|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 14/CT-UBND
|
Cao Bằng, ngày 29
tháng 5 năm 2026
|
CHỈ THỊ
VỀ TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI CHÍNH
CÔNG, TÀI SẢN CÔNG; CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN, PHÒNG NGỪA NGUY CƠ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG
Trong thời gian qua, công tác
thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí tiếp tục được Đảng, Nhà nước, Chính
phủ và các cơ quan Trung ương đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; xác định là
nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, quản lý và sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực công,
tạo dư địa phát triển kinh tế - xã hội, củng cố kỷ luật, kỷ cương hành chính và
niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan nhà nước.
Thực hiện các quy định của pháp
luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Thông tư liên tịch số
11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP- BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP ngày
10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ
Nông nghiệp và Môi trường, Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ hướng dẫn việc
xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội
phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự; Công văn số
549/UBND-TH ngày 05/3/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện
Thông tư liên tịch hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của
Bộ luật Hình sự; yêu cầu tăng cường trách nhiệm quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn
lực công trên địa bàn tỉnh đặt ra ngày càng cấp thiết. Thông tư liên tịch đã cụ
thể hóa các dấu hiệu có khả năng gây lãng phí trong nhiều lĩnh vực, bao gồm
lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; quản lý,
sử dụng ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng,
mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý, khai thác, sử dụng đất đai,
tài nguyên; quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối
tác công tư, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các lĩnh vực khác có liên quan.
Việc quán triệt, triển khai các
quy định nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành
vi có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí; bảo đảm việc quản lý, sử dụng nguồn lực
công đúng mục đích, đúng quy định, tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời không nhằm
hình sự hóa các quan hệ hành chính, kinh tế, dân sự hoặc tạo tâm lý e ngại, né
tránh, đùn đẩy trong thực thi công vụ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nếu không
chủ động nhận diện từ sớm, từ xa các nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí;
không kịp thời kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh và xử lý các tồn tại, bất cập thì
các biểu hiện thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, kéo dài thời gian xử lý
công việc, xử lý không đúng thẩm quyền hoặc không đúng tính chất, mức độ vụ việc
có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước,
ảnh hưởng môi trường đầu tư, cơ hội phát triển và niềm tin của Nhân dân.
Qua theo dõi, rà soát tình hình
thực tiễn trên địa bàn tỉnh, bên cạnh những kết quả đạt được, một số lĩnh vực vẫn
còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí nếu không được tăng cường quản
lý, kiểm tra, giám sát. Các nguy cơ này chưa mặc nhiên được xác định là hành vi
vi phạm pháp luật và càng không phải là căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự;
tuy nhiên, không thể loại trừ khả năng phát sinh trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân có liên quan nếu có hành vi cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm, buông lỏng
quản lý, không xử lý hoặc xử lý không đầy đủ các dấu hiệu sai phạm dẫn đến tài
chính công, tài sản công, đất đai, tài nguyên, vốn nhà nước bị sử dụng sai mục
đích, kém hiệu quả, chậm đưa vào khai thác, sử dụng, bị xuống cấp, hao mòn hoặc
làm mất cơ hội phát triển.
Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo,
quản lý, điều hành, cần đặc biệt lưu ý nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí từ
việc tham mưu, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương khi chưa bảo đảm đầy đủ
căn cứ pháp lý, chưa đánh giá đầy đủ hiệu quả, tính cần thiết, tính khả thi; việc
buông lỏng quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra lãng phí trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị, doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước thuộc phạm vi trực tiếp quản
lý hoặc được phân công phụ trách; việc không xử lý, xử lý không kịp thời, bao
che, dung túng cho tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí; hoặc xử lý không
đúng tính chất, mức độ đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Việc
người đứng đầu đã phân công nhiệm vụ cho cấp phó hoặc bộ phận chuyên môn không
làm thay đổi trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát
theo quy định.
Trong quản lý, sử dụng ngân
sách nhà nước, các cơ quan, đơn vị cần chủ động nhận diện nguy cơ lãng phí từ
việc lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán không đúng thẩm quyền,
trình tự, thời gian, mục đích, đối tượng hoặc vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế
độ; việc sử dụng ngân sách không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu
chuẩn, định mức, sai chế độ; việc trì hoãn hoặc từ chối thực hiện nhiệm vụ chi
khi đã bảo đảm điều kiện chi theo quy định; việc quyết toán không đúng thời hạn,
không đúng thủ tục, sai nội dung, mục đích, đối tượng; việc quản lý, sử dụng quỹ
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước không đúng tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động,
cơ chế tài chính; việc vay, cho vay, tạm ứng, góp vốn trái quy định hoặc vượt
khả năng cân đối của ngân sách. Các biểu hiện này nếu không được kiểm soát kịp
thời có thể làm sai lệch mục tiêu phân bổ nguồn lực, kéo dài thời gian thực hiện
nhiệm vụ công và phát sinh trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan.
Trong lĩnh vực đầu tư công, đầu
tư xây dựng, mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công, cần tăng cường kiểm soát
ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư,
điều chỉnh dự án, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu, bàn giao,
khai thác, sử dụng và quyết toán dự án. Đặc biệt cần lưu ý các nguy cơ như quyết
định chủ trương đầu tư không phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; chưa xác
định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; quyết định đầu tư khi chưa đủ điều
kiện hoặc không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; điều chỉnh mục tiêu, địa điểm,
quy mô, tổng mức đầu tư thiếu căn cứ; thông đồng với tổ chức tư vấn, thẩm định,
định giá, nhà thầu; đầu tư, mua sắm không đúng mục đích, đối tượng, vượt tiêu
chuẩn, định mức; giao tài sản công cho cơ quan, tổ chức, đơn vị không có nhu cầu
sử dụng; xử lý, cho thuê, cho mượn, sử dụng hoặc không sử dụng tài sản công
không đúng quy định; cố ý trì hoãn, chậm giải ngân, chậm quyết toán hoặc không
quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công. Đây là nhóm nguy cơ có thể dẫn đến
tình trạng vốn nhà nước bị “giam giữ”, công trình chậm phát huy hiệu quả, tài sản
hình thành từ đầu tư bị xuống cấp, hao mòn hoặc phát sinh chi phí xã hội lớn.
Đối với công tác quy hoạch, cần
đặc biệt lưu ý nguy cơ lãng phí từ việc lập, điều chỉnh quy hoạch thiếu tính khả
thi, thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch
ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn; quy hoạch vượt quá nhu cầu thực tế hoặc
không phù hợp khả năng huy động nguồn lực thực hiện; tình trạng quy hoạch treo
kéo dài dẫn đến đất đai không được khai thác hiệu quả, dự án chậm triển khai,
phát sinh khiếu nại, kiến nghị và làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực phát triển.
Trong quản lý đầu tư công cần nhận
diện rõ nguy cơ “lãng phí do chậm trễ”. Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp vốn
đã được bố trí nhưng chậm hoàn thiện thủ tục đầu tư, chậm đấu thầu, chậm giải
phóng mặt bằng, chậm thi công, chậm nghiệm thu, chậm quyết toán hoặc chậm đưa
công trình vào sử dụng. Các biểu hiện này không chỉ ảnh hưởng tiến độ giải ngân
mà còn làm tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian phát huy hiệu quả kinh tế -
xã hội, phát sinh hao mòn tài sản và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Đối
với các công trình đã hoàn thành nhưng chưa thể vận hành hoặc vận hành cầm chừng
do thiếu hạ tầng kết nối, thiếu thủ tục pháp lý, thiếu phương án quản lý khai
thác hoặc thiếu phối hợp giữa các cơ quan liên quan thì phải xem xét đầy đủ
trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong từng khâu chuẩn bị và tổ
chức thực hiện.
Trong công tác mua sắm công,
mua sắm tập trung, chuyển đổi số, đầu tư trang thiết bị và hệ thống công nghệ
thông tin, cần lưu ý nguy cơ đầu tư dàn trải, đầu tư theo phong trào, mua sắm
vượt nhu cầu thực tế, thiếu khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu, thiếu phương án
vận hành, khai thác hoặc không phù hợp điều kiện sử dụng thực tế. Phải tránh
tình trạng đầu tư hệ thống nhưng không khai thác hiệu quả, đầu tư trùng lặp giữa
các cơ quan, đầu tư phần mềm nhưng không sử dụng thường xuyên, không phát sinh
dữ liệu thực chất hoặc không thể tích hợp, liên thông. Đây là nhóm nguy cơ đã
được Trung ương nhiều lần cảnh báo trong quá trình triển khai chuyển đổi số và
đầu tư hạ tầng số.
Trong quản lý tài sản công, cần
nhận diện nguy cơ phát sinh lãng phí từ việc giao tài sản cho đơn vị không có
nhu cầu thực tế; sử dụng tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức; để tài sản nhàn rỗi,
xuống cấp nhưng chậm xử lý; chậm sắp xếp, xử lý nhà, đất dôi dư; chậm xác lập sở
hữu toàn dân; chậm điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, đơn vị; không cập nhật
đầy đủ dữ liệu tài sản công hoặc để xảy ra tình trạng sử dụng tài sản công sai
mục đích, cho mượn, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng quy định.
Trong quản lý, khai thác, sử dụng
đất đai, tài nguyên, khoáng sản, cần nhận diện đầy đủ các biểu hiện có thể gây
thất thoát, lãng phí như quy hoạch đất đai, quy hoạch tài nguyên không đúng quy
định; giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng đối
tượng, không đúng thẩm quyền, không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
không thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong
trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện; chậm xác định giá đất, chậm thực
hiện thủ tục pháp lý dẫn đến chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính với
Nhà nước; sử dụng đất không đúng mục đích, không đưa đất vào sử dụng trong thời
hạn theo quy định hoặc chậm tiến độ sử dụng đất; chậm giải phóng mặt bằng, chậm
triển khai dự án; cấp phép, thăm dò, khai thác tài nguyên không đúng quy định
hoặc khai thác, chế biến tài nguyên gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thất
thoát tài nguyên. Đây là nhóm nguy cơ phải được nhận diện, kiểm soát chặt chẽ
vì đất đai, tài nguyên là nguồn lực đặc biệt quan trọng, nếu bị quản lý lỏng lẻo
hoặc chậm đưa vào sử dụng hiệu quả sẽ gây thiệt hại lớn và khó khắc phục.
Trong quản lý, sử dụng vốn nhà
nước tại doanh nghiệp, vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác
công tư và vốn nhà nước đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, cần nhận diện nguy cơ
lãng phí từ việc quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án không phù hợp
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, không xác định rõ phần vốn nhà nước tham gia
hoặc không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; đầu tư vốn nhà nước không đúng
phạm vi, không đúng mục đích, hiệu quả thấp; đầu tư dàn trải, đầu tư ngoài
ngành; thiếu cơ chế giám sát phần vốn nhà nước; quản lý công nợ thiếu chặt chẽ;
không kịp thời xử lý các khoản đầu tư thua lỗ, dự án kém hiệu quả hoặc tài sản
không còn nhu cầu sử dụng. Người đại diện phần vốn nhà nước phải thực hiện đầy
đủ trách nhiệm được giao; trường hợp thiếu kiểm tra, giám sát, không kịp thời
báo cáo hoặc không xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí thì phải xem xét
trách nhiệm theo quy định.
Trong thực hiện nhiệm vụ công vụ,
cần tiếp tục nhận diện và khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm, đùn đẩy
công việc, sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến trì hoãn xử lý hồ sơ, kéo dài thời
gian giải quyết công việc, không dám tham mưu, không dám quyết định thuộc thẩm
quyền hoặc đẩy toàn bộ trách nhiệm lên cấp trên. Trung ương đã nhiều lần nhấn mạnh
đây không chỉ là vấn đề về kỷ luật, kỷ cương hành chính mà trong nhiều trường hợp
còn có thể dẫn đến lãng phí thời gian, nguồn lực xã hội, cơ hội phát triển, ảnh
hưởng môi trường đầu tư và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Để chủ động phòng ngừa các nguy cơ nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh
yêu cầu:
1. Giám đốc
các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các xã, phường và người đứng đầu
các cơ quan, đơn vị có liên quan
Tiếp tục quán triệt nghiêm các
chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; tổ chức rà soát toàn diện các nhiệm vụ, chương trình, dự án, công trình,
tài sản, quỹ đất, nguồn vốn thuộc phạm vi quản lý; đánh giá đầy đủ nguyên nhân khách
quan, nguyên nhân chủ quan, trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nguy cơ phát sinh
thất thoát, lãng phí và giải pháp xử lý phù hợp theo quy định.
Chịu trách nhiệm toàn diện trước
UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về việc lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý. Việc phân công cấp phó hoặc bộ
phận chuyên môn thực hiện nhiệm vụ không làm thay đổi trách nhiệm của người đứng
đầu trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử
lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Trường hợp để xảy ra tồn tại kéo dài
mà không kiểm tra, không chỉ đạo khắc phục, không báo cáo cấp có thẩm quyền hoặc
xử lý không đúng tính chất, mức độ vụ việc thì phải xem xét trách nhiệm theo
quy định.
2. Sở Tài
chính
Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan tăng cường hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng ngân sách
nhà nước, tài sản công, vốn đầu tư công, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các
quỹ tài chính có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; kịp thời nhận diện, xử lý hoặc
tham mưu xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí, sử dụng nguồn lực công
chưa đúng mục đích, chưa đúng đối tượng, chưa bảo đảm tiêu chuẩn, định mức, chế
độ hoặc chưa phát huy hiệu quả.
Tập trung kiểm soát các nguy cơ
trong lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán; sử dụng ngân sách không
đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế độ; chậm
quyết toán, quyết toán không đúng nội dung; vay, cho vay, tạm ứng, góp vốn
không đúng quy định; quản lý, sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
không đúng quy định.
Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn
việc quản lý, sử dụng tài sản công; kịp thời nhận diện, xử lý hoặc tham mưu xử
lý các trường hợp giao tài sản cho đơn vị không có nhu cầu thực tế, sử dụng tài
sản vượt tiêu chuẩn, định mức, để tài sản nhàn rỗi, xuống cấp nhưng chậm xử lý,
chậm sắp xếp, xử lý nhà, đất dôi dư, chậm điều chuyển tài sản giữa các cơ quan,
đơn vị, không cập nhật đầy đủ dữ liệu tài sản công hoặc sử dụng tài sản công
sai mục đích, cho mượn, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng quy định.
Tăng cường theo dõi, đôn đốc tiến
độ giải ngân vốn đầu tư công; kịp thời nhận diện các dự án, nhiệm vụ có nguy cơ
chậm giải ngân, chậm quyết toán dự án hoàn thành, chậm đưa tài sản vào sử dụng,
sử dụng vốn không đúng mục tiêu hoặc hiệu quả thấp.
Đối với phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp, vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư
và vốn nhà nước đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, chủ động phối hợp với các cơ quan
liên quan rà soát việc quản lý, giám sát phần vốn nhà nước, hiệu quả đầu tư, quản
lý công nợ, tình trạng đầu tư ngoài ngành, đầu tư dàn trải, dự án thua lỗ, kém
hiệu quả hoặc tài sản không còn nhu cầu sử dụng.
Trên cơ sở kết quả rà soát, kiểm
tra, kịp thời tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo chấn chỉnh, điều chuyển, thu hồi, xử
lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định; không để kéo dài tình
trạng nguồn lực công bị sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, chậm đưa vào khai
thác, sử dụng hoặc bị “giam giữ” không cần thiết.
3. Sở Nông
nghiệp và Môi trường
Chủ trì, phối hợp với các địa
phương, cơ quan liên quan rà soát, kiểm tra việc quản lý, khai thác, sử dụng đất
đai, tài nguyên, khoáng sản, rừng và các nguồn lực tự nhiên khác; kịp thời nhận
diện, xử lý hoặc tham mưu xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí, sử dụng
không hiệu quả, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc làm phát sinh điểm nghẽn
trong phát triển kinh tế - xã hội.
Tập trung kiểm tra các trường hợp
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thiếu đồng bộ, thiếu khả thi; giao đất, cho
thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa
chọn nhà đầu tư có sử dụng đất chưa bảo đảm đúng quy định; chậm xác định giá đất,
chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất; chậm giải phóng mặt bằng, chậm hoàn
thiện thủ tục pháp lý, chậm đưa đất vào sử dụng, sử dụng đất không đúng mục
đích hoặc chậm tiến độ sử dụng đất.
Tăng cường rà soát các dự án có
sử dụng đất chậm triển khai, kéo dài nhiều năm, sử dụng đất kém hiệu quả, không
còn phù hợp quy hoạch, kế hoạch hoặc không bảo đảm điều kiện tiếp tục thực hiện;
kịp thời tham mưu xử lý, thu hồi, điều chỉnh, tháo gỡ vướng mắc hoặc kiến nghị
cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với lĩnh vực tài nguyên,
khoáng sản, rừng, chủ động kiểm tra, kiểm soát các trường hợp cấp phép, thăm
dò, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, rừng chưa đúng quy định, khai
thác không hiệu quả, gây thất thoát tài nguyên hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm, suy
thoái môi trường; kịp thời tham mưu biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, xử lý theo
thẩm quyền.
Không để tình trạng đất đai,
tài nguyên, khoáng sản, rừng bị bỏ hoang, sử dụng sai mục đích, sử dụng kém hiệu
quả, chậm đưa vào khai thác hoặc trở thành điểm nghẽn phát triển. Trường hợp để
xảy ra buông lỏng quản lý, chậm tham mưu, chậm xử lý hoặc xử lý không đầy đủ
các nguy cơ, dấu hiệu sai phạm, phải làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có
liên quan theo quy định.
4. Sở Xây dựng,
các chủ đầu tư và các cơ quan liên quan
Tăng cường kiểm soát quá trình
chuẩn bị đầu tư, thẩm định, quyết định đầu tư, điều chỉnh dự án, thiết kế, dự
toán, lựa chọn nhà thầu, thi công, nghiệm thu, bàn giao, khai thác, sử dụng và
thanh toán, quyết toán công trình; bảo đảm dự án được triển khai đúng mục tiêu,
đúng quy mô, đúng quy định, phù hợp quy hoạch, kế hoạch và khả năng cân đối nguồn
lực.
Tập trung rà soát các dự án,
công trình có nguy cơ chậm tiến độ, đội vốn, điều chỉnh nhiều lần, đầu tư dàn
trải, chưa xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, sử dụng vốn không
đúng mục tiêu, chất lượng chưa bảo đảm, chậm nghiệm thu, chậm quyết toán, chậm
bàn giao, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc không phát huy hiệu quả đầu tư.
Đối với công trình dở dang, kéo
dài, công trình đã hoàn thành nhưng chưa đưa vào sử dụng, sử dụng không đúng mục
tiêu hoặc vận hành cầm chừng do thiếu hạ tầng kết nối, thiếu điều kiện pháp lý,
thiếu phương án quản lý, khai thác, sử dụng hoặc thiếu phối hợp giữa các cơ
quan liên quan, phải rà soát nguyên nhân, xác định rõ trách nhiệm trong từng
khâu và kịp thời đề xuất phương án xử lý.
Chủ động tham mưu, đề xuất biện
pháp chấn chỉnh, điều chỉnh, tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, quyết toán,
bàn giao, đưa công trình vào khai thác, sử dụng, không để công trình dở dang,
công trình hoàn thành nhưng không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả kéo dài.
5. Thanh
tra tỉnh
Tăng cường thanh tra trách nhiệm
trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, đất đai, tài nguyên, đầu
tư công, mua sắm công, quản lý vốn nhà nước và các lĩnh vực dễ phát sinh thất
thoát, lãng phí; gắn thanh tra trách nhiệm với việc đánh giá vai trò, trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương.
Chủ động lựa chọn nội dung, đối
tượng thanh tra có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào các lĩnh vực, dự án,
tài sản, nguồn vốn có dấu hiệu chậm xử lý, kéo dài, sử dụng sai mục đích, sử dụng
kém hiệu quả, gây bức xúc hoặc có nguy cơ thất thoát, lãng phí. Qua thanh tra,
phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan; kiến nghị biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, thu hồi, xử lý theo đúng thẩm
quyền, đúng quy định.
Trường hợp phát hiện dấu hiệu
vi phạm pháp luật thì xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền; trường hợp có
dấu hiệu tội phạm thì chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
Không hành chính hóa, không xử lý nội bộ đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm
nghiêm trọng; đồng thời phân biệt rõ giữa hành vi cố ý vi phạm, thiếu trách nhiệm,
buông lỏng quản lý với khó khăn, vướng mắc khách quan trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ.
6. Các cơ
quan, đơn vị trong quá trình tham mưu, mua sắm công, chuyển đổi số và giải quyết
công việc
Trong quá trình tham mưu, đề xuất,
phê duyệt, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị phải bảo đảm đúng thẩm
quyền, đúng trình tự, đúng căn cứ pháp luật, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn xử lý;
không lợi dụng yêu cầu thận trọng, đúng quy trình để né tránh, đùn đẩy, trì
hoãn công việc, gây chậm trễ trong giải ngân, triển khai dự án, xử lý tài sản,
xử lý đất đai, giải quyết thủ tục hành chính hoặc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Đối với mua sắm công, mua sắm tập
trung, chuyển đổi số, đầu tư trang thiết bị, phần mềm và hệ thống công nghệ
thông tin, phải rà soát kỹ nhu cầu, tiêu chuẩn, định mức, khả năng kết nối,
chia sẻ dữ liệu, phương án vận hành, khai thác, duy trì, bảo trì, cập nhật và
điều kiện sử dụng thực tế trước khi tham mưu, phê duyệt, tổ chức thực hiện.
Không để xảy ra tình trạng đầu
tư dàn trải, đầu tư theo phong trào, mua sắm vượt nhu cầu thực tế, đầu tư trùng
lặp giữa các cơ quan, đầu tư hệ thống nhưng không khai thác hiệu quả, đầu tư phần
mềm nhưng không sử dụng thường xuyên, không phát sinh dữ liệu phục vụ quản lý,
điều hành hoặc không thể tích hợp, liên thông.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị
chịu trách nhiệm về tính cần thiết, hiệu quả, khả năng khai thác, sử dụng của
tài sản, trang thiết bị, phần mềm, hệ thống công nghệ thông tin được đầu tư,
mua sắm; kịp thời rà soát, xử lý hoặc kiến nghị xử lý đối với các tài sản, hệ
thống không còn nhu cầu sử dụng, hoạt động kém hiệu quả, trùng lặp hoặc không bảo
đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu.
Tập trung khắc phục tình trạng
né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến không dám tham mưu, không
dám quyết định thuộc thẩm quyền hoặc đẩy toàn bộ trách nhiệm lên cấp trên. Đối
với khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền
xem xét, chỉ đạo; không để tồn tại kéo dài, gây lãng phí thời gian, nguồn lực
xã hội, cơ hội phát triển, ảnh hưởng môi trường đầu tư và quyền, lợi ích hợp
pháp của người dân, doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ, phải phân biệt rõ giữa hành vi cố ý vi phạm, thiếu trách nhiệm, buông lỏng
quản lý với khó khăn, vướng mắc khách quan; đồng thời bảo vệ cán bộ dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trên cơ sở tuân thủ chủ trương của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, công khai, minh bạch, khách quan và không vụ lợi.
7. Văn
phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
Chủ trì, phối hợp với Sở Tư
pháp, Sở Tài chính, Thanh tra tỉnh và các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc
việc thực hiện Chỉ thị này; rà soát quy trình xử lý công việc để giảm tầng nấc
trung gian, giảm thủ tục không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định.
Nghiên cứu tham mưu cơ chế kiểm
soát nội bộ, cảnh báo sớm nguy cơ thất thoát, lãng phí trong quá trình tham
mưu, xử lý công việc thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; kịp thời
tổng hợp khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong quản lý, sử dụng tài
chính công, tài sản công, đầu tư công, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực
công khác để báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.
Theo dõi việc thực hiện Chỉ thị
thông qua công tác tham mưu, xử lý hồ sơ, kiểm tra, đôn đốc nhiệm vụ được giao;
trường hợp phát hiện cơ quan, đơn vị chậm thực hiện, thực hiện hình thức, đùn đẩy,
né tránh trách nhiệm hoặc để tồn tại, bất cập kéo dài, kịp thời tham mưu Chủ tịch
UBND tỉnh chỉ đạo, chấn chỉnh.
8. Đề nghị Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội
Tăng cường giám sát việc quản
lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực
công khác; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và cơ
quan báo chí trong phát hiện, phản ánh các nguy cơ thất thoát, lãng phí theo
quy định của pháp luật.
Kịp thời tổng hợp, chuyển các ý
kiến, kiến nghị, phản ánh có liên quan đến nguy cơ thất thoát, lãng phí trong
quản lý, sử dụng nguồn lực công đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, xử lý; phối
hợp giám sát việc giải quyết, khắc phục sau phản ánh, kiến nghị.
9. Tổ chức
thực hiện
Yêu cầu Giám đốc các sở, Thủ
trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các xã, phường và người đứng đầu các cơ
quan, đơn vị có liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị này.
Trong quá trình thực hiện, nếu
phát sinh khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền hoặc vụ việc có tính chất phức tạp,
liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương, kịp thời báo cáo UBND tỉnh, Chủ
tịch UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo giải quyết./.
|
Nơi nhận:
- Thường trực Tỉnh ủy (b/c);
- Thường trực HĐND tỉnh (b/c);
- Thường trực UBMTTQ Việt Nam tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- Đảng ủy, UBND các xã, phường;
- VP UBND tỉnh: LĐVP, CV: NCTH, Trung tâm thông tin - Hội nghị;
- Lưu: VT, TH.
|
CHỦ TỊCH
Lê Hải Hòa
|