chấp
thuận, đơn vị chủ trì soạn thảo gửi văn bản đến Vụ Pháp chế để điều chỉnh
Chương trình.
2. Trong trường hợp cần thiết điều chỉnh Chương
trình, các đơn vị gửi văn bản nêu rõ lý do (kèm theo ý kiến phê duyệt của Lãnh
đạo Bộ phụ trách) đến Vụ Pháp chế để tổng hợp, trình Bộ trưởng duyệt, ký ban
hành Quyết định điều chỉnh, bổ sung Chương trình theo nguyên tắc có căn cứ,
đúng thẩm quyền, hiệu quả và khả thi.
Chương III
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Mục 1. XÂY DỰNG LUẬT, NGHỊ QUYẾT
CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Điều 17. Xây dựng chính sách
1. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc
trường hợp phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật năm 2025 có trách nhiệm tổ chức thực hiện
quy trình xây dựng chính sách theo quy định tại Mục 2 Chương
III Luật năm 2025 và Mục 2 Chương II Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
2. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
nghiên cứu, đề xuất, báo cáo Thứ trưởng phụ trách, trình Bộ trưởng phê duyệt chủ
trương xây dựng chính sách. Tài liệu trình phê duyệt chủ trương xây dựng chính
sách gồm:
a) Tờ trình Lãnh đạo Bộ về việc xây dựng chính
sách; trong đó nêu rõ sự cần thiết, mục tiêu, yêu cầu xây dựng chính sách để sửa
đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật;
b) Dự kiến các chính sách cần điều chỉnh;
c) Ý kiến của các đơn vị thuộc Bộ có liên quan (nếu
có).
3. Sau khi chủ trương về xây dựng chính sách được
phê duyệt, đơn vị đề xuất xây dựng chính sách có văn bản gửi Văn phòng Đảng ủy
Bộ để theo dõi; đồng thời gửi Vụ Pháp chế để phối hợp.
4. Đơn vị được giao chủ trì xây dựng chính sách phối
hợp với Vụ Pháp chế triển khai nhiệm vụ đánh giá tác động chính sách. Đối với
trường hợp nội dung chính sách phức tạp, nhạy cảm, có phạm vi tác động rộng và
liên quan đến nhiều Bộ, ngành, lĩnh vực, đơn vị được giao chủ trì xây dựng
chính sách mời đại diện đơn vị chức năng thẩm định, thẩm tra của Bộ Tư pháp, Bộ
Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và
Công nghệ, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
tham gia đánh giá tác động chính sách.
Trường hợp kết quả báo cáo đánh giá tác động chính
sách có nhiều vấn đề lớn, phức tạp, đơn vị chủ trì xây dựng báo cáo Lãnh đạo Bộ
phụ trách để xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ.
5. Đơn vị chủ trì xây dựng chính sách có trách nhiệm
lấy ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức và các đơn vị liên quan thuộc Bộ
trong quá trình xây dựng chính sách. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến tham gia của
các cơ quan, tổ chức và các đơn vị thuộc Bộ, đơn vị chủ trì xây dựng chính sách
hoàn thiện tài liệu xây dựng chính sách, lấy ý kiến Vụ Pháp chế trước khi báo
cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Tài liệu gửi lấy ý kiến gồm:
a) Văn bản đề nghị tham gia ý kiến;
b) Ý kiến tham gia của các đơn vị liên quan thuộc Bộ;
c) Các tài liệu quy định tại khoản
2 Điều 31 Luật năm 2025, Điều 15 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
6. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được đầy đủ tài liệu hoặc theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, Vụ Pháp chế có trách
nhiệm tham gia ý kiến và có văn bản trả lời đơn vị chủ trì soạn thảo. Ý kiến
tham gia về các nội dung theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Luật
năm 2025.
7. Đơn vị chủ trì soạn thảo tổng hợp, tiếp thu, giải
trình ý kiến của Vụ Pháp chế và hoàn thiện tài liệu xây dựng chính sách trình Bộ
trưởng xem xét, cho ý kiến và trình Lãnh đạo Bộ phụ trách ký văn bản gửi Bộ Tư
pháp thẩm định.
Điều 18. Hoàn thiện chính
sách, trình cấp có thẩm quyền thông qua
1. Đơn vị chủ trì xây dựng chính sách phối hợp với
Vụ Pháp chế và các đơn vị liên quan giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ
Tư pháp, hoàn thiện tài liệu xây dựng chính sách, báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ
trách.
2. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ phụ
trách, đơn vị chủ trì soạn thảo hoàn thiện tài liệu, trình Bộ trưởng xem xét,
quyết định hoặc trình Lãnh đạo Bộ quyết định theo phân công của Bộ trưởng việc
trình Chính phủ thông qua chính sách, đồng thời gửi Bộ Tư pháp.
3. Tài liệu chính sách sau khi được Chính phủ thông
qua được gửi Văn phòng Đảng ủy Bộ, Vụ Pháp chế để tổng hợp, theo dõi.
4. Khi Chính phủ quyết nghị thông qua hồ sơ chính
sách, đơn vị chủ trì lập đề xuất có trách nhiệm chỉnh lý tài liệu chính sách
theo quyết nghị của Chính phủ, báo cáo Bộ trưởng xem xét, thông qua làm cơ sở
giao đơn vị thuộc Bộ thực hiện quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật để
quy phạm hóa chính sách.
Điều 19. Soạn thảo, thẩm định
dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội
1. Việc soạn thảo, thẩm định thực hiện theo quy định
tại Điều 33, Điều 34 Luật năm 2025 và Điều
18, Điều 19 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
số 187/2025/NĐ-CP).
2. Trong quá trình soạn thảo, đối với những vấn đề
lớn, còn có ý kiến khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách mới,
quan trọng hoặc cơ chế, chính sách đặc thù, đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo
Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét, xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ để cho ý kiến
hoặc báo cáo, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Đảng.
3. Tổ chức lấy ý kiến tham gia của các đơn vị thuộc
Bộ có liên quan; các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và các cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Đăng tải trên cổng thông tin điện tử
của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Cổng Pháp luật quốc gia về dự thảo văn bản để lấy ý
kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật năm 2025.
Trên cơ sở tổng hợp ý kiến tham gia của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân và các đơn vị thuộc Bộ, đơn vị chủ trì soạn thảo hoàn
thiện dự thảo văn bản, gửi lấy ý kiến Vụ Pháp chế.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được đầy đủ tài liệu hoặc theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, Vụ Pháp chế có trách
nhiệm tham gia ý kiến và có văn bản trả lời đơn vị chủ trì soạn thảo. Ý kiến
tham gia bao gồm các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật
năm 2025.
5. Đơn vị chủ trì soạn thảo tổng hợp, tiếp thu, giải
trình ý kiến của Vụ Pháp chế và hoàn thiện văn bản, báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ
trách, trình Bộ trưởng xem xét, cho ý kiến hoặc quyết định theo phân công của Bộ
trưởng việc gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
6. Trên cơ sở ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, đơn
vị chủ trì soạn thảo chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giải trình, tiếp
thu ý kiến thẩm định và chỉnh lý, hoàn thiện tài liệu dự thảo văn bản.
7. Trường hợp nội dung thẩm định có nội dung lớn,
quan trọng, đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách tổ chức họp
để thảo luận, thống nhất với sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ
Tư pháp và các Bộ, cơ quan có liên quan.
Điều 20. Trình Chính phủ xem
xét, quyết định trình dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Việc hoàn thiện tài liệu, trình Chính phủ xem
xét, quyết định trình dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện theo quy định tại Điều
36 Luật năm 2025 và Điều 20 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
2. Trường hợp dự án, dự thảo văn bản có nội dung lớn,
quan trọng mà các Bộ, ngành chưa thống nhất ý kiến, đơn vị chủ trì soạn thảo
báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách tổ chức họp để thảo luận, thống nhất với sự tham
gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan có ý kiến
khác.
Điều 21. Hoàn thiện dự án, dự
thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội
1. Trên cơ sở ý kiến của cơ quan thẩm tra theo quy
định tại Điều 37 Luật năm 2025, đơn vị chủ trì soạn thảo phối
hợp với các đơn vị liên quan tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, rà soát, hoàn thiện
ngôn ngữ, kỹ thuật trình bày văn bản; hoàn thiện tài liệu dự án, dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
2. Đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ
trách, trình Bộ trưởng xem xét, trình Chính phủ quyết định trình Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định.
3. Đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp
với các đơn vị có liên quan chuẩn bị tài liệu và các điều kiện bảo đảm cần thiết
để phục vụ hoạt động thẩm tra, thông qua dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Mục 2. XÂY DỰNG LỆNH, QUYẾT ĐỊNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC
Điều 22. Xây dựng lệnh, quyết
định của Chủ tịch nước
1. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo lệnh, quyết định
của Chủ tịch nước tổ chức soạn thảo lệnh, quyết định; báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ
trách trình Bộ trưởng ký trình Chính phủ để báo cáo, xin ý kiến Chủ tịch nước về
những vấn đề quan trọng của dự thảo lệnh, quyết định.
2. Tùy theo nội dung của dự thảo lệnh, quyết định,
đơn vị chủ trì soạn thảo tham mưu Lãnh đạo Bộ trình Chính phủ xin ý kiến Chủ tịch
nước quyết định việc đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Dân tộc và Tôn
giáo và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời hạn 20 ngày để các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên có quy định khác.
3. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và gửi lấy
ý kiến của Vụ Pháp chế, hoàn thiện hồ sơ báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách, trình Bộ
trưởng trình Chính phủ để trình Chủ tịch nước.
Mục 3. XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH, NGHỊ
QUYẾT CỦA CHÍNH PHỦ, QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VÀ THÔNG TƯ CỦA BỘ TRƯỞNG
BỘ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
Điều 23. Các bước, quy trình
soạn thảo, ban hành nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng
Chính phủ
1. Việc soạn thảo nghị định, nghị quyết của Chính
phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ thực hiện theo quy định từ Điều 27 đến Điều 38 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
2. Tổ chức lấy ý kiến, phản biện xã hội về dự thảo
tài liệu của các đơn vị thuộc Bộ, của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
văn bản và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan, trong đó phải lấy ý
kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ
Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ. Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ
Dân tộc và Tôn giáo, Cổng Pháp luật quốc gia về dự thảo văn bản để lấy ý kiến
các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật
năm 2025.
3. Trước khi gửi hồ sơ đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định,
đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm:
a) Gửi tài liệu dự thảo nghị định, nghị quyết của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ lấy ý kiến Vụ Pháp chế:
Đối với nghị định gồm các tài liệu theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ
sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
Đối với nghị quyết gồm các tài liệu theo quy định tại
khoản 1 Điều 33 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ
sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
Đối với quyết định gồm các tài liệu theo quy định tại
khoản 1 Điều 37 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ
sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
b) Trên cơ sở ý kiến của Vụ Pháp chế, đơn vị chủ
trì soạn thảo tiếp thu, giải trình, hoàn thiện tài liệu dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật, báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách để xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ.
Tài liệu gửi xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ gồm
các tài liệu theo quy định tại điểm a khoản này; ý kiến của Vụ Pháp chế và bản
tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến Vụ Pháp chế của đơn vị chủ trì soạn thảo.
c) Căn cứ ý kiến của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ, đơn
vị chủ trì soạn thảo hoàn thiện tài liệu, báo cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định
việc gửi tài liệu đến Bộ Tư pháp để thẩm định.
4. Căn cứ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, đơn vị
chủ trì soạn thảo tiếp thu, giải trình, hoàn thiện tài liệu báo cáo Lãnh đạo Bộ
phụ trách trình Bộ trưởng để trình cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật.
5. Trường hợp tài liệu dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật chưa đủ điều kiện trình, đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và gửi tài liệu dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật đến Bộ Tư pháp để thẩm định lại.
Điều 24. Xây dựng, ban hành
thông tư của Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo
1. Việc soạn thảo, ban hành thông tư thực hiện theo
quy định tại các Điều 39, 40 và 41 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
2. Tổ chức lấy ý kiến tham gia của các đơn vị thuộc
Bộ có liên quan; đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và các cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử
của Bộ Dân tộc và Tôn giáo dự thảo văn bản để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức,
cá nhân theo quy định của Luật năm 2025.
3. Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định thông tư của
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo do đơn vị thuộc Bộ chủ trì soạn thảo. Thời hạn
thẩm định tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày Vụ Pháp chế nhận đầy đủ hồ sơ theo
quy định; không quá 08 ngày làm việc đối với thông tư có nội dung phức tạp, nhạy
cảm. Tài liệu gửi thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 40
Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
4. Việc thẩm định dự thảo thông tư do Vụ Pháp chế
chủ trì soạn thảo thực hiện như sau:
a) Vụ Pháp chế báo cáo, đề xuất Bộ trưởng phân công
đơn vị khác thuộc Bộ thực hiện thẩm định;
b) Đơn vị được phân công thẩm định thực hiện việc
thẩm định theo quy định tại Điều 40 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
5. Đơn vị chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tổng hợp,
tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, hoàn thiện hồ sơ dự thảo thông tư trình
Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét, cho ý kiến.
6. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ phụ
trách, đơn vị chủ trì soạn thảo hoàn thiện hồ sơ dự thảo thông tư, phối hợp với
Văn phòng Đảng ủy Bộ xin ý kiến của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ.
7. Đơn vị chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tổng hợp,
tiếp thu, giải trình ý kiến của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ, hoàn thiện hồ sơ dự
thảo thông tư để báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách, trình Bộ trưởng xem xét, ký ban
hành thông tư.
Mục 4. XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT THEO TRÌNH TỰ, THỦ TỤC RÚT GỌN
Điều 25. Trường hợp và thẩm
quyền quyết định xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự,
thủ tục rút gọn
1. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
theo trình tự, thủ tục rút gọn khi thuộc trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 50 Luật năm 2025.
2. Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn thực hiện theo quy định
tại khoản 2 Điều 50 Luật năm 2025.
Điều 26. Trình tự, thủ tục xây
dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn
1. Việc xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước, nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
theo thủ tục rút gọn được thực hiện theo quy định của Luật năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi
hành.
2. Việc xây dựng thông tư của Bộ trưởng Bộ Dân tộc
và Tôn giáo theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:
a) Khi thông tư thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật năm 2025, đơn vị chủ trì soạn thảo có
trách nhiệm xây dựng văn bản đề nghị áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn theo quy
định tại khoản 3 Điều 51 Luật năm 2025, lấy ý kiến của Vụ
Pháp chế trước khi báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét phê duyệt. Sau khi được
Lãnh đạo Bộ phụ trách phê duyệt, gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp, theo dõi;
b) Việc soạn thảo, đăng tải hồ sơ dự thảo thông tư;
hồ sơ gửi thẩm định; hồ sơ trình dự thảo thông tư thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 51 Luật năm 2025; điểm e
khoản 2 Điều 39, khoản 8 Điều 40 và khoản 4 Điều 41 Nghị định
số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP);
c) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ đề nghị thẩm định dự thảo thông tư, Vụ Pháp chế có trách nhiệm thẩm định
dự thảo thông tư do đơn vị thuộc Bộ chủ trì soạn thảo. Đối với thông tư có nội
dung phức tạp, nhạy cảm thì thời gian thẩm định không quá 08 ngày làm việc kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ.
3. Trong quá trình soạn thảo văn bản, trường hợp
thuộc diện được áp dụng theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Điều 50 Luật năm 2025, đơn vị chủ trì soạn thảo phối hợp với Vụ
Pháp chế xây dựng văn bản đề nghị áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trình Lãnh
đạo Bộ xem xét quyết định.
Chương IV
TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 27. Xây dựng, ban hành Kế
hoạch triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Kế hoạch triển khai thi hành văn bản quy phạm
pháp luật được xây dựng và ban hành đối với các văn bản quy phạm pháp luật sau
đây:
a) Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật năm 2025;
b) Văn bản quy phạm pháp luật khác không thuộc trường
hợp quy định tại điểm a khoản này nhưng cần thiết xây dựng kế hoạch triển khai
thi hành theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật đó hoặc theo quyết định của Bộ trưởng.
2. Đối với các văn bản quy định tại điểm a khoản 1
Điều này, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật xây dựng, báo cáo
Bộ trưởng xem xét để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai thi
hành văn bản quy phạm pháp luật.
Căn cứ kế hoạch triển khai thi hành văn bản quy phạm
pháp luật do Thủ tướng Chính phủ ban hành, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật xây dựng, trình Bộ trưởng ban hành kế hoạch triển khai thi hành
văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền của Bộ.
3. Đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1
Điều này, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật xây dựng, trình Bộ
trưởng để ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành kế hoạch triển khai
thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
4. Thời hạn xây dựng, ban hành kế hoạch triển khai
thi hành văn bản quy phạm pháp luật và các nội dung của kế hoạch triển khai thực
hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 80/2025/NĐ-CP
ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật.
Điều 28. Phổ biến, giáo dục
văn bản quy phạm pháp luật
1. Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các đơn vị có
liên quan tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý công tác phổ biến, giáo dục
văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành kế hoạch phổ
biến, giáo dục pháp luật hằng năm của Bộ trước ngày 01 tháng 01 của năm kế hoạch.
2. Các đơn vị thuộc Bộ thực hiện các nhiệm vụ liên
quan đến công tác phổ biến, giáo dục văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực được giao quản lý.
3. Cung cấp thông tin xây dựng Thông cáo báo chí:
a) Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết chứa quy phạm
pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Sau khi Chủ tịch nước ký lệnh công bố luật, pháp lệnh,
nghị quyết, đơn vị chủ trì soạn thảo cung cấp thông tin gửi Văn phòng Chủ tịch
nước về văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ việc xây dựng Thông cáo báo chí
theo quy định tại Điều 12 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm
2012, đồng thời gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp, theo dõi.
b) Đối với nghị định, nghị quyết chứa quy phạm pháp
luật của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ:
Sau khi nghị định, nghị quyết, quyết định được ban
hành, đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tham mưu trình Lãnh đạo Bộ ký văn
bản cung cấp thông tin gửi Bộ Tư pháp về văn bản quy phạm pháp luật mới ban
hành chậm nhất vào ngày 05 của tháng tiếp theo để phục vụ việc xây dựng Thông
cáo báo chí, đồng thời gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp, theo dõi.
Nội dung văn bản cung cấp thông tin về nghị định,
nghị quyết, quyết định thực hiện theo mẫu tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông
tư số 07/2021/TT-BTP ngày 01 tháng 11 năm
2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định việc ban hành thông cáo báo chí về văn bản
quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Điều 29. Hướng dẫn áp dụng văn
bản quy phạm pháp luật bằng văn bản hành chính
1. Căn cứ đề nghị của cơ quan, kiến nghị của tổ chức,
cá nhân, đơn vị thuộc Bộ được giao chủ trì soạn thảo hoặc đơn vị được giao giúp
Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực có liên quan phối hợp với Vụ
Pháp chế hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật bằng văn bản hành chính đối
với các trường hợp sau:
a) Hướng dẫn áp dụng đối với thông tư của Bộ trưởng
Bộ Dân tộc và Tôn giáo; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn
giáo với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tổng Kiểm toán nhà nước;
b) Hướng dẫn áp dụng đối với nghị định, nghị quyết
của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực công tác dân tộc,
tín ngưỡng, tôn giáo trong trường hợp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền
cho Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
2. Các trường hợp, nguyên tắc, tiêu chí hướng dẫn
áp dụng văn bản quy phạm pháp luật bằng văn bản hành chính trong lĩnh vực công
tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 61 Luật năm 2025 và không được làm thay đổi nội dung quy
định được hướng dẫn, không được đặt ra quy định mới.
Điều 30. Xây dựng, ban hành
văn bản hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
1. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo hoặc đơn vị
được giao giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực cần hướng dẫn
có trách nhiệm tiếp nhận, rà soát nội dung đề nghị, kiến nghị của cơ quan, tổ
chức, cá nhân để báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách, trình Bộ trưởng xem xét, ký ban
hành văn bản hướng dẫn. Tài liệu báo cáo Bộ trưởng gồm:
a) Tờ trình hoặc Phiếu trình Bộ trưởng;
b) Dự thảo văn bản hướng dẫn áp dụng thông tư và
thông tư cần được hướng dẫn áp dụng;
c) Văn bản đề nghị, kiến nghị của cơ quan, tổ chức,
cá nhân;
d) Ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên
quan (nếu có);
đ) Các tài liệu khác (nếu cần thiết).
2. Việc tiếp nhận, xử lý đề nghị, kiến nghị hướng dẫn
áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và việc đăng tải văn bản hướng dẫn thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật năm 2025 và Điều 5 Nghị định số 80/2025/NĐ-CP.
3. Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm tham mưu,
giúp Bộ trưởng hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến lĩnh vực được giao quản lý thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ
Dân tộc và Tôn giáo theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 80/2025/NĐ-CP.
Điều 31. Kiểm tra, xử lý văn bản
quy phạm pháp luật
1. Vụ Pháp chế có trách nhiệm:
a) Xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành kế hoạch kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật hằng năm trước ngày 01 tháng 01 của năm kế hoạch;
xây dựng báo cáo hằng năm về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trình Lãnh đạo Bộ gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo
Thủ tướng Chính phủ;
b) Là đầu mối tổng hợp, theo dõi, đôn đốc việc kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều
10, điểm b khoản 1 Điều 11 và khoản 1 Điều 14 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP);
c) Thực hiện kiểm tra văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ khác, chính quyền địa phương cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban
hành về những nội dung có liên quan đến lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng,
tôn giáo do Bộ Dân tộc và Tôn giáo quản lý không có nội dung thuộc phạm vi bí mật
nhà nước;
d) Tổ chức thực hiện tự kiểm tra đối với các văn bản
quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành hoặc liên tịch
ban hành; văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì soạn thảo,
trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản
hướng dẫn văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành
về lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo thuộc trách nhiệm quản lý của
Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
2. Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm:
a) Phối hợp với Vụ Pháp chế trong công tác kiểm tra
và xử lý văn bản quy phạm pháp luật;
b) Thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hoặc được Lãnh đạo Bộ giao khi có
căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 63 Luật năm 2025, đồng
thời gửi kết quả kiểm tra về Vụ Pháp chế để theo dõi;
c) Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản
quy định tại khoản 4 Điều 63 Luật năm 2025 do Bộ trưởng Bộ
Dân tộc và Tôn giáo ban hành bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện có dấu hiệu
trái pháp luật, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản đó có trách nhiệm rà soát, giải
trình cụ thể và báo cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định;
d) Báo cáo công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật định kỳ hoặc đột xuất theo đề nghị của Vụ Pháp chế.
3. Việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
thực hiện theo quy định tại Điều 63 Luật năm 2025 và Nghị định
số 79/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi
Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
Điều 32. Rà soát, hệ thống
hóa văn bản quy phạm pháp luật
1. Vụ Pháp chế là đầu mối đôn đốc, phối hợp, hướng
dẫn, tổng hợp kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc
trách nhiệm, thẩm quyền của Bộ.
2. Vụ Pháp chế xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành
kế hoạch rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật hằng năm trước ngày
01 tháng 01 của năm kế hoạch; xây dựng báo cáo hằng năm về công tác rà soát, hệ
thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trình Lãnh đạo Bộ gửi Bộ Tư pháp.
3. Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm tham mưu giúp
Bộ trưởng thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản thuộc thẩm quyền, trách nhiệm
của Bộ Dân tộc và Tôn giáo quy định tại khoản 2 Điều 64 Luật
năm 2025 liên quan đến nội dung thuộc lĩnh vực phụ trách của đơn vị mình;
xây dựng và trình Bộ trưởng để ban hành hoặc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành
kế hoạch rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn
theo quy định tại Điều 46 Nghị định số 79/2025/NĐ-CP (được
sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP).
Điều 33. Hợp nhất văn bản quy
phạm pháp luật
1. Nguyên tắc hợp nhất:
a) Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật trong
lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo phải được thực hiện ngay sau
khi văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung. Việc hợp nhất văn bản quy
phạm pháp luật không được làm thay đổi nội dung và hiệu lực của văn bản được hợp
nhất;
b) Chỉ hợp nhất văn bản do cùng một cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành;
c) Tuân thủ trình tự, kỹ thuật hợp nhất văn bản quy
định tại Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm
pháp luật.
2. Trách nhiệm của các đơn vị trong việc hợp nhất
văn bản quy phạm pháp luật:
a) Đối với văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm
quyền ban hành của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ do các đơn vị
thuộc Bộ chủ trì soạn thảo:
Ngay sau khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật sửa
đổi, bổ sung được người có thẩm quyền ký ban hành, đơn vị chủ trì soạn thảo văn
bản có trách nhiệm thực hiện việc hợp nhất văn bản.
Thời hạn thực hiện việc hợp nhất và trình Lãnh đạo
Bộ ký xác thực văn bản hợp nhất tối đa không quá 05 ngày làm việc.
b) Đối với thông tư do Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn
giáo ban hành:
Đơn vị chủ trì soạn thảo thông tư sửa đổi, bổ sung
chủ động thực hiện việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
Thời hạn trình, ký xác thực văn bản hợp nhất tối đa
05 ngày làm việc kể từ ngày thông tư sửa đổi, bổ sung được ký ban hành.
c) Chậm nhất là 02 ngày làm việc kể từ ngày ký văn
bản xác thực, đơn vị thực hiện hợp nhất văn bản có trách nhiệm gửi bản chính
văn bản hợp nhất kèm theo tệp dữ liệu điện tử đến Văn phòng Bộ để gửi Văn phòng
Chính phủ đăng Công báo; gửi Trung tâm Chuyển đổi số để đăng tải trên Cổng
Thông tin điện tử của Bộ và gửi Vụ Pháp chế để đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc
gia về pháp luật;
d) Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có sai sót
về lỗi chính tả, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản dẫn đến không thể thực hiện
hợp nhất, đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách
để xử lý theo quy định. Đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thực hiện hợp
nhất văn bản sau khi văn bản quy phạm pháp luật đã được xử lý và bảo đảm thực
hiện hợp nhất theo quy định;
đ) Vụ Pháp chế có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, tổng
hợp và báo cáo về công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm
của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Điều 34. Pháp điển hệ thống
quy phạm pháp luật
1. Trách nhiệm thực hiện pháp điển quy phạm pháp luật:
a) Vụ Pháp chế thực hiện pháp điển đối với quy phạm
pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, trách nhiệm pháp
điển của Bộ Dân tộc và Tôn giáo;
b) Các đơn vị có trách nhiệm phối hợp với Vụ Pháp
chế thực hiện pháp điển đối với văn bản quy phạm pháp luật do đơn vị mình chủ
trì soạn thảo hoặc quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình.
Gửi Vụ Pháp chế văn bản quy phạm pháp luật (định dạng
“.pdf ” có dấu đỏ và định dạng “.doc” hoặc “.docx”) trong thời hạn 01 ngày làm
việc kể từ ngày văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để Vụ Pháp chế thực hiện
pháp điển theo quy định và chịu trách nhiệm về việc không bảo đảm thời hạn thực
hiện pháp điển quy phạm pháp luật trong trường hợp không gửi Vụ Pháp chế văn bản
quy phạm pháp luật được ban hành theo quy định này.
2. Việc thực hiện pháp điển quy phạm pháp luật phải
bảo đảm đúng thời hạn, chính xác về nội dung, đúng quy trình, thủ tục và tuân
thủ kỹ thuật pháp điển theo quy định tại Pháp lệnh
Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.
Điều 35. Tiếp nhận và xử lý kiến
nghị về văn bản quy phạm pháp luật qua Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản
ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
1. Vụ Pháp chế làm đầu mối tiếp nhận truy cập Hệ thống
thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật của
tổ chức, cá nhân theo tài khoản do Bộ Tư pháp cấp quyền để phân loại, tiếp nhận,
chuyển xử lý phản ánh đến đơn vị có trách nhiệm tham mưu để xử lý.
2. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ:
a) Tổ chức triển khai, thực hiện việc tiếp nhận, xử
lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trên Hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về
văn bản quy phạm pháp luật hiệu quả, đúng yêu cầu và tiến độ; chịu trách nhiệm
đối với nội dung trả lời phản ánh, kiến nghị;
b) Khi được yêu cầu phối hợp trả lời phản ánh, kiến
nghị, đơn vị liên quan có trách nhiệm trả lời đúng thời hạn, rõ nội dung; không
trả lời chung chung, thiếu trách nhiệm hoặc né tránh trách nhiệm; trường hợp
không trả lời hoặc trả lời không đúng thời hạn thì đơn vị phải chịu trách nhiệm
theo quy định của pháp luật và Quy chế làm việc của Bộ.
3. Quy trình tiếp nhận và xử lý kiến nghị về văn bản
quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo
qua Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm
pháp luật thực hiện theo quy định của pháp luật và Quy chế của Bộ.
Điều 36. Theo dõi, kiểm tra
công tác tổ chức thi hành pháp luật
1. Công tác tổ chức thi hành pháp luật được thực hiện
theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 80/2025/NĐ-CP.
2. Vụ Pháp chế là đầu mối, phối hợp với các đơn vị
có liên quan tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện công tác theo dõi việc thi hành
văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi lĩnh vực quản lý của Bộ Dân tộc và Tôn
giáo; xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành kế hoạch theo dõi việc thi hành văn
bản quy phạm pháp luật của Bộ Dân tộc và Tôn giáo hằng năm; tổ chức triển khai
thực hiện kế hoạch và báo cáo định kỳ hằng năm, đột xuất về công tác tổ chức
thi hành pháp luật của Bộ theo yêu cầu.
3. Các đơn vị thuộc Bộ tham mưu, giúp Bộ trưởng tổ
chức thi hành pháp luật và kiểm tra công tác tổ chức thi hành pháp luật liên
quan đến lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo theo chức năng, nhiệm
vụ được giao quản lý.
Điều 37. Kiêm tra công tác tổ
chức thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
1. Vụ Pháp chế là đầu mối, phối hợp với các đơn vị
có liên quan tham mưu, giúp Bộ trưởng xây dựng, ban hành kế hoạch và tổ chức thực
hiện kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo quy
định của Chính phủ về kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính.
2. Căn cứ, mục đích, yêu cầu tại kế hoạch kiểm tra
công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính do Bộ trưởng ban hành
và quy định của pháp luật có liên quan, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ có trách
nhiệm tự kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
nội bộ đơn vị mình, kiểm tra người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc
phạm vi quản lý của mình và gửi kết quả kiểm tra về Vụ Pháp chế để tổng hợp,
báo cáo theo quy định.
Điều 38. Dịch văn bản quy phạm
pháp luật ra tiếng dân tộc
1. Vụ Pháp chế là đầu mối, phối hợp với các đơn vị
có liên quan tham mưu, trình Bộ trưởng quyết định việc dịch ra tiếng dân tộc
thiểu số đối với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến đồng
bào dân tộc thiểu số.
2. Các đơn vị có trách nhiệm đề xuất danh mục các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến đồng bào dân tộc thiểu số dịch
ra tiếng dân tộc thiểu số gửi Vụ Pháp chế tổng hợp, trình Bộ trưởng quyết định
để tổ chức thực hiện.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 39. Trách nhiệm phối hợp
giữa các đơn vị trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án
1. Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
phối hợp với Vụ Pháp chế và các đơn vị thuộc Bộ trong từng khâu thuộc quy trình
xây dựng chính sách; soạn thảo, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật, đề án theo quy định tại Luật năm
2025, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được
sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP)
và Quy chế này.
2. Các đơn vị được giao phối hợp trong soạn thảo
văn bản quy phạm pháp luật, đề án có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ
thông tin liên quan đến lĩnh vực được giao phụ trách khi có yêu cầu của đơn vị
chủ trì soạn thảo, đơn vị thẩm định.
Điều 40. Trách nhiệm của thủ
trưởng đơn vị thuộc Bộ trong quá trình soạn thảo, ban hành và tổ chức thi hành
văn bản quy phạm pháp luật, đề án
1. Đối với đơn vị chủ trì soạn thảo:
a) Đảm bảo việc đề xuất xây dựng, soạn thảo, ban
hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đề án theo đúng quy trình
quy định tại Luật năm 2025, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị
định số 187/2025/NĐ-CP) và Quy chế này;
b) Chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng, trước pháp luật
về tiến độ, chất lượng lập đề xuất xây dựng chính sách, soạn thảo, truyền thông
chính sách; thời hạn thực hiện; toàn bộ nội dung của chính sách, dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật, đề án và việc thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục
xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc tiếp thu, giải trình các ý
kiến góp ý, tham vấn, phản biện xã hội, thẩm tra, thẩm định theo quy định của
pháp luật và Quy chế này. Chịu trách nhiệm về căn cứ pháp lý, thẩm quyền ban
hành, tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật,
đề án;
c) Khi phát sinh những nội dung, vấn đề mới, phức tạp
trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án, thủ trưởng đơn vị
chủ trì soạn thảo báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét, quyết định việc xin ý
kiến Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ;
d) Bố trí đủ nguồn nhân lực và các điều kiện cần
thiết khác cho công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật, đề án;
đ) Xác định mức độ phức tạp của văn bản quy phạm
pháp luật, đề án được giao xây dựng và phối hợp với Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch -
Tài chính báo cáo Lãnh đạo Bộ xem xét quyết định áp dụng định mức chi theo quy
định của pháp luật;
e) Chủ động hoặc trình Lãnh đạo Bộ phụ trách kịp thời
cung cấp thông tin liên quan theo yêu cầu của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ,
các cơ quan của Quốc hội;
g) Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Bộ, Trung tâm
Chuyển đổi số, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, Báo VietNamnet thực hiện
truyền thông chính sách, truyền thông dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;
h) Tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến góp
ý gửi Trung tâm Chuyển đổi số đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ theo
quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (được
sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP);
i) Thường xuyên phối hợp với Vụ Pháp chế để thông
tin kịp thời về tình hình, và kết quả soạn thảo; những khó khăn, vướng mắc
trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án, đề xuất các phương
án xử lý để tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ;
k) Chậm nhất vào ngày 20 hằng tháng, các đơn vị được
giao chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án có trách nhiệm cập nhật
thông tin về tình hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án gửi Vụ Pháp
chế thông qua Hệ thống quản lý văn bản và điều hành của Bộ Dân tộc và Tôn giáo;
l) Bảo đảm sự tham gia của Vụ Pháp chế, tổ chức
pháp chế của đơn vị mình (nếu có) trong quá trình xây dựng chính sách, soạn thảo,
thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật, đề án;
m) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan trình
Lãnh đạo Bộ công bố thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật do đơn
vị mình chủ trì xây dựng và phối hợp với Văn phòng Bộ thực hiện các nội dung
liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định;
n) Sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản quy phạm
pháp luật theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 80/2025/NĐ-CP;
o) Chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế thực hiện hợp
nhất văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển quy phạm pháp luật; công tác kiểm
tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản, phổ biến, giáo dục pháp luật liên
quan đến lĩnh vực đơn vị được phân công quản lý.
2. Đối với các đơn vị liên quan thuộc Bộ:
a) Chịu trách nhiệm về nội dung có liên quan đến chức
năng, nhiệm vụ của đơn vị và lĩnh vực chuyên môn được giao phụ trách;
b) Phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo theo phân
công, chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, đề nghị của đơn vị chủ trì soạn thảo theo quy định
của pháp luật, Quy chế này và Quy chế làm việc của Bộ.
Điều 41. Trách nhiệm của Vụ
Pháp chế
1. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ tiến
hành sơ kết, tổng kết Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội trong phạm vi quản
lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo gửi Bộ Tư pháp tổng hợp.
2. Giúp Lãnh đạo Bộ theo dõi tiến độ, nội dung và
đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ tổ chức triển khai soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật,
đề án; dự báo các trường hợp có khả năng không đảm bảo tiến độ soạn thảo để kịp
thời đôn đốc các đơn vị chủ trì soạn thảo có phương án xử lý, bảo đảm chất lượng,
tiến độ hoàn thành Chương trình.
3. Định kỳ hằng tháng hoặc đột xuất, tổng hợp tình hình
và kết quả thực hiện Chương trình gửi Văn phòng Bộ tổng hợp vào báo cáo giao
ban Bộ.
4. Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo văn bản quy phạm
pháp luật, đề án theo phân công của Bộ trưởng.
5. Chủ trì thẩm định dự thảo thông tư của Bộ trưởng
Bộ Dân tộc và Tôn giáo do các đơn vị khác chủ trì xây dựng; có ý kiến đối với hồ
sơ văn bản quy phạm pháp luật, đề án khác trước khi gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
6. Căn cứ tình hình và kết quả triển khai thực hiện
Chương trình để chủ động trình Bộ trưởng có giải pháp xử lý kịp thời, bảo đảm
hoàn thành Chương trình của Bộ.
7. Hướng dẫn về nghiệp vụ xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật; có ý kiến đối với dự thảo văn bản hành chính hướng dẫn áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật khi được gửi lấy ý kiến; hướng dẫn nghiệp vụ tổ chức
thi hành hoặc đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy
định của Quy chế này.
8. Tham mưu, giúp Lãnh đạo Bộ trong việc tổ chức bồi
dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực, phân tích chính sách, lập dự kiến Chương
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá thi hành văn bản quy phạm
pháp luật.
9. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ đăng tải
văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo
trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Cổng Pháp luật quốc gia.
Điều 42. Trách nhiệm của Vụ Kế
hoạch - Tài chính
1. Tham mưu Lãnh đạo Bộ để bố trí kinh phí cho nhiệm
vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định.
2. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan trình
Lãnh đạo Bộ phân bố nguồn kinh phí cho các đơn vị thuộc Bộ được giao nhiệm vụ
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định.
Điều 43. Trách nhiệm của Văn
phòng Bộ
1. Thực hiện thanh toán, quyết toán kinh phí hỗ trợ
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định.
2. Phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo, Trung tâm
Chuyển đổi số, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, Báo VietNamnet và các cơ
quan liên quan thực hiện truyền thông chính sách, văn bản quy phạm pháp luật do
Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì soạn thảo trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc
ban hành theo thẩm quyền.
3. Phối hợp với Vụ Pháp chế theo dõi, tổng hợp tình
hình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án.
4. Có ý kiến về thủ tục hành chính trong dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo quyết định công bố thủ tục hành chính khi
được gửi lấy ý kiến; thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định.
Điều 44. Trách nhiệm của Trung
tâm Chuyển đổi số
1. Kết thúc thời hạn đăng tải dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật theo quy định của Luật năm 2025,
Trung tâm Chuyển đổi số có trách nhiệm tổng hợp các ý kiến góp ý, gửi đơn vị chủ
trì soạn thảo.
2. Đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ:
a) Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý
đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do đơn vị chủ trì soạn thảo gửi;
b) Nội dung truyền thông chính sách và dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật do đơn vị chủ trì soạn thảo gửi.
Điều 45. Đảm bảo nguồn lực và
kinh phí cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
1. Kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật quy định tại Quy chế này được
thực hiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; được phân bổ vào
kinh phí giao thực hiện chế độ tự chủ của đơn vị.
2. Mức chi cho công tác xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật,
Quy chế chi tiêu nội bộ của Bộ.
3. Lãnh đạo Bộ, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình bố trí công chức, kinh
phí hỗ trợ, phương tiện làm việc và các điều kiện cần thiết khác cho công tác
xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
4. Tổ chức, người làm công tác pháp chế được hưởng
các cơ chế, chính sách cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật theo
quy định.
5. Các đơn vị có trách nhiệm lập dự toán đối với
nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật bảo đảm tiêu chuẩn, định mức
quy định, gửi Vụ Kế hoạch - Tài chính tổng hợp trong dự toán chung của Bộ.
6. Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm quản lý, sử dụng
ngân sách theo dự toán được giao bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đúng chế độ và
tiêu chuẩn hiện hành.
Điều 46. Khen thưởng, kỷ luật
1. Cá nhân, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ có thành tích
trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật,
đề án được xét khen thưởng theo quy định về thi đua, khen thưởng và của Bộ.
2. Cá nhân, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ thiếu tinh thần
trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ xây dựng văn bản, đề án; chậm hoặc để quá
hạn thời hạn trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án mà không có lý do
chính đáng; vi phạm các quy định của Quy chế này, tùy theo nguyên nhân, tính chất,
mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Văn phòng Bộ (cơ quan thường trực về công tác
thi đua, khen thưởng của Bộ) lấy ý kiến của Vụ Pháp chế về kết quả xây dựng và
tổ chức thi hành pháp luật của các đơn vị thuộc Bộ khi triển khai đánh giá,
bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm đối với tập thể, cá nhân.
Điều 47. Văn bản viện dẫn
Trường hợp các văn bản, tên, chức năng, nhiệm vụ và
cơ cấu tổ chức của đơn vị được dẫn chiếu, đề cập trong Quy chế này bị thay thế
hoặc sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo văn bản thay thế hoặc sửa đổi, bổ
sung.
Điều 48. Trách nhiệm thực hiện
1. Các cơ quan, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tuân
thủ nguyên tắc, các bước, quy trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn
bản quy phạm pháp luật, đề án và các quy định có liên quan tại Quy chế này.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng
mắc đề nghị các đơn vị có ý kiến bằng văn bản gửi về Vụ Pháp chế để tổng hợp,
báo cáo Lãnh đạo Bộ xem xét sửa đổi, bổ sung./.